Hệ thống BT định hướng năng lực trong dạy học tiếng Việt chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành năng lực Dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung,
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 2- -
HOÀNG THỊ THỦY
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI VỀ CÁC PHÉP BIẾN ĐỔI CÂU Ở LỚP 7 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Anh
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 3của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan Công tác trong Hội đồng Chức danh
PGS,TS Bùi Minh Đức Đại học SP Hà Nội 2 Chủ tịch PGS,TS Nguyễn Quang Ninh Đại học SP Hà Nội Phản biện 1 PGS,TS Lê Thị Phượng Trường Đại học Hồng Đức Phản biện 2 PGS,TS Hoàng Thị Mai Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Thủy
Trang 5LỜI CẢM ƠN!
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo,
TS Phạm Thị Anh - người đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn ý kiến đóng góp vô cùng quý báu, sự tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô trong Bộ môn Lí luận và PPDH Văn - Tiếng Việt, khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học và các phòng ban chức năng khác thuộc trường Đại học Hồng Đức - nơi tôi học tập và nghiên cứu; Phòng GD&ĐT Thành phố Sầm Sơn - nơi tôi đang công tác; Ban giám hiệu và giáo viên các trường THCS - nơi tôi tiến hành thăm dò ý kiến và tổ chức thực nghiệm
Tôi cũng xin dành lời cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Hoàng Thị Thủy
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN! ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 4
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 10
1.1.1 Bài tập và đặc điểm của bài tập theo định hướng năng lực 10
1.1.2 Câu và các phép biến đổi câu 17
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 26
1.2.1 Khảo sát hệ thống BT trong sách giáo khoa, sách BT Ngữ văn 26
1.2.2 Khảo sát cách xây dựng và triển khai hệ thống BT của GV 31
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 TỔ CHỨC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 7 TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI CÁC PHÉP BIẾN ĐỔI CÂU QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP 35
2.1 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP 35
2.1.1 Xuất phát từ chuẩn đầu ra làm căn cứ để xây dựng hệ thống bài tập 35
Trang 72.1.2 Hệ thống BT phải gắn với hoạt động giao tiếp, kích thích nhu
cầu giao tiếp của HS 38
2.1.3 Hệ thống BT phải khoa học, đa dạng, phong phú 39
2.1.4 Các thiết kế hệ thống BT phải dựa trên mức nhận thức và một số động từ chỉ hành động thông dụng 40
2.2 MIÊU TẢ HỆ THỐNG BÀI TẬP 42
2.2.1 BT thông hiểu 44
2.2.2 Bài tập vận dụng 47
2.3 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP 50
2.4 HIỆN THỨC HÓA, TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP QUA CÁC GIỜ DẠY 65
2.4.1 Hiện thực hóa hệ thống bài tập trong giờ Tiếng Việt 65
2.4.2 Hiện thực hóa hệ thống bài tập trong giờ Đọc hiểu 67
2.4.3 Hiện thực hóa hệ thống bài tập trong giờ Làm văn 69
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 71
3.2 ĐỊA BÀN THỰC NGHIỆM 72
3.3 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 72
3.4 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 72
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 74
3.5.1 Giáo án trong dạy học thực nghiệm và thực nghiệm đối chứng 74
3.5.2 Nhận xét về việc vận dụng hệ thống BT trong giờ dạy 87
3.5.3 Nhận xét về kết quả vận dụng BT của HS 88
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Số hiệu
Bảng 1.1 Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu 18 Bảng 1.2 Nội dung phần Ngữ pháp trong CT, SGK Ngữ văn
Bảng 1.3 Nội dung phần Ngữ pháp trong SGK Ngữ văn 7 27 Bảng 1.4 Nội dung cụm bài Các phép biến đổi câu 28 Bảng 1.5 Hệ thống BT cụm bài các phép biến đổi câu 29 Bảng 1.6 Bảng phỏng vấn GV về cách xây dựng và triển khai hệ
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BT Bài tập
CT Chương trình
GV Giáo viên
HS Học sinh
HTBT Hệ thống bài tập
PP Phương pháp
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
THCS Trung học cơ sở
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Dạy học theo định hướng năng lực là vấn đề mang ý nghĩa thời
sự trong giáo dục hiện nay
Đổi mới giáo dục phổ thông là vấn đề thời sự trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [10, tr.3]
Một trong những vấn đề cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học ở phổ thông hiện nay là Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định
hướng phát triển năng lực) Định hướng năng lực hay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất
lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh (HS)
Trang 11“Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn; giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục HS những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở HS những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha, ” [11, tr.3] Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng năng lực, môn Ngữ văn nói chung, Tiếng Việt nói riêng có vai trò quan trọng trong việc giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học suốt đời
1.2 Hệ thống BT định hướng năng lực trong dạy học tiếng Việt chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành năng lực
Dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách xây dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và BT có vai trò quan trọng Bởi vì, chương trình dạy học định hướng năng lực được xây dựng trên cơ sở chuẩn năng lực của môn học Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động học của
HS Hệ thống BT định hướng năng lực chính là công cụ để HS luyện tập nhằm hình thành năng lực, là công cụ để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của HS và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học, từ đó, có sự điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng
Tiếng Việt là một trong ba phân môn của môn Ngữ văn, đảm nhận chức năng “kép” - vừa là môt môn học độc lập, vừa là môn học công cụ Học tiếng Việt là cơ sở để tiếp cận các môn học khác Việc dạy tiếng Việt, về bản chất và mục đích mang tính thực hành rõ rệt Nguyên tắc thực hành cần được quán triệt trong suốt quá trình dạy học ở tất cả các khâu từ tìm hiểu bài, giới thiệu bài mới, bài học, ghi nhớ và BT và nhất là luyện tập, thực hành Hệ thống BT giữ vai trò chủ đạo, chi phối đến hiệu quả của quá trình dạy tiếng Việt
Trang 12Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người giáo viên cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần biết xây dựng các BT định hướng năng lực Đối với giáo viên, BT là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối với học sinh, BT là một nhiệm vụ
cần thực hiện, là một phần nội dung học tập
1.3 Hệ thống BT về các phép biến đổi câu ở lớp 7 cần có sự điều chỉnh, thay đổi, bổ sung để phù hợp với mục tiêu giáo dục
Kiến thức tiếng Việt ở phổ thông với các nội dung chủ yếu là: Ngữ âm
và chữ viết; Từ vựng; Ngữ pháp; Hoạt động giao tiếp; Sự phát triển của ngôn ngữ Những nội dung này được dạy học theo chương trình Ngữ văn hiện hành
và cả sau năm 2018 Quan điểm giao tiếp vẫn là quan điểm chủ đạo trong dạy học tiếng Việt, dù là ở bất kì cấp học nào “Hình thành năng lực giao tiếp tất yếu phải sử dụng PPDH theo quan điểm giao tiếp Linh hồn của quan điểm này là đưa HS vào các tình huống giao tiếp hàng ngày trong cuộc sống để sử dụng các đơn vị tiếng Việt một cách phù hợp và có hiệu quả Theo cách đó, tiếng Việt sẽ thể hiện được sự giàu có và vẻ đẹp của nó một cách sinh động, phong phú và biến hóa linh hoạt; chứ không phải là các đơn vị ngôn ngữ chết nằm trong một cấu trúc cứng nhắc” [43]
Các phép biến đổi câu là một trong số các nội dung trong phần Ngữ pháp được dạy học ở THCS, tập trung chủ yếu ở lớp 7 Để phát triển năng lực của HS, đồng thời cũng để đánh giá quá trình dạy học, việc xây dựng hệ thống BT trong dạy cụm bài này có ý nghĩa quan trọng, chi phối trực tiếp đến mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp nói riêng, năng lực ngôn ngữ nói chung
Hệ thống BT về các phép biến đổi câu đã được SGK, Sách BT Ngữ văn THCS xây dựng và triển khai có hiệu quả trong nhiều năm qua
Tuy nhiên, hệ thống BT này, về cơ bản, vẫn chủ yếu minh họa, rèn luyện nội dung lí thuyết, chưa phân hóa được các đối tượng, quan trọng hơn
là chưa phát triển được năng lực học sinh, chưa gắn liền với các tình huống
Trang 13giao tiếp Để gắn với thực tiễn, những BT mang tính tình huống, giúp HS phát huy được sự trải nghiệm của cá nhân, tạo hứng thú và hiệu quả học tập cho các giờ học chưa nhiều SGK, SBT Ngữ văn vẫn chú trọng nhiều hơn đến BT đánh giá (tức là loại BT dùng trong thi, kiểm tra), chưa chú trọng đến BT học (loại BT để hình thành và củng cố tri thức mới), hoặc, chú trọng đến BT
“đóng”, ít quan tâm hơn đến BT “mở” Bên cạnh đó, việc thực hiện hệ thống
BT này cũng chưa được chú trọng, chưa gắn kết với Đọc hiểu, Làm văn…
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu ở lớp 7 theo định hướng phát triển năng lực học sinh làm đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Trong tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh [10], môn Ngữ văn, 2014 của Bộ giáo dục & Đào
tạo năm 2014 đã khẳng định vai trò và bản chất của đánh giá theo năng lực:
“đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa” [10; tr.12] Tài liệu cũng khẳng định: “Dạy học định hướng năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách xây dựng các nhiệm vụ học tập, câu hỏi và BT (sau đây gọi chung là bài tập) có vai trò quan trọng” [10, tr.34] Trên cơ sở ấy, tài liệu cũng đã gợi ý một số kiểu dạng BT theo định hướng năng lực HS: BT tái hiện, BT vận dụng, BT giải quyết vấn đề; BT gắn với cấc bối
Trang 14cảnh, tình huống thực tiễn Đây là những định hướng quan trọng, giúp cho việc xây dựng chương trình, SGK, cũng như các nội dung dạy học Ngữ văn, trong đó
có Tiếng Việt
- Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn [11], ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, mặc dù không trực tiếp giới thiệu về BT
nhưng cũng đã khẳng định tinh thần chung của kiểm tra - đánh giá theo định hướng năng lực HS với hai hình thức: đánh giá thường xuyên và đành giá định kì Ở cả hai hình thức đánh giá này đều đặc biệt chú ý tới cách sử dụng ngữ liệu: “sử dụng và khai thác ngữ liệu bảo đảm yêu cầu đánh giá được năng lực của HS, khắc phục tình trạng HS chỉ học thuộc bài hoặc sao chép tài liệu
có sẵn; tránh dùng lại các văn bản ngữ liệu đã học để đánh giá được chính xác khả năng đọc hiểu và phân tích, cảm thụ tác phẩm văn học.” [11, tr.114] Vì vậy, việc đổi mới cách xây dựng BT cũng cần phù hợp với tinh thần này, đáp ứng mục tiêu giáo dục
Liên quan đến việc xây dựng BT theo định hướng năng lực người học
cũng được bàn đến khá nhiều trên các bài viết trên các Tạp chí như: Giáo dục, Thiết bị Giáo dục, Khoa học Giáo dục, Ngôn ngữ, Ngôn ngữ và Đời sống…
Có thể dẫn một số bài viết tiêu biểu:
+ Tác giả Tôn Quang Cường và Phạm Thị Thu Hương, trong bài viết:
“Thiết kế hệ thống BT tiếng Việt lớp 11 theo tiếp cận phát triển năng lực HS”,
sau khi đã giới thiệu một quy trình dạy học, từ khâu xác định các năng lực đến thiết kế các nội dung dạy học, trong đó kiểm tra đánh gía là công đoạn cuối cùng, hoàn tất quá trình dạy học Để kiểm tra, đánh giá, việc xây dựng BT chính là công cụ để đánh giá Từ đó, các tác giả cũng khẳng định: “Trong môn Tiếng Việt, có những dạng BT đặc trưng mà các nhà khoa học không thể không nhắc đến, bởi nó hướng tới hoạt động giao tiếp và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ Các dạng BT tiếng Việt mà chúng tôi đưa ra theo định hướng năng lực HS sẽ hướng đến sự đa dạng và linh hoạt bên cạnh
Trang 15những dạng BT đặc thù của tiếng Việt” [12] Các tác giả cũng đề xuất 3 kiểu
loại BT chủ yếu nhằm phát triển năng lực người học: BT nhận biết, BTthông hiểu, BT vận dụng
+ Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Huế, Nguyễn Thị Hoàng Tuyên, Nguyễn Thị Huệ, trong bài viết “Một số quan điểm về phát triển năng lực giao tiếp
trong dạy học ngoại ngữ”, đăng trên Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, kì 3,
tháng 8/2017, đã thông kê một số quan điểm dạy học: quan điểm tình huống, quan điểm giao tiếp… Dù không trực tiếp đề xuất hệ thống BT trong dạy học tiếng Việt, nhưng các tác giả đã khẳng định, để phát triển năng lực giao tiếp cho HS trong dạy học ngoại ngữ thì vấn đề quan trọng là các BT tình huống, BT ngữ cảnh…
+ Trong bài viết“Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay”, tác giả Vũ Thị Thanh
khẳng định việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay phải được chi phối bởi quan điểm giao tiếp Để phát triển năng lực giao tiếp cho HS, BT trở thành công cụ cơ bản
+ Ngoài ra, các bài viết như: Đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh trong quá trình dạy học các tri thức Tiếng Việt ở trường tiểu học [16]; BT tình huống với việc phát triển năng lực giao tiếp cho
HS Trung học cơ sở [44],v,v… cũng đã ít nhiều đề cập đến cách xây dựng BT
theo hướng phát triển năng lực giao tiếp Đây là những gợi ý ban đầu giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan hơn về dạy học tiếng Việt theo định hướng năng lực người học
2.2 Lịch sử nghiên cứu về xây dựng hệ thống BT trong dạy học cụm bài các phép biến đổi câu ở lớp 7 theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Các phép biến đổi câu là một trong những nội dung cơ bản trong chương trình SGK Ngữ văn 7 Nội dung này thể hiện sự đổi mới của quan điểm giáo dục - không chú trọng cung cấp cho HS những kiến thức hàn lâm mà hướng
HS đến hoạt động hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp Bởi, biến đổi câu,
Trang 16trong đó có mở rộng, rút gọn câu, chuyển đổi câu là những thao tác thể hiện
sự linh hoạt của việc sử dụng câu, đồng thời cũng chú trọng đến ngữ nghĩa của câu trong các ngữ cảnh khác nhau Bài tập trong dạy học cụm bài này xuất phát từ mục tiêu ấy Khảo sát SGK, SGV, các tài liệu tham khảo, các bài viết trên các Tạp chí chuyên ngành, chúng tôi có một số nhận xét sau:
- SGK, SGV Ngữ văn 7 đã giới thiệu một số BT, câu hỏi nhằm hai mục đích chính: hình thành khái niệm, quy tắc về các phép biến đổi câu; luyện tập, thực hành củng cố các khái niệm, quy tắc ngữ pháp Các câu hỏi, BT này được xây dựng và triển khai theo hướng quy nạp và diễn dịch
- Hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu, về cơ bản tập trung ở phần Luyện tập, với các kiểu loại chính: nhận diện- phân tích; chuyển đổi, tạo lập
- Hệ thống BT này cũng đã có sự định hướng cách tiếp cận qua SGV, Sách BT Ngữ văn 7 [33], Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho GV trong quá trình giảng dạy Ngữ văn 7 nói riêng, dạy học phần ngữ pháp nói chung
- Một số luận văn Thạc sĩ cũng đã bắt đầu định hướng cách xây dựng hệ
thống BT trong dạy học Ngữ pháp Cụ thể: Vận dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học nhóm bài Phân loại câu theo mục đích nói ở lớp 8; Vận dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học nhóm bài Các phong cách chức năng ngôn ngữ cho HS THPT; Thiết kế hệ thống BT tiếng Việt lớp 8 nhằm phát triển năng lực giao tiếp của HS [44 ]…
Tuy nhiên, các luận văn này đều tập trung vào hướng dẫn cách xây dựng
hệ thống BT trong dạy học các nội dung khác (phân loại câu theo mục đích nói, các phong cách chức năng ngôn ngữ…) Riêng cụm bài các phép biến đổi câu, hầu như chưa có một tài liệu cụ thể nào bàn đến cách xây dựng cũng như triển khai hệ thống BT
Mặt khác, các BT trong chương trình, SGK Ngữ văn 7 vẫn chủ yếu là những BT được xây dựng theo chương trình định hướng nội dung; chưa tập trung miêu tả, phân tích, xây dựng các BT theo định hướng năng lực Vì vậy,
Trang 17có thể khẳng định, hệ thống BT trong dạy học cụm bài các phép biến đổi câu
nhằm phát triển năng lực HS vẫn là vấn đề mới mẻ
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực tiễn về bài tập, đề tài tập trung xây dựng hệ thống BT nhằm phát triển năng lực cho HS lớp 7 khi dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống BT trong dạy học tiếng Việt nói chung, dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu
ở lớp 7 nói riêng theo định hướng năng lực
- Khảo sát thực trạng dạy học: tài liệu, chương trình, SGK, SGV và việc dạy học cụm bài này đang được triển khai ở trườngTHCS
- Đề xuất hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu cho HS lớp 7 theo định hướng năng lực
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để kiểm tra, phân tích; qua
đó đánh giá nghiêm túc tính khả thi của hệ thống BT đã đề xuất của luận văn
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu ở lớp 7 theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Trang 185 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp (PP) nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Chúng tôi sử dụng nhóm các PP nghiên cứu lý thuyết như: PP phân tích
và tổng hợp lý thuyết, PP phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, PP lịch sử trong việc phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu cho HS lớp 7 theo định hướng năng lực
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
- PP này dùng để khảo sát hệ thống BT về các phép biến đổi câu trong SGK, Sách BT Ngữ văn 7 làm cơ sở để bổ sung, xây dựng hệ thống BT theo định hướng năng lực
- Sử dụng các PP này, chúng tôi cũng nhằm khảo sát cách dạy của GV, cách lĩnh hội của HS khi thực hiện cụm bài các phép biến đổi câu ở lớp 7
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm
PP thực nghiệm được sử dụng ở chương 3, là căn cứ để khẳng định mức độ thành công của đề tài, kiểm tra được khả năng vận dụng và mức độ hiệu quả của việc xây dựng hệ thống BT đã nêu ở chương 2
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức phát triển năng lực cho HS lớp 7 trong dạy học cụm bài các phép biến đỏi câu qua hệ thống bài tập
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trong chương 1, luận văn sẽ tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến quan niệm về bài tập, vai trò của BT trong dạy học tiếng Việt; những vấn đề về các phép biến đổi câu ở THCS; cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu
phát triển năng lực người học là câu hỏi và BT
“Bài tập là bài ra cho học sinh (HS) làm để tập vận dụng những điều đã học” [25, tr.57]
Như vậy, BT là một tập hợp những yêu cầu hoạt động cụ thể để đạt được một kết quả nào đó Quá trình thực hành - luyện tập lại phải dựa vào các biện pháp, phương tiện tương ứng với từng kĩ năng, trong đó BT giữ vai trò chủ đạo Điều quan trọng là không dừng lại ở bước nắm lí thuyết Lí thuyết chỉ được củng cố, khắc hoạ thông qua hệ thống BT lớn, nhỏ GV cần phân định một cách cụ thể, có kế hoạch từng bước hệ thống BT tương ứng với từng thao tác và kĩ năng Do đó, BT trở thành một phương tiện cơ bản để rèn luyện
kĩ năng về tiếng Việt
Như vậy, BT không chỉ đơn thuần là phương tiện để vận dụng tri thức
lí thuyết về tiếng Việt mà còn là cơ sở để hình thành tri thức lí thuyết Bài tập được sử dụng trong cả hai công đoạn: cung cấp tri thức lí thuyết về một đơn
vị hoặc một kĩ năng tiếng Việt và luyện tập, thực hành
Trang 20Ví dụ:
Trong bài Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động, Ngữ văn 7, tập 2, phần 1 Câu chủ động và câu bị động, có BT sau:
1) Xác định chủ ngữ của mỗi câu sau đây:
a) Mọi người yêu mến em
b) Em được mọi người yêu mến
2) Ý nghĩa của chủ ngữ của các câu trên khác nhau nhƣ thế nào?
Đây là BT có nhiệm vụ nhằm hình thành khái niệm về câu chủ động và câu bị động
Cũng trong bài này, phần Luyện tập có hai bài tập Hai BT này có nhiệm
vụ khác, nhằm củng cố, vận dụng lí thuyết về câu chủ động và câu bị động để thực hiện phép biến đổi câu chủ động thành câu bị động
Tuy chức năng của các BT trên ở mỗi công đoạn của giờ dạy có khác nhau nhƣng về bản chất, không có gì khác nhau Trên cơ sở trên, chúng tôi tạm đi đến một quan niệm về bài tập:
Bài tập (bao gồm cả những câu hỏi) là một tập hợp những yêu cầu hoạt động cụ thể để đạt được một kết quả nào đó Đối với giáo viên, BT là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối với học sinh, BT là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập Đối với môn Tiếng Việt, BT bao gồm cả tập hợp những yêu cầu cụ thể để hình thành khái niệm, quy tắc tiếng Việt và để củng cố, luyện tập các khái niệm, quy tắc ấy gắn liền với những tình huống cụ thể
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt giữa BT với câu hỏi trong kiểm tra - đánh giá
- Giữa BT và câu hỏi trong kiểm tra - đánh giá có sự giống nhau và khác nhau Tất nhiên, sự phân biệt này không mang tính rạch ròi tuyệt đối, sự phân biệt cần đƣợc dựa trên bản chất của từng hệ thống
Trang 21+ Mục đích của câu hỏi trong kiểm tra- đánh giá khác với mục đích của
hệ thống BT Nếu đề kiểm tra có mục đích đánh giá thì hệ thống BT nhằm tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ… HS học tập và rèn luyện
+ Chính vì sự khác nhau về mục đích mà tính chất của các BT cũng không giống với đề kiểm tra Đề kiểm tra rất cần khả năng đánh giá chính xác, khách quan và phân loại được trình độ HS Còn yêu cầu đối với BT là có thể định hướng một cách đúng đắn cho HS tự rèn luyện các kỹ năng hay tự tìm kiếm những kiến thức ẩn dấu trong đó
+ Điều quan trọng hơn là, đề kiểm tra và BT không cùng dựa trên một cơ
sở lý luận Nếu đề kiểm tra cần phải dựa trên lý luận về đánh giá (một khâu trong quá trình dạy học), thì hệ thống BT ở đây phải được dựa trên lý luận của phương pháp dạy học đại cương và của phương pháp dạy học bộ môn Mỗi một môn học có cơ sở khoa học và thực tiễn khác nhau, phương pháp dạy học khác nhau nên BT cũng có sự khác nhau
Tuy nhiên, giữa các BT với câu hỏi trong đề kiểm tra- đánh giá cũng có điểm tương đồng:
+ Về nội dung, các BT cũng đề cập đến những tri thức và kỹ năng cơ bản được dạy học theo quy định của chương trình (như trong câu hỏi kiểm tra) + Về hình thức, các BT cũng bao gồm những câu hỏi, theo phương thức luận đề hay trắc nghiệm; mỗi câu hỏi trong kiểm tra hay trong BT đều có cấu tạo tương đối giống nhau
1.1.2.2 Đặc điểm của BT theo định hướng năng lực
Chương trình dạy học định hướng năng lực được xây dựng trên cơ sở chuẩn năng lực của môn học Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động học của HS Vì vậy, BT trở thành công cụ quan trọng để kiểm tra, đánh giá năng lực của HS ở từng môn học, từng thời điểm cụ thể
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng BT trong dạy học truyền thống cũng tồn tại một số nhược điểm: Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường là những BT đóng; Thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái
Trang 22đã học sang vấn đề chưa biết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống; Kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn; Quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa vấn đề đã biết và vấn đề mới; Tính tích lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…
Khắc phục những hạn chế trên, BT trong dạy học theo định hướng năng lực, do được xây dựng theo chuẩn đầu ra của từng môn học nên có nhiều ưu điểm nổi trội Cụ thể:
+ Trọng tâm không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ
mà là sự vận dụng có phối hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đề mới đối với người học
+ Tiếp cận năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôn theo các tình huống cuộc sống của HS Nội dung học tập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn
+ So với dạy học định hướng nội dung, dạy học định hướng năng lực định hướng mạnh hơn đến HS” [10, tr.32]
Để đánh giá sự đổi mới của việc xây dựng BT theo định hướng năng lực, cần chú ý tới các yếu tố sau: sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự
lồng ghép BT vào giờ học và sự liên kết với nhau của các bài tập
Vì vậy, BT trong dạy học định hướng năng lực có một số đặc điểm sau: a) Yêu cầu của bài tập
- Có mức độ khó khác nhau
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu
- Định hướng theo kết quả
b) Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học
- Nhận biết được sự gia tăng của năng lực
- Vận dụng thường xuyên cái đã học
c) Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân
Trang 23- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội
d) Xây dựng BT trên cơ sở chuẩn
- BT luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở
- Thay đổi BT đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thức thông minh)
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau
đ) Bao gồm cả những BT cho hợp tác và giao tiếp
- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm
- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức
e) Tích cực hóa hoạt động nhận thức
- BT giải quyết vấn đề và vận dụng
- Kết nối với kinh nghiệm đời sống
- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề
g) Có những con đường và giải pháp khác nhau
- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp
- Đặt vấn đề mở
- Độc lập tìm hiểu
- Không gian cho các ý tưởng khác thường
- Diễn biến mở của giờ học
h) Phân hóa nội tại
- Con đường tiếp cận khác nhau
- Phân hóa bên trong
- Gắn với các tình huống và bối cảnh
1.1.2.3 Phân loại bài tập
Nhìn chung, BT có nhiều hình thức, nhiều loại khác nhau, căn cứ vào tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ cần đặt ra với HS: BT làm miệng, BT viết, BT ngắn hạn hay dài hạn, BT theo nhóm hay cá nhân, BT trắc nghiệm đóng hay
tự luận mở Cũng có thể, BT có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một
Trang 24đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi
a) Theo chức năng lý luận dạy học, BT có thể bao gồm: BT học và BT đánh giá (thi, kiểm tra):
- Bài tập học: Bao gồm các BT dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức
mới, chẳng hạn các BT về một tình huống mới, giải quyết BT này để rút ra tri thức mới, hoặc các BT để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học
- Bài tập đánh giá: Là các bài kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập
trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các BT chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm tra
BT học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, BT học tập dưới dạng học khám phá có thể giúp HS nhiều hơn trong làm quen với việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức
b) Theo dạng câu trả lời của BT “mở” hay “đóng”, có các dạng BT sau:
- Bài tập đóng: Là các BT mà người học (người làm bài) không cần tự
trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại BT này, HS đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án
có thể lựa chọn
- Bài tập mở: Là những BT mà không có lời giải cố định đối với cả GV
và HS (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả BT là “mở” Chẳng
Trang 25hạn GV đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, HS cần tự bình luận, thảo luận về đề tài đó Các đề bài bình luận văn học không yêu cầu học theo mẫu, HS tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình là các ví dụ điển hình về BT mở
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề Tính độc lập và sáng tạo của HS được chú trọng trong việc làm dạng BT này Tuy nhiên, BT mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơn khi xây dựng và đánh giá, có thể không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trong việc đánh giá BT mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình
Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các BT mở gắn với thực tiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, BT mở là hình thức BT có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực HS Trong dạy học và kiểm tra đánh giá giai đoạn tới, HS cần kết hợp một cách thích hợp các loại BT để đảm bảo giúp
HS nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
c) Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức
và các bậc trình độ nhận thức tương ứng như sau:
+ Hồi tưởng thông tin - Tái hiện (Nhận biết lại, tái tạo lại)
+ Xử lí thông tin - Hiểu và vận dụng (nắm bắt ý nghĩa, vận dụng)
+ Tạo thông tin - Xử lí, giải quyết vấn đề
Như vậy, dựa trên các bậc nhận thức và đặc điểm của dạy học theo định hướng năng lực, chúng ta có thể xây dựng các dạng BT sau:
- Các BT dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức BT tái
hiện không phải trọng tâm của BT định hướng năng lực
Trang 26- Các BT vận dụng: Các BT vận dụng những kiến thức trong các tình
huống không thay đổi Các BT này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
- Các BT giải quyết vấn đề: Các BT này đòi hỏi sự phân tích, tổng
hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề Dạng BT này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
- Các BT gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các BT vận dụng
và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn Những BT này là những BT mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.1.2 Câu và các phép biến đổi câu
1.1.2.1 Câu tiếng Việt - khái niệm, phân loại
- “Câu là đơn vị do từ, ngữ (cụm từ) tạo nên có chức năng thông báo được một ý nghĩa trọn vẹn, đủ để người tham gia giao tiếp hiểu được rõ ràng
Là sản phẩm được tạo nên trong quá trình giao tiếp và tư duy nên câu tương
ứng với một phát ngôn Do đó, câu là đơn vị nhỏ nhất thực hiện một hành động ngôn ngữ [21, tr.23]
Ví dụ:
+ Lớp tôi có 40 học sinh
Câu trên thực hiện hành động trình bày, thông báo;
+ Lan hôm nay không đi học ả?
Câu trên thực hiện chức năng hỏi;
+ Bạn Lan hôm nay mặc áo đẹp quá!
Câu này thực hiện chức năng bộc lộ cảm xúc
Các đơn vị trên câu đều là những đơn vị thực hiện chức năng thông báo nhưng là sự liên kết của các câu, có thể thực hiện nhiều hành động ngôn ngữ, trong đó câu là đơn vị tối thiểu thực hiện một hành động ngôn ngữ
- Về cơ bản, theo quan niệm của chương trình, SGK Ngữ văn phổ thông,
về mặt cấu tạo ngữ pháp, câu được phân thành hai loại:
Trang 27+ Câu đơn: câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt Câu rút gọn là kết quả của việc lược bỏ một trong các thành phần chính của câu đơn bình thường
+ Câu ghép: câu ghép có các từ nối các vế câu và câu ghép không có từ nối các vế câu; mối quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu ghép
Toàn bộ cấu tạo ngữ pháp của câu được hình dung qua bảng sau:
Bảng 1.1 Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu Các loại
câu
Các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu
Ví dụ
Câu đơn Câu đơn bình thường Chúng tôi / đi học
Câu đơn đặc biệt 1 Tháng giêng
2 Mưa
Câu
ghép
Câu ghép sử dụng quan hệ từ để nối các
2 Câu ghép dùng dấu hai chấm:
Cô giáo nói: ngày mai chúng ta sẽ đi cắm trại
Cụ thể hơn về chức năng của từng loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp theo quan niệm của SGK Ngữ văn THCS, có thể hình dung theo bảng sau:
Trang 28Sơ đồ 1.1 Các kiểu cấu tạo câu
1.1.2.2 Các phép biến đổi câu
a Rút gọn câu
- Là thao tác lƣợc bớt các thành phần phụ của từ và thành phần phụ của câu, chỉ còn giữ lại các từ đóng vai trò thành phần chính Sau khi rút gọn, câu vẫn đúng về cấu tạo ngữ pháp nhƣng nội dung không đƣợc cụ thể, chi tiết nhƣ khi câu chƣa rút gọn Thao tác này giúp ta nhận biết nòng cốt của câu, phân biệt câu đúng với câu sai do thiếu thành phần
Trang 29+ Làm cho câu gọn hơn, vừa thông tin được nhanh, vừa tránh lặp những
từ ngữ đã xuất hiện trong câu đứng trước;
+ Ngụ ý hành động, đặc điểm nói trong câu là của chung mọi người (lược bỏ chủ ngữ)
Ví dụ:
Hai, ba người đuổi theo nó Rồi ba bốn người, sáu bảy người
(Nguyễn Công Hoan)
- Khi rút gọn câu, cần chú ý:
+ Không để cho người nghe, người đọc hiểu sai hoặc hiểu không đầy đủ nội dung câu nói;
+ Không biến câu nói thành một câu cộc lốc, khiếm nhã
b Thêm trạng ngữ cho câu
- Trạng ngữ là thành phần phụ của câu xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích, của sự việc nêu ở trong câu Về hình thức, trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu; giữa trạng ngữ với chủ ngữ, vị ngữ thường có một quãng nghỉ khi nói hoặc một dấu phẩy khi viết
- Dựa vào nội dung mà trạng ngữ biểu thị, ta có thể chia trạng ngữ thành một số loại chính như sau:
+ Trạng ngữ chỉ nơi chốn (trả lời câu hỏi: Ở đâu?)
+ Trạng ngữ chỉ thời gian (trả lời câu hỏi: khi nào?)
Trang 30+ Trạng ngữ chỉ nguyên nhân (trả lời câu hỏi: vì sao?)
+ Trạng ngữ chỉ mục đích (trả lời câu hỏi: để làm gì?)
+ Trạng ngữ chỉ phương tiện (trả lời câu hỏi: bằng gì?)
- Trạng ngữ không phải là thành phần bắt buộc của câu Tuy nhiên, thêm trạng ngữ cho câu tức là bổ sung thêm ý nghĩa nào đó cho câu, có thể là thời gian, nơi chốn, trạng thái, tính chất, đặc điểm Vì thế, có thể thêm trạng ngữ cho câu ở một số trường hợp sau:
+ Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu
Trạng ngữ chỉ thời gian dùng để xác định thời gian diễn ra sự việc nêu
ở +giờ?
Ví dụ:
Buổi sáng hôm ấy, mùa đông đột nhiên đến, không báo cho biết trước
+ Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu
Trạng ngữ chỉ nơi chốn để làm rõ nơi chốn diễn ra sự việc nêu trong câu Trạng ngữ chỉ nơi chốn trả lời cho câu hỏi Ở đâu?
Ví dụ: Trên bờ, tiếng trống càng thúc dữ dội
+ Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân để giải thích nguyên nhân của sự việc hoặc
tình trạng nêu trong câu Trạng ngữ chỉ nguyên nhân trả lời các câu hỏi: Vì
sao? Nhờ đâu ? Tại đâu ?
Ví dụ: Nhờ học giỏi, Nam được cô giáo khen
+ Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu
Trạng ngữ chỉ mục đích nói lên mục đích tiến hành sự việc nêu trong
câu Trạng ngữ chỉ mục đích trả lời cho các cau hỏi: Để làm gì ? Nhằm mục đích gì ? Vì cái gì ?
Ví dụ:
Nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh, các trường đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực
Trang 31+ Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu
Trạng ngữ chỉ phương tiện thường mở đầu bằng các từ bằng, với, và; trả lời cho các câu hỏi: Bằng cái gì ? Với cái gì ?
Ví dụ:
Bằng một giọng thân tình, thầy khuyên chúng em cố gắng học cho tốt
c Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động
- Câu chủ động là câu có chủ ngữ chỉ người, vật, thực hiện một hoạt động hướng vào người, vật khác (chỉ chủ thế của hoạt động)
Ví dụ: Mọi người yêu mến em
Câu bị động là câu có chủ ngữ chỉ người, vật, được hoạt động của người, vật khác hướng vào (chỉ đối tượng của hoạt động)
Ví dụ: Em được mọi người yêu mến
- Việc chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (và ngược lại) ở mỗi đoạn văn đều nhằm liên kết các câu trong đoạn thành một mạch văn thống nhất
- Cách chuyển câu chủ động thành câu bị động:
+ Chuyển bổ ngữ chỉ đối tượng lên đầu câu:
Ví dụ: Mèo bắt chuột -> Chuột - bắt mèo
+ Thêm vào danh từ chỉ đối tượng từ bị, hoặc được:
Ví dụ: Chuột - bắt mèo -> Chuột bị mèo bắt
+ Tùy thuộc vào từng ngữ cảnh, có thể lược bớt danh từ chỉ chủ thể:
Ví dụ: Chuột bị mèo bắt -> Chuột bị bắt
- Chú ý: Không phải câu nào có các từ bị, được đều là câu bị động Mặt khác, việc sử dụng hoặc chuyển đổi phụ thuộc vào sự lập luận, hoặc do yêu cầu liên kết của câu trong VB
Trang 32Ví dụ:
Thằng này rất ngạc nhiên Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình như ươn ướt Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì (Nam Cao)
Câu 1, 2, 3 là câu chủ động, câu 2 là câu bị động Câu này có thể chuyển
thành: Bởi vì lần này là lần thứ nhất một người đàn bà cho hắn
Nhưng nếu sử dụng kiểu câu này thì mạch văn đang nói về “hắn” lại chuyển sang đối tượng “một người đàn bà” Do đó, trong trường hợp trên, chỉ được dùng câu bị động là hợp lí
d Dùng cụm chủ - vị để mở rộng câu
- Khi nói hoặc viết, có thể dùng những cụm từ có hình thức giống câu đơn bình thường, gọi là cụm chủ - vị (C-V) để làm thành phần của câu hoặc cụm từ để mở rộng câu
Trang 33c) Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen
(Thạch Lam)
Câu trên, bổ ngữ được mở rộng bằng một kết cấu C-V: trời sinh lá sen
để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen
d) Nói cho đúng thì phẩm giá của tiếng Việt chỉ mới thật sự được xác định và đảm bảo từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công
(Đặng Thai Mai)
Câu trên, định ngữ được mở rộng bằng một kết cấu C-V: Cách mạng tháng Tám thành công
Tóm lại:
Các phép biến đổi câu là cụm bài có vị trí quan trọng trong chương trình
Ngữ văn THCS Đây là kiểu bài hình thành quy tắc ngữ pháp tiếng Việt Cụm bài nhằm cung cấp cho HS những tri thức lí thuyết về câu, cấu tạo câu, các thành phần ngữ pháp của câu; đồng thời cũng giúp các em lĩnh hội các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt Việc xây dựng cụm bài này xuất phát từ chức năng giao tiếp của tiếng việt, đồng thời cũng thể hiện quan điểm đổi mới của CT Ngữ văn Bởi, thay vì học những kiến thức hàn lâm về tiếng Việt, HS sẽ học những quy luật hành chức của tiếng Việt Điều đó phục vụ trực tiếp cho HS khi hình thành các kĩ năng về tiếng Việt, trong đó, các phép biến đổi câu là một trong những kĩ năng cơ sở khi vận dụng những kiến thức lí thuyết tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp
Cụm bài Các phép biến đổi câu có thể được hình dung qua sơ đồ sau:
Trang 34Sơ đồ 1.2 Các phép biến đổi câu
Sơ đồ 1.3 Dùng cụm C-V để mở rộng câu
CÁC PHÉP BIẾN ĐỔI CÂU
Thêm, bớt thành phần câu Chuyển đổi kiểu câu
Rút gọn câu Mở rộng câu Chuyển đổi câu chủ động
thành câu bị động
Thêm trạng ngữ Dùng cụm C-V để
mở rộng câu
Trang 351.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Khảo sát hệ thống BT trong sách giáo khoa, sách BT Ngữ văn
Ngữ pháp, trong đó đặc biệt là phần Ngữ pháp chiếm vị trí quan trọng ở mọi cấp học Bởi, đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến hoạt động hành chức của ngôn ngữ, đồng thời cũng phát huy được năng lực giao tiếp của HS
Nhìn một cách khái quát, nội dung phần ngữ pháp trong CT SGK Ngữ văn THCS gồm các vấn đề sau:
Bảng 1.2 Nội dung phần Ngữ pháp trong CT SGK Ngữ văn THCS
TT Những nội dung chính Các nội dung cụ thể
3 Câu phân loại theo cấu
- Thêm trạng ngữ cho câu
- Lựa chọn trật tự các thành phần trong câu
7 Nghĩa của câu Nghĩa của câu xét theo cách thức thể hiện:
nghĩa tường minh và hàm ý
8 Đoạn văn và văn bản - Cách viết đoạn văn; liên kết đoạn văn
- Bố cục của văn bản
Trang 36Ngữ văn 7 tập trung vào phần Ngữ pháp, trong đó chủ yếu là hình thành các quy tắc ngữ pháp cho HS Cụ thể:
Bảng 1.3 Nội dung phần Ngữ pháp trong SGK Ngữ văn 7
TT Những nội dung chính Các nội dung cụ thể
- Thêm trạng ngữ cho câu
- Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động
- Quá trình tạo lập văn bản
- Luyện tập về tạo lập văn bản
Nhận xét chung về phần ngữ pháp trong CT, SGK Ngữ văn 7:
+ Ở lớp 7, phần tiếng Việt có 39 tiết (trong đó gồm 10 tiết ôn tập, thực hành, kiểm tra và CTĐP) Phần ngữ pháp gồm 18 tiết, chiếm 60% tổng số tiết tiếng Việt
+ Nội dung phần ngữ pháp trong CT, SGK Ngữ văn 7 tập trung ở ba
phần kiến thức: từ loại, câu và ngữ pháp văn bản Kiến thức lý thuyết cần hình thành cho HS ở những phần này không quá nặng, chủ yếu thiên về luyện tập, thực hành Các phép biến đổi câu là một trong số các nội dung giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc chương trình Ngữ pháp ở lớp 7
Trang 37Khảo sát Cụm bài các phép biến đổi câu, chúng tôi có kết quả cụ thể về
số tiết và sự phân bố cụ thể các nội dung nhƣ sau:
Bảng 1.4 Nội dung cụm bài Các phép biến đổi câu
3 Thêm trạng ngữ cho câu (Tiếp theo) 89
4 Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động 94
5 Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) 99
Trên cơ sở khảo sát số tiết, sự phân bố các nội dung của cụm bài các phép biến đổi câu, chúng tôi tiến hành khảo sát hệ thống BT trong SGK Ngữ văn 7 và thu đƣợc kết quả sau:
Trang 38Bảng 1.5 Hệ thống BT cụm bài các phép biến đổi câu
KIỂU BT
Tổng số (Tỉ lệ)
1=
16,66%
6 = 100%
3 Chuyển đổi câu
42,85%
4 = 28,57 % 0 = 0%
4 = 28,57 %
18 = 100%
Từ kết quả khảo sát hệ thống BT trong SGK Ngữ văn 7 khi dạy học cụm bài Các phép biến đổi câu, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Hệ thống BT (phần Luyện tập) gồm 18 bài, được rải đều trong các tiết, bao gồm cả những tiết lí thuyết và các tiết thực hành Trong số BT mà chúng tôi khảo sát, số lượng BT nhận diện chiếm tỉ lệ cao nhất Loại BT này hướng HS nhận diện về các thành phần trạng ngữ của câu (Thêm trạng ngữ cho câu); câu chủ động, câu bị động (Chuyển câu chủ động thành câu bị động), các kết cấu chủ vị (Dùng cụm C-V để mở rộng câu) Đây là BT ở cấp
độ thấp nhất, đơn giản nhất của quá trình nhận thức, của thang bậc đánh giá
Số BT phân tích và tạo lập chiếm vị trí thứ hai
Trang 39- Số lượng BT sửa chữa hoàn toàn vắng mặt Loại BT so sánh, chuyển đổi cũng không xuất hiện trong SGK
- Tuy nhiên, với tên gọi là các bài học là “thực hành, luyện tập”, nhưng thực tế qua khảo sát các bài tập, chúng tôi nhận thấy, “hầu hết hệ thống BT Tiếng Việt ở sách giáo khoa Ngữ Văn chương trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lý thuyết về tiếng Việt mà HS vừa học, nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa thể hiện được rõ nét các nguyên tắc giáo dục học trong dạy học thực hành tiếng Việt” [12] Nói cách khác, hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu chỉ mới dừng lại ở việc minh họa cho một số những kiến thức được hình thành trong Hoạt động 1 (Tìm hiểu chung
về khái niệm ngữ pháp)
Ví dụ:
Bài tập số 2 (Ngữ văn 7, tập 2) trong tiết dạy Thêm trạng ngữ cho câu, yêu cầu HS tìm các trạng ngữ trong các câu (a, b, c, d), HS sẽ thu được kết quả sau:
a) như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết
chỉ cách thức
b) khi đi qua những cánh đồng xanh chỉ thời gian
c) trong cái vỏ xanh kia chỉ không gian (nơi chốn)
d) dưới ánh nắng chỉ không gian
Điều quan trọng là HS phải hiểu được: việc thêm các trạng ngữ chỉ thời gian, nơi chốn, cách thức… trong câu trên đã đem lại ý nghĩa gì mới; so sánh tác dụng của việc thêm các trạng ngữ này của câu Với cách xây dựng BT như trên, HS chỉ đơn thuần hình thành một thao tác của tư duy - nhận diện, tái hiện tri thức lí thuyết về trạng ngữ của câu
- Các BT chỉ mới dừng lại ở mức vận dụng những kiến thức để phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế các yếu tố hay hoàn chỉnh văn bản, sửa chữa lỗi,… mà chưa có những BT yêu cầu HS vận dụng kiến thức để tạo lập một văn bản mới (đoạn văn) có sử dụng các kiến thức vừa học Số
Trang 40lượng BT tạo lập quá ít so với BT nhận diện - phân tích Đây lại là BT có khả năng cao nhất trong việc phát triển năng lực giao tiếp của HS ở các kĩ năng: nói, viết; tổng hợp được những tri thức về văn hóa, xã hội, về làm văn, về kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh nhất định
- Ngữ liệu để xây dựng hệ thống BT trong SGK, về cơ bản, vẫn dựa trên các văn bản đọc hiểu, hoặc, những tác phẩm văn học Điều này phù hợp với nguyên tắc tích hợp Tuy nhiên, HS rất cần được trải nghiệm những tình huống giao tiếp cụ thể, gần gũi trong cuộc sống, khơi dậy trong các em nhu cầu giao tiếp Bởi, dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực người học cần đưa HS của mình vào các tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các BT thực hành
- Việc xây dựng hệ thống BT trên chưa đi theo quy trình của việc xác định chuẩn đầu ra nên về cơ bản, vẫn còn rời rạc Cụ thể hơn, cần đi theo các bước của một quy trình: xác định năng lực (trong đó, cụ thể hóa đến các năng lực cơ bản, hệ thống các kĩ năng,…); tiến hành thiết kế các nhiệm vụ thực hiện (phải trả lời được câu hỏi: HS sẽ làm gì để hình thành kĩ năng?); tiến hành thiết lập các tiêu chí thực hiện và tiêu chí kiểm tra, đánh giá (hay còn gọi
là Rubrics); thiết kế các hoạt động dạy học và xây dựng hệ thống BT là một
minh chứng tiêu biểu hướng đến mục tiêu trang bị cho HS năng lực thực hiện nhiều hơn những tri thức có tính tái hiện
1.2.2 Khảo sát cách xây dựng và triển khai hệ thống BT của GV
- Qua thực tế dạy học của GV ở THCS, trong đó chủ yếu là những GV ở
lớp 7, để tìm hiểu thực trạng về cách xây dựng và triển khai hệ thống BT trong dạy học cụm bài về các phép biến đổi câu ở ở lớp 7 của GV, chúng tôi tiến hành khảo sát qua các hình thức: phỏng vấn - điều tra (qua phiếu điều tra
ở phần Phụ lục); dự giờ, nghiên cứu giáo án
Nội dung khảo sát cách xây dựng hệ thống BT của GV lớp 7 được cụ thể hóa qua bảng sau: