1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng họ thầu dầu (euphorbiaceae) ở một số xã thuộc khu vực phía nam tỉnh thanh hóa và phía bắc tỉnh nghệ an

50 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tính đa dạng họ thầu dầu (Euphorbiaceae) ở một số xã thuộc khu vực phía nam tỉnh Thanh Hóa và phía bắc tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa, Nghệ An
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, ngoài hai công trình của Đỗ Ngọc Đài và cộng sự 2008 [12], Phạm Hồng Ban và cộng sự 2009 [3] đã công bố thành phần loài của họ này trong nghiên cứu về thực vật ở phía Bắc hu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) được coi là một trong những họ thực vật lớn, giàu loài thứ tư (sau các họ Lan - Orchidaceae, Đậu - Fabaceae, Lúa - Poaceae) trong số 305 họ thực vật bậc cao có mạch [19] Trên thế giới, họ Thầu dầu có khoảng 322 chi với gần 8.910 loài phân bố rộng rãi trên toàn thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [35] Ở Việt Nam, hiện biết có 70 chi với 497 loài và dưới loài [5] Với đặc điểm đa dạng thân, lá (luôn có lá kèm), với hoa đơn tính, có tuyến mật trong hoa hay trên lá, quả thường có 3 mảnh vỏ, khi chín mở thành các ô, các ô tách rời nhau để lại cột trung tâm ở giữa, mở phía bụng và tung hạt ra ngoài [4]

Nhiều loài trong họ này có ý nghĩa kinh tế như cho gỗ quý, là nguyên liệu điều chế xăng sinh học, làm lương thực, thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Nhiều loài được dùng làm thuốc chữa bệnh Một số loài là những cây làm cảnh cho màu sắc đẹp,….[2]

Do đó, việc tiến hành nghiên cứu về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) để

có cơ sở khoa học trong việc khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm

Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và ghi nhận nhiều loài mới của họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Điển hình là các công trình nghiên cứu của Nguy n Nghĩa Thìn (từ năm 1995 đến năm 1999) Ông không chỉ nghiên cứu hệ thống phân loại, sự đa dạng, phát hiện nhiều loài mới của họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam mà còn đưa ra khóa định loại chi tiết cho các taxon của họ này [38] Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu có

đề cập đến thành phần loài họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) khi nghiên cứu hệ thực vật hoặc giá trị của thực vật như Lê Trần Chấn (1999) [7], Phạm Hoàng

Hộ (2000) [14], Đỗ Tất Lợi (2003) [18], Nguy n Tiến Bân và công sự (2003) [5], Võ Văn Chi (2012) [8] …

Khu vực phía Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An là vùng tiếp giáp giữa

Trang 2

hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, nơi đây có hệ thống núi đất và đá vôi xen kẽ Qua khảo sát, tại đây hiện có 3 nhà máy xi măng (Nghi Sơn, Công Thanh và Hoàng Mai) đã và đang khai thác nguồn nguyên liệu để sản xuất xi măng nên

ít nhiều có tác động đến hệ thực vật nói chung và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) nói riêng

Cho đến nay, ngoài hai công trình của Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2008) [12], Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) [3] đã công bố thành phần loài của

họ này trong nghiên cứu về thực vật ở phía Bắc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, thì khu Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An chưa có công trình nghiên cứu riêng biệt, cụ thể về thành phần và giá trị của các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

Do đó, để bổ sung, cập nhật thành phần loài họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) cũng như giá trị của chúng tại khu khu vực này, chúng tôi

lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở một số xã thuộc khu vực phía Nam tỉnh Thanh Hóa và phía Bắc tỉnh Nghệ An” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý

và giá trị sử dụng của các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) nói riêng và các họ thực vật khác nói chung

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về họ Thầu dầu trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) trên đầy đủ các phương diện như phân loại học, hình thái giải phẫu, phấn hoa như: Năm 1789, Jussieu mô tả và đặt tên cho họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Tiếp theo là các công trình của Baillon (1858-1874) đã giới thiệu 150 chi thuộc họ này

Đáng chú ý hơn cả là công trình của Boissier (1862) và Mueller (1866)

đã mô tả tỉ mỉ 3200 loài thuộc 176 chi của toàn thế giới, của Bentham và Hooker (1800) đã giới thiệu 197 chi và sắp xếp thành 6 tông, và công trình đồ

sộ của Pax và Pax & Hoffmann (1890-1931) Hai tác giả sau đã viết trên 2200 trang giới thiệu trên 283 chi thuộc 2 nhóm gồm 4 phân họ, 17 tông, 43 phân tông (theo [25])

55 năm sau một loạt các công trình đã công bố, nổi tiếng là Hururawa (1954), Hutchinson (1969), Airy Shaw (1960-1981), đặc biệt các công trình của Webster (1975-1987) đã đề cập tới nhiều mặt và đưa ra sơ đồ phân loại mới về họ này trên toàn thế giới (theo [25]) Bên cạnh đó, nhiều công trình thuộc các lĩnh vực khác cũng lần lượt ra đời như: Punt (1962-1987), Köhler (1965) về hạt phấn, Hans (1973) về thể nhi m sắc, Mannega (1987) về giải phẫu gỗ, Rudal (1987) về nhựa mủ (theo [25]) Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu như: Gagnepain (1920-1927), Merill (1924-1938), Metcalf (1941), Croizat (1942), Li (1984) (theo [10])

1.1.2 Nghiên cứu về họ Thầu dầu ở Việt Nam

Công trình nghiên cứu phân loại riêng họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam được Nguy n Nghĩa Thìn (1996) thực hiện, tác giả đã mô tả và xây dựng thành khóa định loại và được sử dụng nhiều ở Việt Nam khi nghiên cứu

Trang 4

thực vật nói chung và họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) nói riêng [38]

Trên phạm vị cả nước, có một số công trình nghiên cứu có đề cập, thống kê đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), như:

Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) đã công bố họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 405 loài và dưới loài với 61 chi [7]

Trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam” (Quyển II) tác giả Phạm Hoàng Hộ (2000) đã mô tả và vẽ hình 456 loài và dưới loài của 67 chi họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [14]

Năm 1997, trên cơ sở tổng hợp, thống kế, Nguy n Nghĩa Thìn đã công

bố họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) là một trong những họ có số lượng loài nhiều nhất với khoảng 422 loài và dưới loài và chỉ đứng sau Orchidaceae (họ Lan - 800 loài và dưới loài) [26]

Về thành phần loài họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở một số khu vực cụ thể, các nhà nghiên cứu khi đánh giá đa dạng thực vật đều thống kê phân loại

họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), chẳng hạn: Năm 2006, Nguy n Nghĩa Thìn đã xác định được 40 loài và dưới loài của 24 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có mặt tại khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Na Hang, tỉnh Tuyên Quang [28]

Nguy n Nghĩa Thìn và cộng sự (2008) khi nghiên cứu đa dạng sinh học Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên đã ghi nhận được 34 loài và dưới loài của

16 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [30]

Khi nghiên cứu đa dạng sinh học tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nhóm tác giả Trần Minh Hợi và cộng sự (2008) đã ghi nhận tại đây có 60 loài

và dưới loài của 27 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [14]; Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) nghiên cứu về thực vật tại VQG Cúc Phương đã công

bố Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 110 loài và dưới loài thuộc 36 chi [17]; Nguy n Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) nghiên cứu tại VQG Pù Mát tỉnh Nghệ

An đã công bố họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 131 loài và dưới loài của 43 chi [29],

Trang 5

Công trình nghiên cứu riêng lẻ họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở vùng đệm VQG Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh của Nguy n Anh Dũng và cộng sự (2011)

đã công bố 53 loài và dưới loài của 25 chi [10]

1.1.3 Nghiên cứu họ Thầu dầu tại Thanh Hóa, Nghệ An và địa điểm nghiên cứu

Tại Thanh Hóa đã có một số công trình nghiên cứu về đa dạng thành

phần loài thực vật của các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc gia nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu riêng biệt, chi tiết, cụ thể về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

Đến nay, có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến thành phần loài và giá trị họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), như: Đỗ Ngọc Đài và công sự (2007) khi nghiên cứu thực vật bậc cao có mạch trên núi đá vôi VQG Bến En

đã xác định và công bố được 4 ngành với 110 họ, 267 chi, 412 loài và dưới loài, trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 17 chi với 34 loài [11]

Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008) tại VQG Bến En đã xác định được 6 ngành thực vật bậc cao có mạch với 173 họ,

650 chi, 1.389 loài và dưới loài, trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 40 chi với 113 loài và dưới loài [37]

Đỗ Ngọc Đài và công sự (2010) khi nghiên cứu đa dạng thực vật khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên đã xác định được 6 ngành thực vật bậc cao có mạch với 162 họ, 517 chi và 952 loài và dưới loài, trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 32 chi với 62 loài và dưới loài [13]

Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2013) công bố tại Khu BTTN Pù Hu có

77 loài, 35 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [19]

Đậu Bá Thìn và cộng sự (2016), khi nghiên cứu hệ thực vật bậc cao có mạch tại khu BTTN Pù Luông đã xác định được 6 ngành thực vật bậc cao có mạch với 181 họ, 715 chi, 1.533 loài và dưới loài trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 32 chi, 63 loài và dưới loài [24]

Đặng Quốc Vũ (2016) khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại Khu bảo

Trang 6

tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa đã xác định được 6 ngành thực vật bậc cao với 170 họ, 701 chi và 1560 loài và dưới loài Trong đó xác định được 50 loài của 22 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) [32]

Hoàng Văn Chính (2019) đã công bố có 3 loài cho tinh dầu và làm thuốc thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) tại VQG Bến En, Thanh Hóa [9]

Ở khu vực Nghệ An, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về thực

vật như: Nguy n Nghĩa Thìn và Nguy n Thanh Nhàn (2004) đã xác định tại VQG Pù Mát-Nghệ An có 1251 loài và dưới loài thuộc 604 chi, 159 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó họ Thầu dầu có 131 loài và dưới loài của 43 chi [29];

Nguy n Thanh Nhàn (2017) đã xác định tại VQG Pù Mát-Nghệ An có 2.600 loài và dưới loài của 943 chi, 204 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 134 loài 45 chi [20];

Phạm Hồng Ban và cộng sự (2019) đã xác định được thành phần loài

và giá trị sử dụng của họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) tại xã Tiền Phong thuộc khu BTTN Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An gồm 94 loài và thứ thuộc 33 chi [2]

Ở khu vực phía Nam huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa, nhóm nghiên cứu

Đậu Bá Thìn và cộng sự (2014) nghiên cứu và đã công bố 91 loài và dưới loài của 41 chi, 3 phân họ của họ Đậu [23]

Ở khu vực phía Bắc Quỳnh Lưu - Nghệ An, nhóm nghiên cứu Đỗ Ngọc

Đài và cộng sự (2008) đã xác định và công bố họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

có 51 loài và dưới loài của 25 chi [12]; Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) đã công bố 561 loài và dưới loài của 304 chi, 98 họ của 3 ngành thực vật bậc cao

có mạch, trong đó họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 51 loài và dưới loài [3]

Như vậy, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài, giá trị sử dụng, yếu tố địa lý của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở khu vực tiếp giáp hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An tại huyện Tĩnh Gia và thị xã Hoàng Mai

Trang 7

1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực nghiên cứu thuộc 7 xã thuộc huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa (Phú Lâm, Phú Sơn, Tùng Lâm, Tân Trường, Trường Lâm, Hải Thượng và Nghi Sơn) và 3 xã 01 phường của thị xã Hoàng Mai, Nghệ An (xã Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Vinh và phường Quỳnh Thiện);

Phía Bắc tiếp giáp với huyện Quảng Xương - Thanh Hóa, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ và phía Tây giáp huyện Nông Cống - Thanh Hóa; phía Nam giáp Quỳnh Lưu [22], [31]

1.2.1.2 Địa hình

Theo Địa chí huyện Tĩnh Gia (2010) [22] và Báo cáo của UBND thị xã Hoàng Mai (2019) [31], địa hình khu vực nghiên cứu gồm cả khu vực ven biển, vùng trung du và bán sơn địa; có hệ thống núi đá vôi, núi đất phát triển khá mạnh theo chiều từ Tây sang Đông

Tại khu vực nghiên cứu có 3 nhà máy xi măng Nghi Sơn, Công Thanh thuộc huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa và Nhà máy xi măng Hoàng Mai thuộc thị

xã Hoàng Mai - Nghệ An đã và đang khai thác đá đã ít nhiều tác động tới môi trường và ảnh hướng đến hệ thực vật nói chung, các họ thực vật cụ thể nói riêng

Diện tích đất và diện tích rừng của khu vực nghiên cứu được thể hiện qua Bảng 1.1

Trang 8

Bảng 1.1 Diện tích đất và rừng của khu vực nghiên cứu

*Nguồn: Theo Địa chí huyện Tĩnh Gia (2010) [22]

và Báo cáo của UBND thị xã Hoàng Mai (2019) [31] 1.2.1.4 Khí hậu và thủy văn

Theo Trung tâm dự báo khí hậu thủy văn Bắc-Trung Bộ, khu vực nghiên cứu có đặc điểm khí hậu, thủy văn:

- Khí hậu: Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Mùa nắng - nóng kèm theo gió Lào nhiệt độ nhiều ngày lên cao tới 38-400C, gây khô hạn kéo dài, thường có mưa lớn kèm theo lụt bão Mùa lạnh thường kèm theo hanh, khô và rét đậm

Về nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trung bình trong năm đạt từ 8.500 đến 8.6000C, biên độ năm 12-130C, biên độ nhiệt độ ngày từ 5,5-60

C Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối chưa dưới 50C, cao nhất chưa quá 410C

Trang 9

Lượng mưa trung bình năm từ 1600-1800 mm, lượng mưa tập trung vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 10 (lượng mưa chiếm tới 80% lượng mưa

cả năm)

Hệ thống sông trên địa bàn có đặc điểm ngắn và dốc, gồm các sông tự nhiên và sông đào: sông Kênh Than, sông Ghép, sông Lạch Bạng, sông Yên Hòa (Lạch Hà Nẫm), sông Nhà Lê và các con suối nhỏ là nơi tiêu thoát, cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và đời sống một bộ phận dân cư

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Dân số, lao động

Theo số liệu thống kê năm 2019, dân số tại địa bàn 7 xã của thuộc huyện Tĩnh Gia chiếm 19,98% so với dân số huyện Tĩnh Gia (54.730/274.000 người); 4 xã tại thị xã Hoàng Mai chiếm 43,08% của thị xã (48.605/112.835) Dân cư trong độ tuổi lao động của khu vực nghiên cứu chiếm khoảng 60-65% tổng dân số

Lao động trong ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chiếm khoảng 76,27% tổng số lao động; ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 7,12% và khoảng 15,74% trong khu vực làm dịch vụ

1.2.2.2 Thực trạng một số ngành kinh tế chủ yếu

Trong những năm qua, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở tài nguyên có sẵn và nguyên liệu là sản phẩm được khai thác, được sản xuất trên địa bàn Hoạt động chủ yếu sử dụng trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ lạc hậu nên chưa khai thác hết thế mạnh của địa phương Một số ngành như: sản xuất nước nắm, mắm tôm, nghề sơn tràng, làm nước đá, nghề may, nghề dệt chiếu cói

Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp đã và đang mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cho huyện Tĩnh Gia và thị xã Hoàng Mai nói riêng và cho tỉnh nói chung Nhất là hoạt động của khu Kinh tế Nghi Sơn với nhiều hoạt động của các khu công nghiệp, trong đó có nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, các nhà máy xi măng,

Trang 10

1.2.2.3 Về cơ sở hạ tầng, giáo dục và y tế

Giao thông vận tải: Huyện Tĩnh Gia và thị xã Hoàng Mai có điều kiện

thuận lợi phát triển hệ thống giao thông không chỉ với hệ thống đường bộ, mà còn có cả hệ thống giao thông đường thủy Đây là những yếu tố hết sức quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn

Giáo dục và đào tạo: có hệ thống giáo dục và đào tạo từ THPT đến

giáo dục Mầm non đầy đủ và được đầu tư đúng mực

Y tế: đây là một trong những địa phương có hệ thống y tế cơ sở được

trang bị đầy đủ trang thiết bị và kể cả đội ngũ cán bộ làm công tác y tế

Trang 11

Nguồn: Theo Lê Thanh Hà-Trường Đại học Hồng Đức 2018

Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

Trang 12

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 07 xã thuộc huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa (xã Phú

Lâm, Phú Sơn, Tùng Lâm, Tân Trường, Trường Lâm, Hải Thượng và Nghi Sơn) và 04 xã/phường thuộc phía Bắc thị xã Hoàng Mai (xã Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Vinh và phường Quỳnh Thiện) Gọi chung là phía Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu: Thành phần loài, dạng sống, giá trị sử dụng và

yếu tố địa lý của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019 Tiến hành thu mẫu trong 4 đợt, mỗi đợt kéo dài 4 ngày, cụ thể:

2.3 Nội dung nghiên cứu

Lập danh lục họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở khu vực nghiên cứu;

Trang 13

Đánh giá tính đa dạng thành phần loài, dạng sống, giá trị sử dụng và yếu tố địa lý của các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở khu vực nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa

Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trước đây đã thực hiện ở

vùng Thanh Hóa và Nghệ An về các vấn đề liên quan nội dung của đề tài

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực vật

2.4.2.1 Điều tra thực địa

Xác định tuyến, điểm thu mẫu và thực hiện quy trình điều tra, thu mẫu nghiên cứu thực địa áp dụng theo phương pháp được Nguy n Nghĩa Thìn giới

thiệu trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” (1997) [26] và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008) [27] Cụ thể đã thực hiện 10 tuyến

thu mẫu như sau:

Chọn 6 tuyến tại các xã phía Nam của huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa gồm tuyến 1: từ xã Phú Lâm đến xã Phú Sơn; tuyến 2: từ xã Phú Lâm đến xã Tùng Lâm; tuyến 3: từ xã Phú Lâm - Tùng Lâm đến xã Tân Trường; tuyến 4:

từ xã Tân Trường đến xã Trường Lâm; tuyến 5: từ xã Tân Trường - Trường Lâm đến xã Hải Thượng; tuyến 6: từ xã Hải Thượng đến xã Nghi Sơn);

Chọn 4 tuyến thuộc các xã phía Bắc thị xã Hoàng Mai - Nghệ An gồm tuyến 7: từ xã Quỳnh Lộc đến xã Quỳnh Lập; tuyến 8: từ xã Quỳnh Lộc - Quỳnh Lập đến xã Quỳnh Vinh; tuyến 9: từ phường Quỳnh Thiện đến xã Quỳnh Lộc - Quỳnh Lập; tuyến 10: Từ xã Quỳnh Vinh đến phường Quỳnh Thiện

Mỗi tuyến dài khoảng 4,5 - 5 km và đi qua các địa hình, sinh cảnh khác nhau Mở rộng phạm vi điều tra trên mỗi tuyến về 2 bên khoảng 50 m

Nguyên tắc thu mẫu: Đối với những cây quen thuộc: Tiến hành ghi chép tên, dạng sống, bộ phận sử dụng, công dụng

Trang 14

Đối với những cây không quen thuộc (chưa định loại được): Thu mẫu theo nguyên tắc:

Mỗi mẫu thu đầy đủ các bộ phận cành, lá, hoa, quả (nếu có);

Mỗi cây thu 3 mẫu;

Các mẫu thu trên cùng một cây được đánh dấu cùng một số hiệu, thu đợt nào đánh dấu đợt đó

Trong khi thu mẫu chúng tôi tiến hành ghi những đặc điểm d mất khi khô như: Màu sắc của hoa, quả và những đặc điểm ngoài thiên nhiên

Xử lý sơ bộ: Đeo số hiệu và ghi chép xong đặt mẫu vào giữa tờ báo

(mỗi mẫu một tờ báo ép), sau đó xếp vào cặp mắt cáo đem về xử lý tiếp

Trong quá trình xử lý mẫu sắp xếp có lá sấp, lá ngửa để có thể quan sát

cả hai mặt lá, riêng đối với hoa thì dùng mảnh báo nhỏ để ngăn cách nó với các hoa hay lá bên cạnh để tránh hiện tượng dính vào các bộ phận khác

Bảo quản: Do mỗi lần thu mẫu chỉ thu được một số lượng mẫu ít

(khoảng 10-12 loài), nên ngay sau khi thu mẫu (thu buổi sáng), buổi chiều tiến hành định loại ngay khi các đặc điểm của chúng còn giữ nguyên, những mẫu nào chưa xác định ngay được thì đặt vào báo và buộc bằng cặp mắt cáo

để tiến hành định loại sau

2.4.2.2 Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

Ép mẫu: Trước khi sấy mẫu chúng tôi ép phẳng mẫu trên giấy báo dày,

đảm bảo phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa hoặc quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu Tập mẫu ép giữa các lớp báo dày và tấm alumin thoát nhiệt sẽ được bó chặt giữa đôi cặp ô vuông (mắt cáo) trước khi cho vào sấy

Sấy mẫu và tẩm mẫu: Mẫu mang về sau khi ép cần được sấy ngay Khi

sấy chú ý để mẫu dựng đứng để nước bốc hơi d dàng và mẫu chóng khô Hàng ngày phải thay giấy báo mới cho mẫu chóng khô Mẫu tẩm cồn nên mở các bó mẫu cho hơi cồn bốc hơi trước khi dùng báo mới ép lại để tránh mùi khó chịu khi sấy

Trang 15

Phân tích mẫu: Mẫu sau thực địa được ép, sấy, làm thành tiêu bản,

hoàn chỉnh lý lịch khi xác định được tên

Xác định loài và tên khoa học: Bằng phương pháp hình thái so sánh

dựa vào các đặc điểm của thân, lá, hoa, quả;

Ngoài ra, sử dụng thêm phương pháp chuyên gia: phân tích mẫu theo chi So mẫu với bộ mẫu chuẩn (tại các Bảo tàng), xác định tên loài dựa vào các đặc điểm của cành, lá, hoa, quả Một số mẫu khó nhờ các chuyên gia (Bộ môn thực vật, Khoa Sinh vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Phòng thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật)

Các tài liệu sử dụng trong quá trình xác định tên khoa học của loài gồm: Khóa định loại họ Thầu dầu ở Việt Nam (Nguy n Nghĩa Thìn 1999, 2007) [38], [39]

Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ - 2000) [14];

Thực vật chí Trung Quốc (Li Bingtao và sộng sự, 1999) [35]

Chỉnh lý tên khoa học và xây dựng danh lục: Thống nhất tên gọi theo Bộ

luật về tên gọi thực vật Tokyo (1994) (ghi theo Nguy n Nghĩa Thìn, 1997) quy định đối với họ, thống nhất tên gọi của chi và họ (không áp dụng với các

họ đã theo Bộ luật trên) theo hệ thống của Brummitt (1992) [33]

Tên đầy đủ của loài cùng với các thông tin về giá trị sử dụng, dạng sống

và phân bố được xác định theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (tập II - 2003) [5], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012) [8], “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” (2007) [16]…

2.4.2.3 Đánh giá đa dạng họ Thầu dầu

Thực hiện theo phương pháp của Nguy n Nghĩa Thìn (2008) [27]: Đánh giá đa dạng loài của các chi (xác định chi giàu loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả họ)

Trang 16

2.4.2.4 Đánh giá đa dạng về dạng sống của họ Thầu dầu

Tiến hành xác định, phân tích dạng sống của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) tại địa điểm nghiên cứu theo thang phân chia các dạng sống của Raunkiær (1934) [36] và Nguy n Nghĩa Thìn (2008) [27]

Bảng 2.1 Thang phân chia các dạng sống của thực vật

Nhóm cây chồi trên

Những cây gỗ, dây leo, thảo, bì sinh, ký sinh có chồi tồn tại

nhiều năm cách đất từ 25 cm trở lên Gồm các dạng sống:

Ph Phananerophytes

- Chồi trên to: là cây gỗ cao trên 30 m Mg

- Cây thân thảo sống lâu năm cao trên 25 cm Hp

- Dây leo sống lâu năm, leo cao trên 25 cm Lp

- Cây ký sinh, bán ký sinh sống lâu năm Pp

- Cây mọng nước sống lâu năm cao trên 25 cm Suc

Nhóm cây chồi sát đất

Gồm những cây có chồi cách đất 0-25 cm, mùa bất lợi

thường được tuyết hay lá khô che phủ

Ch Chamaephytes

Nhóm cây chồi nửa ẩn

Cây có chồi nằm dưới, ngay sát mặt đất, mùa bất lợi

thường được tuyết hay lá khô che phủ

Hm Hemicryptophytes

Nhóm cây chồi ẩn

Cây có chồi nằm sâu trong đất (hoặc trong bùn, nước),

mùa bất lợi phần khí sinh tàn rụi hết nhưng còn thân ngầm

ở dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó

Cr Cryptophytes

Trang 17

Dạng sống Ký hiệu Nhóm cây chồi một năm

Cây chỉ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong vòng một năm rồi

chết, chỉ còn hạt để duy trì sang mùa thuận lợi sau đó

Th Therophytes

2.4.2.5 Đánh giá tính đa dạng về các yếu tố địa lý của họ Thầu dầu

Căn cứ vào sự phân bố của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), tiến hành xác định các yếu tố địa lý của hệ thực vật khu vực nghiên cứu theo Nguy n Nghĩa Thìn (2008) [27]

Bảng 2.2 Các yếu tố địa lý của hệ thực vật

+ Yếu tố liên nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ 2.1 + Yếu tố liên nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Mỹ 2.2

Trang 18

Tên yếu tố Ký hiệu

+ Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải-châu Âu-châu Á 5.3

2.4.2.6 Đánh giá đa dạng về giá trị sử dụng của họ Thầu dầu

Đánh giá về giá trị sử dụng của các loài trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở địa điểm nghiên cứu dựa vào phương pháp phỏng vấn có

sự tham gia (PRA) [40] và các tài liệu: “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (2012) [8], “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (tập 2, 2000) [14], “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Nguy n Tiến Bân và cộng sự (tập 2, 2003) [5], “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003) [18], “Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” của Triệu Văn Hùng và cộng sự (2007) [16], ; Viết tắt giá trị sử dụng của cây theo “Tên cây rừng Việt Nam”

do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phát hành (2000) [6]

Các giá trị sử dụng của các loài thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) được trình bày theo Bảng 2.3

Bảng 2.3 Các nhóm giá trị sử dụng của họ Thầu dầu

Cây dùng làm thuốc

Có giá trị trong việc chữa trị các bệnh tật, bồi bổ sức khỏe theo

kinh nghiệm cổ truyền hoặc hiện đại

THU

Trang 19

Giá trị sử dụng Ký hiệu Cây ăn đƣợc

Được sử dụng một phần để ăn (rau quả, lương thực, gia vị…) AND

Cây làm cảnh

Cây có hoa đẹp, thế đẹp, được sử dụng làm cảnh, trồng ở công

viên, đường phố hoặc cho bóng mát

CAN

Cây cho dầu béo

Cây lấy gỗ

Cây cho tannin

Cây độc

Cây cho công dụng khác

Cây có công dụng khác như làm củi, làm hàng rào, #

Trang 20

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở phía Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An

Quá trình nghiên cứu, điều tra và đã thu thập 268 mẫu tiêu bản, đã định loại được 113 loài của 37 chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở một số xã

phía Nam tỉnh Thanh Hóa và phía Bắc tỉnh Nghệ An Cụ thể được trình bày

tại Bảng 3.1

Bảng 3.1 Danh lục họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)

ở phía Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An

sống

Yếu tố địa lí

Giá trị

sử dụng

1 Acalypha kerrii Craib Tai tượng đá

2 Acalypha siamensis Oliv

3 Actephila excelsa (Dalz.)

4 Actephila excelsa (Dalz.)

var acuminata Airy-Shaw

Háo duyên

5 Actephila nitidula Gagnep Da gà bóng Na 6.1

7 Alchornea rugosa (Lour.)

8 Aleurites moluccana (L.)

Oil, LGO, THU

9 Antidesma acidum Retz Chòi mòi chua Na 4.2 AND, THU

10 Antidesma fordii Hemsl Chòi mòi lá

Trang 21

TT Tên latin Tên Việt Nam Dạng

sống

Yếu tố địa lí

Giá trị

sử dụng

11 Antidesma ghaesembilla

13 Antidesma tonkinensis

Gagnep

Chòi mòi bắc

14 Aporosa dioica (Roxb.)

Baill ex Muell.-Arg Ngăm rừng Na 4.2 LGO

18 Aporosa serrata Gagnep Ngăm lông

19 Aporosa sphaerosperma

20 Aporosa villosa (Lindl.)

21 Aporosa wallichii Hook f Ngăm wallich Mi 4.1

22 Aporosa yunnanensis (Pax

& Hoffm.) Metc

Ngăm rừng

23 Ashtonia aff excelsa

24 Baccaurea oxycarpa

25 Baccaurea ramiflora Lour Giâu gia đất Mi 4.2 AND, LGO,

THU

26 Bischofia javanica Blume Nhội Mg 4.2 AND, CAN,

LGO, THU, #

Trang 22

TT Tên latin Tên Việt Nam Dạng

sống

Yếu tố địa lí

29 Breynia baudouini Beille Bồ cu

30 Breynia fruticosa (L.)

31 Breynia glauca Craib Bồ cu bạc Na 4.5

32 Breynia petelotii Merr sec

36 Bridelia monoica (Lour)

38 Claoxylon indicum (Reinw

ex Blume.) Endl ex Hassk Lộc mại ấn Me 4.2 AND, THU

Trang 23

TT Tên latin Tên Việt Nam Dạng

sống

Yếu tố địa lí

Giá trị

sử dụng

43 Croton cascarilloides

44 Croton chevalieri Gagnep Cù đèn

45 Croton heterocarpus

46 Croton lachnocarpus

47 Croton maieuticus Gagnep A luân cung Na 6 THU

52 Drypetes hoaensis Gagnep Sang trắng

53 Drypetes poilanei Gagnep Mang trắng Mi 6

54 Euphorbia antiquorum L Xương rồng

55 Euphorbia arenarioides

56 Euphorbia cristata Heyne

57 Euphorbia cyathophora

Murr

Trạng nguyên

Trang 24

TT Tên latin Tên Việt Nam Dạng

sống

Yếu tố địa lí

Giá trị

sử dụng

59 Euphorbia thymifolia L Cỏ sữa đất Hp 2.3 THU

63 Flueggea jullienii (Beille)

Trang 25

TT Tên latin Tên Việt Nam Dạng

sống

Yếu tố địa lí

77 Macaranga kurzii (Kuntze)

81 Mallotus apelta (Lour.)

82 Mallotus barbatus

85 Mallotus luchenensis Metc Cám lợn Na 4.4

86 Mallotus metcalfianus

87 Mallotus microcarpus Pax

& Hoffm Ba bét quả nhỏ Mi 4.4

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w