1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất bền vững trên đất chuyên màu tại huyện thiệu hóa, tỉnh thanh hoá

97 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất bền vững trên đất chuyên màu tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Đỗ Viết Tứ
Người hướng dẫn PGS. TS Lê Hữu Cần
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Khoa học cây trồng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra: Để tái cơ cấu cây trồng tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cần phải nghiên cứu và lựa chọn hệ thống

Trang 1

TRÊN ĐẤT CHUYÊN MÀU TẠI HUYỆN THIỆU

HÓA, TỈNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 8620110

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Hữu Cần

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 3

Theo Quyết định số 1248/QĐ-ĐHHĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019

của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:

trong Hội đồng

PGS.TS Nguyễn Bá Thông Trường ĐH Hồng Đức Chủ tịch

TS Phạm Văn Dân Trung tâm chuyển giao CN&KN Phản biện 2

TS Phạm Thị Thanh Hương Sở KH&CN Thanh Hóa Thư ký

Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Thanh Hóa, tháng 7 năm 2019

Tác giả luận văn

Đỗ Viết Tứ

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, ngoài trách nhiệm và sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn

bè, đồng nghiệp và người thân

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê

Hữu Cần là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề

tài Cô giáo đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn nghiêm túc, khoa học theo đúng quy trình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Nông Lâm Ngư nghiệp Trường Đại Học Hồng Đức đã giúp đỡ và trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành quan trọng trong suốt thời gian học tập

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo và cán bộ, công nhân viên UBND huyện Thiệu Hóa - tỉnh Thanh Hoá đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Cuối cùng tôi xin được nói lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè

và đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Thanh Hóa, tháng 7 năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Viết Tứ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng 4

1.1.2 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng hợp lý 4

1.1.3 Lý luận về : Luân canh, xen canh, tăng vụ 7

1.1.4 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng 9

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về cơ cấu, công thức luân canh, xen canh cây trồng trên Thế giới 17

1.2.2 Kết quả nghiên cứu về cơ cấu, công thức luân canh, xen canh cây trồng ở Việt Nam 20

1.2.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác hiệu quả 21

1.3 Những nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

Trang 7

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 27

2.4.2 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 28

2.4.3 Đánh giá hiệu quả của các công thức luân canh 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thiệu Hóa 34

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

3.2 Thực trạng hệ thống cây trồng huyện Thiệu Hóa 50

3.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu 50

3.2.2 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh cây trồng hiện có 51

3.2.3 Phương hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của huyện Thiệu Hóa 54

3.3 Kết quả so sánh một số giống cây trồng chủ lực và cơ cấu cây trồng trên chân đất chuyên màu huyện Thiệu Hóa, để xác định cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất bền vững 55

3.3.1 Kết quả so sánh một số giống ngô trên đất chuyên màu huyện Thiệu Hóa 55 3.3.2 Kết quả so sánh một số giống đậu tương trên đất chuyên màu huyện Thiệu Hóa 58

3.3.3 Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh 64

3.4 Đề xuất CCCTr trên đất chuyên màu huyện Thiệu Hóa theo hướng sản xuất bền vững 70

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC P1

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu ở Thiệu Hóa năm 2018 35Bảng 3.2 Kết quả phân loại, diện tích và tỷ lệ các nhóm đất huyện

Thiệu Hóa 40Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Thiệu Hóa năm 2018 41Bảng 3.4 Diện tích các loại cây trồng hàng năm của huyện Thiệu Hóa

giai đoạn 2014-2018 44Bảng 3.5 Tình hình dân số và lao động của huyện Thiệu Hóa năm 2018 46Bảng 3.6 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu 50Bảng 3.7 Loại cây trồng vụ Xuân và hiệu quả kinh tế tại huyện Thiệu

Hóa, năm 2018(triệu đồng/ha) 52Bảng 3.8 Loại cây trồng vụ Mùa và hiệu quả kinh tế của chúng tại

huyện Thiệu Hóa, năm 2018 (triệu đồng/ha) 52

Bảng 3.9 Loại cây trồng vụ Đông và hiệu quả kinh tế của chúng tại

huyện Thiệu Hóa, năm 2018 (triệu đồng/ha) 53Bảng 3.10 Đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống ngô thí

nghiệm 55Bảng 3.11 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống ngô thí

nghiệm, tại huyện Thiệu Hóa (vụ Đông năm 2018) 56Bảng 3.12 Đặc điểm hình thái của các giống đậu tương thí nghiệm 58Bảng 3.13 Các giai đoạn sinh trưởng và thời gian sinh trưởng của các

giống đậu tương thí nghiệm vụ Xuân 2019 tại xã Thiệu Hợp,

huyện Thiệu Hoá 59Bảng 3.14 Khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống đậu tương

thí nghiệm 60Bảng 3.15 Các yếu tố tạo thành năng suất của các giống đậu tương 61Bảng 3.16 Các yếu tố tạo thành năng suất và năng suất của các giống

đậu tương thí nghiệm 62

Trang 9

Bảng 3.17 Tình hình sâu bệnh hại, tính tách vỏ quả và khả năng chống đổ

của các giống đậu tương 63

Bảng 3.18 Các công thức trồng trọt trên đất bãi và hiệu quả kinh tế 65

Bảng 3.19 Các công thức trồng trọt trên đất bãi và hiệu quả xã hội 66

Bảng 3.20 Các công thức trồng trọt trên đất bãi và hiệu quả môi trường 67

Bảng 3.21 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên chân đất cao trong đê của huyện thiệu Hóa năm 2018 68

Bảng 3.22 Hiệu quả xã hội của các công thức trồng trọt trên chân đất cao trong đê của huyện thiệu Hóa năm 2018 69

Bảng 3.23 Hiệu quả môi trường của các công thức trồng trọt trên chân đất cao trong đê của huyện Thiệu Hóa năm 2018 69

Bảng 3.24 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh đề xuất lựa chọn trên đất bãi huyện Thiệu Hóa 71

Bảng 3.25 Hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh đề xuất lựa chọn trên đất cao trong đê huyện Thiệu Hóa 72

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ các nhóm đất huyện Thiệu Hóa năm 2018 40 Hình 3.2 Cơ cấu các loại đất năm 2018 42 Hình 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2018 43 Hình 3.4 Cơ cấu các loại cây trồng hàng năm của Thiệu Hóa giai đoạn

2014-2018 44 Hình 3.5 Năng suất thực thu của 5 giống ngô thí nghiệm 56 Hình 3.6 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất bãi 66 Hình 3.7 Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng trọt trên đất cao

trong đê 68

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thiệu Hoá là huyện trọng điểm về sản xuất nông nghiệp cách Thành Phố Thanh Hoá 15 km về phía Tây Tổng diện tích tự nhiên là 15.991,72 ha Trong đó: Diện tích đất Nông nghiệp 10.646,62 ha chiếm 66,58% tổng diện tích Dân số 157.426 người, trong đó khu vực nông thôn là 148.559 người, chiếm 94,3% dân số toàn huyện Là huyện có hệ thống giao thông phát triển, điều kiện sinh thái và kinh tế xã hội thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Trong những năm qua, nông nghiệp huyện Thiệu Hóa đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện như: Tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định bình quân đạt 4,9%/năm, đảm bảo và vượt chỉ tiêu lương thực hàng năm; tạo việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bước đầu đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm như: vùng sản xuất lúa chất lượng cao, vùng rau an toàn, cây xuất khẩu, dâu tằm, vùng chăn nuôi bò,

Tuy nông nghiệp phát triển nhưng sản xuất còn manh mún, kém hiệu quả, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương do thiên tai, dịch bệnh và biến động của thị trường, tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp thấp, chưa xây dựng được thương hiệu, hàng hóa nông sản chưa đáp ứng yêu cầu cho chế biến và thị trường xuất khẩu; việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp còn chậm; mối liên kết giữa người nông dân

và doanh nghiệp trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm còn hạn chế… Mặt khác, sự phát triển của nông nghiệp trong thời gian qua còn có nơi gây ra ảnh hưởng về môi trường và sinh thái

Trước thực trạng trên, việc xác định cơ cấu cây trồng hợp lý trên chân đất màu huyện Thiệu Hóa theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển

Trang 12

bền vững là xu hướng tất yếu và hết sức cần thiết Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU về tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững Đối với huyện Thiệu Hóa, Tái cơ cấu nông nghiệp là một trong ba chương trình trọng tâm xác định trong Nghị quyết Đại

hội lần thứ XIX nhiệm kỳ 2015 - 2020 của Đảng bộ huyện [19],[24],[9]

Vấn đề đặt ra: Để tái cơ cấu cây trồng tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cần phải nghiên cứu và lựa chọn hệ thống cây trồng hợp lý đưa vào sản xuất, hình thành nền nông nghiệp bền vững có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, từng bước nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất bền vững trên đất chuyên màu tại huyện Thiệu Hóa - tỉnh Thanh Hoá”

2 Mục đích và yêu cầu đề tài

Trang 13

2.2.3 Xây dựng được cơ cấu cây trồng phù hợp với từng chân đất và điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, đáp ứng nhu cầu sản xuất theo hướng bền vững của huyện

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

3.1.1 Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hoá xã- hội của huyện

3.1.2 Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc quy hoạch, phân vùng sản xuất nông nghiệp hợp lý, đa dạng hoá cây trồng theo hướng sản xuất bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện;

3.1.3 Kết quả nghiên cứu là tài liệu giúp cho các nhà quản lý, điều hành định hướng đúng sản xuất nông nghiệp ở huyện

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

3.2.1 Hình thành được cơ cấu cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất bền vững, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân địa phương

3.2.2 Xác định được hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng hợp lý, xây dựng được cơ cấu cây trồng thích hợp theo hướng sản xuất bền vững ở huyện

3.2.3 Chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp, kém bền vững sang sản xuất nông nghiệp bền vững

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng là sự kết hợp các loại cây trồng theo không gian và thời gian trên một mảnh đất và các biện pháp canh tác được dùng để sản xuất

ra chúng (Zandstra H.G, 1981) [47]

Cơ cấu cây trồng là tỷ lệ các loại cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định, nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp, nó phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vùng, nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Phạm Chí Thành, Phạm Tiến Dũng, Đào Châu Thu và Trần Đức Viên , 1996) [17]

1.1.2 Cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng hợp lý

Nội dung của việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng nào để tận dụng được tốt nhất các điều kiện khí hậu, đất đai cũng như các nguồn lợi tự nhiên Nhiệm vụ của nông nghiệp là phải sử dụng nguồn lợi đó một cách tốt nhất, nghĩa là dành cho chúng các điều kiện để có thể sinh trưởng, phát triển thuận lợi nhất (Lý Nhạc và cs., 1987) [12]

Một cơ cấu cây trồng được xem là hợp lý khi thoả mãn các yêu cầu: Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Đây là tiêu chí quan trọng nhất đánh giá mức độ hợp lý của hệ thống, cho phép tận dụng được những lợi thế và giảm thiểu những khó khăn, bất lợi do các yếu tố môi trường tự nhiên gây ra, đồng thời phát huy được các đặc tính sinh học quý của đối tượng sản xuất (gồm khả năng sinh trưởng, tiềm năng năng suất, đặc tính chống chịu với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi) Phù hợp với điều

Trang 15

kiện kinh tế - xã hội là sự phù hợp với trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, tập quán canh tác, tập quán tiêu thụ sản phẩm…

Cơ cấu cây trồng hợp lý phải là hệ thống phù hợp với điều kiện của người nông dân như mục tiêu sản xuất, trình độ kỹ thuật, tiềm lực kinh tế Sự phù hợp đó tạo điều kiện cho việc bố trí hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất (lao động, vốn, công cụ, cơ sở vật chất kỹ thuật khác) Kết hợp chặt chẽ các cấu phần khác của hệ thống nông nghiệp sẽ tạo nên hoạt động nhịp nhàng,

có hiệu quả

Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự kết hợp giữa kiến thức bản địa có chọn lọc với tiến bộ kỹ thuật Kiến thức bản địa bao gồm hiểu biết và kinh nghiệm của nông dân địa phương về những đặc thù của điều kiện tự nhiên và những giải pháp đã được kiểm chứng qua thực tế Ý nghĩa của kiến thức bản địa thể hiện ở chỗ chúng được hình thành, tích luỹ qua quá trình lâu dài nên có tính phù hợp cao với điều kiện thực tế Trong việc hoàn thiện hệ thống cây trồng,

kế thừa kiến thức bản địa cho phép tiết kiệm chi phí và thời gian tìm hiểu thử nghiệm, đồng thời nâng cao khả năng áp dụng Sử dụng kiến thức bản địa là việc tìm kiếm, chắt lọc những hiểu biết, kinh nghiệm phù hợp để phát triển, đi đôi với nó là việc loại bỏ các yếu tố lạc hậu, bất hợp lý Kết hợp kiến thức bản địa và các tiến bộ kỹ thuật tạo nên yếu tố mới trong việc phát triển hệ thống cây trồng, đặc biệt theo hướng cải tiến hoàn thiện hệ thống cây trồng sẵn có (Phạm Chí Thành và cs., 1996) [17]

Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng làm cho ngành trồng trọt trong nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hóa và mang lại hiệu quả kinh tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực thể khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể và vận động theo thời gian (Đào Thế Tuấn, 2003) [29]

Trang 16

Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí, thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (Đào Thế Tuấn, 1994) [27]

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là hệ sinh thái nông nghiệp Như vậy, ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái này còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu bệnh, vi sinh vật, động vật, côn trùng có ích…Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối tác động qua lại rất phức tạp Vấn đề là làm sao để tạo dựng và duy trì mối quan hệ cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế được các mặt có hại, phát huy các mặt có lợi đối với lợi ích của con người Việc này vô cùng khó khăn

và đòi hỏi phải có hiểu biết sâu rộng để điều khiển sự cân bằng sinh thái, bảo

vệ môi trường trên cơ sở khoa học trong quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng (Lý Nhạc và cs., 1987; Đào Thế Tuấn, 1994) [12], [27]

Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải tiến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới, thực tế

là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng, giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao và bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [21]

Nghiên cứu bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là một trong những biện pháp kinh tế - kỹ thuật nhằm sử dụng hiệu quả đất đai và các nguồn tài nguyên, nâng cao năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp (Hà Ban, 2008; Nguyễn Duy Tính, 1995; Caragal W.R,1987) [1],[22], [35]

Trang 17

Nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc đưa ra những hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học, kỹ thuật, lao động, quản lý, thị trường để phát triển cơ cấu cây trồng trong những điều kiện mới nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất (Lê Minh Toán, 1998)[25]

1.1.3 Lý luận về : Luân canh, xen canh, tăng vụ

Thực hiện thâm canh, luân canh, xen canh, tăng vụ là một trong những

cơ sở cho việc bố trí lao động hợp lý Ngược lại, bố trí cây trồng hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc luân canh, tăng vụ đạt kết quả cao

Trong những năm gần đây, do việc chuyển giao và ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như các giống lúa lai, ngô lai, rau, củ, quả cao cấp và các giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao nên nền sản xuất nông nghiệp đã có những bước đáng kể Tuy nhiên, cũng mới chỉ khai thác hết 60-70 % tiềm năng, năng suất của giống cũng như đất đai nên hiệu quả kinh tế và thu nhập chưa cao Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, do đó cơ sở khoa học của việc thiết lập hệ thống cây trồng phù hợp là việc bố trí mùa vụ trong năm dựa trên việc phân tích các yếu tố tác động vào sản xuất để bố trí mùa vụ hợp lý, khai thác đầy

đủ các yếu tố thuận lợi, giảm thiểu tác động của các yếu tố bất lợi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tác động vào sản xuất, nhằm khai thác khai thác có hiệu qủa tiềm năng đất đai, lao động, tăng hệ số sử dụng đất Từ đó, tạo sự chuyển biến về năng suất, sản lượng cũng như thu nhập của mỗi hộ nông dân

Trang 18

Sơ đồ cơ sở khoa học của việc bố trí mùa vụ trong năm

Vụ mùa cực sớm, mùa sớm

(110 – 120 ngày)

Vụ đông (90 – 140 ngày)

Trang 19

Qua sơ đồ cho thấy: Để có 3 vụ trở lên trong năm việc bố trí cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng là rất quan trọng Thực tế chuyển dịch cơ cấu mùa

vụ các năm qua cho thấy:

- Không thể có vụ đông trên đất 2 lúa nếu không gieo cấy lúa hè thu, mùa cực sớm và mùa sớm

- Các yếu tố tác động đến cây trồng trong vụ đông thuận lợi hơn vụ chiêm xuân và vụ mùa, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất ở vụ đông ít và

1.1.4 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới cơ cấu cây trồng

Cơ cấu cây trồng phụ thuộc rất lớn, rất nghiêm ngặt vào điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội và điều kiện cụ thể của nông hộ

- Khí hậu tới cơ cấu cây trồng:

Trong các yếu tố điều kiện tự nhiên, yếu tố khí hậu có tác động mạnh

mẽ nhất đến cơ cấu cây trồng Các yếu tố khí hậu là những yếu tố quyết định

sự phân bố động, thực vật trên trái đất và cũng là những yếu tố tác động mạnh

mẽ nhất đến năng suất của sản xuất nông nghiệp cũng như chất lượng nông

sản Theo V I Vavilop: "Biết được các yếu tố khí hậu, chúng ta sẽ xác định

được năng suất, sản lượng mùa màng, chúng mạnh hơn cả kinh tế, mạnh hơn

cả kỹ thuật”… "khí hậu nào, đất nào, cây đó” (Dẫn theo Nguyễn Văn Viết,

2009) [31]

Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây: ưa nóng, ưa lạnh hay ngày ngắn để bố trí hệ thống cây trồng trong năm Nếu không có nhiệt độ phù hợp với đặc tính ưa nhiệt của cây dẫn đến năng suất giảm Cây ưa nóng là

Trang 20

những cây trong 2 tháng cuối yêu cầu nhiệt độ trên 20oC, cây ưa lạnh là những cây trong 2 tháng cuối yêu cầu nhiệt độ dưới 20oC (Lý Nhạc và cs 1987) [12]

Để bố trí cây trồng phù hợp, đạt năng suất cao và ổn định cần phải căn

cứ vào nhu cầu của cây về nhiệt độ và ánh sáng ở giai đoạn cuối và tình hình nhiệt độ, ánh sáng từng tháng trong năm Diễn biến của nhiệt độ có ý nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được bảo đảm Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây phát triển thích hợp và an toàn trong khoảng nhiệt độ nhất định ( Nguyễn Văn Viết, 2009) [31]

Nước cần cho sự sinh trưởng, phát triển của cây, để cho các hoạt động sống của cây tiến hành được bình thường thì cây trồng đòi hỏi một lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng, tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước đối với một vùng cụ thể được xem xét để lựa chọn hệ thống cây trồng thích hợp

Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống cây trồng "Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo".(Dẫn theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) [3]

Là một trong năm nước chịu sự tác động nhiều nhất của biến đổi khí hậu Ở Việt Nam đã có một số kết quả về nông nghiệp thích nghi với biến đổi khí hậu, một số biện pháp tăng tính thích nghi của nông nghiệp sống chung và

né tránh những bất lợi do biến đổi khí hậu được đề xuất: (i) Đối với sản xuất lúa: Rút ngắn chu kỳ sản xuất chiếm ruộng bằng giống cực sớm và kỹ thuật làm mạ; dùng giống lúa cao cây dài ngày mẫn cảm với chu kỳ sáng để sống chung với lũ; nghiên cứu phát triển lúa chịu hạn; (ii) phát triển sản xuất nhiều loại cây lương thực (cây lấy củ, lấy hạt); (iii) phát triển vườn đồng bằng, vườn đồi, vườn rừng vùng núi và vùng ven biển (Nguyễn Văn Luật, 2009)[8]

Trang 21

Các biện pháp tự thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu của người dân sản xuất nông nghiệp được mô tả bao gồm: phục tráng giống địa phương, thay đổi cơ cấu giống, tăng tỷ lệ giống ngắn ngày, điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển dịch cửa cống lấy nước, tăng cơ cấu giống chịu mặn, lúa lai, tìm nguồn nước tưới, luân canh, chuyển đổi nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả, thời

vụ hóa các công thức luân canh, mô hình lúa - cá (Mai Văn Trịnh và cs., 2010)[26]

Biến đổi khí hậu đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng Riêng với cây ngô, năng suất ngô sẽ bị giảm mạnh ở vùng Tây Nguyên nhưng tăng nhẹ ở đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long, Đông Nam bộ và Tây Bắc (Mai Văn Trịnh và cs., 2010)[26]

Trước những thách thức về sản xuất lúa nói chung, vấn đề bố trí vụ lúa ngắn ngày, các giống lúa ngắn ngày hay cực ngắn ngày càng có ý nghĩa chiến lược trong điều kiện biến đổi khí hậu Việc tạo ra những giống cây trồng thích nghi tốt hơn với khí hậu đã được tập trung nghiên cứu Trong công tác chọn lọc giống ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch, lúa nước thích nghi với điều kiện khô hạn đã được triển khai thông qua nghiên cứu sự tích lũy ABA (Bùi Mạnh Cường, 2007a)[6]

- Đất đai với cơ cấu cây trồng

Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất Bảo vệ, duy trì và cải tiến nguồn tài nguyên này là tiêu chuẩn để tiếp tục duy trì chất lượng cuộc sống trên trái đất (Henry and Boyd, 1996)[40]

Việt Nam có khoảng 22 triệu ha đất đồi núi, chiếm 2/3 tổng diện tích tự nhiên, có độ dốc nhất định Gieo trồng cây ngắn ngày thường làm giảm hàm lượng hữu cơ và dự trữ mùn, đạm Để phục hồi đất đồi núi, cần bổ sung vào đất một lượng chất hữu cơ mới (phân chuồng, phân xanh, tàn dư cây trồng ) khoảng 10-15 tấn/ha/năm Chuyển từ cơ cấu độc canh cây ngắn ngày sang đa canh sẽ tăng mạnh lượng hữu cơ và nhịp độ tuần hoàn hữu cơ trong đất Điều

đó góp phần đảm bảo cho sử dụng đất lâu bền (Nguyễn Văn Bộ, 2001)[2]

Trang 22

Đất dốc rất “mẫn cảm “ đối với chế độ canh tác Đất dốc không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế thấp trong 1 chế độ canh tác bất hợp lý mà bản thân

nó cũng bị huỷ hoại, suy kiệt nhanh chóng Con người không thể lường hết được hậu quả nguy hại của sự suy thoái tài nguyên đất mang lại trong đời sống kinh tế xã hội và môi trường sinh thái Nhiều công trình nghiên cứu của Việt Nam cũng như trên thế giới đều khẳng định ưu thế của các cây trồng lâu năm trong hệ thống các cây trồng trên đất dốc.(Lê Hữu Cần, 1998)[5]

Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho trồng cây lấy củ Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho các cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Phạm Bình Quyền và cs., 1992)[15]

Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp hữu hiệu điều khiển dinh dưỡng đất Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng ở vùng đất đồi núi nhờ nước trời ở Indonexia cho thấy hạn chế chủ yếu để cây trồng tăng trưởng và cho năng suất tốt là độ màu mỡ của đất thấp Phân bón, đặc biệt phân đạm và phân lân là yếu tố chính để giải quyết vấn đề

này (Suryatra et al., 1982)[44]

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất chủ yếu quyết định đến năng suất cây trồng hơn là quyết định đến tính thích ứng Tuy vậy, trong các loại cây trồng cũng có cây đòi hỏi phải trồng ở đất tốt, có cây chịu được đất xấu

Có thể thay đổi hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất bằng cách bón thêm phân và canh tác hợp lý Phần lớn các loại đất tốt được trồng các loại cây có phản ứng mạnh với độ màu mỡ của đất và có giá trị kinh tế cao Nói cách khác, sử dụng hợp lý đất và nước chính là một bộ phận hình thành khái niệm

“nông sinh thái” Trong mối quan hệ giữa hệ thống nhỏ với hệ thống lớn này vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để phục vụ cho nền nông nghiệp theo

Trang 23

quan điểm sinh thái và phát triển bền vững không thể tách rời chiến lược sử dụng hợp lý đất và nước (Trần An Phong, 1995; Bùi Huy Thủy và cs.,1998)[13], [20]

- Cây trồng với cơ cấu cây trồng

Trong hệ sinh thái đồng ruộng, cây trồng là thành phần trung tâm của

hệ Mỗi loại cây có những yêu cầu về điều kiện sống như đất đai, khí hậu khác nhau Các loại cây trồng có quan hệ tương tác với tập đoàn vi sinh vật đất, vi sinh vật cộng sinh và cả các loại sinh vật hại riêng Hơn nữa, mỗi loại cây trồng lại có biện pháp canh tác, kỹ thuật chăm sóc cụ thể Vì vậy, mỗi vườn cây có thể xem là một hệ sinh thái nông nghiệp Nhiệm vụ của khoa học cây trồng là sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất (Đường Hồng Dật, 2008)[7]

Việc xác định chủng loại và từng giống cây trồng phù hợp trong hệ sinh thái ở từng nơi là rất quan trọng Điều kiện để xác định, quyết định tính phù hợp của chúng tại một địa phương cụ thể là các yếu tố sinh thái (Nguyễn Tất Cảnh và cs., 2004)[4]

- Quần thể sinh vật với cơ cấu cây trồng

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, ngoài thành phần sống chủ yếu là cây trồng, còn có các thành phần khác như cỏ dại, sâu, bệnh, các vi sinh vật, các động vật… các thành phần sống này cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng

Theo các tác giả Lý Nhạc, Phùng Văn Chinh (1987)[12]:

+ Khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ theo nguyên tắc:

* Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng

* Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng do các vi sinh vật gây nên

Trang 24

+ Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của cơ cấu cây trồng có những đặc điểm chủ yếu sau:

* Mật độ của quần thể do con người quy định trước từ lúc gieo trồng

* Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu sự điều khiển của con người

* Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều khiển

* Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người + Trong cơ cấu cây trồng cũng xảy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Khi gieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng Cần xác định mật độ gieo trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sự cạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xảy

ra khi trồng xen hoặc giữa cây trồng với cỏ dại Vì vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các vấn đề sau:

* Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất

* Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh tác hại của cỏ dại, sâu, bệnh Dịch sâu bệnh hại phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xảy

ra nghiêm trọng trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển nhất định của cây trồng Xác định thời vụ tốt cũng có khả năng né tránh được tác hại của sâu bệnh

- Nông hộ với cơ cấu cây trồng

Nền nông nghiệp lấy hộ nông dân làm đơn vị sản xuất hiện nay có tác dụng tích cực là kích thích sản xuất tạo ra nhiều nông sản nhưng chất lượng thấp và giá trị sản xuất cũng thấp Điều kiện kinh tế của hộ rất khác nhau dẫn đến chất lượng nông sản không đồng đều, hiệu quả sản xuất thấp

Hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp phục vụ lợi ích chung của xã hội nên cần phải có chính sách đầu tư

Trang 25

thích hợp cho lĩnh vực này Như vậy, cơ cấu cây trồng tối ưu không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà còn phụ thuộc vào quy mô và phần trả lại của sản phẩm cây trồng, giá của chi phí đầu vào bao gồm lao động, sự kết hợp giữa các hợp phần công việc, sức khỏe của nông dân và chiều hướng của rủi

ro (David Connor, 2003)[36]

Kinh tế hộ nông thôn ở nước ta trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng còn những tồn tại không nhỏ, đó là: (i) Tỷ lệ hộ nông nghiệp còn cao; (ii) bình quân ruộng đất nông nghiệp một hộ rất thấp; (iii) trang bị kỹ thuật còn ở mức thấp; (iv) thu nhập của nông hộ chưa ở mức cao; (v) trình độ dân trí vẫn ở mức thấp, nhiều nơi còn rất lạc hậu, tỷ lệ người

mù chữ ở vùng cao, vùng sâu ở mức cao (hơn 50%) Những tồn tại trên của nông hộ là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển hệ thống cây trồng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ, khắc phục những tồn tại trên nhằm mục tiêu hướng tới phát triển hệ thống cây trồng hướng bền vững (Hoàng Việt, 1998)[32]

Nước ta trong thời kỳ đổi mới, các chính sách mới một lần nữa xác lập

vị trí số một của kinh tế hộ nông dân ở nông thôn Trong nông thôn có 3 nhóm hộ chính là: (i) Nhóm hộ sản xuất hàng hoá (chiếm khoảng 30%); (ii) nhóm hộ bước đầu đi vào sản xuất hàng hoá nhưng còn ít, quy mô nhỏ (chiếm gần 55%); (iii) nhóm hộ nghèo (chiếm dưới 15%).( Đặng Kim Sơn, 2006)[16]

Quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và còn tuỳ vào từng vùng, nhưng yếu tố khó khăn về vốn mang tính quyết định nhất Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên thì mới tập trung vào một số ngành nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao Hộ nông dân phát triển từ tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau và quá trình cải tiến hệ thống cây trồng gắn với thị trường được thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 26

Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, cơ cấu cây trồng, mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường Quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao Ở giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một hay một vài cây lương thực chính, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ, rủi ro lớn Do sợ rủi ro nên việc tiếp thu kỹ thuật bị hạn chế và thị trường nông thôn là thị trường chưa hoàn chỉnh Trong giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Lúc mới chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu trồng thêm các cây hàng hoá, đa canh để giảm bớt rủi ro Nhờ có thêm thu nhập nên có thể đầu tư để cải tiến kỹ thuật và thâm canh, nếu lao động thừa nhiều có thể phát triển ngành nghề phi nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1997) [28]

- Thị trường với cơ cấu cây trồng

Thị trường không phải chỉ do cạnh tranh điều khiển mà còn do sự hợp tác và tương trợ lẫn nhau Tiếp tục nghiên cứu về thị trường, các nhà xã hội học và chính trị học cho rằng thị trường còn do các điều kiện xã hội và chính trị quyết định mà kinh tế học trước đó thường quên không đề cập (Đào Thế Tuấn, 2003)[29]

Hiện nay, thị trường nông thôn đang phát triển với sự tham gia đắc lực của các doanh nghiệp tư nhân, kể cả các mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngày càng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt động của hợp tác xã chế biến và tiêu thụ nông sản Nếu các hợp tác xã nắm được khoảng 30% khối lượng hàng hoá thì tư thương sẽ mất độc quyền trong buôn bán (Đào Thế Tuấn, 1997)[28]

- Tái cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp với cơ cấu cây trồng

Theo Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013) về việc Phê duyệt Đề án Tái

cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững với mục tiêu: “Duy trì tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng

Trang 27

cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng” và có quan điểm chung: “Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận” [19]

Trong Quyết định, nội dung tái cơ cấu ngành trồng trọt có một số điểm đáng lưu ý:

Tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng, miền Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng biến đổi khí hậu Tập trung phát triển công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch theo hướng hiện đại nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm

Cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanh nghiệp liên kết, ký kết hợp đồng xuất khẩu, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát triển các nhóm hộ nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị

Qua đây cho thấy, vấn đề tái cơ cấu trong nông nghiệp nói chung, trồng trọt nói riêng càng khẳng định việc liên kết trong sản xuất giữa các hộ nông dân, nông dân với doanh nghiệp để thúc đẩy phát triển sản xuất được bền vững

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về cơ cấu, công thức luân canh, xen canh cây trồng trên Thế giới

- Bill-Mollison, (1994) đã đưa ra phương án nghiên cứu hệ thống công thức luân canh cây trồng mới với hệ canh tác đơn giản để thay thế hệ canh tác

cũ nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học dẫn đến dịch bệnh ngày

Trang 28

càng tăng Mục đích là xây dựng nên một hệ thống ổn định về mặt sinh thái,

có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, làm ô nhiễm, suy thoái môi trường (dẫn theo Nguyễn Viết Kim, 1997) [11]

- Đến những năm 60, Nhật Bản trong sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng lúa giảm từ 3.152.000 ha (năm 1940) xuống còn 2.049.000 ha (năm 1991) và nay còn dưới 2 triệu ha Cơ cấu cây trồng cũng thay đổi, trước đây sản xuất lúa là chính, chiếm 50% GDP trong nông nghiệp, nay chỉ còn 33% (Mai Văn Quyền, 1996) [14]

- Kinh tế Đài Loan thuộc loại hình kinh tế hải đảo, đất hẹp người đông, tài nguyên kém phong phú Sau đại chiến lần thứ hai, nông nghiệp Đài Loan ở trong tình trạng sa sút, sức sản xuất thấp kém nhưng đến 1953, nông nghiệp trở thành ngành chủ đạo của nền kinh tế Đài Loan Thông qua những biện pháp cải tiến kỹ thuật, thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nâng cao khả năng canh tác của đất đai, nhập thêm nhiều giống cây trồng mới như lê phượng hoàng, chuối, cam, quýt, nấm tây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất đã giúp Đài Loan từ chỗ tự cung, tự cấp nông sản phẩm, chuyển sang sản xuất nông sản hàng hoá và xuất khẩu hàng loạt nông sản chế biến Đài Loan cũng đã thành công trong việc nghiên cứu giống cây màu chịu rợp trồng xen trong mía (cây công nghiệp chiếm phần lớn diện tích trồng trọt

ở Đài Loan) Các giống cây màu chịu hạn được trồng vào mùa khô để tăng vụ sau khi thu hoạch lúa mùa (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1994) [30]

- Thái Lan trong điều kiện sản xuất nông nghiệp thiếu nước đã chuyển

từ công thức độc canh Lúa xuân - Lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới quá lớn, thêm vào đó do độc canh lúa đã làm ảnh hưởng xấu tới độ phì đất sang công thức Đậu tương - Lúa mùa đã làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng gấp đôi, độ phì của đất cũng tăng lên rõ rệt, mang lại thành tựu mới trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng (Nguyễn Duy Tính, 1995) [22]

Trang 29

- Trung Quốc nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật làm tăng 43% sản lượng ngũ cốc, riêng vùng Đông Bắc Trung Quốc, tăng 7% so với trung bình toàn quốc Các tỉnh Hắc Long Giang, Tề Lâm và Liêu Ninh thực hiện các biện pháp kỹ thuật như xen canh ngô và lúa mì, sử dụng phân đặc biệt đã nâng năng suất ngũ cốc trên nhiều cánh đồng lên tới 15 tấn/ha Hắc Long Giang đã thiết lập hai trạm nông sinh phục vụ hơn 13.000 thị xã Các trạm này đào tạo khoảng 21.600 kỹ thuật viên nông nghiệp, 15.000 làng với 30.000

hộ để áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp (Thông tin, sản xuất và thị trường; “Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”, số 1, tuần từ 2/1/1998-8/1/1998) [18]

- Trung Quốc phát triển lúa lai có ý nghĩa rất quan trọng, công nghệ này có thể đáp ứng với tốc độ tăng dân số và phát triển kinh tế của thế giới Mục tiêu của chương trình phát triển giống lúa lai siêu cao sản với dạng cây

lý tưởng (NPT- New plant type) bao gồm: năm 2000, lúa lai siêu cao sản phải đạt năng suất cao 9 - 10,5 tấn/ha, tăng lên 12 tấn năm 2005 và dự kiến đạt 13,5 tấn/ha trên diện tích lớn vào năm 2015 (Shaobing Peng và cs., 2008) [43], (S.S Virmani, I Kumar, 2009) [46]

- Philippine đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các loại đất cao và đất thấp trong các điều kiện có tưới và nhờ nước mưa Giai đoạn

1962 – 1972, Ấn Độ đã thực hiện chương trình nghiên cứu nông nghiệp trên phạm vi cả nước, trong đó lấy hệ thống thâm canh, tăng vụ chu kỳ một năm là hướng chiến lược phát triển chính Kết quả, hệ thống canh tác được ưu tiên cho cây lương thực và theo cơ cấu 2 vụ lúa nước hoặc một vụ lúa - một vụ màu trong đó đưa cây đậu đỗ (vụ màu) vào luân canh đã đáp ứng được 3 mục tiêu là khai thác tối ưu đất đai, cải tạo độ phì nhiêu và tăng hiệu quả trên đơn

vị đất Giai đoạn 1975 - 1976, Indonesia đã thử nghiệm các mô hình tăng vụ

và đa dạng hoá cây trồng trên các loại đất có tưới 10 tháng, 7 tháng và 5 tháng Những mô hình thử nghiệm có hai vụ lúa, 3 vụ lúa, 1 vụ lúa - 1 màu, 2

vụ lúa - 1 màu đã được áp dụng, trong đó cây màu chủ yếu là cây họ đậu, các

Trang 30

loại rau, ngô Hiện nay, theo xu hướng chung trên thế giới, các nhà khoa học nông nghiệp đang tập trung nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng theo hướng đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm (Nguyễn Duy Tính, 1995; Cargal W.R., 1987, FAO, 1992,FAO, 1992) [22], [35], [38], [39]

- Indonesia cũng đã thực hiện cam kết đa dạng hóa các chương trình phát triển nông thôn và mô hình hệ thống kinh tế định hướng kinh doanh nông nghiệp đã được triển khai Điểm mới của hệ thống canh tác này là nhấn mạnh tầm quan trọng về định hướng thị trường Công nghệ ứng dụng gồm 5 thành tố: (i) Các giống cao sản như lúa (Memberano, Ciboras), ngô (Bisna, Wisanggeni), đậu tương (Pangrango) và các cây trồng khác gồm đậu, hành, ớt

đỏ và cá nước ngọt; (ii) Hệ thống gieo giống trực tiếp; (iii) Phân tổng hợp bón riêng biệt cho từng loại đất, dựa trên kết quả phân tích đất đai; (iv) Kiến nghị các thiết bị máy móc cho cả gieo trồng trực tiếp và máy bón phân; (v) Điều kiện canh tác áp dụng trong những địa hình khác nhau thì khác nhau theo cơ cấu đất đai và điều kiện khí hậu nông nghiệp (Ach Mad Suryana và cs., 1998)[33]

1.2.2 Kết quả nghiên cứu về cơ cấu, công thức luân canh, xen canh cây trồng ở Việt Nam

- Theo Bùi Huy Đáp (1979): sắp xếp lại các vụ sản xuất, bố trí lại các chế độ luân canh, sử dụng đất đai hợp lý hơn và phù hợp với khí hậu của mỗi địa phương, thì có thể đưa vụ đông lên thành một vụ sản xuất chính nữa Diện tích cấy lúa 2 vụ làm lúa xuân đã tạo điều kiện cho việc gieo trồng một loại cây vụ đông Trên chân ruộng vàn hay tương đối cao mà cấy lúa mùa sớm thì

có thể làm một vụ màu đông với những loại cây ưa lạnh, trên các chân ruộng thấp hơn có thể trồng rau mùa rét

Những diện tích chỉ cấy một vụ lúa mùa còn vụ đông xuân thường trồng màu (phần lớn là những giống màu dài ngày 5 - 6 tháng) Thay đổi cơ

Trang 31

cấu trà lúa mùa, tăng thêm mùa sớm hay mùa chính vụ, hạn chế mùa muộn và thay đổi cơ cấu các giống màu, sử dụng nhiều giống màu xuân ngắn ngày, sẽ

có thể dành thời gian để tăng được một vụ màu đông

Những loại đất tương đối cao chuyên trồng màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày, sắp xếp lại các vụ màu, phát triển các loại màu ngắn ngày, kết hợp màu xuân với màu đông

Các chân đất bãi ven sông thường trồng một vụ màu đông xuân dài ngày

và một vụ lúa mùa không ăn chắc, có thể chuyển thành chế độ: một vụ màu xuân

có trồng xen hay trồng gối và một vụ màu đông, cả hai vụ đều ăn chắc

- Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996), đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ trở lên trên đất phù sa sông Hồng địa hình cao không được bồi hàng năm, đã kết luận: đất phù sa sông Hồng địa hình cao có đủ điều kiện đất đai, nhân lực để mở rộng diện tích gieo trồng 3 - 4 vụ cây ngắn ngày/1 năm

Có thể áp dụng các công thức luân canh hợp lý nhằm tăng hệ số quay vòng đất từ 2,2 lên 2,49 hoặc 2,6 lần [10]…

- Trồng mía thuần độc canh trong nhiều năm, dẫn đến đất suy giảm

dinh dưỡng, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất giảm dần, chuyển

từ cây mía độc canh sang thâm canh lạc xen mía làm tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế của cây mía và cây lạc trên đất cao; cải thiện đời sống của hàng triệu hộ nông dân trong vùng mía nguyên liệu và đáp ứng đủ nguyên liệu cho

các nhà máy đường của tỉnh Thanh Hoá

1.2.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác hiệu quả

- Theo Zandstra H.G và Price E.C, hệ thống cây trồng là toàn bộ hoạt động sản xuất cây trồng của vùng hay nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật và quản lý (Zandstra H.G và cs., 1981) [47]

Trang 32

- Hệ thống luôn vận động và phát triển, vì vậy đánh giá hệ thống phải gắn với thời điểm cụ thể, thời điểm đó được đặc trưng bằng các yếu tố với mức độ phát triển khác nhau Nói cách khác phải nhìn nhận hệ thống trong sự vận động liên tục của môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội mà nó tồn tại (Phạm Chí Thành và cs., 1996) [17]

- Cơ sở năng suất của một hệ thống cây trồng là sự tăng trưởng của cây trồng Sự tăng trưởng này phụ thuộc rất lớn vào môi trường vật lý, hóa học (ánh sáng, nhiệt độ, mưa, độ dốc, độ phì ) và kỹ thuật quản lý, chăm sóc của con người (lao động, vốn, thị trường, ) Như vậy, để xây dựng một hệ thống cây trồng hợp lý, trước hết cần tìm hiểu mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa cây trồng và môi trường xung quanh nó (Zandstra H.G và cs., 1981) [47]

- Spedding C.R.W đã đưa ra 2 phương pháp trong nghiên cứu cơ bản về

+ Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: Phương pháp này đòi hỏi phải có đầu tư, tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng Cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn để tổ chức, sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí trong các mối quan hệ giữa các phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất (Spedding C.R.W, 1975) [45]

- Việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sẵn có trên cơ sở tìm hiểu đánh giá hệ thống hiện tại, phát hiện tìm kiếm điểm hạn chế để điều chỉnh, cải tiến làm cho hệ thống hoạt động tốt hơn, phù hợp hơn với môi trường Nói cách khác đó là việc "sửa chữa" lại hệ thống Đối với hệ thống nông nghiệp, phương pháp này được sử dụng phổ biến Do các yếu tố môi trường có sự

Trang 33

thay đổi, nên khi một hay một số hạn chế được khắc phục lại có thể có sự xuất hiện của các hạn chế khác Việc liên tục tìm kiếm và tháo gỡ những hạn chế nói trên mở đường cho hệ thống phát triển, làm cho hệ thống vận động không ngừng (Nguyễn Duy Tính, 1995)[22]

- Trên quan điểm hệ thống, nghiên cứu cải tiến hệ thống canh tác phải bắt đầu từ phân tích một cách có hệ thống hiện trạng canh tác Việc đề xuất hướng nghiên cứu bắt đầu từ nông dân, khởi nguồn theo mô hình "nông dân-trở lại nông dân”, cụ thể là nông dân trực tiếp tham gia thực hiện công tác nghiên cứu cùng với nhà khoa học và phổ biến kiến thức, kinh nghiệm sản xuất lại cho nông dân Kỹ thuật phát triển cùng tham dự của nông dân (Developing technology with farmer) được lựa chọn cho quá trình thực hành này (Laurens Van Veldhuizen và cs., 1997) [42]

- Để bố trí cơ cấu cây trồng cho một cơ sở sản xuất, cần tiến hành các bước sau đây: (i) Thu thập các tài liệu về khí hậu, đánh giá thuận lợi và khó khăn; (ii) Thu thập các tài liệu về đất đai, chất lượng, khả năng khai thác và

sử dụng, các mặt hạn chế; (iii) Xem xét tổng hợp về nước, hệ thống thủy lợi

và biện pháp quản lý khai thác; (iv) Xem xét bộ giống cây trồng đã được sử dụng, từ đó định hướng lựa chọn các giống cây trồng thích hợp; (v) Xem xét tình hình sâu bệnh hại; (vi) Tìm hiểu các định hướng, mục tiêu phát triển sản xuất của cơ sở; (vii) Phân tích đánh giá nguồn nhân lực, tư liệu sản xuất Thông qua các bước trên chọn ra công thức luân canh cây trồng hiệu quả cao nhất, từ đó có thể triển khai nhân rộng (Đào Thế Tuấn, 1994) [27]

- Phương pháp nghiên cứu hệ thống cây trồng được Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI, 1991) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới hệ thống cây trồng châu Á sử dụng và phát triển Quá trình nghiên cứu được thực hiện theo các pha sau: (i) Chọn điểm: Địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu

là điểm có tiềm năng, phải đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp

Trang 34

tác Điểm chọn để triển khai nghiên cứu được Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn (ii) Mô tả điểm: Điểm nghiên cứu sau khi lựa chọn sẽ được mô tả về đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội và hiện trạng cơ cấu cây trồng (iii) Thiết kế hệ thống canh tác: Các mô hình cây trồng được thiết kế trên những đặc điểm của vùng nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao, ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái (iv) Thử nghiệm cây trồng mới: Cây trồng được thử nghiệm trên ruộng nông dân nhằm xác định khả năng thích nghi và tính ổn định của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng đất, yêu cầu về tài nguyên (v) Đánh giá sản xuất thử: Những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó được đưa vào sản xuất thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng (vi) Chương trình sản xuất: Sau khi xác định những hệ thống canh tác thích hợp nhất và những biện pháp

kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến nông với sự giúp đỡ của chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất (Bernstern R và cs., 1984; International Rice Research Institute, 1984) [34], [41]

- FAO cũng đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác, cho đây

là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững Việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống canh tác tiến bộ phải được bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác truyền thống (FAO, 1989) [37]

1.3 Những nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu

Qua phân tích tổng quan tài liệu có liên quan đến đề tài cho thấy:

Hệ thống cây trồng, cơ cấu cây trồng chịu tác động của nhiều yếu tố (tự nhiên-kinh tế-xã hội) Nội hàm của hệ thống cây trồng gồm: loại cây trồng, giống cây trồng, thời vụ trồng trọt và công thức luân canh được thực hiện ở từng điều kiện sinh thái cụ thể

Trang 35

Nghiên cứu phát triển hệ thống cây trồng cần đứng trên quan điểm tiếp cận hệ thống, phát triển nông nghiệp bền vững , đó là phát triển nhưng phải có các biện pháp bảo vệ đất, nước, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái môi trường và sản xuất theo nhu cầu của thị trường

Phương pháp nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng chủ yếu gồm các bước: chẩn đoán vấn đề, xác định những lợi thế và hạn chế, tìm ra những giải pháp phát triển, thiết kế các thí nghiệm đồng ruộng, kiểm chứng để lựa chọn các

hệ thống cây trồng tối ưu, xây dựng mô hình trình diễn và phát triển diện rộng

Hệ thống cây trồng đã được các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu, đã có nhiều kết quả nhất định: xác định những lợi thế, hạn chế của hệ thống cây trồng hiện tại của các vùng nghiên cứu để tìm biện pháp phát huy lợi thế và khắc phục những hạn chế; lựa chọn các hệ thống canh tác,

hệ thống cây trồng phù hợp, có hiệu quả (kinh tế, môi trường, xã hội) Tuy nhiên, do điều kiện nước ta có nhiều vùng, tiểu vùng sinh thái với hệ thống cây trồng khác nhau, những kết quả nghiên cứu thu được chỉ là những kết quả phù hợp với từng vùng, từng thời kỳ nhất định Trong thực tiễn cho thấy, mỗi vùng đất dốc ở mỗi địa phương lại có điều kiện đất đai, khí hậu và đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí và tập quán canh tác khác nhau

Mặc dù các đề tài đã tập trung nghiên cứu về cây trồng trên cơ sở các tiến bộ về giống, luân canh, thời vụ, biện pháp kỹ thuật và các giải pháp khác nhằm tăng năng suất, chất lượng cây trồng, giảm ảnh hưởng đến môi trường đất, phát triển nông nghiệp bền vững ở những vùng có điều kiện thuận lợi, thâm canh cao nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về hệ thống cây trồng các vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đặc thù Hơn nữa, việc nghiên cứu chưa mang tính hệ thống trong việc xây dựng hệ thống cây trồng theo hướng thích nghi, chưa khai thác những lợi thế, tiềm năng điều kiện tự nhiên

Nghiên cứu xác định hệ thống cây trồng thích hợp trên đất chuyên màu của huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa phải đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Để khai thác hiệu quả tài nguyên đất

Trang 36

của huyện, việc chẩn đoán những trở ngại của hệ thống cây trồng hiện có, nghiên cứu bổ sung các giống mới ngắn ngày, phù hợp với điều kiện sinh thái, xác định thời vụ thích hợp để xây dựng công thức luân canh, xen canh cây trồng và xây dựng các mô hình canh tác hợp lý trên các chân đất khác nhau của huyện, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất là yêu cầu cấp bách nhằm góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Giống cây trồng gồm: giống lạc: L12, L14, L18, L116,TB25; giống ngô: CP 999, P4199, CP333, DK 9955, 30Y87; giống đậu tương: ĐT22, ĐT25, ĐT26, ĐVN14, D912, DT99, Đ9804, DT84; giống khoai lang: Hoàng Long, KB1, KL2,Chiêm dâu; giống rau các loại

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối hệ thống cây trồng huyện Thiệu Hóa;

- Đánh giá hiện trạng hệ thống cây trồng nông nghiệp của huyện Thiệu Hóa;

- Nghiên cứu tuyển chọn một số giống cây trồng chủ lực phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Thiệu Hóa;

- Nghiên cứu xác định công thức luân canh cây trồng trên đất màu phục

vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp huyện Thiệu Hóa

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: Huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoá

- Thời gian: từ tháng 8/2018 – tháng 5/2019

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin không dùng phiếu điều tra

- Thừa kế tài liệu từ các nghiên cứu trước: Các luận án, đề tài dự án khoa học công nghệ và lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện tại địa bàn huyện Thiệu Hóa và các vùng có điều kiện tương tự

Trang 38

- Các thông tin thứ cấp: Sử dụng thông tin thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội hiện có ở huyện Thiệu Hóa

- Tìm hiểu, quan sát và đo đếm trực tiếp

* Thu thập thông tin có sử dụng phiếu điều tra

- Thu thập thông tin từ người am hiểu sự việc (KIP)

- Điều tra những nội dung chuyên sâu bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

2.4.2 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng

Thí nghiệm 1: So sánh một số giống ngô trên chân đất màu

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đủ (RCBD) ba lần nhắc lại, diện tích mỗi ô thí nghiệm 30 m2, khoảng cách giữa các ô trong cùng lần nhắc là 30 cm và giữa các lần nhắc là 50 cm Thí nghiệm được tiến hành vụ Xuân năm 2019, trên chân đất phù sa được bồi hàng năm, tại xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Thí nghiệm gồm các công thức như sau:

+ Công thức 1(I): Giống P4199;

+ Công thức 2(II): Giống CP333;

+ Công thức 3(III): Giống DK 9955;

+ Công thức 4(IV): Giống 30Y87;

+ Công thức 5(V): Giống CP 999 (dùng làm đối chứng)

- Sơ đồ thí nghiệm như sau:

Trang 39

Dải bảo vệ

Lượng phân chuồng 10 tấn/ha, Ure 280 - 340 kg/ha; lân Supe 400 -

490 kg/ha; Kali clorua 120 – 150 kg/ha

Cách bón:

Bón lót: Toàn bộ phân chuồng, phân lân supe + 1/3 lượng urê

Bón thúc lần 1: Khi ngô 5 - 6 lá: Bón 1/3 lượng urê + 1/2 lượng Kali clorua

Bón thúc lần 2: Khi ngô 10 - 11 lá: Bón hết lượng phân còn lại

+ Vun xới:

Trang 40

Khi ngô từ 3 đến 5 lá: Xới vun, bón thúc lần 1 và vun nhẹ quanh gốc Khi ngô từ 7 đến 9 lá: Xới vun, bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ + Tưới tiêu:

Đảm bảo đủ độ ẩm đất cho ngô trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, đặc biệt chú ý vào các thời kỳ ngô 6-7 lá, xoắn nõn, trỗ cờ, chín sữa Sau khi tưới nước hoặc sau mưa phải thoát hết nước đọng trong ruộng ngô

+ Phòng trừ sâu bệnh: Phòng trừ sâu bệnh và sử dụng thuốc hoá học theo hướng dẫn của ngành bảo vệ thực vật

+ Thu hoạch: Khi ngô chín (chân hạt có vết đen hoặc khoảng 75% số cây có lá bi khô) chọn ngày nắng ráo để thu hoạch, có thể thu hoạch muộn hơn nếu thời tiết cho phép

Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi tham khảo: QCVN 01 - 56:

2011/BNNPTNT

Thí nghiệm 2 So sánh giống đậu tương

+ Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Xuân năm 2019, trên chân đất vàn cao trong đê xã Thiệu Hợp, huyện Thiệu Hoá

+ Giống đậu tương gồm 8 giống đã nêu trên

+ Phương pháp nghiên cứu: bố trí thí nghiệm theo Quy chuẩn Việt Nam

về khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống đậu tương (QCVN: 01-58: 2011/BNNPTNT)

+ Diện tích ô thí nghiệm: 20 m2 (4,0 m x 5 m)

+ Mật độ: Mật độ 40 cây/m2

, + Lượng phân bón cho 1 ha: Phân vi sinh: 1000 kg + 30 kg N + 60 kg

P2O5 + 60 kg K2O

+ Cách bón: Bón lót toàn bộ phân lân và phân hữu cơ sinh học Bón thúc 2 lần, lần 1 khi cây được 2-3 lá, bón ½ đạm và ½ kali Bón thúc lần 2 khi cây được 4-5 lá, bón hết số phân còn lại

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm