Đánh giá quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa .... Dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào trong nước ngày càng tăng mạnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ HƯƠNG
QUẢN THU THU NH P DOANH NGHI P Đ I VỚI CÁC DOANH NGHI P CÓ V N ĐẦU TƯ TR C TI P NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
THANH HÓA, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ HƯƠNG
QUẢN THU THU NH P DOANH NGHI P Đ I VỚI CÁC DOANH NGHI P CÓ V N ĐẦU TƯ TR C TI P NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Việt Hương
THANH HÓA, NĂM 2017
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học theo Quyết định
số 1260/QĐ-ĐHHĐ ngày 04 tháng 8 năm 2017 của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:
Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan Công tác Chức danh trong Hội đồng
GS.TS Nguyễn Văn Tiến Học viện ngân hàng Chủ tịch
TS Lê Hoằng Bá Huyền Trường Đại học Hồng Đức Phản biện 1 PGS.TS Phạm Thị Huyền Trường ĐH Kinh tế quốc dân Phản biện 2
TS Lê Huy Chính Trường Đại học Hồng Đức Ủy viên
TS Trần Thị Thu Hường Trường Đại học Hồng Đức Thư ký
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng Ngày tháng năm 2017
TS Trần Thị Thu Hường TS Ngô Việt Hương
* Có thể tham khảo luận văn tại Thư viện trường và Bộ môn
Xác nhận của thư ký Hội đồng Xác nhận của Người hướng dẫn
Trang 4ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận
văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố.
Người cam đoan
ê Thị Hương
Trang 5ỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bản thân
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, khoa KT QTKD và các giảng viên trường Đại học Hồng Đức đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc nhất đến cô giáo TS Ngô Việt Hương là người trực tiếp hướng dẫn
khoa học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo; cán bộ Cục thuế tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn đứng bên cạnh tôi động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy,
cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
ê Thị Hương
Trang 6MỤC ỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ TNDN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Lý luận cơ bản về thuế TNDN 5
1.1.1 Khái niệm, bản chất, chức năng của thuế 5
1.1.2.Thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 22
1.2.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thực hiện nghĩa vụ NSNN 22
1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 26
1.3 Kinh nghiệm quản lý thuế TNDN một số nước trên thế giới và ở Việt Nam thời gian qua 30
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thuế TNDN ở một số nước trên thế giới 30
1.3.2.Kinh nghiệm quản lý thuế TNDN ở một số địa phương trong nước 34
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 35
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HOÁ 38
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 38
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên tỉnh Thanh Hoá 38
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hoá 39
Trang 72.1.3 Khái quát tình hình các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa
bàn tỉnh Thanh Hoá 40
2.1.4 Giới thiệu về Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 41
2.2 Thực trạng quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 43
2.2.1 Quản lý tình hình kê khai thuế TNDN 43
2.2.2 Quản lý thu nộp thuế TNDN 44
2.2.3 Quản lý tinh hình nợ thuế TNDN 48
2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNDN 49
2.2.5 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật về thuế TNDN 54
2.3 Đánh giá quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 56
2.3.1 Những kết quả đạt được 56
2.3.2 Những mặt còn hạn chế 59
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 63
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HOÁ 67
3.1 Định hướng công tác quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 67
3.1.1 Xu hướng phát triển của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 67
3.1.2 Định hướng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa 69
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 70
3.2.1 Hoàn thiện Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đổi mới quy trình quản lý thuế 70
3.2.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm 72 3.2.3 Đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 73
3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp đó 75
Trang 83.3.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người nộp thuế 75
3.3.2 Kiện toàn lại bộ máy ngành thuế, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin 76
3.3.3 Thực hiện tốt Luật kế toán trong doanh nghiệp, đẩy mạnh việc thực hiện thanh toán giao dịch thông qua ngân hàng 78
3.3.4 Cải cách đồng bộ hệ thống chính sách quản lý kinh tế xã hội nước ta 78
3.4 Kiến nghị 79
3.4.1 Đối với Quốc hội và Chính phủ 79
3.4.2 Đối với Cơ quan quản lý thuế 81
3.4.3 Đối với Chính quyền tỉnh Thanh Hóa 83
3.4.4 Đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC P1
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VI T TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thuế suất thuế TNDN một số nước trên thế giới (%) 31
Bảng 2.1 Tình hình DN khai thuế so với đăng ký thuế giai đoạn
2014- 2016
44
Bảng 2.2 Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp
FDI tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa (2014 – 2016) 46
Bảng 2.3
Số thu thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp FDI so với khối doanh nghiệp khác tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa(2014 – 2016)
46
Bảng 2.4
Tình hình nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Thanh Hóa (2014 – 2016)
48
Bảng 2.5 Tình hình tổ chức thực hiện kiểm tra tại trụ sở các
doanh nghiệp FDI từ năm 2014 – 2016 50
Bảng 2.6 Tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra giai đoạn
Bảng 2.7 Tình hình sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ
thuế của công ty TNHH giày Rollsport Việt Nam 53
Bảng 2.8 Tình hình tuyên truyền, hổ trợ đối tượng nộp thuế giai
đoạn 2014-2016
55
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.Thông qua việc thu thuế nhà nước có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để
có thể thực hiện chức năng của mình
Nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới Dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào trong nước ngày càng tăng mạnh, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước dưới hình thức nộp thuế Hoạt động của các doanh nghiệp này đã góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng trong quá trình chuyển dịch từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là sắc thuế chiếm tỷ trọng khá lớn, đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước, góp phần tích cực trong việc điều tiết cân đối thu chi ngân sách Tuy nhiên trong quá trình quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang phát sinh nhiều vấn đề cần sớm khắc phục như tình trạng trốn thuế, gian lận thương mại, quy trình quản lý thuế còn nhiều bất hợp
lý ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư và tiềm năng thu hút đầu tư của quốc gia Các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở của chính sách, pháp luật của nước ta
để gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó, một số nhà đầu tư nước ngoài thiếu hiểu biết về Pháp luật Việt Nam cũng là một hạn chế không nhỏ dẫn đến hiệu quả của công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đối tượng doanh nghiệp này hiện nay
Trang 13Trong những năm qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thanh Hóa ngày càng nhiều về số lượng, lớn về quy mô Nguồn thu ngân sách nhà nước ở khối doanh nghiệp này chủ yếu vẫn là thu từ các dự án mới như: Dự án Liên hiệp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhiệt điện Nghi Sơn 1 Đến năm 2016 dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 1 đã hoàn thành còn dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn đang dần hoàn thiện Trong khi các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may, da giày xuất khẩu chiếm khoảng 50% số lượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thanh Hóa nhưng số nộp lại rất hạn chế Số nộp ngân sách cúa các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy việc quản lý thuế thu nhập doanh nhiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất cấp bách Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải đưa ra những giải pháp cũng như công cụ quản
lý để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài
Với những lý do trên, hoàn thiện công tác thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện thành công chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm
2020, góp phần chống thất thu cho Ngân sách Nhà nước, đảm bảo tạo môi trường bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong thực hiện nghĩa vụ thuế
Vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
i v i doanh nghiệp v n u t tr tiếp n ngo i tr n a n tỉnh Thanh Ho ” làm luận văn Thạc sỹ
2 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu của đề tài
M h a t i
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2014-2016;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
Trang 14- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thuế TNDN trong giai đoạn 2014-2016 và đề xuất giải pháp
3 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ các báo cáo hàng năm của Cục Thuế tỉnh Thanh Hóa; thu thập các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như: giáo trình, sách chuyên khảo về vấn đề nghiên cứu
* Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Trên cơ sở số liệu thu thập được, tác giả sử dụng các phương pháp sau
để tổng hợp và phân tích dữ liệu:
Trang 154 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần kết luận và phần chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1: Lý luận cơ bản về quản lý thuế TNDN tại các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế TNDN đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trang 16Chương 1 U N CƠ BẢN VỀ QUẢN THU TNDN TẠI CÁC DOANH NGHI P CÓ V N ĐẦU TƯ TR C TI P NƯỚC NGOÀI
1.1 Lý luận cơ bản về thuế TNDN
1.1.1 Kh i niệm, ản hất, h năng a thuế
Tuy nhiên, các khái niệm về thuế của các nhà kinh tế có khác nhau nhưng đều thống nhất ở quan điểm thuế gắn liền với Nhà nước và đó là khoản đóng góp bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực
tư nhân sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước
Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại
Trang 17Theo khái niệm được sử dụng phổ biến, Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì lợi ích chung Nộp Thuế là một nghĩa vụ xã hội; công dân không có quyền trốn và không được quyền đòi hỏi đối giá trực tiếp Do vậy, hai đặc trưng của Thuế thường được nhắc đến: tính cưỡng chế
và tính không hoàn trả trực tiếp và đối giá
Từ việc phân tích những quan niệm về thuế nêu trên, có thể nhận thức chung về thuế như sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và pháp luật quy định Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế để phục vụ cho mục tiêu công cộng Nguồn thu về thuế không được sử dụng cho mục tiêu cá nhân
Thuế gắn chặt với các hoạt động kinh tế, bởi vì về mặt nguyên tắc, thuế chủ yếu điều tiết một phần giá trị thặng dư được tạo ra từ hoạt động sản xuất-kinh doanh Do đó, Thuế có một vai trò nhất định đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, nhằm thực hiện nhiều mục tiêu, một sắc thuế có thể được ban hành theo một trong hai hình thức pháp lý là luật và pháp lệnh Ví dụ: hệ thống thuế Việt Nam hiện hành ban hành dưới hình thức Luật gồm các sắc thuế: thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tài
nguyên, thuế môi trường, thuế TNCN…
Về kết cấu của một sắc thuế: tuy các loại thuế khác nhau, nhưng chúng đều có một kết cấu chung, và thường được trình bày theo một trình tự thống nhất, gồm các yếu tố cấu thành chủ yếu như : tên gọi, đối tượng nộp thuế (người nộp thuế), đối tượng tính thuế, thuế suất, chế độ giảm thuế và miễn thuế, tổ chức thực hiện
Bản hất a thuế
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn
Trang 18phát triển Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau:
Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách Nhà nước
Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân
đó, như là khoản vay mượn Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của NSNN
Thứ ba: các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản
3 Ch năng, vai trò a thuế
a Chức năng đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Một nền
tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn gắn liền với tổng số chi tiêu của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu cho các khoản chi ngân sách Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng
b Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế nhằm đảm bảo công bằng xã hội: là chức năng cơ bản, đặc thù nhất mà tất cả các nước đều
phải dựa vào đó Thông qua chức năng này các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt
Trang 19động của và tồn tại của Nhà nước Khi bàn đến chức năng tài chính của Thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: Thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập - theo nghĩa thông thường trưng thu tiền - đối với Nhà nước Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi vì Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau: yêu cầu ngân hàng trung ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền…Nhưng việc sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc vì chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, Nhà nước có thể sử dụng Thuế một cách thường xuyên và lâu dài Mục tiêu thực sự của chính sách thuế, theo nhiều nhà kinh tế là rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế, để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được Nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “nhà nước hóa” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho
sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của Thuế
Trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận thiểu số người giàu lên nhanh chóng và số còn lại không đạt được sự tiến bộ đáng kể nào về mức sống thậm chí nghèo hơn Sự phát triển của một đất nước là kết quả đóng góp của các thành viên trong xã hội, nên cần thiết chia sẻ thành quả phát triển chung của xã hội cho mọi người tạo sự công bằng trong phân phối Do đó, Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều hòa thu nhập thông qua 2 tác động: thuế đánh vào hàng tiêu dùng (tác động gián tiếp) và thuế đánh vào thu nhập (tác động trực tiếp)
c Chức năng điều tiết kinh tế của thuế
Theo chức năng này, phải xem Thuế như một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của
Trang 20doanh nghiệp Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tương rất chặt chẽ Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào tay mình thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp trên cả
ba yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
1.1.1.4 Hệ th ng h nh s h thuế
a Khái niệm chính sách thuế
Hệ thống chính sách thuế, gồm các sắc thuế được ban hành dưới các hình thức Luật, Pháp lệnh Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh
tế, song chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát huy tác dụng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế
Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế dù được xây dựng một cách ưu việt, hoàn chỉnh đến đâu cũng không thể phát huy tác dụng nếu không được vận hành trong thực tiễn Quá trình áp dụng luật thuế vào nền kinh tế - xã hội đòi hỏi sự chấp hành của các đối tượng nộp thuế, mà qua đó số thuế được huy động
từ các thể nhân và pháp nhân vào NSNN theo đúng luật định Quá trình này thường không gắn liền với sự “tự nguyện” mà cần có một hệ thống quản lý thuế để tổ chức, giám sát
- Yếu tố Chính trị:
Bản thân thuế là do nhà nước đặt ra, nhà nước là một tổ chức chính trị, thi hành các chính sách do gia cấp thống trị đặt ra để phục vụ cho các mục tiêu
do Nhà nước đặt ra và phục vụ cho hệ thống chính trị
Trang 21Thể chế chính trị của Nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hệ thống chính sách thuế
Yếu tố chính trị có tác động quyết định đến chính sách thuế và quản
lý thuế
- Yếu tố Kinh tế:
Thuế là một phần thu nhập của nền kinh tế quốc dân được tập trung vào NSNN Thuế luôn luôn gắn chặt với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn thu từ thuế chỉ có thể ổn định, tăng trưởng trên cơ sở nền kinh
tế được phát triển và hiệu quả
Những yếu tố kinh tế thường tác động đến hệ thống chính sách thuế là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, quan hệ cung - cầu trên thị trường,…
1.1.1.5 Phân loại thuế
Để phục vụ cho các mục tiêu quản lý hay nghiên cứu khác nhau, việc phân loại hệ thống thuế được thực hiện theo các tiêu thức khác nhau Một vài cách phân loại thường thấy như:
Phân loại thuế theo tính chất hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo
đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại: thuế nhà nước và thuế địa phương
Trang 22Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung- dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân
bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiên theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này
Phân loại thuế theo tính chất kinh tế
Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế
+ Dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng và thuế đánh vào tài sản
+ Dựa vào yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: thuế đánh vào doanh nghiệp, thuế đánh vào hộ gia đình và thuế đánh vào sản phẩm
+ Dựa vào lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế, ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản…
Phân loại thuế theo tính chất kỹ thuật
Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau:
+Thuế trực thu và thuế gián thu:
- Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp thu vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hoạt động của cơ sở kinh doanh Đây là loại thuế đánh vào việc tiêu thụ các hàng hóa, dịch vụ và được xác định là một khoản cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ Cơ sở kinh doanh kê khai và nộp thuế cho ngân sách Nhà nước nhưng gánh nặng về thuế được chuyển vào người tiêu dùng, chuyển bao nhiêu vào người tiêu dùng là tùy thuộc độ co giãn của đường cung
Trang 23và đường cầu về một mặt hàng cụ thể Qua đó, mối quan hệ giữa người chịu thuế và Nhà nước được thể hiện một cách gián tiếp Trong mối quan hệ này, khoản thuế gián thu sẽ được chuyển cho người tiêu dùng gánh chịu và khoản thuế gián thu này được doanh nghiệp thu hộ cho Nhà nước, người nộp thuế và người chịu thuế khác nhau, hay nói cách khác doanh nghiệp nộp thuế hộ, người tiêu dùng là người chịu thuế, các loại thuế gián thu hiện hành như: thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Xuất nhập khẩu…
- Thuế trực thu đã hình thành từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX
và chỉ được áp dụng rộng rãi vào thế kỷ XX Thuế trực thu thường được hiểu
là một loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập như: tiền lương, lợi tức
cổ phần hoặc trên tài sản như ruộng đất, nhà cửa của người nộp thuế Hay nói cách khác, thuế trực thu là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế
Như vậy thuế trực thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế trích một phần thu nhập của chính mình để nộp cho Nhà nước Người chịu thuế căn cứ thu nhập đạt được kê khai nộp trực tiếp vào NSNN Nếu thuế gián thu có nhược điểm là thuận lợi cho người có thu nhập cao thì thuế trực thu góp phần sửa chữa một phần nhược điểm đó Các nước phát triển thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn, các nước đang phát triển thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn hơn thuế trực thu Ở nước ta, chính sách thuế đang dần dần được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu
Một số nhà kinh tế cho rằng hình thức đánh thuế trực thu xuất hiện sớm hơn hình thức đánh thuế gián thu và có nhiều điểm tiến bộ hơn, bởi vì từ đầu
nó đã gắn liền đến việc tính toán thu nhập của người nộp thuế và khi chấp hành thuế trực thu, người nộp thuế biết được chính xác số phải nộp Song theo một số nhà kinh tế khác, việc đánh thuế trực thu cũng có nhiều hạn chế Trước nhất, đó là một hình thức đánh thuế có địa chỉ là một người, một hộ gia đình hay một doanh nghiệp Mặt khác, thực hiện một sắc thuế trực thu là Nhà nước
đã biểu hiện quyền lực của mình trong việc phân phối và huy động vốn khi
Trang 24giá trị mới được sáng tạo ra, như vậy nó đã va chạm trực tiếp đến lợi ích người nộp thuế, dễ gây ra tâm lý gánh nặng thuế trong nhân dân
Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, các sắc thuế trực thu
có vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư như thuế Thu nhập cá nhân, thuế Tài sản Ngoài ra, còn có những sắc thuế trực thu khác mà vị trí của từng sắc thuế khác nhau ở từng nước như thuế Di sản và tặng vật Ở nước ta, sau cuộc cải cách thuế năm 1990, hệ thống thuế đã có sự phân biệt khá rõ nét thuế trực thu và thuế gián thu Các sắc thuế trực thu hiện hành như thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Thu nhập thu nhập cá nhân
Với cách phân loại này cho thấy được vai trò của từng lại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, phản ánh mối tương quan giữa thuế gián thu và thuế trực thu trong tổng thu về thuế của ngân sách nhà nước và nó cũng có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa một cách khoa học các sắc thuế phục vụ cho việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách Tùy theo đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước, cũng như quan điểm và yêu cầu động viên ở mỗi nước mà có thể nhấn mạnh đến yêu cầu động viên nặng về thuế gián thu hay nặng về thuế trực thu Nhìn chung, ở các nước đang phát triển có thu nhập chưa cao nên thường là thuế gián thu chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu thuế, còn ở các nước phát triển thu nhập xã hội đã cao thì tỷ trọng thu thuế trực thu chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu thuế
+ Thuế tỷ lệ, thuế lũy tiến:
-Thuế lũy tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế Đây là sắc thuế có
tỷ lệ thu ngày càng tăng theo thu nhập chịu thuế như thuế Thu nhập cá nhân
-Thuế tỷ lệ loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế Đây là sắc thuế mà thuế suất không thay đổi
+ Thuế theo mức riêng biệt và thuế tính theo giá trị:
Theo cách này, được xếp vào loại thuế có mức riêng biệt, nếu trong đó
Trang 25mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích…), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng Loại thuế này có lợi thế là rất đơn giản, không cần phải xác định giá trị của đối tượng bị đánh thuế nhưng lại có bất lợi là không thích ứng trong trường hợp tiền tệ bị mất giá Ở một số nước, loại thuế này thường được áp dụng dưới hình thức thuế rượu, thuế thuốc lá, thuế bia…
Ngược lại, thuế tính theo giá trị là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế Ưu điểm của loại thuế này là tính toán đơn giản, tiện lợi và được áp dụng chủ yếu đối với các loại thuế tiêu dùng như thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt Riêng thuế theo mức riêng biệt ở nước ta ít sử dụng
1.1.2.Thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1.2 Kh i niệm
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu được tính trên lợi nhuận của các
cơ sở sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh là phần còn lại của doanh thu bán hàng hoá cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi tất cả các chi phí có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Điều đó có nghĩa là thuế TNDN được định nghĩa là một sắc thuế trên thu nhập thuần
1.1.2 Đặ iểm a thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối với thuế TNDN, đối tượng chịu thuế chính là lợi nhuận thu được của đối tượng nộp thuế do vậy thuế TNDN là loại thuế trực thu
Thuế TNDN mang đầy đủ tính chất của thuế trực thu, thường mang tính lũy tiến, đảm bảo công bằng xã hội
Với một mức thuế suất thống nhất là 20% (năm 2016), khả năng thu thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Chính vì vậy các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN
Trang 261.1.2 3 Vai trò a thuế TNDN
a Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN
Thuế TNDN chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN Mọi cơ
sở sản xuất kinh doanh có lợi nhuận đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh
tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra
nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN Tỷ trọng thuế TNDN
trong tổng số thu Ngân sách nhà nước ngày càng tăng, đây cũng là xu hướng thể hiện hiệu quả của nền kinh tế Ở các nền kinh tế phát triển, thuế trực thu như thuế TNDN thường chiếm tỷ trọng cao
b Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Để tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, hệ thống pháp luật về thuế TNDN được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế
Đối với một số ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực cần khuyến khích phát triển ở những mức độ khác nhau trong nền kinh tế, Luật thuế TNDN cũng quy định các mức thuế suất ưu đãi khác nhau khác với mức thuế suất thuế TNDN thông thường áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh Thông qua các mức ưu đãi đó, thuế TNDN được sử dụng như là một biện pháp khuyến khích đầu tư vốn vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà nhà nước cần khuyến khích phát triển Biện pháp này góp phần khai thác tiềm năng về vốn của mọi thành phần kinh tế Ngoài ra bằng việc sử dụng các biện pháp miễn giảm thuế TNDN theo các mức độ khác nhau, Nhà nước có thể hỗ trợ các DN khắc phục khó khăn, rủi ro để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh
Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, Nhà nước thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó
Trang 27c Thuế TNDN là một công cụ của Nhà nước thực hiện chính sách công bằng xã hội
Thuế TNDN được áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, điều đó thể hiện sự bình đẳng, không phân biệt quy
mô kinh doanh trong cùng một ngành nghề Mọi doanh nghiệp kinh doanh dưới bất cứ hình thức nào nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN Với một mức thuế suất thống nhất, doanh nghiệp nào có thu nhập cao thì phải nộp số thuế TNDN nhiều hơn doanh nghiệp có thu nhập thấp
Quy định như vậy cũng là nhằm đạt được mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập xã hội, khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh trong một môi trường bình đẳng về thuế
Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc nghiên cứu cải cách chính sách thuế TNDN là một vấn đề quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo công bằng trong phân phối thu nhập xã hội
1.1.2 4 Nội dung ơ ản a luật thuế thu nhập doanh nghiệp
a Đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối tượng chịu thuế TNDN là thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ và thu nhập chịu thuế khác, kể cả thu nhập
từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài
b Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định của Luật thuế TNDN thì đối tượng nộp thuế TNDN tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ có thu nhập chịu thuế Bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Pháp luật của Việt Nam
- Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
- Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài
có cơ sở thường trú tại Việt Nam
Trang 28- Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá hoặc dịch
vụ và có thu nhập chịu thuế;
c Căn cứ tính thuế
Bao gồm thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác
- Xác định thu nhập chịu thuế
TNCT là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế TNDN Nó được xác định trên
cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừ một số khoản thu nhập và chi phí để tạo ra thu nhập đó
Các khoản thu nhập khác
Khi xác định xác định thu nhập chịu thuế TNDN cần quán triệt nguyên tắc cơ bản sau:
+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập bằng tiền, tức là chỉ những thu nhập được tính ra bằng tiền mới đưa vào thu nhập chịu thuế, theo đó thì những thu nhập dưới dạng hiện vật phải được tính thành tiền và thu nhập nhận được từ các lợi ích công cộng không được tính vào thu nhập chịu thuế
+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng, tức là thu nhập nhận được sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý và cần thiết để tạo ra thu nhập đó;
+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế Tức là chỉ những thu nhập mà doanh nghiệp thực sự nhận được trong kỳ tính thuế mới được tính còn những thu nhập đang ở dạng tiềm ẩn thì không được tính vào thu nhập chịu thuế
+ Thời gian tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 29- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội
mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng
- Các khoản chi phí hợp lý được tính trừ thu nhập chịu thuế
Về nguyên tắc các khoản chi phí được trừ là các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tức là những chi phí có liên quan đến việc tạo ra doanh thu để tính thu nhập chịu thuế Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp thường có xu hướng tìm mọi cách thức để khai tăng chi phí nhằm hạ thấp thu nhập chịu thuế, giảm số thuế TNDN phải nộp, vì vậy để chống thất thu cho Ngân sách Nhà nước, hầu hết các quốc gia đều áp dụng nguyên tắc chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế
Chi phí hợp lý là những khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong kỳ tính thuế có liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà theo quy định của luật thuế được phép trừ khỏi doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Theo thông lệ quốc tế có 4 nguyên tắc xác định các khoản chi phí được khấu trừ trong thuế TNDN là: Chi phí có liên quan đến việc tạo ra thu nhập của doanh nghiệp; chi phí mà doanh nghiệp thực sự có chi ra, có hoá đơn, chứng từ hợp pháp; chi phí có mức trả hợp lý; chi phí có tính thu nhập hơn là tính vốn
- Các khoản thu nhập chịu thuế khác
Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có
Trang 30trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán; thu nhập từ hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả; thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay ; các khoản thu nhập khác
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế suất thuế TNDN là mức thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng chịu thuế Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế
Thuế suất thuế TNDN thể hiện tỷ lệ điều tiết tiền của NSNN và doanh nghiệp trên khoản tiền lãi (thu nhập chịu thuế) do doanh nghiệp tạo ra
Trong một luật thuế, thuế suất là linh hồn của sắc thuế, mang trong mình nó gánh nặng của thuế, thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính
và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xác định thuế suất trong một luật thuế phải quán triệt quan điểm vừa coi trọng lợi ích chung của quốc gia vừa phải chú ý thích đáng đến lợi ích của người nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trong việc sử dụng công
Cơ sở thuế là một bộ phận của đối tượng tính thuế được xác định làm căn cứ tính thuế Cơ sở thuế thường thấp hơn đối tượng tính thuế, bởi vì tồn tại mức tối thiểu không phải nộp thuế, miễn giảm thuế Một cơ sở thuế sau khi tính và nộp một loại thuế tương ứng có thể trở thành cơ sở của một loại thuế khác
Trang 31Từ ngày 01/01/2016, Luật thuế TNDN quy định Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với doanh nghiệp là 20%, đối với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô là 17% Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam, mức thuế suất thuế TNDN dao động từ 32% đến 50%
d Ưu đãi về thuế
Ưu đãi thuế là hình thức cho người nộp thuế được hưởng những điều kiện thuận lợi khi thực hiện nghĩa vụ thuế
Cơ chế áp dụng ưu đãi
Để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi doanh nghiệp, mọi thành phần kinh
tế, chính sách thuế TNDN hiện hành của Việt Nam quy định: các doanh nghiệp căn cứ vào chính sách thuế, căn cứ vào ngành nghề, mặt hàng, địa điểm kinh doanh để tự xác định mức ưu đãi về thuế suất, về thời gian miễn giảm thuế TNDN
Với quy định này đảm bảo được tính công khai, minh bạch của chính sách thuế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xác định mức độ ưu đãi được hưởng tuỳ điều kiện đáp ứng của doanh nghiệp mình
Phạm vi ưu đãi
Tuỳ theo chính sách phát triển kinh tế, điều kiện về vùng miền và các ngành nghề mặt hàng Nhà nước cần khuyến khích phát triển, để quy định phạm vi ưu đãi thích hợp cho từng thời kỳ
Hình thức ưu đãi chủ yếu
Các nước có thể sử dụng nhiều hình thức ưu đãi thuế khác nhau với mức độ ưu đãi khác nhau tuỳ theo mục tiêu cần thu hút đầu tư của mình, bao gồm: miễn thuế, giảm thuế, áp dụng thuế suất ưu đãi
đ Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định tại luật thuế TNDN hiện hành thì thuế TNDN đối với các doanh nghiệp được xác định như sau:
Trang 32-
Phần trích lập quỹ KH&CN (nếu có))
x Thuế suất thuế
TNDN
Đơn vị sự nghiệp, tổ chức khác không phải là doanh nghiệp thành lập
và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưng không xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ, cụ thể như sau:
+ Đối với dịch vụ (bao gồm cả lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay): 5%
Riêng hoạt động giáo dục, y tế, biểu diễn nghệ thuật: 2%
+ Đối với kinh doanh hàng hóa: 1%
+ Đối với hoạt động khác: 2%
e Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Chế độ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định nhằm hai mục đích:
- Thứ nhất là nhằm khuyến khích thu hút đầu tư vào những địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, vào khu kinh tế hoặc khu công nghệ cao cần khuyến khích phát triển, một số lĩnh vực ngành nghề công nghệ cao, phát triển công nghệ, đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng như cầu đường, thuỷ điện, hàng không, cảng biển, sân bay
- Thứ hai là gắn với chính sách xã hội như ưu đãi cho một số ngành nghề sử dụng nhiều lao động nữ, các doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số
Trang 331.2 Quản lý thuế TNDN đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai tr của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thực hiện nghĩa vụ NSNN
1.2.1.1 Kh i niệm doanh nghiệp v n u t n ngo i
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hay còn gọi là doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc viết tắt là doanh nghiệp FDI
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tất cả đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của loại hình doanh nghiệp này
Hiện nay, khi mà nhu cầu đầu tư vào Việt Nam của các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng lên thì việc thành lập doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến
Khoản 6 Điều 3 của Luật Đầu tư năm 2005 định nghĩa: Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam
do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại
Theo Luật đầu tư năm 2014 thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hiểu là doanh nghiệp mà có nhà đầu tư nước ngoài là cổ đông hoặc là thành viên Mặc dù Luật đầu tư không đưa ra định nghĩa cụ thể về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ đưa ra định nghĩa về tổ chức kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài một cách khái quát nhất, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một hình thức được hiểu trong định nghĩa về tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay
còn gọi là doanh nghiệp FDI) là một loại hình tổ chức kinh doanh, trong đó có
Trang 34một hay nhiều chủ đầu tư cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”
1.2.1.2 Đặ iểm doanh nghiệp v n u t n ngo i
+ Tìm kiếm lợi nhuận: Có thể thấy rằng, mục đích ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là lợi nhuận, do đó các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển như nước ta hiện nay cần lưu ý đến điều này khi tiến hành thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng đầu tư nước ngoài chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư
+ Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, cũng như lợi nhuận và rủi ro được phân chia theo tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định
+ Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức
+ Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được
+ Một đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó là rất khó xác định chính xác doanh thu và chi phí thực sự của
loại hình doanh nghiệp này, được thể hiện qua hình thức chuyển giá
1.2.1.3 Vai trò doanh nghiệp v n u t n ngo i
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung, tỉnh Thanh Hoá nói riêng trong quá trình chuyển dịch từ một nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Đó là:
Trang 35+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế đất nước
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, kích thích lĩnh vực dịch vụ Việt Nam nâng cao chất lượng và phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng…
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo, điện tử, tin học… Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tác động lan toả đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ
và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các thành phần khác của nền kinh tế Sự lan toả này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô, đồng thời góp phần quan trọng trong tạo
ra việc làm cho người lao động Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có
Trang 36vốn đầu tư nước ngoài vào ngân sách ngày càng tăng Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc, nguyên vật liệu…
+ Một vai trò không kém phần quan trọng là việc các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao năng lực trình độ quản lý của các nhà quản lý Việt Nam Với những nước đang phát triển như nước ta doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ là trường đào tạo các bộ quản lý tốt nhất bởi lẽ với yêu cầu ngày càng cao của công việc, của hội nhập kinh tế lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ có môi trường để thực tập, cọ sát và học tập không ngừng nâng cao trình độ của mình Môi trường làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ tạo cho người lao động tác phong công nghiệp trong lao động, góp phần đào tạo và nâng cao trình độ tay nghề cho mỗi lao động Điều này sẽ gián tiếp làm tăng năng suất lao động, tạo việc làm và tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần giúp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
+ Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới của Việt Nam Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng và tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy mạnh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu
tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM, WTO và TTP Đồng thời, đã ký kết 54 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định
Trang 37tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói
và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam
không ngừng được cải thiện
1.2.2 Quản lý thuế TNDN đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1 Kh i niệm quản lý thuế
Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để nhằm huy động tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo những quy định của pháp luật về thuế
Tại Việt Nam, công tác quản lý thuế đã được quy định bởi Luật Quản
lý thuế năm 2006, theo đó việc quản lý thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý thu theo quy định của Pháp luật
Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế Để thực hiện tốt công tác quản lý thuế cần có một chính sách thuế hợp lý Sau khi chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi trong thực tế Quản lý thuế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách
thuế vào cuộc sống Hoạt động quản lý thuế là sự tác động có tổ chức, tuân
theo những quy tắc nhất định và mang tính quyền lực nhà nước Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính - kinh tế trong lĩnh vực thuế
S n thiết phải tăng ng quản thuế TNDN i v i doanh nghiệp v n u t tr tiếp n ngo i
Qua các bước cải cách thuế, hệ thống chính sách về thuế TNDN đã tương đối đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, tuy nhiên để hệ thống chính sách này thực sự được chấp hành nghiêm túc góp phần quan trọng cho việc đảm bảo nguồn thu cho NSNN thì công tác quản lý thuế có vai trò rất quan trọng
Với chính sách thông thoáng, kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực
đã thực sự giải phóng mọi tiềm năng sản xuất kinh doanh, trong đó các doanh nghiệp ĐTNN đã và đang phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô Tuy
Trang 38nhiên các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều kinh nghiệm đầu tư trên thị trường quốc tế nên rất dễ lợi dụng kẽ hở của chính sách, pháp luật của nước ta để gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Bên cạnh đó, một số nhà đầu tư nước ngoài thiếu hiểu biết về Pháp luật Việt Nam cũng là một hạn chế không nhỏ dẫn đến hiệu quả của công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các đối tượng doanh nghiệp này hiện nay
Bên cạnh các doanh nghiệp chấp hành tốt Pháp luật thuế vẫn còn tồn tại nhiều doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn, tiểu xảo để trốn thuế
Quản lý thuế chính là việc thực hiện quá trình hành pháp về thuế Chính vì vậy, sự cần thiết của quản lý thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng xuất phát từ chính vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Và ảnh hưởng của thuế TNDN tới sự phát triển của nền kinh tế mà trong đó khoản thuế từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần quan trọng
3 M ti u v u u quản lý thuế i v i doanh nghiệp v n
u t tr tiếp n ngo i
Quản lý thuế là thực hiện một chức năng quan trọng của Nhà nước
trong lĩnh vực tài chính Quản lý thuế nhằm đạt được những mục tiêu sau:
- Đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời thuế và các khoản thu cho NSNN nhưng bên cạnh đó là tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất kinh doanh thuận lợi trong kinh doanh từ đó tạo nguồn thu bền vững và không ngừng phát triển
- Đảm bảo cho chính sách thuế thực sự được chấp hành nghiêm túc, phát huy vai trò của thuế trong nền kinh tế, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, công bằng thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế
- Tăng cường ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật thuế của NNT
- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ: dân chủ trong việc thảo luận, xây dựng ban hành các văn bản pháp luật thuế cũng như việc thực hiện các nội dung, quy trình quản lý thuế
- Đảm bảo nguyên tắc công khai, tiết kiệm và có hiệu quả
Trang 394 Nội dung quản lý thuế TNDN i v i doanh nghiệp v n
u t tr tiếp n ngo i
Công tác quản lý thuế đã được quy định tại Luật quản lý thuế (được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 10, khoá XI) Theo đó quản lý thuế gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Cơ chế quản lý thuế hiện hành theo quy định của Luật quản lý thuế là
cơ chế người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ quan thuế thực hiện các chức năng: tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, thanh tra kiểm tra thuế, thu nợ và cưỡng chế nợ thuế
Các nội dung trên được Tổng cục Thuế cục thể hoá theo các quy trình quản lý thuế:
* Quản lý kê khai thuế TNDN
Kê khai thuế TNDN là một nghĩa vụ bắt buộc của người nộp thuế khi phát sinh nghĩa vụ thuế TNDN theo quy định của pháp luật Kê khai thuế TNDN là việc người nộp thuế lập hoặc điền vào mẫu các tờ khai thuế hoặc phụ lục tờ khai các thông tin để xác định nghĩa vụ thuế TNDN của người nộp thuế Người nộp thuế phải kê khai các thông tin để xác định nghĩa vụ thuế TNDN và phải đồng thời tự xác định số thuế TNDN phải nộp trong tờ khai thuế
* Quản lý thu nộp thuế TNDN
Nộp thuế là nghĩa vụ tiếp theo nghĩa vụ kê khai thuế của người nộp thuế Người nộp thuế chỉ được coi là hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước sau khi đã kê khai và nộp thuế đúng pháp luật Nộp thuế là việc người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước để thực hiện nghĩa vụ thuế bao gồm các hình thức như nộp tiền mặt, chuyển khoản, bù trừ với số thuế nộp thừa
Trang 40*Quản lý nợ thuế TNDN
Quản lý nợ thuế là công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hồi số thuế nợ của người nộp thuế
Người nộp thuế có thể tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế đúng thời hạn quy định Nhưng cũng có thể xảy ra trường hợp người nộp thuế không tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế Khi đó cơ quan thuế sẽ ban hành các quyết định hành chính thuế yêu cầu người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế Nếu người nộp thuế không tuân thủ các quyết định hành chính này thì cần tổ chức cưỡng chế
nợ thuế, buộc người nộp thuế thi hành các quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật
*Quản lý thanh kiểm tra thuế TNDN
Thanh kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của người nộp thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật
Thanh kiểm tra thuế được thực hiện bằng bộ máy của thuế Nhà nước được cụ thể hóa trong Luật thể hiện uy lực, tính nghiêm minh trong việc chấp hành pháp luật về thuế
Công tác thanh kiểm tra chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đảm bảo tính khách quan, trung thực, rõ ràng, sâu sát khi đưa ra kết luận và đặc biệt phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp quy của nhà nước, tuyệt đối không
được gây phiền hà, sách nhiễu cho các doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra
*Công tác tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật về thuế TNDN
Tuyên truyền hỗ trợ pháp luật về thuế TNDN là việc cơ quan thuế sử dụng các hình thức, phương tiện để cung cấp, truyền bá thông tin về pháp luật thuế TNDN đến với người nộp thuế để giúp họ hiểu được bản chất và ý nghĩa của việc nộp thuế TNDN, quyền và nghĩa vụ của họ trong việc nộp thuế