1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xống chụ xon xao (tiễn dặn người yêu) – sự đặc sắc về thể loại và dấu ấn trong đời sống văn chương hiện đại dân tộc thái

111 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xống chụ xon xao (tiễn dặn người yêu) – sự đặc sắc về thể loại và dấu ấn trong đời sống văn chương hiện đại dân tộc Thái
Tác giả Cầm Bá Đường
Người hướng dẫn PGS.TS. Hỏa Diệu Thúy
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 669,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong số những tác phẩm đặc sắc của văn học các dân tộc ít người trên mảnh đất Việt Nam phải kể tới truyện thơ Xống chụ xon xao Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái.. Nhà nghiên cứu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu khác đã công bố

Người cam đoan

Cầm Bá Đường

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của

PGS.TS Hỏa Diệu Thúy Để hoàn thành luận văn này tác giả nhận được sự

giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc đến PGS.TS Hỏa Diệu Thúy đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn của

mình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo đã giảng dạy chúng tôi trong lớp cao học trong hai năm học vừa qua Tôi xin cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Hồng Đức, phòng Sau Đại học, Khoa Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi quá trình thực hiện luận văn của mình

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của các quý thầy cô giáo để luận văn hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thanh Hóa, ngày 18 tháng 8 năm 2017

Tác giả

Cầm Bá Đường

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục tiêu của đề tài 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15

5 Phương pháp nghiên cứu 16

6 Đóng góp của luận văn 17

7 Bố cục luận văn 17

Chương 1 TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU - ÁNG TRỮ TÌNH ĐẶC SẮC 18

1.1 Đôi nét về thể loại trữ tình 18

1.2 Đặc sắc của hình tượng nhân vật trữ tình trong Tiễn dặn người yêu 19

1.2.1 Về nhân vật trữ tình 19

1.2.2 Đặc sắc trong hình tượng nhân vật trữ tình “kép” 20

1.3 Đặc sắc trong việc khai thác, vận dụng các thể thơ dân gian và ngôn ngữ bản địa 39

1.3.1 Đặc sắc trong khai thác và vận dụng các thể thơ dân gian 39

1.3.2 Đặc sắc trong khai thác và sử dụng ngôn ngữ bản địa 45

Chương 2 TIÊN DẶN NGƯỜI YÊU - ÁNG VĂN CHƯƠNG TỰ SỰ HẤP DẪN 50

2.1 Cốt truyện giàu kịch tính 50

2.1.1 Khái lược về cốt truyện và cốt truyện của “Tiễn dặn người yêu” 50

2.1.2 Cốt truyện giàu tình tiết và kịch tính 52

2.2 Nhân vật được khắc họa cá tính với thế giới nội tâm sâu sắc 59

2.2.1 Nhân vật chàng trai 59

2.2.2 Nhân vật cô gái 65

Trang 4

2.3 Đặc sắc trong điểm nhìn và giọng điệu trần thuật 68

2.3.1 Phong phú trong điểm nhìn 68

2.3.2 Đa dạng trong giọng điệu 74

Chương 3 DẤU ẤN CỦA TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN CHƯƠNG HIỆN ĐẠI DÂN TỘC THÁI 79

3.1 Dấu ấn trong đời sống văn hóa 79

3.2 Dấu ấn trong văn chương Thái hiện đại 89

3.2.1 Dấu ấn nội dung 89

3.2.2 Dấu ấn nghệ thuật 93

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam là một hướng được quan tâm trong thời kì hiện đại Bởi, cộng đồng các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có nền văn hóa, văn học nghệ thuật riêng hết sức phong phú, góp phần tạo nên bức tranh nhiều màu sắc cho nền văn học dân tộc Một trong số những tác phẩm đặc sắc của văn học các dân tộc ít người

trên mảnh đất Việt Nam phải kể tới truyện thơ Xống chụ xon xao (Tiễn dặn

người yêu) của dân tộc Thái

Dân tộc Thái là tộc người có dân số đông nhất nhì trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam và cũng là dân tộc có nền văn hóa riêng rất đặc sắc Dân tộc Thái có chữ viết và vì vậy, họ đã sáng tạo ra một kho tàng văn học đáng tự hào Văn học dân tộc Thái đang có một sức hút mạnh mẽ đối với những người làm công tác văn hóa, văn học nghệ thuật Người ta quan tâm không chỉ ở sắc thái văn hóa mà còn bởi những giá trị nghệ thuật độc đáo của

các tác phẩm Trong kho tàng văn học của bà con dân tộc Thái Việt Nam,

Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) luôn là niềm tự hào lớn Nhiều ý kiến

của các nhà nghiên cứu, khảo cứu đều đánh giá rất cao nội dung ý nghĩa và

sức sống văn hóa của tác phẩm Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị cho rằng: “Tiễn

dặn người yêu là một truyện thơ hay nhất trong mọi truyện thơ hay của các

dân tộc anh em, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam” Nhà thơ

Nông Quốc Chấn gọi Tiễn dặn người yêu là “Áng văn chương tuyệt mỹ của

dân tộc Thái Tây Bắc” PGS TS Lê Trường Phát đã viết: “Nếu cần một tác phẩm văn học cổ truyền để đặt lên đó vòng nguyệt quế vinh quang thì không

tác phẩm nào sánh được với Xống chụ xon xao”[34] Người Thái “khắp” Xống

chụ xon xao trong nhiều trường hợp, hoàn cảnh khác nhau: lúc đi làm ruộng,

nương, lúc liên hoan hội hè, khi cưới xin, khi mừng nhà mới hoặc cả khi chào đón, tiễn biệt nhau… Nói chung, trong các hoạt động cộng đồng vui vẻ người

Thái đều khặp và chủ đề “xống chụ xon xao” thường được đề cập tới Xống

Trang 6

chụ xon xao trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu của đồng bào Thái

Tác phẩm chứa đựng nhiều nét đặc sắc cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật mà người Thái bao đời nay đã say mê thêu dệt, tu chỉnh để hoàn

thiện Những giá trị đặc sắc ấy cần được nghiên cứu, khai thác để làm cho

Xống chụ xon xao trường tồn mà còn nâng lên thành biểu tượng, đại diện cho

văn hóa tộc người

Từ một sáng tác dân gian, Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) đã trở thành “tập đại thành văn học của dân tộc Thái” Có người gọi Xống chụ

xon xao là bài thơ trữ tình dài, có người lại gọi đó là truyện thơ Việc khó

phân định tính thể loại của tác phẩm dân gian này có nguyên do và đó cũng chính là vẻ độc đáo của áng văn chương đặc biệt này Đến nay, trong số

những tác phẩm văn chương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Xống chụ

xon xao (Tiễn dặn người yêu) là tác phẩm được quan tâm, chỉnh lí và xuất bản

nhiều lần nhất (8 lần chưa kể tái bản) Tác phẩm luôn được tuyển chọn vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc phổ thông (dù đã nhiều lần biên soạn lại) khiến giá trị và vẻ đẹp của tác phẩm ngày càng tỏa sáng

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) - sự đặc sắc về thể loại và dấu ấn trong đời sống văn chương hiện

đại dân tộc Thái làm đối tượng nghiên cứu với hi vọng góp phần làm tỏa sáng

những vẻ đẹp còn tiềm ẩn của một áng văn chương có sức sống mãnh liệt trong đời sống văn hóa, văn học của một cộng đồng dân tộc có vị trí không nhỏ trong nền văn hóa - văn học nước nhà

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lược hoạt động khảo cứu, biên dịch, công bố và xuất bản Xống

chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu)

Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) là một tác phẩm văn học dân

gian lâu đời của người Thái Tây Bắc Tác phẩm đã từng được ghi chép lại bằng chữ Thái cổ và lưu truyền rộng rãi trong khắp các vùng từ phía Bắc Phong Thổ (Lai Châu), Nghĩa Lộ, Mường Lò (Yên Bái) đến khu vực phía

Trang 7

Nam như Thuận Châu (Sơn La) và miền Tây Thanh Hóa Song, hoạt động sưu tầm, biên dịch sang tiếng phổ thông đối với tác phẩm này mới được thực hiện

từ sau cách mạng tháng Tám Cụ thể, năm 1957, bản dịch truyện thơ này lần đầu được công bố do Điêu Chính Ngâu thực hiện và được xuất bản ở Hà Nội Một năm sau đó tác phẩm này được Sở Văn hoá Khu tự trị Thái Mèo xuất bản, do Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Cầm Biêu khảo đính Lần xuất bản bằng tiếng Việt lần này của Sở Văn hoá Khu tự trị Thái Mèo dài hơn bản do Nhà xuất bản Hội Nhà văn công bố là 30 câu Hai lần xuất bản sớm nhất này chưa có nguyên văn tiếng Thái, chỉ có phần biên dịch tiếng phổ thông

Ba năm sau khi Điêu Chính Ngâu xuất bản lần đầu, Mạc Phi, Hà Hem,

Lò Văn Cậy khảo đính, biên soạn bản Xống chụ xon xao tiếng Thái vào năm

1960 Bản này có dung lượng dài hơn các bản đã công bố năm trước đó Chỉ một năm sau (1961), Nhà xuất bản Văn hoá (thuộc Viện Văn học) công bố bản dịch tiếng Việt dựa trên bản tiếng Thái năm 1960 Lần xuất bản này nhà văn Mạc Phi đã thực hiện công việc khảo dị, chú thích hết sức kĩ lưỡng và cẩn thận

Và cũng chỉ sau đó đúng một năm (1962), Sở Văn hoá Khu tự trị Thái

Mèo tái bản Xống chụ xon xao nguyên bản tiếng Thái (không có phần dịch tiếng Việt) Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) còn được Mạc Phi chỉnh

lý và tái bản hai lần tiếp vào năm 1973 (NXB Văn học) và năm 1977 (NXB Văn hoá Dân tộc)

Nguyễn Khôi - một nhà thơ người Kinh cũng rất say mê truyện thơ độc

đáo này, đã biên soạn và cho ra mắt Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao)

(NXB Văn hoá Dân tộc) năm 2000 Lần ra mắt này của Nguyễn Khôi rất công phu, gồm 3 phần chính: một là bản chữ Thái, bản dịch thơ và chú thích của nhà văn Mạc Phi; hai là bản phiên âm tiếng Thái, bản dịch thơ của Điêu Chính Ngâu và phần thứ ba là bản chuyển thể song thất lục bát tiếng Việt Như vậy, riêng ở công tác sưu tầm, biên dịch, khảo dị và công bố, xuất

bản Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) đến nay đã diễn ra tới mười tám

Trang 8

lần Sự quan tâm của giới nghiên cứu, độc giả cho thấy ý nghĩa và vị trí của tác phẩm trong đời sống văn hóa, văn học dân tộc

2.2 Lược sử những công trình nghiên cứu về truyện thơ Thái trong đó có

Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu)

Có thể nói, sau khi được sưu tầm và trình làng, truyện thơ Thái đã trở thành đối tượng quan tâm sớm của giới nghiên cứu cũng như độc giả nói

chung Điều đáng chú ý là, Xống chụ xon xao luôn là tác phẩm cốt lõi trong tìm

hiểu, nghiên cứu, đánh giá Để tiện theo dõi, chúng tôi tách vấn đề thành hai nội dung, thứ nhất: Hướng nghiên cứu về truyện thơ Thái nói chung; Thứ hai,

hướng nghiên cứu riêng về Xống chụ xon xao với tư cách là tác phẩm độc lập

2.2.2 Hướng nghiên cứu về truyện thơ Thái nói chung

Hướng nghiên cứu này thường mang tính định hướng giới thiệu khái quát về vốn văn hóa, văn học của các dân tộc Việt Nam Có lẽ công trình đề

cập khá kĩ càng hơn cả về truyện thơ Thái nói chung và truyện thơ Tiễn dặn

người yêu là cuốn Văn học dân gian Việt Nam (1991), Tập 1 của tác giả Đỗ

Bình Trị Ở đây, khi giới thiệu về văn học dân gian dân tộc Thái, tác giả đã đưa ra nhận định "Văn học Tây Bắc rất giàu chất trữ tình; phong phú về thơ

ca và các loại truyện thơ dài Dân ca có nhiều loại Văn học dân gian có ảnh hưởng rõ rệt đến văn học thành văn"[20; tr 178]; "Đời sông tình cảm phong phú ấy mang lại yếu tố trữ tình trong văn học Thái những sắc thái thiết tha,

đậm lòng nhân đạo"[20; tr 179] Tác giả cũng đã dành tình cảm lớn cho Tiễn

dặn người yêu (Xống chụ xon xao): "Tuy chỉ đề cập đến đề tài tình yêu nhưng

tác phẩm hầu như đụng đến tất cả, dính dáng đến số phận tất cả mọi người trong xã hội cũ"[20; tr 181];, những lời ca "khi âm thầm câm lặng, khi vút lên như tiếng thét gào, khi chua chát, đắng cay, khi tủi hờn, uất ức cứ thế quanh quẩn suốt hai nghìn câu thơ" ( ) Tác phẩm là một chuỗi tiếng kêu thương đứt ruột; là tiếng kêu bất bình, tố cáo và phản kháng; là tiếng hát đồng tình, an ủi, cảm thông chứa chan tình cảm nhân đạo của nhân dân đối với thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ” [20; tr 181] Nhà nghiên cứu cũng nhận ra vị trí

Trang 9

của tác phẩm trong đời sống tinh thần của người Thái: "Thưởng thức bất cứ đoạn thơ nào người ta cũng liên tưởng đến những điệu Xòe Thái quen thuộc"[20; tr 181]; Theo Đỗ Bình Trị: Tiễn dặn người yêu “Là một truyện thơ

hay nhất trong mọi truyện thơ hay của các dân tộc anh em, một tác phẩm lớn trong nền văn học Việt Nam” [20; tr 182];

Sách Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh chủ biên, ở chương bảy, phần Truyện thơ - một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học

thành văn, tác giả đã phân loại và giới thiệu nhóm truyện thơ các dân tộc

thiểu số Việt Nam và xếp truyện thơ Tiễn dặn người yêu vào "nhóm truyện

thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian" [20; tr.797] Các tác giả cũng đã tìm hiểu và đưa ra các ý kiến về vấn đề thể loại của các tác phẩm, như: nguồn gốc, đề tài, kết cấu, nội dung, ngôn ngữ Về nguồn gốc, các tác giả cho rằng rằng truyện thơ dân tộc thiểu số nói chung, "Trên cơ sở nền dân

ca phong phú, với sự phát triển của hiện thực xã hội và theo đó là nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc, các nghệ nhân dân gian

đã sáng tạo nên nhiều truyện thơ mang phong vị trữ tình đậm đà của lời thơ, tiếng hát quen thuộc của nhân dân"[20; tr.797]; Về đề tài, "Đề tài trung tâm khá phổ biến của nhóm truyện thơ này là câu chuyện về tình yêu nam nữ dưới chế độ cũ” [20; tr.797]; Về nhân vật, “Nhân vật trung tâm của các câu truyện

đó là các chàng trai và các cô gái, nạn nhân của tục lệ hôn nhân gả bán, ép uổng ngang trái dưới chế độ cũ"[20; tr.797] vv Về nghệ thuật, các tác giả đánh giá chung về kết cấu của các truyện thơ là: "Nói chung, kết cấu mở đầu của phần lớn truyện thơ là giới thiệu mối tình cao đẹp của các chàng trai và cô gái yêu nhau tha thiết và ước mơ xây dựng cuộc đời hạnh phúc với nhau ( ) Nhìn tổng thể các truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian thường đặt nhân vật trong các bi kịch và "cách giải quyết để giành lại hạnh phúc lứa đôi ở đây có hậu, tuồng như trọn vẹn thủy chung, nhưng thật ra vẫn còn nằm trong vòng ngẫu nhiên của mơ tưởng, có vẻ gượng ép, chưa thật hợp với lôgic của hiện thực quá ê chề đau khổ của đôi bạn tình, diễn biến qua hầu

Trang 10

suốt truyện thơ Cách giải quyết thiên về phong cách lãng mạn đó dù sao cũng không lấn át được không khí hiện thực mang nặng tâm tư buồn tủi của lứa đôi

bị trắc trở, bị giày vò "[20; tr 799, 804] Tiễn dặn người yêu cũng dành được

sự quan tâm riêng: “Tiễn dặn người yêu chủ yếu diễn ra trong phạm vi sinh

hoạt gia đình của các nạn nhân đó Tuy vậy, do yêu cầu tư tưởng của các nội dung truyện nêu ra, do tính chất cấp thiết của vấn đề toát lên từ đề tài, từ hình tượng nhân vật, ý nghĩa xã hội của truyện thơ này khá sâu sắc Đó là khát vọng dân chủ mãnh liệt của nhân dân, thể hiện ở cuộc đấu tranh cho một cuộc sống hạnh phúc, chống lại những tục lệ lề thói khắc nghiệt, bóp nghẹt quyền

tự do yêu đương" [20; tr 798]

Sức hấp dẫn của truyện thơ Thái đã lan tỏa sang nhiều đối tượng tập dượt nghiên cứu là học viên trong các trường đại học Năm 2006, Hoàng Thị

Hương Loan trong luận văn thạc sĩ Số phận của người phụ nữ Thái qua một

số truyện thơ tiêu biểu của người Thái Tây Bắc [23] cũng lấy tác phẩm này

làm đối tượng nghiên cứu chính; năm 2013, Bùi Quang Vinh cũng lấy truyện

thơ này làm đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn So sánh truyện thơ

Thái và truyện thơ H'Mông (trên cứ liệu hai tác phẩm Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu) [50]

Năm 2013 có đến hai luận án tiến sỹ công bố cùng nghiên cứu về

truyện thơ của dân tộc Thái Việt Nam, đó là luận án của Lê Thị Hiền Khảo

sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của dân tộc Thái ở Việt Nam

(Đại học KHXH&NV) [13] và Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc Thái

ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh của Ngô Thị

Phượng (Đại học SP Hà Nội) [41]

Luận án của TS Lê Thị Hiền có cấu trúc ba chương, chương một, khảo sát số lượng, phân loại, nguồn gốc và vấn đề dị bản, tính địa phương hóa cốt truyện của truyện thơ Thái; chương hai, nghiên cứu cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ trong các truyện thơ Theo tác giả luận án, dạng thức, kết cấu cốt truyện của truyện thơ Thái: “ có kết cấu cốt truyện dựa trên nội dung của

Trang 11

dân ca đã bước đầu xây dựng một hình hài cốt truyện riêng Thông thường, ở dân ca, nội dung chỉ mới dừng lại ở những mảng tâm trạng khác nhau nảy sinh trong những hoàn cảnh khác nhau thì ở truyện thơ, những mảng tâm trạng đó được “xử lý” bằng cách “lắp ghép”, “sắp xếp” trong một kết cấu cốt

truyện gồm ba phần: mở đầu với sự gặp gỡ, hẹn ước; cao trào với những tai

biến; kết thúc với việc đoàn tụ”[13; tr 76] Song, cũng theo tác giả “thực tế

khảo sát tư liệu truyện thơ cho thấy, không phải bất cứ kết cấu cốt truyện của

truyện thơ nào cũng bao hàm đầy đủ và hoàn chỉnh các phần trên"”[13; tr 76]

Về nhân vật, tác giả luận án cho rằng “Nhân vật truyện thơ đã có xu hướng tách dần từ tính chung sang tính riêng, dần dần mang tính chất cá thể

hóa"”[13; tr 76] so với nhân vật trong truyện cổ và dân ca; Ngôn ngữ truyện

thơ Thái, tác giả luận án cho rằng: "Là thứ ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh

và nhạc điệu, có sức gợi cảm trực tiếp và có khả năng thể hiện sâu xa và tinh

tế những tâm trạng, những cảm xúc mãnh liệt của con người Truyện thơ Thái đi vào lòng người không chỉ bằng nội dung và ý nghĩa nhân đạo mà nó còn cuốn hút lòng người đến say mê vì khả năng gợi cảm một cách tinh tế và

tài tình của ngôn ngữ"”[13; tr 76] Tác giả cũng đã chỉ ra hiện tượng đan xen

ngôn ngữ và việc sử dụng điển cố, điển tích trong truyện thơ Thái Có thể nói,

công trình Khảo sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của dân tộc

Thái ở Việt Nam cho thấy công phu của tác giả luận án trong việc hệ thống lại

truyện thơ Thái ở Việt Nam trên cơ sở những tác phẩm đã được sưu tầm và công bố Luận án cũng đã đặt vấn đề nghiên cứu và chỉ ra một số vấn đề về thi pháp thể loại của các tác phẩm Tuy nhiên, đối tượng của luận án là truyện thơ Thái nói chung, vì vậy, những kết luận mang tính khái quát chung với nhiều tác phẩm, chính tác giả luận án cũng đã nhận thấy không phải truyện thơ nào “cũng bao hàm đầy đủ và hoàn chỉnh các phần trên" Chúng tôi cho rằng, những kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo và gợi ý quý báu cho đề tài của chúng tôi

Trang 12

Luận án của Ngô Thị Phượng có hướng nghiên cứu từ cái nhìn so sánh:

Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh Vì vậy, đối tượng nghiên cứu tập trung vào các

truyện thơ Thái có cùng đề tài với truyện Nôm dân tộc Kinh, như: Ngu Háu, Ý

Nọi - Náng Xưa, Ú Thêm, Trạng Tư Ở chương 1, phần khái quát truyện thơ

dân tộc Thái, tác giả cho rằng: "So với truyện cổ và dân ca, truyện thơ Thái có quy mô hơn hẳn về dung lượng tác phẩm, về tầm khái quát các vấn đề xã hội được phản ánh, về nghệ thuật xây dựng các hình tượng văn học"[41; tr 32] Tác giả luận án cũng đã đi sâu nghiên cứu và đặt vấn đề đề tài, kết cấu cốt truyện, nhân vật ngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật Tác giả của luận án

Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm dân tộc Kinh nhận thấy hai mô hình chính trong kết cấu cốt

truyện của truyện thơ Thái: Mô hình thứ nhất, cốt truyện được chia làm 3 phần: “gặp gỡ - tai biến - đoàn tụ", "Mô hình thứ hai, cốt truyện chia làm

nhiều phần, sự kiện xâu chuỗi, lắp ghép"[41; tr 32], không gian truyện thơ

Thái "chủ yếu diễn ra ở cõi thực như bên máng nước, lúc quay sợi, đi rừng, làm rẫy Tuy nhiên cũng có khá nhiều sáng tác xuất hiện cả ba cõi như Mường trời, Mường quỷ, Mường trần tục"[41; tr 43] Về ngôn ngữ, tác giả nhận định "Với ngôn ngữ truyện thơ Thái, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ tự sự với ngôn ngữ nhân vật"[41; tr 43] Trong đó ngôn ngữ ngưởi kể chuyện mang đặc điểm "Tác giả truyện thơ Thái khi kể chuyện thường giấu một chữ tôi ẩn chủ ngữ trong câu, dẫn tới sự trung hòa về vai, chỉ còn vai người kể, không có

vai người nghe"[41; tr 43]; "Người kể chuyện thường đứng tách bạch, tự

phân chia ranh giới rõ ràng với nhân vật và luôn ý thức mình đang trong vai người kể chuyện, không đứng ở nhiều điểm nhìn khác nhau như tiểu thuyết hiện đại giai đoạn sau Đồng thời, người kể chuyện thường tham gia vào câu

chuyện bằng các dạng như lời kể khách quan, miêu tả, trữ tình ngoại đề…"[41; tr 43] Còn ngôn ngữ nhân vật thì tác giả xem xét, khảo sát ở hai dạng ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại, rổi khẳng định "Chúng tôi

Trang 13

nhận thấy rằng, ở tất cả các truyện thơ Thái nằm trong nhóm khảo sát, ngôn ngữ nhân vật xuất hiện cả ở hai dạng ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc

thoại Tuy vậy, ngôn ngữ xuất hiện ở dạng độc thoại chiếm tỷ lệ không

cao"[41; tr 43].

Luận án của Ngô Thị Phượng bổ sung thêm cái nhìn hệ thống về truyện thơ Thái và có những công bố mới về truyện thơ Thái dưới góc nhìn thi pháp học Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ là tài liệu tham khảo và gợi ý bổ ích cho đề tài của chúng tôi

Ngoài hai công trình luận án tiến sỹ trên còn một vài luận văn cũng đặt vấn đề nghiên cứu truyện thơ Thái, như: luận văn của Triệu Thị Phượng

(ĐHSP Thái Nguyên - 2009) So sánh truyện thơ Tày và truyện thơ Thái [40];

Lò Bình Minh với Bi kịch tình yêu đôi lứa trong truyện thơ Khun Lú nàng Ủa [25]; Hoàng Thị Hương Loan với Số phận người phụ nữ Thái qua một số

truyện thơ tiêu biểu của người Thái Tây Bắc [23]; ý kiến của Cầm Cường về

truyện Khun Lú nàng Ủa, Xống chụ xon xao trong sách Tìm hiểu văn học dân

tộc Thái ở Việt Nam [1] v.v Các luận văn ít nhiều bổ sung thêm cái nhìn đa

chiều về truyện thơ Thái, chỉ ra những đặc sắc của truyện thơ Thái, đồng thời cho thấy sức hấp dẫn của những áng văn chương của một dân tộc có bề dày văn hóa

2.2.3 Hướng nghiên cứu trực tiếp về "Xống chụ xon xao":

Như đã nói ở trên, trong kho tàng truyện thơ Thái, Xống chụ xon xao

được coi là tập “đại thành”, là điểm sáng rực rỡ nhất, vì vậy, không khỏi ngạc nhiên tác phẩm này luôn là tâm điểm của mọi công trình nghiên cứu về văn

học dân gian nói chung, văn học của dân tộc Thái nói riêng Xống chụ xon xao

được nghiên cứu như một đối tượng độc lập đến nay cũng đã khá dày dặn Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Thái ở Việt Nam được bắt đầu với bài giới

thiệu về truyện thơ Tiễn dặn người yêu của Điêu Chính Ngâu vào năm 1957

khi ông dịch và công bố tác phẩm Trong lời giới thiệu, Điêu Chính Ngâu đã

đề cập đến nhiều phương diện của tác phẩm, như: hoàn cảnh ra đời, theo tác

Trang 14

giả, “Tiễn dặn người yêu ước đoán được sáng tác ở giai đoạn dân tộc Thái đã

yên cư ở Tây Bắc Việt Nam và bắt đầu phồn thịnh”[17; tr 7], nghĩa là “tác phẩm được hình thành trong không gian và thời gian bản địa Việt Nam” [17;

tr 7] Lời giới thiệu còn đề cập đến nội dung chính của tác phẩm, tình cảm yêu mến trân trọng của nhân dân đối với tác phẩm, “nhiều người đã thuộc làu toàn

bộ truyện thơ này và khi hát lên những lời thơ trong tác phẩm thì chị hái rau quên bẵng hái rau, anh cày ruộng buông tay cày” [17; tr 7], rằng những ai

chép hộ Tiễn dặn người yêu có thể được trả công “bằng giá một con trâu”

Vấn đề thứ ba là tác phẩm chủ yếu được lưu truyền bằng con đường truyền miệng, được hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian, được trích ra từng đoạn để hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian Vấn đề thứ tư mà lời giới thiệu đã nêu lên là giá trị phản ánh xã hội của tác phẩm và giá trị về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác phẩm Đó là thứ ngôn ngữ giản dị mà trau chuốt, một thứ ngôn ngữ trong sáng nhất, dân tộc nhất, ít bị pha tạp Có thể nói bài giới thiệu của Điêu Chính Ngâu là công trình đầu tiên vén bức màn về khoảng cách ngôn từ, giúp bạn đọc cả nước tiếp cận được một tài liệu vô giá của bà con dân tộc Thái Sau bước đột phá của Điêu Chính Ngâu, các nhà nghiên cứu, khảo cứu vào cuộc và người kế tục với niềm đam mê mãnh liệt phải kể tới Mạc Phi Chỉ sau ba năm tính từ công trình của Điêu Chính Ngâu

ra mắt, Mạc Phi “vào cuộc”, ông đã dành suốt 17 năm cho việc tìm tòi, khảo đính, biên dịch tác phẩm này 17 năm ấy, Mạc Phi đã xuất bản và tái bản bốn

lần Xống chụ xon xao và lần nào cũng có chỉnh lý, cho thấy thái độ làm việc

nghiêm túc và niềm đam mê của tác giả với tác phẩm này

Năm 1961, Mạc Phi giới thiệu Xống chụ xon xao trên tạp chí Nghiên

cứu Văn học, số 5 (bài viết này đã được sử dụng làm lời giới thiệu cho Tiễn dặn người yêu trong những lần xuất bản sau) Trong bài giới thiệu, Mạc Phi

đã nhận xét về tác phẩm ở cả nội dung và nghệ thuật Theo Mạc Phi, nội dung chính của tác phẩm là “tiếng hát đấu tranh chống lại những luật tục hà khắc, oan nghiệt của chế độ hôn nhân gả bán ở xã hội Thái thời ấy” [37] và tác

Trang 15

phẩm có giá trị nhân đạo, “tuy không thể như tinh thần nhân đạo sáng suốt,

trọn vẹn của chúng ta ngày nay nhưng tinh thần nhân đạo trong Tiễn dặn

người yêu cũng đã khác lắm với cái "lòng nhân" mơ hồ, chung chung" [37]

Về nghệ thuật của tác phẩm, Mạc Phi đánh giá: "Tiễn dặn người yêu là một

truyện thơ nhưng đặc biệt chú ý đến sự miêu tả nội tâm nhân vật, có trạng thái

tâm hồn phức tạp, có khi mâu thuẫn" [37]; "về tính cách nhân vật, Tiễn dặn

người yêu sở trường trong việc miêu tả tính cách nhân vật qua lời nói nhân

vật" [37] Tác giả còn tỏ ra khá am hiểu các thể thơ và ngôn ngữ nghệ thuật dân tộc Thái khi chỉ ra: "Chúng ta gặp hầu hết các thể thơ thông dụng, từ thể

“khắp bắc” câu dài 11, 12 chữ đến thể “khống khái” câu ngắn 5, 6 chữ Những thể thơ này được xen kẽ nhau một cách điêu luyện, tài tình" [36]; "Ngôn ngữ

trong Tiễn dặn người yêu là ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân được nâng cao

lên và được trau chuốt thêm" [36] Mặc dù chỉ dừng lại ở nhận xét khái quát, song, có thể xem ý kiến của Mạc Phi là nhận xét tinh tường và sâu sắc về

Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu)

Năm 2008, sau nhiều năm công tác, cùng ăn cùng ở với người Thái

Tây Bắc, Nguyễn Khôi đã chuyển thể truyện thơ Tiễn dặn người yêu ra tiếng

Việt theo dạng song thất lục bát, ngắn hơn bản dịch của Mạc Phi [21] Đây

là một hướng đi mới, có thể giúp người đọc dễ thuộc, dễ nhớ hơn, song, việc

có giữ được bản sắc Thái qua ngôn ngữ, hình ảnh và tâm trạng nhân vật hay không chúng tôi sẽ bàn trong một dip khác, ở đây, chúng tôi chỉ quan tâm

tới bài viết “Đôi lời về Xống chụ xon xao” in kèm như một lời tựa đầu sách

Đáng chú ý ở lời đầu sách này, Nguyễn Khôi đề xuất nên dịch nhan đề của

tác phẩm Xống chụ xon xao thành Tiễn dặn bạn tình, bởi theo tác giả, chụ có nghĩa là bạn tình còn "xon" ngoài nghĩa là dặn còn có nghĩa là học, bài học,

nghĩa này mới là nghĩa chính Tuy nhiên, nghĩa của “bạn tình” không khác

mấy với “người yêu”, còn cách mà tác giả lí giải chữ xon ở đây chưa thật sự thỏa đáng và chưa lột tả đúng nghĩa của từ xon Bởi trong tiếng Thái, từ xon

là từ đi kèm chứ không phải chính từ (nghĩa là yếu tố giữ vai trò nghĩa

Trang 16

chính); mà từ này thường đi sau các từ xắng xon, bóc xon, nghĩa là dặn và

dạy, hoặc dạy bảo, Vậy nghĩa từ xon trong Tiễn dặn người yêu phải là dạy

chứ không phải là học Chúng tôi cho rằng Nguyễn Khôi trong trường hợp

này có thể là tham khảo hoặc lược dịch chứ chưa phải là dịch hoàn toàn

đúng nghĩa của từ xon Dù sao, Đôi lời về Xống chụ xon xao của Nguyễn

Khôi cũng thể hiện niềm đam mê của tác giả cũng như sức hấp dẫn của áng văn kinh điển này của dân tộc Thái

Sau phát hiện và giới thiệu của Điêu Chính Ngâu và Mạc Phi, công

trình Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, phần Thơ văn các dân tộc thiểu số (Nông Quốc Chấn và cộng sự), lập tức dành cho Xống chụ xon xao một vị trí trang

trọng nhất Các tác giả gọi đây là “một áng văn chương tuyệt mỹ” [6], là “tác phẩm xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc Thái, kết tinh của nguồn dân ca phong phú và trở lại bồi đắp cho dân ca rất nhiều” [6] Các tác giả so sánh sự

yêu mến và trân trọng Xống chụ xon xao của người Thái như người miền

xuôi yêu mến và trân trọng Truyện Kiều Nhận xét về nội dung và nghệ thuật

của Tiễn dặn người yêu, các tác giả đồng thuận Tiễn dặn người yêu “là tiếng

kêu than đau đớn của tình yêu bị giày xéo, chà đạp dưới chế độ xã hội bất công cũ” [6] Song, đó là “tiếng kêu than đau đớn mà không hề tuyệt vọng, đầu hàng” [6], bởi "Không lấy được nhau mùa hạ ta sẽ lấy nhau mùa đông/Không lấy được nhau thời trẻ ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già" Ngoài

ra, tác phẩm còn “ca ngợi một mối tình chung thủy và kết án nghiêm khắc cả một nền đạo lý chà đạp lên nhân phẩm con người, nhất là người phụ nữ" [6]

Về nghệ thuật, Xống chụ xon xao là "những lời thơ giàu nhạc điệu, giàu hình

ảnh và giàu tính chiến đấu khơi cho người đọc thấy cả một thế giới tâm hồn

phong phú, thắm thiết và quả cảm của nhân dân lao động Thái" [6]; "Thơ Tiễn

dặn người yêu trau chuốt, đậm đà, nhưng lại trong sáng, dễ hiểu, dễ thuộc"

[6] Các tác giả của công trình cũng đã đặt vấn đề tìm hiểu nguồn gốc, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, theo nhóm biên soạn, "trước kia đồng bào Thái có

tục chơi Hạn khuống Thú chơi thanh lịch cổ truyền này là một trong những

Trang 17

điều kiện giúp cho lời dân ca phát triển và chính trên sàn khuống trữ tình này, người ta đã sáng tác, thu góp, lưu truyền được những câu ca bất hủ Và kho tàng dân ca phong phú ấy đã đóng góp rất nhiều vào sự hình thành của các tác

phẩm dài hơi mà Xống chụ xon xao là tiêu biểu" [6; tr 13]

Cùng tiếp cận Tiễn dặn người yêu ở hướng thi pháp, có hai luận văn thạc sỹ, một của Ngô Thị Thanh Quý (2001) với đề tài Nghiên cứu thi pháp

truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) của dân tộc Thái [42]và

một của Nguyễn Ngọc Bảo (2005) với đề tài Góp phần tìm hiểu thi pháp truyện

thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái [3] Mỗi luận văn đều có đóng góp

riêng đã vận dụng thi pháp học để nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian Luận văn của Ngô Thị Thanh Quý đã đặt vấn đề tìm hiểu, khám phá kết cấu cốt truyện; thi pháp nhân vật; thi pháp không gian - thời gian nghệ thuật và thi pháp lời văn nghệ thuật của tác phẩm Ngô Thị Thanh Quý tìm hiểu kết cấu

cốt truyện của Tiễn dặn người yêu theo các chặng nội dung gắn với diễn biến

nội dung câu chuyện; Về thi pháp nhân vật, tác giả cho rằng nhân vật của tác phẩm thuộc dạng nhân vật trữ tình; Về thi pháp không gian - thời gian nghệ thuật, luận văn chia các yếu tố không gian thành không gian vũ trụ, không gian gia đình, không gian thiên nhiên Cách chia không gian như vậy góp phần vào việc định hình toàn bộ không gian sống cũng như không gian diễn xướng của tác phẩm, song, không gian nghệ thuật của truyện thơ này không

có xu hướng tách bạch rõ nét như tác giả chia ra ở trên, khi mà diễn biến cốt truyện trải ra theo xúc cảm, tâm trạng của nhân vật Về thời gian nghệ thuật trong tác phẩm, tác giả luận văn đã phân định rõ hai kiểu thời gian là thời gian hiện thực và thời gian tâm trạng Sự tách bạch này ở một mức độ nào đó sẽ góp phần diễn tả nội tâm và tính cách nhân vật Về lời văn của tác phẩm, tác giả cho rằng "rất đa dạng về giọng điệu" [42], với sự kết hợp của giọng trần thuật và lời giãi bày của nhân vật một cách nhịp nhàng, linh hoạt; có nhiều hình thức ngôn ngữ, có ngôn ngữ trực tiếp của người kể truyện, có ngôn ngữ gián tiếp của nhân vật khác được tái hiện; có ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ

Trang 18

độc thoại Luận văn còn chú ý đến đặc điểm "nhiều điển tích" [42], được khai thác từ hệ thống văn học dân gian Thái và văn học các dân tộc anh em, kể cả những điển tích trong lịch sử của dân tộc, đất nước Có thể nói, dưới góc nhìn thi pháp, luận văn của Ngô Thị Thanh Quý góp phần giải mã những giá trị đặc sắc của tập “đại thành văn học” độc đáo này

Cùng dưới góc độ thi pháp, luận văn của Nguyễn Ngọc Bảo lại nhìn

"không gian” trong Tiễn dặn người yêu là “không gian của tình yêu lưu lạc"

[3], quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm là "con người tình yêu" và "anh yêu và em yêu chính là con người tình yêu" [3] Từ quan điểm này, tác giả luận văn cho rằng mục đích xây dựng nhân vật của truyện thơ dân gian là "muốn thể hiện sự chiến thắng và sự bất diệt của tình yêu chung thuỷ, tình yêu trắng trong" [3] Tác giả đánh giá: "Trong kho tàng truyện thơ Thái ít

có truyện nào mà nhân vật có sức chịu đựng dẻo dai như trong Tiễn dặn người

yêu Họ đối mặt với thực tế đáng tuyệt vọng, sống trong tuyệt vọng nhưng vẫn

đau đáu một niềm tin, một tình yêu vĩnh cửu Họ không tìm đến cái chết để tự giải thoát mà họ kiên nhẫn chờ đợi, kiên nhẫn đấu tranh, kiên nhẫn bảo vệ tình yêu dù chỉ còn là hết sức mong manh" [3] Có thể thấy rằng, mỗi công trình nghiên cứu lại giúp cho tác phẩm thêm tỏa sáng Giống như viên ngọc quý, thời gian, sự cọ xát càng làm cho nó trở nên sáng hơn, lung linh hơn Gần đây,(2013) luận văn của Bùi Quang Vinh (ĐHSP Hà Nội 2) đặt vấn đề

So sánh truyện thơ dân tộc Thái và truyện thơ dân tộc H'mông (trên cứ liệu

hai tác phẩm Tiễn dặn người yêu và Tiếng hát làm dâu) cũng làm nổi bật một

số vấn đề căn bản của truyện thơ Tiễn dặn người yêu Sự so sánh nhằm làm

nổi bật sự tương đồng trong chủ đề tác phẩm: Ca ngợi tình yêu thủy chung, bi kịch tình yêu và cuộc đấu tranh để bảo vệ tình yêu Từ sự tương đồng về chủ

đề, dẫn đến tương đồng về kiểu nhân vật - nhân vật trong bi kịch tình yêu tan

vỡ, cùng có "không gian tình yêu" là "không gian đẹp gắn với hạnh phúc lứa đôi" và "không gian lưu lạc đọa đày" Hai tác phẩm còn giống nhau trong các thủ pháp nghệ thuật, như: so sánh, kiểu “nói vòng” quen gặp trong đời sống

Trang 19

đồng bào vùng cao Điều đáng tiếc là luận văn chỉ tập trung tìm ra điểm chung mà chưa tìm ra điểm khác biệt của hai tác phẩm đại diện cho hai nền văn hóa của hai dân tộc vùng cao Tuy nhiên, thêm một điểm nhìn nghiên

cứu, Xống chụ xon xao càng chứng tỏ sức hấp dẫn và chiều sâu giá trị của một

sản phẩm văn hóa là kết tinh trí tuệ, tình cảm của bao người

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, hơn năm mươi năm qua, kể từ khi

Xống chụ xon xao được giới thiệu rộng rãi với công chúng cả nước, tác phẩm

đã lan tỏa mãnh liệt trong bạn đọc nói chung, giới nghiên cứu nói riêng Nhìn một cách khách quan các công trình nghiên cứu về truyện thơ Thái nói chung

và truyện thơ Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) mà chúng tôi đã hệ

thống trên đây, thì thấy, tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm này, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, song, cho đến nay chưa có bài viết hay công trình nào tiếp cận tác phẩm dưới góc nhìn thể loại chuyên sâu

và hệ thống Chúng tôi nghĩ rằng, trước một tập “đại thành” được đánh giá là

“tuyệt mỹ” này, tìm hiểu bao nhiêu cũng chưa đủ Những khám phá đi trước

sẽ là những gợi mở vô cùng quý giá cho đề tài Chúng tôi hi vọng rằng, tiếp

cận Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) dưới góc nhìn thể loại, sẽ góp

phần làm tỏa sáng vẻ đẹp của tác phẩm ở chiều sâu văn bản nghệ thuật

3 Mục tiêu của đề tài

Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu sự giao thoa thể loại làm nên vẻ đặc sắc của“Xống chụ xon xao”(Tiễn dặn người yêu), qua đó góp thêm tiếng nói khoa

học vào việc khẳng định giá trị nhiều mặt và vị trí của tác phẩm trong đời sống của dân tộc Thái (Việt Nam) nói riêng và của nền văn học Việt Nam nói chung

Luận văn cũng nghiên cứu làm rõ dấu ấn của Xống chụ xon xao (Tiễn

dặn người yêu) trong văn chương hiện đại của dân tộc Thái để tiếp tục khẳng định sức sống của nó đối với cộng đồng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Xống chụ xon xao có nguồn gốc là tác phẩm

dân gian song đã sớm được người dân trong cộng đồng dân tộc Thái ghi chép,

Trang 20

lưu giữ và truyền lại từ lâu đời Đề tài sẽ nghiên cứu những đặc sắc về thể loại

và dấu ấn của tác phẩm trong đời sống văn chương dân tộc Thái hiện đại Văn bản tác phẩm dùng để nghiên cứu đã được biên tập và chuyển nghĩa sang tiếng Việt Đó là văn bản dịch của Mạc Phi gồm 1846 câu Từ đây, chúng tôi

sẽ gọi tên tác phẩm qua bản dịch này là Tiễn dặn người yêu

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là: Trước hết

sẽ làm rõ diện mạo độc đáo của Tiễn dặn người yêu ở phương diện thể loại:

vừa là một áng thơ trữ tình, vừa là tác phẩm truyện; đồng thời, làm rõ dấu ấn

của Tiễn dặn người yêu trong đời sống văn chương hiện đại dân tộc Thái

Phạm vi tư liệu khảo sát của luận văn là Xống chụ xon xao qua bản dịch

của Mạc Phi Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ khảo sát thêm bản dịch của Điêu Chính Ngâu và Nguyễn Khôi nếu thấy cần thiết, để làm rõ hơn tư tưởng của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm bật được trọng tâm vấn đề của luận văn, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn và vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp hệ thống: vận dụng phương pháp này để xem xét vấn đề đặt ra trong cả hệ thống truyện thơ dân gian nói chung, và hệ thống hóa những luận điểm của luận văn, hệ thống lại những ý kiến, quan điểm đặt ra trong các

tư liệu tham khảo phục vụ cho luận văn

Phương pháp so sánh: trong quá trình phân tích, bình chú nội dung tác phẩm, sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu văn bản giúp cho việc xây dựng các lập luận trong luận văn sáng rõ hơn

Phương pháp khảo sát thực địa và những phương pháp liên ngành văn hóa - văn học: khảo sát thực địa là phương pháp quan trọng để người viết có thể khai thác sâu ngôn từ, hình ảnh, và phương thức trần thuật trong tác phẩm truyện thơ này Phương pháp liên ngành được áp dụng để nghiên cứu sự tương hợp giữa văn học - văn hóa dân gian, giữa văn học dân gian và dân tộc học

Trang 21

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng các thao tác đọc sâu, phân tích, thẩm bình văn học…

6 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất, luận văn lần đầu tiên khảo sát, khám phá tác phẩm dưới góc

nhìn thể loại để nhận ra bút pháp độc đáo của Tiễn dặn người yêu: vừa là áng

thơ trữ tình hấp dẫn, vừa là một tác phẩm truyện đặc sắc

Thứ hai, cũng dưới góc nhìn thể loại, luận văn tiếp tục làm nổi bật giá trị tư tưởng của tác phẩm ở chiều sâu nhân văn, nhân ái đẹp đẽ và dấu ấn sâu đậm của nó trong thơ ca hiện đại của đồng bào Thái

Thứ ba, thành công của luận văn sẽ bổ sung thêm vào kho tư liệu tham

khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Tiễn dặn

người yêu nói riêng, văn học dân tộc Thái nói chung

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn tổ chức thành 3 chương:

Chương 1: Tiễn dặn người yêu - Áng trữ tình đặc sắc

Chương 2: Tiễn dặn người yêu - Áng văn chương tự sự hấp dẫn

Chương 3: Dấu ấn của Tiễn dặn người yêu trong đời sống văn chương hiện

đại dân tộc Thái

Trang 22

Chương 1 TIỄN DẶN NGƯỜI YÊU - ÁNG TRỮ TÌNH ĐẶC SẮC 1.1 Đôi nét về thể loại trữ tình

Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán chủ biên [12] định

nghĩa trữ tình là "một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự

và kịch) làm cơ sở cho loại tác phẩm văn học Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh"[12,tr 316] Vì bộc lộ trực tiếp ý thức và cảm xúc nên nguyên tắc phản ánh của trữ tình mang tính chủ quan và điều này bộc lộ thành các biểu hiện sau của thể loại: Thứ nhất, vì thể hiện tâm trạng nên tác phẩm trữ tình “không có cốt truyện” (hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này); thứ hai, trong phương thức trữ tình “cái tôi trữ tình giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy

nhất của nội dung tác phẩm” và cái tôi này thường xuất hiện dưới dạng nhân

vật trữ tình; thứ ba, thời gian trong tác phẩm trữ tình là thời gian hiện tại ngay

cả khi “tác phẩm nói về quá khứ, về những chuyện đã qua” do xúc động trữ tình “được trình bày trực tiếp, trong trạng thái sống động như trong quá trình đang diễn ra” Điều này tạo nên sức truyền cảm lớn cho tác phẩm trữ tình Vì nội dung như vậy, nên phương thức trữ tình “đòi hỏi một hình thức thể hiện phù hợp, tương ứng Lời văn của tác phẩm phải hàm súc, giàu nhịp điệu” Tác phẩm trữ tình có thể “được viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó” Vì vậy, đôi khi người ta vẫn đồng nhất phương thức trữ tình với thơ trữ tình Song, các nhà nghiên cứu dựa vào cấu trúc ngôn từ để phân chia thành thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình "[12,

tr 316 - 318]

Để nhận diện một tác phẩm trữ tình, người ta thường căn cứ vào những dấu hiệu chung, như: sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người, những cảm xúc, tâm trạng; tác phẩm trữ tình, vì vậy có thể xâm nhập và tái

Trang 23

hiện những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người, như: sự sống, cái chết, tình yêu, lòng chung thủy, lí tưởng, ước mơ, tương lai, hạnh phúc Chính vì vậy mà tầm khái quát của tác phẩm trữ tình thường mang tính phổ quát về tồn tại và nhân sinh Phương thức trữ tình cũng tái hiện đời sống, nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo diều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình Nguyên tắc cơ bản của tác phẩm trữ tình tính chủ quan trong việc chiếm lĩnh hiện thực và đây cũng là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình

1.2 Đặc sắc của hình tƣợng nhân vật trữ tình trong Tiễn dặn người yêu 1.2.1 Về nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình còn có cách gọi khác là “cái tôi trữ tình” là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, "đồng dạng" của tác giả - nhà thơ hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể Nhân vật trữ tình có thể là một "cái tôi" đã được sáng tạo ra, được khái quát như một tính cách văn học được xây dựng trên cơ sở các sự thật của chính tác giả Nhân vật trữ tình cũng có thể là yếu tố để tác giả thổ lộ tình cảm chân thật của

họ trong những tình huống trữ tình Tuy vậy, nhân vật trữ tình luôn mang trong nó một sự độc lập, vừa chủ quan, vừa khách quan mà tác giả thơ trữ tình xuất hiện trong đó như "người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại" (Bêlinxki) Ở nhân vật trữ tình, tác giả đã hoàn toàn đưa họ ra khỏi cái cá nhân đời thường của họ

Nhân vật trữ tình là hình tượng trực tiếp bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm và không có diện mạo, hành động, lời nói, quan

hệ cụ thể, song lại rất cụ thể trong giọng điệu, trong cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Nhân vật trữ tình, một mặt, vừa biểu hiện thế giới nội tâm, chủ quan của chủ thể, vừa phản ánh thực tế khách quan của cuộc sống xã hội, song, về cơ bản, nhân vật trữ tình hay cái tôi trữ tình thường bộc lộ cảm xúc,

Trang 24

tâm trạng, ý nghĩ và dĩ nhiên, những xúc cảm, tâm trạng này thường được khơi nguồn hoặc có nguyên nhân gốc rễ từ thực tế đời sống xã hội

Trong Tiễn dặn người yêu, không chỉ có một mà có tới hai nhân vật trữ

tình, đó là “anh yêu” và “em yêu” Chúng tôi gọi là nhân vật trữ tình “kép” Nói đúng hơn cái tôi trữ tình đã phân thân thành hai nhân vật trữ tình để giãi bày xúc cảm, tâm trạng trước tình huống trớ trêu: yêu nhau mà không lấy được nhau, không lấy được nhau mà thề yêu nhau suốt đời Nhân vật trữ tình kép này tuy hai mà một, tuy một mà hai, xúc cảm, tâm tư của họ tạo nên bản

tình ca bất hủ

1.2.2 Đặc sắc trong hình tượng nhân vật trữ tình “kép”

Nếu chỉ căn cứ vào tên gọi “Tiễn dặn người yêu” thì người ta dễ nghĩ,

ở đây chỉ có nhân vật trữ tình là người “tiễn dặn” người yêu là chàng trai - người chủ động kể câu chuyện: “Nay hãy kể từ trước tới sau/ Kể từ thuở đôi

ta nằm lòng mẹ bên phải/ Mẹ em yêu và mẹ anh yêu” Song, trong văn bản lại

có cả tiếng nói trữ tình của cô gái - người được “tiễn dặn” Tiếng nói trữ tình của cô gái khá cụ thể và đậm nét, người đọc có thể hình dung được tính cách,

tâm hồn của cô gái Vậy, thực tế, Tiễn dặn người yêu là tiếng nói trữ tình của

đôi lứa yêu nhau tha thiết, cháy bỏng mà không lấy được nhau Theo chúng tôi, tình huống “tiễn dặn” ở đây là tiếng lòng, là xúc cảm tâm trạng của đôi lứa trong một cuộc tình nhiều trắc trở Tiếng nói ấy đan xen, khi là nỗi niềm, tâm trạng của chàng trai, lúc là nỗi niềm, tâm trạng của cô gái Nhân vật trữ tình lúc hòa vào một: “đôi ta”, lúc tách thành hai: “anh yêu”, “em yêu” gắn với hạnh phúc tình yêu lẫn nỗi đau chia lìa, tình yêu thật độc đáo Chúng tôi gọi việc liên tục tách ra và nhập lại ở các chủ thể trữ tình như vậy là “tiếng nói trữ tình kép” hay “hình tượng trữ tình kép”

Hình tượng trữ tình “kép” trong tác phẩm biểu hiện cụ thể, rõ nét ở sự song song tồn tại của cả ba nhân vật trữ tình: đôi ta, anh yêu, em yêu Ba hình tượng này xuất hiện với tần suất khác nhau, mang dạng vẻ khác nhau ở cảm xúc, ngôn ngữ và liên tục hoán đổi “vai” cho nhau trong từng hoàn cảnh cụ thể

Trang 25

Đoạn mở đầu (từ câu đầu đến câu 99), chủ thể trữ tình xuất hiện trong danh xưng đôi ta với xúc cảm chủ đạo là niềm hạnh phúc ngập tràn trong tình yêu đầu đời của đôi lứa được se duyên từ thưở còn thơ

1.2.2.1 Tiếng nói trữ tình “đôi ta”gắn với hạnh phúc tình yêu

Rất khó để phân biệt tiếng nói trữ tình từ câu mở đầu cho đến câu 95 là của chàng trai hay cô gái Hai từ “đôi ta” luôn là chủ thể của các nội dung liền

đó Trước khi gặp bi kịch, đôi lứa trong Tiễn dặn người yêu đã có những năm

tháng thật ngọt ngào hạnh phúc Họ đúng là đôi trời sinh, mối tình của họ như một thứ duyên trời định: “kể từ lúc đôi ta nằm lòng mẹ ”, lúc anh hoài thai trong bụng mẹ “bên phải” thì “em yêu” cũng ở bụng mẹ “bên trái” Điệp khúc

"Bé xinh vào lòng mẹ” lặp lại tám lần đâu phải chỉ dành cho riêng anh hay

em, bởi đến câu: “Đã qua mười tháng chờ/ Đã đủ chín tháng đợi/ Mười tháng

chờ đôi ta ra đời ăn cơm” Hóa ra “Bé xinh” chính là “đôi ta” Hình ảnh “mẹ

yêu” với chín tháng thai nghén như là kỳ công của tạo hóa dành cho cả anh và

em Nhân vật trữ tình nhắc lại thời gian “mang nặng” của mẹ với niềm biết

ơn, cũng là niềm hạnh phúc Điều đáng chú ý là không có sự phân biệt giữa anh và em, chỉ có danh xưng “bé xinh” - “đôi ta”, mẹ “anh yêu” và mẹ “em yêu” đều là “mẹ yêu”, có chung cảm giác thai nghén, có chung niềm yêu thương chờ đợi “bé xinh” chào đời Nhân vật trữ tình đã nói về ơn sinh thành với nỗi niềm biết ơn và kính trọng, cùng với tình cảm ấy là niềm hạnh phúc đôi lứa ngọt ngào, được bên nhau, thuộc về nhau, trở thành “đôi ta” ngay từ khi còn trong bụng mẹ

“Kể từ thưở đôi ta nằm lòng mẹ bên phải

Ở lòng mẹ bên trái

Mẹ em yêu và mẹ anh yêu

Thèm ăn gỏi cá chua ”

Nhân vật trữ tình lần về nguồn cơn của mối tình mình như một cách để được chìm đắm trong từng khoảnh khắc của tình yêu Lời thơ cứ thế tuôn trào, người đọc bị lôi cuốn vào câu chuyện tình yêu trong sáng, đẹp tinh khiết

Trang 26

như cánh hoa ban nơi núi rừng Tây Bắc Trong dòng tâm tư của nhân vật trữ tình, những kỷ niệm dấu yêu của quá khứ hiện về Tình yêu của đôi lứa ấy như một thứ duyên phận trời định Lời tự tình gợi nhắc quá khứ sinh thành như muốn ngầm khẳng định, tình yêu của họ có nguồn gốc, có cội rễ vô cùng bền chắc, không dễ gì chia lìa Cứ thế, “anh yêu” và “em yêu” lớn lên cùng nhau, tình yêu của họ cũng lớn lên cùng năm tháng

Tuổi thơ của “đôi ta” gắn với những kỉ niệm êm đềm: “ôm cổ mẹ chăn

gà, bám vai mẹ chăn lợn, đeo cổ bác ăn cơm, đòi hái dâu theo mẹ”, “cưỡi bông lau phi ngựa” Những năm tháng ấy trở thành một phần không tách rời với mối tình của đôi lứa, bởi nó gắn kết anh yêu và em yêu vào chung một hoàn cảnh, một số phận Gợi nhắc lại những kỉ niệm ấu thơ ấy, nhân vật trữ tình như đang cố gắng xua đi cái cay đắng , oái oăm của thực tại

Quá khứ tuổi thơ hồn nhiên đẹp đẽ luôn có nhau, hai đứa trẻ - “đôi ta” như bóng với hình, hòa hợp đến nỗi khi vui cùng “rủ nhau cười”, khi đau cùng “đua nhau khóc”, nhân vật trữ tình “đôi ta” hồi nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên hạnh phúc :

"Đôi ta cùng vầy cá trên mâm

Còn bắt cá trong chậu

Đuôi cá đập tay phải ta rủ nhau cười

Đuôi cá đập tay trái, ta đua nhau khóc"

Tình yêu đến lúc nào không biết Ấy là lúc: Bố mẹ sai ra quản quên

thưa/ sai ra sàn thụt ngã/ sai từ bếp vào buồng quên lời Có thể nói đây là

những câu hay nhất viết về trạng thái tình yêu đầu đời, trạng thái “nhớ nhớ, quên quên” này tình yêu nào chả có Danh xưng “đôi ta” đi suốt quãng thời gian đầu đời với những kỷ niệm thần tiên, yêu dấu Họ dõi theo từng cử chỉ của nhau, tất cả vẫn vẹn nguyên trong trái tim Không phải tình yêu sâu nặng, sao có thể khắc ghi đến từng chi tiết nhỏ quá khứ tuổi thơ đến vậy? Những quá vãng đã lùi xa cứ liên tiếp hiện về trong từng lời tâm tình đầy thương mến: “Mười ba em biết bắt cá suối” còn anh đã biết cắt sáo, đôi ta như gốc cải

Trang 27

xanh, như tàu dong mượt Ở đây, quá khứ vẫn tươi, vẫn mới và không dứt ra khỏi hiện tại, nó trở thành chất kết dính cho tình yêu đang bị chia tách của đôi lứa Nhắc lại quá khứ rõ ràng đã làm cho tình yêu của hai người hiện lên như một khối vững chãi Tâm tư của nhân vật trữ tình trong giây phút đã làm sống lại một quãng tuổi thanh xuân êm đềm, đẹp đẽ

Dễ hiểu tại sao đến tuổi trưởng thành tình yêu được chính họ khẳng định bằng lời thề hứa sâu nặng:

"Lời hẹn hò bền chắc

Tình đôi ta nhuyễn chặt

Chung trái tim không thể xẻ đôi!"

Tình yêu của họ càng gắn kết hơn, nồng nàn, lãng mạn hơn bởi luôn được đặt giữa không gian thiên nhiên và môi trường sống quen thuộc, gần

gũi Trong xúc cảm tình yêu, không gian quen thuộc của bản mường hiện lên

đầy chất thơ Không gian của tình yêu đôi lứa được nhìn qua lăng kính của tâm hồn đang yêu nên thiên nhiên của hiện thực cũng có cái lung linh, ảo diệu của lòng yêu:

"Đôi ta ngồi khuống tận khi gà gáy

Đeo mộng về nhà lúc xế vầng trăng

Bốn phía xa mù dâng

Mịt mùng sương buông lấp mái"

Không gian thiên nhiên đặc trưng của Tây Bắc được hiện lên trong lời thơ tràn ngập sương trong những đêm tình tự Đó không chỉ là không gian

sống của đồng bào Thái bao đời gắn bó với cảnh sương rơi ướt áo, mà còn là

không gian dành riêng cho tình yêu của đôi lứa Bản dịch của Mạc Phi “Bốn

phía xa mù dâng/Mịt mùng sương buông lấp mái” ở hai câu cuối trong đoạn

trên đây chưa làm nổi bật được hình ảnh đẫm sương như đặc quánh lại của đất

trời Tây Bắc khiến cho người con gái lên nương không quên lấy củi về để bạn

trai hơ áo Đáng lẽ hai câu thơ này phải dịch là “Chỉ thấy sương thả xuống

đồng bốn mảng/Sương xuống phủ mái nhà ông thành bãi” thì người đọc

mới thấy được nét đặc trưng của đêm vùng cao huyền ảo này

Trang 28

1.2.2.2 Tiếng nói trữ tình chàng trai - anh yêu

Hình ảnh “đôi ta” khi tình yêu đang ở cung bậc nồng thắm nhất bỗng thấy nhân vật trữ tình tách thành hai, tiếng nói trữ tình của chàng trai nhen lên cảm xúc lo lắng như một niềm dự cảm:

"Chỉ sợ đẵn cây không thuận hướng

Ngả cây không xuôi chiều

Đạn sọt còn lo lỗi mắt

Yêu nhau sợ Then không thương

Then thương sợ trời cao không giúp

Trời giúp sợ mẹ cha không ưng

Cây không ngả sợ cha mẹ em cứ bắt phải ngả

Lòng không yêu sợ mẹ em cứ buộc phải yêu"

Nhân vật chàng trai vốn hồn nhiên, trong sáng là thế giờ đây bỗng trở nên hoang mang trong trạng thái đầy âu lo Điều này không phải không có căn cứ Trong xã hội xưa với những lễ nghi tập tục, có nhiều nét đẹp phong tục, song cũng có không ít những hủ tục, chẳng hạn như hủ tục “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, hủ tục gả bán con đã có biết bao nhiêu tình duyên trắc trở, đã có biết bao nhiêu những lời than thở về sự chia lìa:

Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

Em đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào

Bây giờ chồng thấp vợ cao

Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

Nhiều nơi đến cầu hôn không gả

Cứ tham nơi ruộng cả ao liền

Trang 29

Mẹ tham mâm đầy thịt lợn béo

Mẹ tham cỗ đầy bánh dày to

Chìa hai tay mẹ hứng xôi thịt

Con không ăn - quyền mẹ phép cha

Vì anh không có trâu, sanh

Nghèo đói nên đành phải chịu để em đi

Cảm xúc ấy chi phối tâm lí, tính cách nhân vật trong suốt đoạn thơ từ câu 99 đến câu 120 Đó là nỗi sợ của nhân vật đến từ nhiều nguyên do, và nguyên do yêu nhau mà không lấy được nhau là sợ hơn cả Phải chăng tình yêu ngang trái thường xuyên hiện hữu đã trở thành phổ biến đến nỗi người ta thường tự vận vào mình đã từng trở thành chủ đề trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, chính là nguồn cơn trong nỗi sợ của nhân vật trữ tình này? Qua từng lời thắc thỏm của nhân vật, những lực lượng mà chủ thể trữ tình sợ dần

dần hiện rõ, từ vô hình đến hữu hình: đó là Then, trời cao, cha em, mẹ em Mà

nỗi sợ cứ thắt lại ấy không gì bằng cái sợ "Lòng không yêu sợ mẹ em cứ buộc phải yêu" Cách mà nhân vật trữ tình bày tỏ nỗi sợ ấy thể hiện rất sinh động tư duy của con người lao động: sợ đẵn cây không thuận hướng, ngả cây không xuôi chiều, đan sọt lo lỗi mắt Trong nỗi lo sợ ấy, tâm tư chàng trai vẫn một lòng hướng về việc vun vén, thu xếp để mối tình của mình đơm hoa kết trái Anh thể hiện rõ sự chủ động ấy qua lời tình tự: "Yêu em, anh quyết được/Đã

thương nhau, quyết lấy" Tâm trạng của chàng trai đến đây đã có những biến

động rõ rệt So sánh hai đoạn thơ dưới đây sẽ thấy sự tinh tế của các nghệ sĩ dân gian trong việc miêu tả diễn biến tâm trạng này của nhân vật trữ tình này:

"Anh mới đi Tà Bú mua đĩa

Đi Tà Hè mua tơ

Đi Tà Sại mua cau

Mau cau, cau cả buồng sai quả

Mua trầu, muôn lá gói mang đi"

Trang 30

"Tay trái cầm giỏ cau lau mắt

Tay phải xách giỏ cá thẹn thùng

Những câu thơ diễn tả hành động: anh đi mua đĩa, mua tơ, mua cau,

mua trầu với một trạng thái hăm hở, háo hức, hạnh phúc bao nhiêu để chuẩn

bị cho việc xin cưới, nhất là niềm vui, niềm tin vào lễ vật đã thừa đủ, thực

nhiều thì khi trở về lại hụt hẫng, đau đớn bấy nhiêu khi nghe cha mẹ em yêu

lạnh lùng từ chối bằng những lời lẽ xúc phạm ê chề: "Người như kia và mặt như vậy/Chẳng đáng đội nón giấy Mường Púa ven sông/Không đáng ở nhà ta ngồi quản đan chài" Những lời tựa như lưỡi dao sắc cứa vào lòng, vào trái tim đang tràn đầy xúc cảm yêu đương Những từ, cụm từ lau mắt, bẽn lẽn, thẹn thùng, nước mắt rỏ, hàng lệ rưng thể hiện tâm trạng tủi hổ, đâu đớn của trái tim bị tổn thương Hai đoạn thơ thể hiện hai dòng cảm xúc trái ngược là một cách tạo sự tương phản rất sâu sắc trong nghệ thuật khắc họa tâm trạng nhân vật

Có thể nói, diễn biến tâm trạng tủi hổ, đắng cay của nhân vật này rất có chiều sâu Một chàng trai đã yêu thương chân thành hết mực, đã cố gắng khẳng định phẩm chất và tài năng của mình bằng việc đi kiếm lúa ngoài đồng,

đi kiếm cá ngoài sông mà giờ đây bị ghẻ lạnh, chê bai, hắt hủi một cách phũ phàng thì ắt hẳn sự thẹn thùng, sự bẽn lẽn kia là một nỗi tủi nhục đắng cay quá lớn Có một phép so sánh đối lập nữa làm nổi bật nỗi tủi hờn của chàng trai Đó là ngay sau khi lạnh lùng đuổi chàng trai ra khỏi nhà, cha mẹ em yêu

đã chấp nhận ngay một người con trai khác mà tất cả mọi thứ đều xấu và kém anh Đáng lưu tâm là cũng những việc làm, hành động ấy, nhưng “con người”

Trang 31

ấy đi kiếm cá thì “được toàn cá chết”, mua cau được “cau héo úa”, mua trầu thì “rụng buông khỏi cuống”, khi cúi xuống lạy thì “đầu trơ trọc lốc” Thế mà anh ta lại dễ dàng được chấp nhận thì thực là bất công Sự so sánh ấy đã làm cho tâm trạng nhân vật bộc lộ hết những xót xa, đau đớn của mình với tình cảnh “Ngày rồi đêm héo hắt khóc ròng”

Nét độc đáo trong việc khắc họa tâm trạng của nhân vật trữ tình chàng trai này là dù bị dồn đẩy vào hoàn cảnh xót xa như thế nhưng anh không hề oán thán hay tuyệt vọng Anh đau đớn đến nỗi héo hắt khóc ròng nhưng tuyệt nhiên không oán trách cha mẹ cô gái hay đầu hàng số phận Điều này cho ta thấy vẻ đẹp trong tâm hồn và nhân cách của chàng trai Thái Trọng chữ tình

và chữ hiếu nên trước những phán quyết của cha mẹ, anh chỉ có một con đường là phục tùng Ý thức được hoàn cảnh nghèo của mình, anh đành chấp nhận lùi bước trong nỗi niềm uất ức: "Giá bằng voi thôi đành lảng xa/Nếu giá bằng trâu còn có nổi, may ra/Thu vén cửa nhà có khi cũng đủ/Than ôi! Số đua

số không cùng/Phận thi phận không nổi"

Nhưng, tiếng lòng chàng trai cho thấy anh không hề cúi đầu chịu thua

số phận! Đứng trước một cuộc tình éo le, ngang trái, chàng trai có một khát vọng thực sự táo bạo: "Mệnh nàng xa ta một với hay xa ta một sải/Xa một sải

ta kéo gần một với/Xa một với, ta kéo gần một gang/Xa một gang, đôi mệnh gắn liền" Đồng bào Thái vốn đề cao số mệnh (Nẽn), và coi đó là thứ do trời (Then) sắp đặt nên không thể thay đổi Bởi vậy mong muốn thay đổi mệnh

của nàng và của ta ở chàng trai là ước muốn hết sức phi thường Tình yêu đã

làm cho anh chàng dám ước mong thay đổi vận mệnh do thiên định, làm cho niềm khao khát của cá nhân trở nên lớn mạnh

Ngay cả cái việc chàng trai quyết chí đi buôn nữa cũng là một hành động vô cùng đặc biệt trong xây dựng tâm lí, tính cách của hình tượng trữ tình Đã có xung đột, đấu tranh tư tưởng quyết liệt trong suy nghĩ của chàng trai: chấp nhận đầu hàng số phận, hoàn cảnh hay chống lại, tự giải thoát vượt lên hoàn cảnh? Đáng phục làm sao với suy nghĩ dũng cảm này: "Anh thấy tủi

Trang 32

mới đi Lào/Anh cầm sào bởi nghĩ đau lòng phận khó/Mới đeo túi xuống nhà

đi buôn" Nỗi đau không nhấn chìm được trái tim dũng cảm mà ngược lại,

khiến chàng trai ấy trở nên mạnh mẽ hơn, chủ động hơn, quyết tâm và sáng suốt hơn: "Bạc mười nén anh sẽ chuộc em về/Vải năm trăm anh sẽ cởi em ra" Tất cả được sưởi ấm, đun nóng bằng tình thương nhớ: "Anh nhớ em không cạn, không nguôi" Đoạn thơ từ câu 495 đến câu 524 với tiết tấu nhanh, giọng thơ đầy hào hứng vẽ lên viễn cảnh tươi đẹp, phơi phới hi vọng đan xen với xúc cảm tràn ngập yêu thương, nhớ mong tha thiết khi nghĩ đến ngày trở về với niềm tự tin giành lại được người yêu: "Nhờ phúc đẹp em thương, còn được lãi nhiều hơn/Anh đuổi trâu về thong dong/Cưỡi ngựa về rầm rầm" Đáng yêu làm sao, trái tim chân thành và khỏe khoắn, trong xúc cảm niềm tin, chàng nhìn mọi vật đều rất đáng yêu, ngay cả loài vật trong rừng, qua cái nhìn của trái tim tình yêu, cũng ngời lên những nét hân hoan khác thường: "Anh đi thấy cáo mắt trắng biết gật gù khấn/Bìm bịp biết đâm chày nhún nhảy/Chim tực tữ kêu rừng sâu khe núi/Chim chóp bóp kêu bạn đường sánh đôi" Hình

ảnh bạn đường sánh đôi từ đây có sức ám ảnh kỳ lạ với chàng trai, hơn nữa

còn gợi cho chàng trai những suy tư sâu sắc về tình yêu, hạnh phúc Hạnh phúc phải gắn với tình yêu và Tình yêu hạnh phúc phải có đôi có cặp, đó là quy luật tự nhiên, hãy nhìn kìa, khi qua những khu rừng thẳm, anh đã bắt gặp biết bao cặp vợ chồng chim, thú, từng đôi, từng cặp gắn bó, quấn quýt bên nhau:

"Anh thấy vợ chồng nai nối đuôi nhau ăn cỏ đồi than"

"Anh thấy vợ chồng chim phượng đang ăn quả si"

Lần nào giơ súng lên định bắn, anh như cũng nghe rõ tiếng van xin vô cùng thảm thiết, khiến anh buông súng, không thể nhẫn tâm: "Xin van người, người hỡi/Xin chàng tài giỏi tha cho/Gái má hồng đang chờ/Gái thanh xuân đang đợi, chàng ơi" Phải chăng, đây chính là sự đồng cảm, xuất phát từ đồng cảnh, nhìn muông thú có đôi có cặp, chạnh nghĩ đến mình, trái tim nhân hậu "rời cò súng không bắn" vì "gái má hồng đang chờ, gái thanh xuân đang đợi!” Kỳ

Trang 33

diệu làm sao là tình yêu, trái tim đang yêu có sức lay động và cảm hóa mạnh

mẽ Người biết yêu và đang yêu sẽ làm cho thế giới trở nên yên bình và hài hòa, thảo nào, người ta mãi ca ngợi tình yêu, tình yêu mãi vĩnh hằng vì sức mạnh và giá trị nhân bản của nó

Thương và nhớ là nét tâm trạng nổi bật nhất, đã trở thành một động lực

vô cùng mạnh mẽ của chàng trai trong đoạn thơ diễn tả khung cảnh anh đi buôn vượt qua suối sâu rừng thẳm từ câu thơ 916 đến câu 933 Đó là những tiếng lòng yêu thương, chung thủy của con người đã hoàn toàn bị cự tuyệt mà vẫn một lòng thương nhớ Có những câu thơ đi sâu vào nội tâm nhân vật chàng trai làm lay động lòng người: "Núi tiếp núi trập trùng/ /Kẽ mắt đứt vì tuôn lệ nhớ/Nai không lách, anh lách/Nhím không chui, anh chui" Đoạn thơ

đã đồng thời mở ra hai không gian của ngoại cảnh và tâm cảnh Ngoại cảnh

thì ngổn ngang khe núi mà tâm cảnh thì vò võ nhớ thương nơi kẽ mắt đứt Nỗi

nhớ thương sâu thẳm, da diết khiến chàng trai trở nên liều lĩnh dám vượt qua những nơi hiểm trở mà chính loài thú vốn làm chủ rừng cũng không thể mạo hiểm đến vậy

Đoạn thơ từ câu 950 đến câu 975 lại hé mở nét tâm trạng phức tạp, ngổn ngang nữa của chàng trai Ngày trở về, anh chứng kiến cảnh người yêu chuẩn bị theo chồng mà lòng dồn nén bao tâm trạng Quá khứ và hiện tại cứ giằng co bao cảm xúc của anh Quá khứ thì đẹp tươi, êm ấm mà hiện tại thì lạc lõng đến bẽ bàng: "Khi anh ra đi, cải chia cánh bướm/Khi anh trở về, cải già đơm hoa"; "Bạn lứa đều nên duyên may mắn/Thiệt riêng anh ở vắng một mình/Khi yêu em, anh nhủ em hết tình/Khi quen em, anh hỏi em hết nhẽ/Mà nay, lời thương của ta rơi trong bản/Tờ chữ của ta rơi trong mường đã nhòa"

Cứ như vậy, hai luồng cảm xúc giữa quá khứ và hiện tại cứ ùa về, day dứt trong lòng chàng trai, làm cho những vui buồn của nhân vật cứ dằn qua vặt

lại Khi đi, khi về, khi quen, khi yêu là những mốc thời gian đủ để một mối

tình trong anh trở nên trọn vẹn, nhưng sự thực nghiệt ngã lại không hề có một chút hi vọng nào cho anh Trong hiện tại, anh nhận ra chỉ có anh là “ở vắng

Trang 34

một mình” trong khi "nhà người yêu tiếng cười nhao nhao" Thực chưa bao giờ anh nhận thấy sự cô đơn, lẻ loi như lúc này, ngay cả khi một mình lầm lũi giữa rừng anh cũng chưa từng có cảm giác trống trải như khi đứng trước nhà

em tấp nập như lúc này Bàng hoàng đến quay quắt, quặn thắt trong lòng, tâm trạng chàng trai như bừng tỉnh trong đau đớn Anh yêu trở nên xót xa như có cái gì trong thân thể, trong tâm hồn này đã đứt lìa ra, đã nhòe mờ đi khi cảm thấy "lời thương của ta rơi trong bản đã úa/Tờ chữ của ta rơi trong mường đã nhòa" Trong vô vọng, lời của anh có nét gì đó của sự trách cứ, sự than vãn đầy xót thương: "Than ôi! Anh muốn ăn gạo bịch lớn cố chữa/Muốn ăn dưa

vườn to cố rào/Ngờ đâu em lại đổi lòng thương yêu kẻ khác, em ơi!"

Trong tình cảnh ấy, những lời yêu thương của chàng trai biến thành lời trách cũng là nét tâm trạng hiển nhiên, vì trước kia anh ra đi với niềm tin mãnh liệt sẽ giành lại em yêu, nay trở về đã giàu có mà vẫn mất người thì còn

gì trống trải, vô vọng hơn nữa? Ở vào hoàn cảnh éo le ấy, một con người dù mạnh mẽ đến đâu, một lòng tin dù vững chãi cỡ nào thì cũng khó có thể thỏa hiệp với sự thật Trong giây phút vô vọng, anh bất ngờ quên đi đối tượng chính đã chia cắt mối nhân duyên của mình, và quay sang trách người yêu Lời trách của anh như một lời an ủi cuối cùng để anh có thể đủ can đảm "nhìn

em yêu bước về nhà chồng"

Nhưng, kỳ lạ thay cho tình yêu, vừa đau khổ đấy, oán trách đấy nhưng ngay lập tức lại thương, lại yêu, lại lo lắng Từ trạng thái bàng hoàng, hụt hẫng, lời tình tự của nhân vật trữ tình bỗng bật lên những thanh âm còn tha thiết hơn trước Chàng trai quyết định đi theo để “tiễn bạn tình lên nhà chú”,

để “dặn người yêu lên nhà chồng khỏi lạ”, để “em với anh hẹn ước nên duyên” Nét đặc biệt, độc đáo trong tâm trạng nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này

là chàng trai giãi bày tâm tư yêu đương trong một cảnh huống đầy bất ngờ,

oái oăm Anh đi theo để tiễn dặn cô gái giờ đã là vợ người rồi mà vẫn còn hẹn

ước Đây là cái lí riêng của con tim, của tình yêu, là cái tình thật nhất Tình

yêu làm cho cái tưởng chừng vô lí thành có lí Từ cái lí của tình yêu này,

Trang 35

chàng trai muốn thực hiện ý định đi tiễn người yêu về nhà chồng Dường như, vào tình thế không còn cách nào để cứu vãn mối tình của mình thì sự lưu luyến nhằm kéo dài thêm giây phút bên nhau là một phương cách tốt nhất Nhưng mẹ kiên quyết can ngăn: "Không đi, không, không đi/Không đến, không, không đến, con ơi!/Sợ gươm sắc con người sẽ kề đùi/Sợ gươm bén

con người sẽ chặt cổ" Lời mẹ đâu phải không có cơ sở, những từ “không” lặp

lại liên tiếp chứng tỏ mẹ lo lắng biết nhường nào Chàng trai không phải không biết, không phải không hiểu và không phải anh không thương mẹ, nhưng người ta không phải là không có lí khi cho rằng trái tim đang yêu luôn

mù quáng Chàng trai ở đây cũng vậy, trong đầu anh khăng khăng: "Cha mẹ ngăn, dây tình dằng dặc/Cha mẹ giữ, đường tình không nghe", thậm chí nó còn hối thúc anh làm cả cái việc "Ta chém đứa kia giành lại vợ/Không lấy được nàng ta làm giặc giữa phủ/Không lấy được em, anh làm loạn giữa mường" Đoạn thơ từ câu 1084 đến câu 1100 thể hiện tâm trạng đầy bi thương của chàng trai khi nghĩ đến cảnh mất người yêu Anh nghĩ đến cái chết, một cái chết có thể đau đớn mà anh thấy vô cùng nhẹ nhàng, thanh thản khi được chết cạnh em yêu: "Chết trong lòng người yêu/Được chết cùng em không hề tiếc hận Dù đầu, mình chín khúc phanh phui" Anh nghĩ đến lời thề ước

năm xưa như “đá tảng giữa trời ta chém băng”, không nén nổi, chàng trai đã

dối mẹ để được đi theo tiễn dặn bạn tình chỉ với niềm khao khát: “Xin hãy cho anh kề vóc mảnh/ Quấn quanh vai ủ lấy hương người/Cho mai sau lửa

xác đượm hơi" Ý thức về việc không bao giờ còn gặp lại nhau nữa, nên mỗi

lời của anh đều như góp nhặt từng chút hương sắc bạn tình vào tâm hồn mình Giọng điệu chàng trai trầm và lắng lại khi nhắc đến cảnh "mai sau lửa xác đượm hơi" Sự chia biệt này đối với anh có thể là vĩnh biệt, vì vậy mong muốn “kề vóc mảnh” của anh bây giờ là ước muốn được giữ mãi hương hơi của người yêu như họ đã từng thề hứa "Đôi ta yêu nhau tàn đời gió không rung không chuyển"

Trang 36

Phần chính của lời tiễn dặn cho thấy tình yêu trong sáng, thủy chung sẽ

đạt tới cái “cao cả”: "Anh yêu em, sẽ tiễn đưa em đến tận nhà chồng" Chàng trai hầu như không nghĩ cho mình, chỉ nghĩ cho người yêu, không thương mình mà thương và lo cho người yêu khi về nhà chồng Nghe những lời này

cứ ngỡ đây là lời người chồng thương vợ: "Con nhỏ hãy đưa anh ẵm/Bé xinh hãy đưa anh bồng/Cho anh bế con dòng đừng ngượng/Nựng con rồng, con

phượng đừng buồn"

Những lời dặn dò người yêu của chàng trai là những lời tâm tình vô cùng cảm động Nhưng thật đặc biệt, anh ta vừa dặn người yêu cố gắng làm dâu tốt lại vừa dặn tỏ ra ương bướng để thoát khỏi nhà chồng Có gì nghịch lý

ở đây chăng? Không, nó chỉ chứng tỏ anh ta vừa là một người tốt vừa là một người tình chung thủy

Người Thái rất coi trọng trong đối nhân xử thế, đây là chàng trai Thái điển hình cho tâm hồn và tính cách Thái Từ câu 1258 tới câu 1288 chàng trai dặn người yêu về cách sống, về phận làm dâu Những lời “dặn hết lời”, những lời “nhủ hết nhẽ”, với biết bao ân cần, dịu dàng, trong đau khổ tuyệt vọng, trong tình cảnh oái oăm, chàng trai vẫn dặn dò người yêu cố gắng trở thành một người vợ tốt, người dâu hiền Lời dặn của chàng trai chứa đựng cả truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán và cách cư xử, tâm hồn thanh khiết của dân tộc Thái Anh dặn cô gái những điều kiêng kị trong việc làm, cư xử: bậc thang cuối nhà chồng chớ ngồi; ghế chị chồng chớ đụng; anh chồng đẹp đừng

lả lơi; giã gạo đừng chửi cối; chăn lợn đừng chửi gà; con khóc đừng rủa con; phải khẽ nựng, gõ cột nhè nhẹ ru; đi nương đừng gỡ chấy; về nhà đừng ngắm gương trong nồi; đi ruộng đừng nói xấu bà bác; đi nương đừng nói xấu cô em; trèo núi cao đừng nói xấu bố Đó không chỉ là lời dặn bình thường, mà là văn hóa, văn minh của tộc người được phản chiếu Nó kết tinh những giá trị đạo đức được kiến tạo, tinh lọc và truyền dạy qua bao thế hệ

Nhưng mọi người sẽ không tránh khỏi nụ cười cảm thông, chia sẻ khi nghe anh chàng nhắc nhủ người tình: "Trái tim đừng quên tình cũ" Hóa ra,

Trang 37

chàng trai không phải chỉ dặn người yêu làm dâu tốt nhà người, mà anh đang đặt mình vào vị trí là chồng cô gái Những lời luyến thương ấy đang vỗ về cô gái như chính anh đang dặn người vợ của mình Lời tiễn dặn người yêu của chàng trai giờ đây lại quy chiếu về một hướng: lời tỏ bày yêu thương

Nhưng trở về với thực tại, hình dung ra cảnh người yêu bị nhà chồng hành hạ, chàng trai vô cùng đau xót Nhưng giờ anh chỉ là người ngoài, anh chỉ là kẻ "giả làm chuột lên đằng cửa sổ/Giả làm chim én chui qua kẽ mái" Nhưng nếu “em” có bị nhà chồng hắt hủi, em có trở nên lam lũ vì phải gánh vác nhà chồng thì đã có anh, anh vẫn bên em, sẵn sàng chăm sóc cho em:

"Tóc rối đưa anh búi hộ/Anh chặt tre về đốt dóng đầu/Chặt tre dày, anh hun dóng giữa/Lam ống thuốc này em uống khỏi đau/Tơ rối đôi ta cùng gỡ/Tơ vò

ta vuốt lại quay guồng" Trong tiếng lòng anh có cả cảm giác hạnh phúc khi nghĩ đến ngày đôi lứa được đoàn tụ: “Về với người ta thương thưở cũ/Chết ba năm hồn còn treo đó/Chết thành sông, vục nước uống mát lòng/Chết thành đất, mọc dây trầu xanh thắm/Chết thành bèo, ta trôi nổi ao chung/Chết thành muôi, ta múc xuống cùng bát/Chết thành hồn, chung một mái song song" Tâm trạng ấy của chàng trai trong đoạn thơ này như mộng đẹp đứt quãng được nối lại khi lời thề hẹn mong ước được chết cùng nhau thưở trước lại hiện

về trước mắt Cùng với những ước vọng ngày trước, lời thề hứa xa xưa cũng làm sống lại trong tâm tình chàng trai những cảm xúc yêu thương mặn nồng, tha thiết: "Đôi ta yêu nhau tình Lú Ủa mặn nồng/Lời đã trao thương không lạc mất/ Lòng ta thương nhau trăm lớp nghìn trùng/Bền chắc như vàng, như đá/Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng/Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già" Từ lời dặn dò, lời tâm tình của chàng trai biến thành lời thề thủy chung của đôi lứa Như vậy, ở đây không có một lời tiễn dặn nào cả, mà chỉ có lời yêu thương mãi mãi không thể phai nhòa của một trái tim chân thành

Không kìm nén được xúc cảm yêu thương và lo lắng cho người yêu, chàng trai "mách nước" để cô gái thoát ra khỏi nhà chồng: "Làm ra ương bướng cho chồng em chê" Đây là những lời dặn dò lạ lùng, nhưng lại xuất

Trang 38

phát từ tâm thế của một người đang yêu, đang hi vọng được đoàn viên, sum họp, nên lạ mà không lạ vậy Chàng trai căn dặn cô gái làm những việc trái với lẽ thường: "Rửa ốc rửa từng con/Rửa bát sóc cả rổ" để "chồng giận, chồng

sẽ bỏ" mà chồng bỏ thì sẽ "đẹp duyên đôi ta" Từ đây, cõi lòng chàng trai lại đắm đuối trong những tiếng nói yêu thương thắm thiết, đắm đuối trong những lời nhắc nhủ đừng bao giờ quên nhau Một loạt câu thơ liên tiếp lặp lại từ

"chớ quên" tạo ra điệp khúc vừa khẳng định, vừa nhắc nhở mọi người về tình yêu và lòng chung thủy: "Cơm và vào miệng quên nuốt, chớ quên/Tóc trên đầu quên búi, chớ quên" Lời nhắn gửi ấy với hàm ý dù quên tất cả mọi thứ trên đời này cũng đừng bao giờ quên nhau, đừng bao giờ quên những lời yêu thương thưở trước

Đoạn thơ diễn tả tâm trạng chàng trai khi dặn người yêu chớ quên nhau

sử dụng hàng loạt phản ngữ tạo nên cách nói ngược quen thuộc trong ngữ điệu của người Thái, tạo nên hàm nghĩa rất sâu xa: "Đầu sào hóa ngọn dang, chớ quên/Lá môn thành mặt trời, chớ quên/Cầy hương thành ngựa vằn, chớ quên/Trồng khoai thành rừng bon, chớ quên/Trồng dâu thành rừng rút, chớ quên"; hay: "Sông Mã cạn bằng đĩa, hãy quên/Sông Đà cạn bằng chiếc đũa, hãy quên" Tâm tình chàng trai như lời thề sẽ không bao giờ quên nhau trong mọi hoàn cảnh, mọi sự dời đổi: "Anh thề chết cùng chép đỏ đuôi rách/Thề chết cùng cá chát đuôi cong/Thề chết cùng em yêu lận đận"

Những lời thương ấy trong tình cảnh này đâu chỉ là lời thề thốt giản đơn nữa! Nó trở thành lẽ sống chết, trở thành tín điều thiêng liêng của người con trai giàu tình nặng nghĩa Sự ân tình thủy chung được khẳng định khi hoàn cảnh của em dù có thay đổi thành “chép đỏ đuôi rách, cá chát đuôi cong” thì anh vẫn chết cùng Tình yêu thủy chung của chàng trai ở đây được đẩy lên thành một tượng đài bất tử của đồng bào Thái, giống như mối tình Kim - Kiều của Nguyễn Du vậy Chàng Kim vẫn một lòng yêu tha thiết dù

Kiều đã qua cái cảnh ong qua bướm lại đã thừa xấu xa, còn chàng trai Thái này thì “thề chết cùng em yêu lận đận” dù hiện tại cô đã là vợ người

Trang 39

Đoạn thơ diễn tả cảnh chàng trai từ biệt cô gái để trở lại nhà có nhiều câu thơ tả cảnh, tả tình chứa chan niềm thương nhớ đến miên man, tê tái, khiến người nghe cũng phả rưng rưng: "Nghìn tháng, nghìn năm, đã yêu nhau xin đừng chán nhau/Chán nhau nhựa dướng quyện nhựa sung/Một cánh chim trời khát nước/Bay về cuối đập mát trong/Yêu em, anh thăm em trong mộng" Trong tâm tình chàng trai lúc tiễn biệt lần cuối này cũng hiện lên những hình ảnh thiên nhiên rực rỡ mà thê thiết: “Gốc tơ hồng giữa bản đâm bông; Hoa áy hương lừng sông Mã; Gió thốc sông Đà quằn quại” Ngoại cảnh làm cho tâm cảnh cũng nao nao buồn thương day dứt Và lòng anh lúc này trào lên những tâm sự vô cùng thổn thức: “Yêu một đằng, thương nhớ một đằng; duyên se duyên lỡ dở không thành ”

Tiếng nói trữ tình của nhân vật chàng trai trong tác phẩm là tiếng nói yêu thương, tiếng nói của lòng thủy chung, nhân từ Những khổ đau, hạnh phúc của nhân vật vừa là nỗi niềm riềm riêng của một cá nhân, vừa là tình cảm thắm nồng của đồng bào Thái bao đời chắt chiu, gửi gắm Những lời yêu thương chân thành của chàng trai đã đánh động trái tim biết bao người vì nó nói lên những xúc cảm thiêng liêng của bao thế hệ thanh xuân đã, đang và sẽ bước vào tuổi yêu đương Tiếng nói vừa ai oán xót thương, vừa mạnh mẽ kiên cường mà thấm đẫm tình người ấy của nhân vật đã trở thành điệu hồn của nhân dân Thái nói chung Nó làm say lòng không chỉ người tình được tiễn dặn, mà còn khắc sâu vào tâm khảm nhân dân những tình cảm chân quý, thiêng liêng nhất

1.2.2.3 Tiếng nói trữ tình của cô gái - em yêu

Nhân vật trữ tình là cô gái - “em yêu” cũng bộc lộ rất rõ nét Đó là một

“em yêu” của tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng, là một “em yêu” xinh đẹp, nết

na, đảm đang, hiền dịu ở tuổi thiếu nữ: "Mười tuổi em đang lớn thành gái/Anh cũng lớn thành trai/Mười ba em biết bắt cá suối/Mười bốn biết nhuộm răng đen làm duyên/Biết may áo che vú/Biết dành tóc làm độn/Óng ả lên sàn nhóm lửa" Giản dị và thủy chung trong tình yêu, cô không mong ước cao xa, chỉ

Trang 40

mong được: “chẻ đóm chờ mồi thuốc anh yêu” Cuộc sống tưởng cứ thế trôi

đi trong hạnh phúc, chàng trai - người yêu cô chăm chỉ thu vén cho tổ ấm

tương lai, những đêm ngồi Hạn khuống từ chập tối đến khi trăng lặn khiến

tình yêu mộng mơ của họ càng bền chặt Nhưng thật bất ngờ, cô bị cha mẹ giấu giếm gả bán cho một đám khác Từ đây, một chuỗi trạng thái đau khổ, bất hạnh đến với cô, vùi dập cô hết lần này đến lần khác Khi phát hiện ra cha

mẹ đã ép gả mình, cô hoảng hốt đau đớn, bất lực: “Mẹ cha ưng gả khi em còn trên nương/Khi em đang ngoài ruộng” Tâm trạng của cô gái trong cái buổi chiều trên nương sau khi biết sự thực trở nên chao đảo, hụt hẫng Thiên nhiên như cũng nhuốm cái hụt hẫng sâu thẳm của con người: mặt trời rụng, rơi, sắp tắt, sắp lặn, đi, khuất Chỉ có Mặt trời trên cao xanh kia có thể nhìn thấy, hiểu thấu tâm can cô nhưng cũng đang dần rời xa, dần dần bỏ rơi cô, để cô thui

thủi lọt thỏm vào bóng tối cô đơn Mặc dầu vậy, cô gái cũng đâu dễ đầu hàng,

cô đã liên tục tìm kiếm sự giúp đỡ từ bác trai, bác gái, chú, thím, anh chị Nhưng tất cả người thân đều lắc đầu, lời của cha mẹ cô như "dao sắc chặt dong", luật tục lễ giáo không cho phép con cái cưỡng lời cha mẹ, ngay cả con

cái trong gia đình quý tộc như trong truyện Khun Lú - Nàng Ủa, nàng Piên

Coong không nghe lời Then cha sắp đặt liền bị đày xuống trần gian Cô gái hoàn toàn rơi vào tình cảnh tuyệt vọng, nặng trĩu những xót xa, tủi hờn: “Lời

đã trao lời liền như chiếc chiếu/Lời chắc đanh như dao sắc chặt dong/Như lá dong kia đã lót ủ men nồng/Dẫu van xin cha cũng không buông không

thả/Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa/Bằng con chẫu chuộc thôi” Nguyên văn trong tiếng Thái:

“Pặt mạ khạy cọ hák mạ xút ngắm lả tó mè cáp coỏng!

Xút poong pãnh pẹng há tò mè cháng chả”

Hình ảnh con vật trong hai câu thơ là con cáp coỏng và con cháng chả

là hai loài côn trùng cùng họ với châu chấu thường trú ngụ trong các ống nứa, ống tre trên mái nhà sàn của người Thái Những con vật này ban đêm thường kêu rất to, làm người ta khó ngủ, khó chịu Muốn bắt nó chỉ cần soi đèn, bịt

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w