CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
Bản chất, nhiệm vụ, vai trò kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.1.1 Bản chất kế toán quản trị chi phí a Sự ra đời của kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị đã xuất hiện từ rất sớm trên thế giới, đặc biệt là trong thời Trung cổ (thế kỷ VI – XV) với những hình thức ban đầu của kế toán quản trị chi phí Các phường hội, đại diện cho các nhà sản xuất, đã thực hiện việc ghi chép sổ sách về chi phí vật liệu và nhân công, coi đó là bằng chứng cho chất lượng sản phẩm.
Thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – XVI) đánh dấu sự phát triển của hệ thống kế toán, đặc biệt với sự xuất bản cuốn sách của Fra Luca Pacioli năm 1494, giới thiệu phương pháp “ghi sổ kép” vẫn được sử dụng trong kế toán hiện đại Trong giai đoạn này, các nguyên lý cơ bản của kế toán quản trị chi phí đã bắt đầu hình thành, bao gồm định mức nguyên vật liệu, năng suất công nhân, phiếu theo dõi chi phí và dự toán Kế toán quản trị chi phí thời kỳ này chủ yếu nhằm hỗ trợ quyết định đầu tư tài sản cố định, quản lý chi phí và định giá sản phẩm.
Cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII đã làm thay đổi diện mạo kinh tế thế giới, với sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý trong các tổ chức kinh tế Quá trình sản xuất chuyển từ hình thức thủ công, hộ gia đình sang sản xuất tại các nhà máy điện khí hoá và cơ khí hoá, dẫn đến việc tiêu chuẩn hoá sản phẩm Môi trường sản xuất kinh doanh mới đã tạo điều kiện cho việc phân loại chi phí sản xuất một cách hợp lý, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của kế toán quản trị chi phí.
Cuốn sách "Chi phí của các đơn vị sản xuất" của Henry Metcalf, ra đời năm 1885, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc chuẩn hoá lĩnh vực sản xuất, với sự đóng góp của sinh viên Hà Thị Huyền, lớp ĐHKT – K17A.
Sự phát triển của kế toán quản trị chi phí hiện đại bắt đầu vào đầu thế kỷ XIX, đặc biệt là vào cuối thế kỷ XIX, khi nó trở nên phổ biến trong các cơ sở sản xuất Chủ các xưởng dệt ở Mỹ đã ghi chép chi tiết chi phí cho từng công đoạn sản xuất, từ kéo sợi đến nhuộm vải Các nhà quản lý hãng xe lửa áp dụng hệ thống kế toán chi phí phức tạp để tính toán chi phí cho các mức hàng chuyên chở khác nhau Tương tự, các xưởng thép cũng duy trì bản ghi chi tiết về chi phí nguyên vật liệu và nhân công, giúp nâng cao hiệu quả và định giá sản phẩm Hầu hết các phương pháp kế toán chi phí và kế toán nội bộ trong thế kỷ XX đều được phát triển trong giai đoạn 1880 – 1925.
Sau những năm cuối của thập niên 1920, kế toán quản trị chi phí không có sự phát triển mới, có thể do yêu cầu cao về thông tin chi phí trong báo cáo tài chính khiến hệ thống kế toán chi phí chỉ tập trung vào việc đáp ứng các yêu cầu này Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong khi các nền kinh tế khác kiệt quệ, nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, dẫn đến việc các công ty không cảm thấy áp lực về nhu cầu thông tin lợi nhuận cho từng sản phẩm Những năm 1950 – 1960 chứng kiến một số nỗ lực nâng cao tính hữu ích của hệ thống kế toán chi phí truyền thống, nhưng chủ yếu tập trung vào việc cải thiện thông tin kế toán tài chính cho nội bộ.
Vào thập niên 1960 và 1970, nền kinh tế thế giới không còn bị chi phối bởi kinh tế Mỹ mà đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế Âu Á, đặc biệt là Nhật Bản Sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế này ngày càng gia tăng, dẫn đến nhu cầu về một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện đại và hiệu quả hơn Do đó, vào những năm cuối thế kỷ XX, nhiều cải cách trong hệ thống kế toán quản trị chi phí đã được thực hiện tại Mỹ, châu Âu và châu Á.
Hệ thống kế toán quản trị chi phí đã được cải tiến để đáp ứng nhu cầu thông tin thay đổi do sự biến đổi trong sản xuất và phân phối sản phẩm, bao gồm sản xuất kịp thời và quản lý chất lượng toàn diện Nó không chỉ quan trọng trong các đơn vị sản xuất mà còn cần thiết cho các doanh nghiệp dịch vụ Nhiều phương pháp kế toán quản trị chi phí mới, như chi phí mục tiêu (target costing) và chi phí hoàn thiện liên tục (Kaizen costing), đã được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Kế toán quản trị hiện đại có nguồn gốc từ sự xuất hiện của các nhà quản trị ở các công ty từ thế kỷ 19, như các xưởng chế tạo vũ khí và xưởng dệt Những công ty này được thành lập để tổ chức và kiểm soát quy trình sản xuất, nhằm giảm chi phí thông qua việc cân đối yêu cầu vốn lớn và thuê mướn công nhân Theo Robert S Kaplan và Anthony A Atkinson, kế toán quản trị bắt đầu hình thành từ những năm đầu thế kỷ 19 tại Mỹ, với hệ thống các nhà máy dệt ở Lowell là một trong những ví dụ điển hình.
Vào đầu thế kỷ 19, các ngành công nghiệp như dệt may (1814), đường sắt (1840) và luyện kim (1872) đã phát triển mạnh mẽ, phản ánh sự gia tăng quy mô, phức tạp trong hoạt động và áp lực cạnh tranh Trong bối cảnh này, các kỹ thuật kế toán quản trị chủ yếu tập trung vào việc phát triển các phương pháp xác định chi phí nhằm phục vụ cho việc đánh giá tài sản và đo lường lợi nhuận.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 14 Lớp: ĐHKT –K17A
Kế toán quản trị chi phí đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ những hình thức sơ khai đến các phương pháp hiện đại Từ thế kỷ VI – XV, kế toán quản trị chi phí xuất hiện với các ghi chép về chi phí vật liệu và nhân công Đến thế kỷ XIX, sự phát triển của kế toán quản trị chi phí hiện đại bắt đầu với cuốn sách "Cost of Manufacturers" của Herny Metcalf năm 1885, đánh dấu bước chuẩn hóa đầu tiên Cuối thế kỷ XIX, kế toán quản trị chi phí được áp dụng rộng rãi trong các cơ sở sản xuất, với nhiều phương pháp phát triển từ 1880 đến 1925 Tuy nhiên, sau những năm 1920, lĩnh vực này không có nhiều tiến bộ mới cho đến cuối thế kỷ XX, khi sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế Mỹ, Âu, Á gia tăng, tạo ra nhu cầu cho một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiệu quả và hiện đại hơn Do đó, hệ thống kế toán quản trị chi phí đã được thiết lập lại, với nhiều phương pháp mới được áp dụng trên toàn thế giới.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 15 Lớp: ĐHKT –K17A
Hiện nay, kế toán quản trị chi phí đang được áp dụng trong các doanh nghiệp nhưng vẫn còn mới mẻ và gặp nhiều hạn chế Khái niệm về kế toán quản trị chi phí cần được hiểu rõ để tối ưu hóa hiệu quả quản lý tài chính trong doanh nghiệp.
Chi phí doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản hao phí liên quan đến lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh Những chi phí này được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và được tính cho một khoảng thời gian nhất định.
Theo bộ luật kế toán Việt Nam năm 2003 và thông tư 53/2006/TT-BTC, kế toán quản trị doanh nghiệp được định nghĩa là quá trình thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính nhằm phục vụ cho quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.
Quản trị chi phí là quá trình phân tích thông tin cần thiết cho việc quản lý doanh nghiệp, bao gồm cả thông tin tài chính như chi phí và doanh thu, cũng như thông tin phi tài chính như năng suất, chất lượng và các yếu tố khác.
Nhận diện và phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất
Kế toán quản trị chi phí bắt nguồn từ kế toán chi phí trong kế toán tài chính, bao gồm các nội dung như nhận diện, thu thập, tập hợp chi phí và tính giá thành Đây là cơ sở hạch toán quan trọng cho việc tính toán các mục tiêu dự kiến Đặc biệt, kế toán quản trị chi phí tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận, nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định kinh doanh hiệu quả.
Kế toán quản trị chi phí áp dụng các phương pháp kế toán như chứng từ, tài khoản và tính giá Đặc biệt, nó chú trọng vào các phương pháp phân bổ chi phí nhằm xác định phương pháp phân bổ hợp lý nhất.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 19 Lớp: ĐHKT –K17A
1.2.2 Phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất
1.2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí
Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế được nhóm lại thành một yếu tố, không phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh hay mục đích sử dụng trong quá trình sản xuất.
Chi phí nguyên vật liệu: Các loại đạm, hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơ, công cụ, dụng cụ, …
Chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài, trích BHXH, BHYT, BHTN theo tỷ lệ quy định
Chi phí khấu hao tài sản cố định bao gồm sự hao mòn của các tài sản trong doanh nghiệp, chẳng hạn như nhà xưởng, máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải và thiết bị dụng cụ quản lý.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Tiền điện, tiền nước, điện thoại,
Chi phí bằng tiền khác
Phân loại sản phẩm sản xuất theo yếu tố chi phí giúp xác định cấu trúc và tỷ trọng của từng yếu tố sản xuất, từ đó phục vụ cho việc phân tích và đánh giá tình hình thực hiện dự toán Điều này là cơ sở quan trọng để lập kế hoạch cung ứng vật tư, quỹ tiền lương và vốn, nhằm hỗ trợ công tác kế toán và quản lý chi phí sản xuất một cách nhanh chóng và chính xác.
1.2.2.2 Phân loại theo khoản mục chi phí
Dựa vào các loại chi phí khác nhau về mục đích và công dụng, chúng ta có thể phân loại chúng mà không cần quan tâm đến nội dung kinh tế của chi phí đó.
Có 4 khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm tất cả các khoản chi cho nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ và nhiên liệu cần thiết cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tất cả các khoản thù lao dành cho công nhân trực tiếp sản xuất, như lương, phụ cấp lương và các khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn (KPCĐ) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
Sinh viên: Hà Thị Huyền 20 Lớp: ĐHKT –K17A
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm tất cả các khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi trả liên quan đến việc sử dụng máy móc cho vận chuyển và phục vụ công trình Các khoản chi này bao gồm tiền khấu hao máy móc, tiền thuê máy, lương cho công nhân điều khiển máy, và chi phí nhiên liệu cho máy thi công.
Chi phí sản xuất chung là tổng hợp tất cả các chi phí phát sinh trong phân xưởng, không bao gồm ba loại chi phí khác Những chi phí này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, chi phí khấu hao, chi phí điện thoại, điện nước, cùng với các chi phí bằng tiền khác.
Phân loại chi phí theo khoản mục giúp quản lý chi phí sản xuất hiệu quả, cung cấp dữ liệu cho việc tính giá thành sản phẩm, và lập kế hoạch cho giá thành cũng như định mức chi phí sản xuất trong kỳ tiếp theo.
1.2.2.3 Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tƣợng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này thì chi phí đƣợc chia thành: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp là những khoản chi phí gắn liền với từng đối tượng kế toán, như sản phẩm, công việc hay đơn đặt hàng Những chi phí này có thể được quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp là các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán khác nhau, không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh Việc phân loại chi phí này giúp quy nạp chi phí vào đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách kỹ thuật Nhờ đó, nhân viên kế toán quản trị có thể tư vấn cho các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng cơ cấu tổ chức sản xuất hợp lý, từ đó giúp kiểm soát chi phí hiệu quả hơn.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 21 Lớp: ĐHKT –K17A
1.2.2.4 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Theo cách phân loại nay thì chi phí đƣợc chia thành: Chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí hoạt động tài chính và chi phí bất thường
Chi phí sản xuất kinh doanh: là những chi phí liên quan đến hiện trạng sản xuất và tiêu thụ, quản lý doanh nghiệp
Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hay khách quan dẫn tới
Chi phí bất thường: Gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hay khách quan mang lại
Phân loại chi phí chính xác hỗ trợ tính giá thành và xác định chi phí cho từng hoạt động kinh doanh, từ đó giúp lập Báo cáo tài chính một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời.
1.2.2.5 Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động
Theo cách phân loại nay thì chi phí đƣợc chia thành: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp
Chi phí cố định (chi phí bất biến): là loại chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về khối lƣợng hoạt động
Chi phí biến đổi, hay còn gọi là chi phí khả biến, là những chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động.
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà nó bao gồm cả định phí và biến phí
Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất
Xây dựng dự toán là công việc thiết yếu trong việc lập kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế, từ doanh nghiệp đến cơ quan nhà nước và cá nhân Việc lập kế hoạch ngân sách cho chi tiêu hàng ngày và mua sắm tài sản giá trị lớn là rất quan trọng Tất cả doanh nghiệp cần có kế hoạch tài chính để thực hiện các hoạt động hàng ngày và chuẩn bị cho các hoạt động dài hạn trong tương lai.
Dự toán vốn là kế hoạch quan trọng cho việc mua sắm tài sản như máy móc, thiết bị và nhà xưởng Nhà quản lý cần đảm bảo rằng nguồn vốn luôn sẵn có khi cần thiết để thực hiện các giao dịch này Nếu không có kế hoạch dài hạn, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn lớn khi cần đầu tư và mua sắm tài sản.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 23 Lớp: ĐHKT –K17A
Dự toán chủ đạo, hay còn gọi là kế hoạch lợi nhuận, là hệ thống dự toán tổng thể cho toàn bộ hoạt động của tổ chức trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm và trùng với năm tài chính Điều này cho phép so sánh các số liệu dự toán với kết quả thực tế.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều giai đoạn liên quan như mua hàng, sản xuất và tiêu thụ Mỗi giai đoạn yêu cầu nhà quản trị thiết lập các chỉ tiêu dự toán cụ thể để phù hợp với từng hoạt động Do sự tương tác giữa các giai đoạn này, các chỉ tiêu dự toán cũng có mối quan hệ chặt chẽ, hình thành một hệ thống chỉ tiêu dự toán đồng bộ.
Dự toán chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm các yếu tố như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Để lập dự toán chi phí sản xuất, cần dựa vào dự toán sản xuất nhằm xác định lượng sản phẩm cần sản xuất, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu bán hàng và lượng dự trữ cần thiết Nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung là những yếu tố thiết yếu cho quá trình sản xuất Do đó, dự toán sản xuất sẽ là cơ sở quan trọng để lập dự toán cho các chi phí này.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 24 Lớp: ĐHKT –K17A
Hình 1.1: Dự toán sản xuất kinh doanh
Trong khâu lập dự toán thì lập dự toán tiêu thụ là quan trọng nhất, nó quyết định và làm cơ sở để lập các dự toán khác
Cơ sở xác định dự toán tiêu thụ bao gồm khối lượng sản phẩm và đơn giá bán dự kiến Đơn giá bán phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng, sức mua và khả năng cung cấp hàng hóa tương tự trên thị trường.
Khối lượng tiêu thụ hàng quý thường không đồng nhất, mà phụ thuộc vào tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng trong các thời điểm khác nhau của năm.
Trong quá trình lập dự toán tiêu thụ, kế toán quản trị cần dự kiến lịch thu tiền bán hàng để làm cơ sở cho việc lập dự toán vốn bằng tiền Việc dự kiến này không chỉ dựa vào doanh thu bán hàng trong năm mà còn cần xem xét các yếu tố khác để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quản lý tài chính.
Dự toán CPBH và CPQLDN
Dự toán chi phí SXC
Dự toán hàng tồn kho
Sinh viên Hà Thị Huyền, lớp ĐHKT – K17A, nhấn mạnh rằng kế hoạch tài chính cần xem xét tiền bán hàng phải thu từ kỳ trước và tiền bán hàng trong kỳ kế hoạch sẽ chuyển sang thu ở kỳ sau Để dự kiến lịch thu tiền bán hàng một cách chính xác, cần căn cứ vào phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán ghi trong hợp đồng bán hàng, cũng như tình hình thu tiền bán hàng thực tế của năm trước.
* Dự toán sản lượng sản xuất
Dự toán sản lượng sản xuất là quá trình xác định số lượng sản phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ Việc lập dự toán này dựa trên dự toán tiêu thụ, bao gồm khối lượng sản phẩm tiêu thụ, cũng như lượng sản phẩm tồn kho đầu kỳ và tồn kho cuối kỳ dự kiến.
- Sản lƣợng sản phẩm dự kiến sản xuất trong kỳ kế hoạch đƣợc xác định theo công thức cân đối
SLSP sản xuất dự kiến
= SLSP dự kiến tiêu thụ trong kỳ + SLSP dự kiến tồn kho cuối kỳ -
SLSP dự kiến tồn kho đầu kỳ
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Nó bị ảnh hưởng bởi số lượng nguyên vật liệu tiêu hao cho mỗi đơn vị sản phẩm, đơn giá nguyên vật liệu và khối lượng sản phẩm cần xuất Khi khối lượng sản phẩm và sản xuất tăng, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cũng tăng theo Do đó, khi lập dự toán chi phí, cần xem xét lượng nguyên vật liệu mua vào, cũng như tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ.
- Để xác định dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sử dụng công thức dưới đây:
Dự toán chi phí NVL TT = SLSP cần sản xuất trong kỳ x SL NVL tiêu hao cho 1 đvsp x Đơn giá NVL xuất dùng
Sinh viên: Hà Thị Huyền 26 Lớp: ĐHKT –K17A
Đơn giá nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất có thể được tính theo nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phương pháp đơn giá bình quân của vật liệu luân chuyển trong kỳ, phương pháp đích danh, và phương pháp nhập trước xuất trước.
Đơn giá nguyên vật liệu có thể tăng do tính thời vụ và sự thay đổi trong nguồn cung cấp, vì vậy kế toán quản trị cần chú ý đến yếu tố giá để lập dự toán chính xác Ngoài ra, một số nguyên vật liệu có tính chất thương phẩm phức tạp cần có định mức hao hụt, do đó, khi lập dự toán, cần xem xét các yếu tố này một cách cẩn thận.
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là quá trình ước lượng tổng thời gian cần thiết để hoàn thành sản phẩm và xác định đơn giá lao động Khi lập dự toán, cần chú ý đến cấu trúc công nhân và trình độ thành thạo của từng loại Mục đích của dự toán này là giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có kế hoạch chủ động trong việc sử dụng lao động, đồng thời làm cơ sở phân tích ảnh hưởng của chi phí nhân công đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Căn cứ để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp bao gồm khối lượng sản phẩm cần sản xuất, định mức thời gian sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm, và đơn giá giờ công trực tiếp sản xuất.
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍTẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THÀNH NÔNG THANH HÓA
Tổng quan về công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Thành Nông
Tỉnh Thanh Hóa có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với ngành này vẫn chiếm tỉ trọng cao trong thời kỳ đổi mới Điều này tạo ra lợi thế lớn cho thị trường tiêu thụ phân bón, đặc biệt là cho công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa.
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa, được thành lập vào ngày 19/07/2013, có văn phòng tại số 48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, chính thức hoạt động từ ngày 22/07/2013.
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh Hóa, sau hơn bốn năm hoạt động, đã vượt qua nhiều khó khăn và thách thức Nhờ vào sự nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo và đội ngũ nhân viên, công ty đã vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất phân bón và hợp chất nito Hiện tại, công ty sở hữu một nhà máy sản xuất với công nghệ tiên tiến, và sản phẩm của công ty được thị trường đón nhận rộng rãi từ Nam ra Bắc, bao gồm cả vùng đồng bằng và miền núi Thành Nông Thanh Hóa luôn sẵn sàng đồng hành cùng nhà nông trong mọi hoạt động sản xuất.
Công ty, từ những ngày đầu chỉ với 10 lao động, hiện đã mở rộng quy mô lên gần 400 nhân viên, bao gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp Đội ngũ lao động trẻ, năng động và chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản về vận hành và quản lý sản xuất trong lĩnh vực phân bón và hợp chất ni tơ Với nguồn nhân lực dồi dào và chính sách đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng cùng trang thiết bị hiện đại, công ty đang trên đà phát triển bền vững.
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh Hóa đã đóng góp tích cực vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất tại tỉnh Thanh Hóa và các vùng lân cận, thu hút nguồn lao động địa phương Hoạt động này không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống văn hóa và cải thiện thu nhập Được sự hỗ trợ từ tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa cùng với sự lãnh đạo hiệu quả của ban lãnh đạo, công ty đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh tế, chính trị, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhận được nhiều bằng khen từ các cấp, các ngành.
Công ty bắt đầu với vốn điều lệ 45 tỷ đồng và sau nhiều lần tăng vốn, hiện tại vốn điều lệ đã đạt 65 tỷ đồng.
Tên công ty: Công ty CP Thành Nông Thanh Hóa Địa chỉ: Số nhà 48/14 Trần Bình Trọng – Phường Đông Sơn – Tp Thanh
Nơi đăng ký quản lý: Chi cục thuế Tp Thanh Hóa
Hình thức sở hữu: Công ty cổ phần
Người đại diện pháp luật: Giám đốc Đinh Thị Minh Hồng
- Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam Chi nhánh Thanh Hóa Điện thoại: 02373 988 789
Sinh viên: Hà Thị Huyền 34 Lớp: ĐHKT –K17A
Vốn điều lệ: 65 000 000 000 (Sáu mươi lăm tỉ đồng)
Công ty CP Thành Nông Thanh Hóa liên tục nghiên cứu và đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm Với ngành nghề kinh doanh đa dạng, công ty tập trung vào phát triển sản xuất phân bón và hợp chất nito, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tối ưu hóa phương thức sản xuất.
2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa tập trung vào việc khai thác lợi thế kinh tế nông nghiệp của nông thôn nhằm cải thiện và phát triển nền kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa Mục tiêu của công ty là thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn, từ đó góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc gia.
Công ty, theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 2801962676 do Chi cục Thuế Thành phố Thanh Hoá cấp ngày 22/07/2013, có trách nhiệm thực hiện hiệu quả công tác sản xuất trong các lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh.
Một số ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa:
- Sản xuất phân bón và hợp chất nitơ (Ngành chính)
- Sản xuất sản phẩm hoá chất khác chƣa đƣợc phân vào đâu
- Xây dựng nhà các loại
- Xây dựng công trình đường sắt và đường bộ
- Xây dựng công trình công ích
- Xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khá
- Bán buôn đồ dùng khác cho gia đình
- Vận tải hàng hóa bằng đường bộ
- Vận tải hàng hóa ven biển và viễn dương
Sinh viên: Hà Thị Huyền 35 Lớp: ĐHKT –K17A
- Khai thác đá, cát, sỏi, đất sét
- Khai thác khoáng hoá chất và khoáng phân bón
- Khai thác và thu gom than bùn
Ngành nghề kinh doanh đã giúp Công ty phát huy tối đa tiềm năng, tăng cường khả năng chiếm lĩnh thị trường và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên, việc đa dạng hóa ngành nghề yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả đầu tư.
2.1.2.2 Đặc điểm của tổ chức sản xuất – quá trình công nghệ sản xuất phânbón tại Công ty cổ phầnThành Nông
* Đặc điểm tổ chức sản xuất
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa, hoạt động từ ngày 22/7/2013, tập trung vào việc sản xuất đa dạng các sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân và nền kinh tế nông nghiệp Để đạt được mục tiêu này, công ty đã mở rộng hoạt động sản xuất tại nhiều địa phương trong tỉnh, chủ yếu trong lĩnh vực phân bón và hợp chất nito, cùng với các ngành nghề khác như khai thác quặng sắt, thu gom than bùn, và khoáng hóa chất Doanh thu từ hoạt động bán sản phẩm chiếm 83% tổng doanh thu của công ty.
* Quá trình công nghệ sản xuất
Ngành sản xuất chính là sản xuất phân bón và hợp chất nitơ Để tạo ra phân bón chất lượng, các nguyên liệu ban đầu cần phải khô và tơi Nếu không đạt yêu cầu, cần phải phơi và nghiền chúng trước khi trộn Hơn nữa, các hỗn hợp phân đơn cần được chế biến hóa học thông qua quá trình amôn hóa bằng khí NH₃ hoặc amôniac lỏng, bao gồm các dung dịch như NH₄NO₃, (NH₂)₂CO, Ca(NO₃)₂ và các hỗn hợp của chúng trong amôniac lỏng hoặc nước amôniac đậm đặc.
Sinh viên Hà Thị Huyền, lớp ĐHKT – K17A, nghiên cứu về cách đưa axit và các vật liệu trung hòa vào hỗn hợp Cô cũng tìm hiểu việc sử dụng các dung dịch và chất lỏng thay thế nước trong quá trình tạo hạt.
Khi các cấu tử trong hỗn hợp phản ứng và tạo thành hạt, các sản phẩm thu được sẽ có độ bền, chắc và đồng nhất cao hơn Đồng thời, quá trình sấy khô hạt diễn ra nhờ nhiệt lượng từ các phản ứng hóa học.
Trong quá trình sản xuất phân bón dạng hạt có bổ sung nước, các dung dịch muối, axit hoặc amôn hoá được kết hợp liên tục trong cùng một thiết bị Thời gian lưu lại của vật liệu trong thiết bị này khoảng 10 phút.
Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
Các doanh nghiệp sản xuất phân bón có lượng nguyên vật liệu đầu vào lớn và đa dạng, dẫn đến việc kế toán quản trị chi phí trở nên phức tạp Tại Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa, kế toán quản trị chi phí chủ yếu chưa được tổ chức, chỉ có kế toán tài chính được thực hiện Mặc dù có bộ phận kiểm soát hoạt động, nhưng hiệu quả không cao Các công việc liên quan đến kế toán quản trị chi phí được thực hiện một cách đan xen và chưa có bộ phận chuyên trách Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả quản lý chi phí.
2.2.1 Phân loại chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
Công ty đang tiến hành phân loại chi phí theo các khoản mục, bao gồm chi phí sản xuất với ba thành phần chính: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
* Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí về nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm
Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho kinh doanh sản xuất phân bón và hợp chất Nito gồm: các loại đạm, hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơ, …
* Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản chi trả cho người lao động tham gia sản xuất sản phẩm trong danh sách quản lý của doanh nghiệp.
Sinh viên Hà Thị Huyền, lớp ĐHKT – K17A, nghiên cứu về lao động thuê ngoài và các yếu tố liên quan như tiền lương, tiền công, phụ cấp, và các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN Chi phí nhân công trực tiếp trong công ty bao gồm tiền lương của công nhân sản xuất, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương.
* Chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung bao gồm các khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng sản xuất, như lương của nhân viên quản lý, các khoản chi theo lương như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN theo tỷ lệ quy định, chi phí khấu hao, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác.
Chi phí sản xuất chung tại công ty bao gồm các khoản chi phí liên quan đến sản xuất và quản lý, như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí vật liệu và công cụ dụng cụ cho sửa chữa thường xuyên, chi phí nguyên liệu cho máy móc, chi phí sửa chữa lớn, chi phí dịch vụ mua ngoài, và các chi phí bằng tiền khác.
2.2.2 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
2.2.2.1 Kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Hiện nay, kế toán doanh nghiệp áp dụng theo thông tư 200/2014/TT-BTC, trong đó hệ thống chứng từ kế toán, tài khoản sử dụng và phương pháp hạch toán đều tuân thủ quy định Cụ thể, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tập hợp và phản ánh chi tiết vào tài khoản 621 cho từng loại phân bón.
Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán cần sử dụng hai loại chứng từ chính: Giấy đề nghị cấp nguyên vật liệu và phiếu xuất kho, cùng với hóa đơn GTGT.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 58 Lớp: ĐHKT –K17A
Công ty sử dụng phương pháp tập hợp trực tiếp để hạch toán chi phí nguyên vật liệu (NVL) một cách hiệu quả Theo phương pháp này, các phiếu xuất kho được ghi rõ đối tượng sử dụng nguyên vật liệu, và mỗi loại nguyên vật liệu đều được mã hóa theo quy định của công ty Hạch toán được thực hiện chi tiết cho từng xưởng và từng công đoạn, giúp quản lý chi phí một cách chính xác.
Bảng 2.4: Danh mục nguyên vật liệu NPK 16-16-10
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
STT Tên nguyên liệu Mã nguyên liệu ĐVT
5 Lân nung chảy NL006 Kg
8 HH trung, vi lƣợng NL005 Kg
9 Đôlômit (bọc ngoài) NL008 Kg
Sinh viên: Hà Thị Huyền 59 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.5: Mẫu phiếu đề nghị cấp vật tƣ
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng – P Đông Sơn – Tp Thanh Hóa
PHIẾU ĐỀ NGHỊ XUẤT VẬT TƢ
Phân xưởng sản xuất: HHVT Đề nghị phòng kế hoạch vật tư xuất vật liệu cho phân xưởng
STT Tên vật tƣ ĐVT Số lƣợng Lý do sử dụng
1 Mùn thô kg 13.456 Sản xuất
3 Bột đỏ Y101 kg 250 Sản xuất
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 9 năm 2017
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Giám đốc (Ký, họ tên, đóng dấu)
Phòng vật tƣ (Ký, họ tên)
Người lập phiếu (Ký, họ tên)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 60 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.6: Mẫu phiếu nhập kho
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh HóaSố ct: MH-1712-054
48/14 Trần Bình Trọng – P Đông Sơn – Tp Thanh Hóa Ngày ct: 10/9/2017
PHIẾU NHẬP KHO MUA HÀNG
(1 Mua hàng 3311) Tên nhà cung cấp : Công ty TNHH Liên Trường – Cảng Lễ Môn
Người giao hàng : Xe Liên Trường Địa chỉ: Phố 2 – Quảng Hưng – TPTH
Lý do nhập : Nhập mùn thô – Liên Trường
Theo hóa đơn số : - Ngày: 10/09/2017 Hợp đồng số:
Nhập tại kho : KhoHHVT Địa chỉ: Đông Sơn - TPTH
Mã HHDV ĐVT Số lƣợng Đơn giá Thành tiền
Khách hàng xác nhận (Ký, họ tên)
Thủ kho (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Bảng 2.7: Mẫu phiếu xuất kho
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh HóaSố ct: BH-1801-030
Sinh viên: Hà Thị Huyền 61 Lớp: ĐHKT –K17A
48/14 Trần Bình Trọng – P Đông Sơn – Tp Thanh Hóa Ngày ct: 10/9/2017
(KIỂM VẬN CHUYỂN NỘI BỘ) 1.Hóa đơn bán + GH
Tên khách hàng : Phạm Ngọc Thanh
Người nhận hàng : Phạm Ngọc Thanh
Nội dung : Xuất kho gửi bán anh Thanh
HHDV Mã HHDV ĐVT Số lƣợng Đơn giá %CK Chiết khấu Thành tiền
Khách hàng xác nhận (Ký, họ tên)
Thủ kho (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Bảng 2.8: Mẫu bảng hóa đơn GTGT
Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng – P Đông Sơn – Tp Thanh Hóa
Sinh viên: Hà Thị Huyền 62 Lớp: ĐHKT –K17A
(Mẫu số: 01) Liên 2: Giao cho khách hàng
0011246 Đơn vị bán hàng: Công ty DV và TM Nam Mẫn Địa chỉ: Khu công nghiệp Hà Nam – Hà Nội Điện thoại:
Người mua hàng là Ông(bà) Đinh Thị Minh Hồng, đại diện cho Công ty Cổ phần Thành Nông Thanh Hóa, có địa chỉ tại 48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa.
Số tài khoản: 3501201003956 Điện thoại: 02373 988 789
Hình thức thanh toán: Trả chậm
STT Tên HHDV ĐVT Số lƣợng Đơn giá Thành tiền
(Ký, ghi rõ họ tên)
Người bán hàng (Ký, ghi rõ họ tên)
Thủ trưởng đơn vị (Ký, ghi rõ họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 63 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.9: Bảng tiêu hao nguyên vật liệu NPK 16-6-10
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
BẢNG TIÊU HAO NGUYÊN VẬT LIỆU
Kho: Các kho công ty
Tên nguyên vật liệu Đơn vị
Tồn đầu kì Nhập trong kì Xuất trong kì Tồn cuối kì
SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ Công ty tháng 9 năm 2017)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 64 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.10: Báo cáo tổng hợp nhập-xuất-tồn vật liệu
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
BÁO CÁO TỔNG HỢP NHẬP-XUẤT-TỒN VẬT LIỆU
Kho: Các kho công ty
Tên NVL Đơn vị Tồn đầu kì Nhập Xuất Tồn cuối kì
SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ) SL TT (VNĐ)
Bột Đôlomit Kg 70225 17.556.769.274 5300 13.250.000 9969,3 24.923 23532 5.883.004 Bột đỏ Kg 10441,8 246.789.725 927,5 208.687.500 400 92.404 19712 435.384.821 Đạm Ninh Bình Kg 2050 16.769.714 2050 16.769.713 Đạm Ure Kg 6050 38.211.307 6050 38.211.307
Sinh viên: Hà Thị Huyền 65 Lớp: ĐHKT –K17A
HH trung, vi lƣợng Kg 104,75 48.851.144 39350 18.351.244 654 30.499.900
Lân nung chảy Kg 115 51.407 2500 61.750.000 11945 28.040.162 14205 33.761.345 S.A Kg 3335,3 119.938.650 11994 431.784.000 45285 162.935.757 108008 388.789.893
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của Công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 66 Lớp: ĐHKT –K17A
Cuối kỳ, các nguyên liệu tham gia sản xuất từ tài khoản 621 sẽ được phân loại theo loại phân bón và chuyển sang tài khoản 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm.
Bảng 2.11: Sổ chi tiết TK 621
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN
Trích tài khoản: 621-Chi phí NVL trực tiếp
STT Chứng từ Diễn giải TKĐƢ Số phát sinh
15 26 30/9 Hao hụt trong định mức 1522 15.109.405
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm 2017
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Người lập biểu (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 67 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.12: Chứng từ ghi sổ TK 6211
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
CHỨNG TỪ GHI SỔ TK 6211
Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền
Người lập (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 68 Lớp: ĐHKT –K17A
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
Trích tài khoản: 621-Chi phí NVL trực tiếp
STT Chứng từ Diễn giải TKĐƢ Số phát sinh
Số trang trước chuyển sang
15 26 30/9 Hao hụt trong định mức 1522 15.109.405
16 27 30/9 Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp 279.627.198
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm 2017
Người lập biểu (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 69 Lớp: ĐHKT –K17A
* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Tiền lương của công nhân trực tiếp được ghi nhận vào tài khoản 622 – Chi phí nhân công trực tiếp và được kết chuyển vào tài khoản 154 vào cuối kỳ để tính giá thành.
Tiền lương của công nhân sản xuất tính theo thời gian làm việc
Trường hợp nhân viên, công nhân vào làm thử việc sẽ được hưởng lương theo quyết định của Giám đốc:
- Đối với nhân viên bộ phận văn phòng thử việc được 70% mức lương chức danh đó
- Đối bộ phận sản xuất công nhân thử việc được hưởng 65% mức lương chức danh đó
- Bộ phận lái xe được hương 65% mức lương theo chức danh
- Công nhân ở bộ phận sản xuất thuê theo hợp đồng đƣợc tính theo sản phẩm
- Công nhân bốc xếp thuê ngoài khi có nhiều đơn hàng đƣợc tính theo số
- Phụ cấp tiền ăn trưa 25.000 đ/ người/ngày
- Phụ cấp cho công nhânbốc xếp tiền nước 20.000đ/người/ngày
Sinh viên: Hà Thị Huyền 70 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.14: Bảng chấm công nhân công trực tiếp sản xuất tháng 9 năm 2017
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của Công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 71 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.15: Bảng lương hàng tháng của công nhân bộ phận sản xuất
TT Chức danh Mức lương (VNĐ) Ghi chú
1 Thủ kho 5.000.000 Theo tháng dương lịch
2 Quản đốc PX1 4.500.000 Theo tháng dương lịch
3 Quản đốc PX2 4.500.000 Theo tháng dương lịch
4 Công nhân bốc hàng vào kho 4.000.000 Theo tháng dương lịch
5 Bảo vệ kho 4.000.000 Theo tháng dương lịch
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của Công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 72 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.16: Mẫu sổ chi tiết TK 622
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, TP Thanh Hóa
SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN
Trích tài khoản: 622-Chi phí nhân công trực tiếp
Chứng từ Diễn giải TKĐƢ Số phát sinh
Thanh Hóa, ngày 30 tháng 9 năm 2017
Người lập biểu (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 73 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.17: Chứng từ ghi sổ TK 622
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
Kèm theo chứng từ gốc ĐVT: Đồng Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền
Người lập biểu (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 74 Lớp: ĐHKT –K17A
Bảng 2.18: Sổ cái tài khoản 622
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
48/14 Trần Bình Trọng, phường Đông Sơn, Tp Thanh Hóa
Trích tài khoản: 622-Chi phí nhân công trực tiếp
Diễn giải TKĐƢ Số phát sinh
Số hiệu Ngày Nợ Có
NCTT vào sản phẩm NPK 10.5.10
NCTT vào sản phẩm NPK 16.6.10
NCTT vào sản phẩm NPK 828
NCTT vào sản phẩm NPK 648
NCTT vào sản phẩm NPK khác
Người lập biểu (Ký, họ tên)
Kế toán trưởng (Ký, họ tên)
(Nguồn: Phòng Kế toán tài vụ của công ty)
Sinh viên: Hà Thị Huyền 75 Lớp: ĐHKT –K17A
* Kế toán chi phí sản xuất chung
Dựa trên các chứng từ như phiếu xuất kho, hóa đơn, bảng tính khấu hao và các tài liệu liên quan, kế toán sẽ lập chứng từ ghi sổ để ghi nợ tài khoản 627 Cuối kỳ, số liệu này sẽ được kết chuyển vào tài khoản 154 để tính toán giá thành.
Chi phí sản xuất chung tại công ty được theo dõi cho toàn bộ hoạt động nhưng chưa được phân tích chi tiết Nội dung hạch toán của chi phí sản xuất chung cần được làm rõ hơn để nâng cao hiệu quả quản lý.
Công ty áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng cho tài sản cố định (TSCĐ) theo quy định tại thông tư 200/2014/TT-BTC Cuối mỗi quý, công ty lập bảng tổng hợp khấu hao TSCĐ theo từng loại tài sản và thực hiện phân bổ khấu hao, hạch toán khấu hao bằng cách ghi nợ tài khoản 6274 và ghi có tài khoản đối ứng liên quan.
Đánh giá thực trạng về kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa
Công ty quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong nhiều lĩnh vực, với ngành sản xuất phân bón và hợp chất nito là chủ yếu, có cơ cấu tổ chức hợp lý Các phòng ban chức năng hoạt động hiệu quả, cung cấp thông tin nhanh chóng cho ban lãnh đạo, giúp giám sát và điều hành mọi hoạt động của công ty Cơ cấu này tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng các trung tâm trách nhiệm.
Công ty đã thiết lập một bộ máy kế toán tập trung với cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và hiệu quả, phù hợp với đặc điểm hoạt động của mình Đội ngũ kế toán có nhiều năm kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao và am hiểu thị trường, đảm bảo công tác kế toán diễn ra thuận lợi Điều này tạo ra lợi thế cho công ty trong việc nâng cao hiệu quả công tác kế toán và quản lý kinh tế.
Công ty áp dụng hệ thống sổ kế toán và hóa đơn chứng từ theo đúng chế độ kế toán do nhà nước ban hành, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị Hệ thống này phù hợp với đặc điểm hoạt động và trình độ cán bộ kế toán của công ty, giúp ghi chép nhanh chóng, gọn gàng và đơn giản, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà quản trị và các cơ quan chức năng trong việc ra quyết định.
Thực hiện hạch toán ban đầu theo đúng chế độ kế toán quy định, đảm bảo mọi thông tin kinh tế được phản ánh đầy đủ và chính xác.
Sinh viên: Hà Thị Huyền 91 Lớp: ĐHKT –K17A hệ thống trên các hoá đơn chứng từ, cung cấp kịp thời cho công tác hạch toán kế toán của công ty
Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại chỉ rõ vai trò của kế toán tài chính, trong khi kế toán quản trị vẫn chưa được tổ chức hiệu quả Bộ phận kế toán quản trị có nhiệm vụ lập kế hoạch, dự toán và xử lý thông tin để hỗ trợ quản lý, nhưng chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức Công ty cũng chưa xây dựng các trung tâm trách nhiệm và áp dụng kế toán trách nhiệm vào hoạt động thực tế.
Việc phân loại chi phí theo khoản mục chỉ cung cấp thông tin cho kế toán tài chính, nhưng không phân biệt được giữa biến phí và định phí Trong khi đó, kế toán quản trị cần một phương pháp phân loại khác để làm rõ hơn từng loại chi phí.
Việc phân loại chi phí theo từng hoạt động không phải là phương pháp tối ưu để xác định giá thành, vì mỗi sản phẩm tiêu tốn một lượng chi phí khác nhau.
Công ty sử dụng phương pháp tính giá thành trực tiếp, kết hợp biến phí và định phí để tính toán Tuy nhiên, cách làm này gây ra khó khăn trong việc quản lý chi phí.
Công ty cổ phần Thành Nông Thanh Hóa xác định giá bán sản phẩm dựa trên giá thị trường, do đó, sự biến động giá cả sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty Điều này dẫn đến việc lợi nhuận không ổn định và có khả năng xảy ra lỗ.
- Công ty đã có kế hoạch lập định mức và dự toán sản xuất kinh doanh nhƣng trên thực tế chƣa đƣợc áp dụng để thực hiện
Sinh viên: Hà Thị Huyền 92 Lớp: ĐHKT –K17A