1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

94 8 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Một Số Kế Hoạch Tổ Chức Hoạt Động Học Có Chủ Đích Hình Thành Các Biểu Tượng Về Số Lượng Cho Trẻ Mẫu Giáo
Tác giả Tống Thị Giang
Người hướng dẫn Th.S Doãn Đăng Thanh
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Giáo Dục Mầm Non
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 609 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nhu cầu so sánh số lượng giữa 2 tập hợp xuất hiện, cách bố trí nàytheo hàng cùng với biện pháp đặt chồng hay đặt kề mỗi phần tử của tập hợp nàyvới một phần tử của tập hợp kia đã giúp

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON

THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

XÂY DỰNG MỘT SỐ KẾ HOẠCH TỔ CHỨC

HOẠT ĐỘNG HỌC CÓ CHỦ ĐÍCH HÌNH THÀNH

CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẪU GIÁO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON

Sinh viên thực hiện: Tống Thị Giang MSSV: 1569010110

Lớp: K18C - GDMN Giảng viên hướng dẫn: Th.S Doãn Đăng Thanh

THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện tại trường Đại Học Hồng Đức

Có được kết quả này, trước tiên em xin được tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáoDoãn Đăng Thanh, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận

tốt nghiệp với đề tài “Xây dựng một số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo”.

Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non,thư viện Trường Đại Học Hồng Đức đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thànhkhóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp đỡ em trong quátrình làm khóa luận của em

Trong khuôn khổ, thời gian cho phép và vốn kiến thức có hạn, chắc chắn khóaluận của em không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được sự góp ýcủa quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Tống Thị Giang

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Ký hiệu, chữ viết tắt Được hiểu là

MỤC LỤC

Trang 5

4 Cấu trúc chung của kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích

hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

Trang 6

VỀ SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẪU GIÁO

1 Một số hoạt động bổ trợ quá trình hình thành các biểu tượng về số

lượng cho trẻ mẫu giáo

31

2 Một số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đich hình thành các

biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

Trang 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, chính vì vậy trẻ em cần phảiđược chăm sóc, giáo dục thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non Ở trườngmầm non, ngoài việc hướng dẫn cho trẻ vui chơi, ăn , ngủ, giáo dục trẻ trở thànhnhững đứa trẻ lễ phép ngoan ngoãn thì cần phải trang bị cho trẻ những kiến thứcban đầu thông qua các môn học như : Làm quen với môi trường xung quanh, làmquen với tạo hình, môn văn học, chữ cái, thể dục, âm nhạc, làm quen với các biểutượng toán sơ đẳng thông qua việc tổ chức các hoạt động nhận thức, trẻ được họcbằng chơi, chơi mà học Từ đó hình thành nên nhân cách của trẻ và cũng từ đó trẻđược tiếp cận với những tri thức khoa học từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó.Thông qua các môn học cho trẻ phát triển một cách toàn diện về các mặt như: đức– trí – thể - mĩ – lao động

Trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, môn học làm quenvới các biểu tượng toán sơ đẳng ở lớp mẫu giáo lớn đóng vai trò quan trọng trongviệc cung cấp những kiến thức ban đầu nhằm giúp trẻ làm quen với thế giới xungquanh và chuẩn bị cho trẻ vào trường tiểu học Nếu ngay từ khi học mầm non trẻ

đã nắm vững các biểu tượng đơn giản về số lượng, kích thước, hình dạng, địnhhướng không gian, v v thì sau này trẻ sẽ vững vàng, tự tin khi tiếp cận nhữngkiến thức của môn toán học ở lớp một và trẻ sẽ tự tin bước vào cuộc sống Đối vớitrẻ em lứa tuổi mầm non, việc hình thành biểu tượng toán học đặc biệt là hìnhthành biểu tượng về số lượng cho trẻ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việcphát triển trí tuệ của trẻ và chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phổ thông, giúp trẻxác định chính xác số lượng của sự vật, hiện tượng xung quanh, là một nội dunggiáo dục đặc trưng bởi tính chính xác, logic chặt chẽ Vì vậy nó hình thành kĩ năngnhận biết, khả năng tư duy đúng cho trẻ Tuy nhiên việc hình thành biểu tượng về

số lượng cho trẻ rất khó và khô khan Đây là một hoạt động hết sức quan trọng vìvậy khi tổ chức cho trẻ hoạt động giáo viên cần chuẩn bị giáo án, kế hoạch cụthể… giúp cho trẻ tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng, trẻ có thể nhớ lâu khắc sâukiến thức liên quan đến số lượng

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên em đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng một

số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số

Trang 8

lượng cho trẻ mẫu giáo” làm hướng nghiên cứu chính nhằm góp phần nhỏ bé vào

quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và hình thành các biểu tượng toán banđầu cho trẻ mầm non nói riêng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểutượng về số lượng cho trẻ mầm non

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ sở lí luận dạy toán cho trẻ mầm non có liên quantrực tiếp đến đề tài

- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống bài học nhằm luyện tập và phát triển các biểutượng về số lượng cho trẻ mầm non

- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá kết quả nhận thức, tiếp thu các biểu tượng

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu những tài liệu liên quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp, hệ thốnghóa kiến thức để xây dựng cơ sở khoa học của đề tài

5.2.Phương pháp quan sát

Tiến hành quan sát các hoạt động học có chủ đích nhằm luyện tập các biểutượng về số lượng và phát triển tư duy toán học cho trẻ mầm non tại một số trườngmầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

5.3.Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn một số giáo viên sư phạm và giáo viên mầm non nhằm thu thậpthông tin bổ sung cho các kết quả nghiên cứu

Trang 9

PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ

1 Đặc điểm nhận thức các biểu tượng về số lượng của trẻ mẫu giáo

1.1 Trẻ 3-4 tuổi

- Ở độ tuổi này trẻ có khả năng nhận biết về tập hợp như một thể thống nhất vàtrọn vẹn, song trẻ chưa hình dung rõ ràng tất cả các phần tử của tập hợp và cũngchưa biết rõ từng phần tử của tập hợp

- Nhu cầu so sánh số lượng giữa các nhóm vật ở trẻ bắt đầu nảy sinh Lúc nàyviệc phân biệt số lượng nhiều, ít giữa các nhóm vật dựa vào cảm tính, trực quan vìvậy việc nhận biết và so sánh số nhiều ở trẻ còn bị ảnh hưởng bởi sự tác động củamột số yếu tố bên ngoài như màu sắc, kích thước, sự phân bố trong không gian

- Khi bắt đầu nhận biết giới hạn của số nhiều thì các cháu lại nảy sinh nhu cầulựa chọn “số nhiều” theo các dấu hiệu bên ngoài: Màu sắc, kích thước, hình dạng

- Kích thước các vật và sự bố trí trong không gian cũng ảnh hưởng tới việc so sánh số nhiều ở trẻ

- Sự sắp xếp các tập hợp dưới dạng hình mẫu khép kín (hình vuông, hình tròn)giúp trẻ thu nhận số nhiều như một thể trọn vẹn thuận lợi hơn nhưng lại khó khăncho trẻ khi phân biệt các phần tử, còn việc bố trí theo hàng dọc hay hàng ngang cáctập hợp sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ thu thập số lượng và thấy rõ từng phần tử củatập hợp Khi nhu cầu so sánh số lượng giữa 2 tập hợp xuất hiện, cách bố trí này(theo hàng) cùng với biện pháp đặt chồng hay đặt kề mỗi phần tử của tập hợp nàyvới một phần tử của tập hợp kia đã giúp trẻ thấy được sự bằng nhau, xác định sựnhiều hơn, ít hơn, biết chỉ ra phần tử thừa hay chỗ còn thiếu trong mỗi tập hợp.Không sử dụng số từ song trẻ có thể dung các từ “bằng nhau”, “nhiều hơn”, “íthơn” để chỉ mối quan hệ giữa 2 tập hợp

- Trẻ 3-4 tuổi chưa biết đếm song khi tập hợp trẻ đã biết gắn mỗi động tác, mỗivật với một từ giống nhau “này, này, này…” hay “nữa, nữa, nữa…” Đó là cơ sởcủa hoạt động đếm sau này Động tác tay chưa thành thạo nên trẻ thường có thóiquen xếp bằng 2 tay, xếp từ giữa ra Đối với việc các tập hợp xếp theo hình mẫu

Trang 10

khép kín thì nếu dùng tay phải trẻ sẽ xếp từ phía dưới bên phải ngược chiều kimđồng hồ, nếu dùng tay trái trẻ sẽ xếp từ góc trái phía dưới theo chiều kim đồng hồ.

Vì vậy cần phải dạy trẻ 3-4 tuổi biết thu nhận tập hợp là một thể thống nhất trọnvẹn bao gồm các phần tử có một dấu hiệu chung, phân biệt rõ ràng từng phần tửcủa tập hợp, biết ghép các phần tử thành một tập hợp và ngược lại biết tách tập hợpthành từng phần tử riêng rẽ để hiểu được quan hệ “một – nhiều” Nhận biết được

sự khác biệt rõ nét về số lượng giữa 2 tập hợp bằng cảm tính Trước khi dạy trẻ vềcon số, dạy trẻ so sánh các tập hợp cụ thể để thấy được sự bằng nhau hay khôngbằng nhau giữa các tập hợp bằng cách ghép đôi Tập cho trẻ làm quen và hiểu ýnghĩa để sử dụng được các từ, “nhiều, ít, một, bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn, baonhiêu, bấy nhiêu” về số lượng

1.2 Trẻ 4-5 tuổi

- Trẻ 4-5 tuổi hiểu tập hợp không phải chỉ là một thể thống nhất trọn vẹn cómột dấu hiệu mà có thể gồm nhiều phần, mỗi phần có những dấu hiệu riêng khácnhau và số lượng có thể không bằng nhau Trẻ đã có khả năng phân tích rõ ràngtừng phần tử của tập hợp, đánh giá độ lớn các tập hợp theo số lượng các phần tử

Vì vậy, sự ảnh hưởng của các dấu hiệu bên ngoài như mầu sắc, hình dạng, kíchthước, sự phân bố trong không gian đến việc tiếp thu số nhiều đã giảm

- Trẻ có khả năng so sánh số lượng giữa 2 nhóm đồ vật (có độ chênh lệch ít về

số lượng) bằng cách thiết lập tương ứng 1-1 giữa các đối tượng của 2 nhóm đồ màkhông cần đếm Trên cơ sở đó trẻ hiểu được 2 tập hợp có thể bằng nhau hoặckhông bằng nhau về số lượng

- Trẻ 4-5 tuổi có khả năng đếm song chưa biết đếm, thể hiện trẻ đã biết gắn mỗi

số tự nhiên (bắt đầu từ số 1) với một số vật nhưng lại không nêu được kết quả củaphép đếm

- Khi được dạy học đếm trẻ biết tách số từ cuối cùng ra khỏi quá trình đếm vàhiểu rằng số cuối cùng là chỉ số lượng phần tử của tập hợp Đó là kết quả của phépđếm Trẻ gọi số lượng các phần tử của tập hợp bằng số và hiểu rằng mỗi tập hợp cómột số lượng cụ thể, các tập hợp có số lượng bằng nhau bao giờ cũng được đặctrưng bằng một số như nhau, các tập hợp có số lượng không bằng nhau được đặc

Trang 11

trưng bởi các số khác nhau Trên cơ sở đó trẻ có thể so sánh số lượng phần tử của 2tập hợp bằng kết quả của phép đếm Vì vậy cô giáo cần dạy trẻ hiểu tập hợp là mộtthể thống nhất có thể gồm các thành phần với các dấu hiệu khác nhau Biết so sánhcác phần với nhau để xác định xem chúng bằng nhau hay không bằng nhau màkhông cần phải đếm Trên cơ sở biết so sánh 2 tập hợp hơn kém 1 phần tử bằngthiết lập tương ứng 1-1, dạy trẻ biết đếm trong phạm vi 5, biết trả lời câu hỏi “cóbao nhiêu” hiểu và diễn đạt được các kết quả đã làm bằng lời nói cụ thể Dạy trẻhiểu ý nghĩa của số: số dùng để chỉ độ lớn của tập hợp, các tập hợp có số lượngbằng nhau được đặc trưng bởi cùng một số, các tập hợp có số lượng khác nhauđược đặc trưng bởi các số khác nhau Qua đó cho trẻ thấy số lượng không phụthuộc vào tính chất và cách sắp xếp của vật trong không gian; dạy trẻ biết tạo ramột tập hợp theo mẫu hoặc là theo một số cho trước.

1.3 Trẻ 5-6 tuổi

- Trẻ 5-6 tuổi có khả năng phân tích thành từng phần tử của tập hợp tốt hơn, trẻhiểu được tập hợp không phải chỉ là các vật riêng rẽ mà có thể gồm từng nhóm một

số vật Trên cơ sở đó trẻ có thể hình dung được phần tử của tập hợp không phải chỉ

là từng vật riêng lẻ mà có thể là từng nhóm gồm một số vật Xu hướng đánh giá tậphợp về mặt số lượng tốt hơn, không còn chịu ảnh hưởng các yếu tố bên ngoài haysắp xếp trong không gian

- Trẻ có khả năng đếm thành thạo trong phạm vi 10, nắm vững thứ tự gọi têncác số Trẻ hiểu được 2 ý nghĩa của số: chỉ số lượng và chỉ thứ tự Đồng thời trẻ cókhả năng “gọi tên chung” cho các tập hợp có số lượng bằng nhau trong phạm vi 10bằng các số đếm từ một đến mười và nhận biết các chữ số đó Trẻ còn nắm đượcthứ tự chặt chẽ giữa các số của dãy số tự nhiên từ 1 đến 10, thấy được mối quan hệgiữa chúng với nhau Trẻ còn có khả năng đếm các tập hợp với các đơn vị khácnhau, hiểu được thành phần của số từ các đơn vị, nghĩa là các cháu hiểu rằng đơn

vị của số có thể là một nhóm vật chứ không nhất thiết là từng vật riêng lẻ

- Động tác tay hoàn thiện hơn, trẻ có khả năng cầm nắm các vật bằng các đầungón tay Ngôn ngữ phát triển, vốn từ tăng giúp trẻ có khả năng hiểu, trả lời đượccác câu hỏi: “bao nhiêu? Thứ mấy? cái gì? Và diễn tả được kết quả các việc mình

Trang 12

đã làm Trẻ có khả năng giải các bài toán đơn giản trên các tập hợp cụ thể.

2 Nội dung chương trình hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

- Biết đếm đối tượng trên phạm vi 10 và đếm theo khả năng

- Nhận biết chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 5

- Gộp hai nhóm đối tượng và đếm

- Tách một nhóm đối tượng thành các nhóm nhỏ

2.3 Trẻ 5-6 tuổi

Phát triển và mở rộng biểu tượng về tập hợp và thành phần tập hợp cho trẻ, dạytrẻ tìm và tạo thành nhóm đối tượng có đặc điểm hay dấu hiệu nào đó như: màusắc, hình dạng, kích thước, dạy trẻ phân loại theo 1 – 2 đối tượng cho trước

Củng cố và phát triển kĩ năng so sánh số lượng các nhóm đối tượng bằng cáchxếp tương ứng 1 : 1 để so sánh số lượng các nhóm đối tượng mà không cần đếnphép đếm Trên cơ sở đó dạy trẻ nhận biết và phản ánh bằng lời nói mối quan hệ sốlượng giữa hai nhóm đối tượng như: bằng nhau – không bằng nhau, nhiều hơn – íthơn về số lượng

- Dạy trẻ đếm và nhận biết số lượng các nhóm vật, các âm thanh, các chuyểnđộng bằng các giác quan khác nhau như: thị giác, thính giác, xúc giác…nhằm phânbiệt, so sánh và xác định số lượng của các tập hợp có số phần tử trong phạm vi 10

- Dạy trẻ tìm và tạo các nhóm vật có số lượng nhất định trong môi trường xungquanh theo mẫu và theo con số cho trước

- Dạy trẻ đếm theo thứ tự đến 10 và đếm theo khả năng, nhận biết số chỉ sốlượng và số chỉ thứ tự từ 1 đến 10

- Dạy trẻ gộp 2 nhóm đối tượng và đếm

Trang 13

- Dạy trẻ tách 1 nhóm đối tượng thành 2 nhóm nhỏ hơn

3 Phương pháp hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

3.1 Trẻ 3-4 tuổi

Một nhiệm vụ quan trọng khi dạy trẻ ở phần tập hợp là cho trẻ làm quen vớicác tập hợp các vật, phát triển biểu tượng số lượng trên cơ sở so sánh, phân biệt vàxác định sự bằng nhau, không bằng nhau giữa hai tập hợp Để đạt được mục đíchtrên, trong khi trẻ chưa biết đếm và chưa có khái niệm về số, ta cần giúp trẻ biếtvận dụng biện pháp thiết lập mối quan hệ tương ứng 1-1 giữa các phần tử của haitập hợp

Đối với trẻ mẫu giáo ta thường sử dụng hai cách ghép đôi sau:

+ Cách I: Xếp tất cả các đối tượng của nhóm I thành hàng ngang (hoặc theo

hình mẫu khép kín) sau đó ghép mỗi đối tượng của nhóm II với một đối tượng củanhóm I

+ Cách II: Ghép lần lượt từng đối tượng của nhóm I với từng đối tượng của

nhóm II cho đến hết

Ở mỗi cách ghép ta có thể sử dụng một trong hai biện pháp xếp chồng hoặc xếp kề

*Biện pháp xếp chồng: Đây là biện pháp đơn giản nhất Có thể tiến hành như sau:

- Dạy trẻ phân biệt tay trái, tay phải để biết cách xác định hướng từ trái sang phải

- Dạy trẻ xếp các vật của nhóm I thành hàng ngang theo hướng từ trái sang phải

- Dạy trẻ xếp lên trên mỗi đối tượng của nhóm I một đối tượng của nhóm II

- Sau khi xếp xong yêu cầu trẻ kiểm tra xem các phần tử đã chồng khít lên nhauchưa, có phần tử nào còn dư thừa không Nếu cả 2 nhóm không có phần tử nàothừa ta dạy trẻ biết sử dụng thuật ngữ “bao nhiêu”, “bấy nhiêu”

Biện pháp này có ưu thế là giúp trẻ kiểm tra chính xác sự bằng nhau hay khôngbằng nhau của 2 tập hợp

*Biện pháp xếp kề: Nhằm mục đích liên hệ phần tử của tập hợp này với phần tử

của tập hợp kia nhưng mức độ khó hơn Trẻ phải tự phân biệt được từng phần tử vàchú ý khoảng cách để trống giữa từng phần tử trong nhóm I

Ở lớp mẫu giáo bé, nhiệm vụ của giáo viên khi dạy trẻ các biểu tượng về sốlượng và tập hợp là dạy trẻ biết quan sát, phát hiện những dấu hiệu nổi bật, rõ nét ở

Trang 14

đối tượng và chọn hết những đối tượng có dấu hiệu đó để tạo thành nhóm đồ vật,biết tạo nên tập hợp từ các vật riêng rẽ, tìm ra dấu hiệu chung của một nhóm đồvật Dạy trẻ biết ghép đôi mỗi đối tượng của nhóm này với một đối tượng củanhóm kia và dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về số lượng giữa 2 nhóm đồ vật,

sử dụng đúng các từ, diễn đạt mối quan hệ số lượng: nhiều, một, nhiều hơn, ít hơn,bằng nhau

Để hoàn thành nhiệm vụ trên ta tiến hành dạy trẻ dưới 2 hình thức:

 Dạy trên giờ học:

 Dạy trẻ tạo nhóm đồ vật:

- Dạy trẻ tạo nhóm đồ vật từ các vật riêng rẽ và tách 1 vật từ nhóm:

Trong các giờ học đầu ta cho trẻ biết rằng toàn bộ một tập hợp được tạo nên từcác vật riêng biệt và mỗi tập hợp cũng có thể phân tách thành các vật riêng rẽ Nhờ

đó trẻ làm quen với cách biểu thị “một, nhiều, không phải một, chỉ có một,…” Cóthể tiến hành như sau:

+ Cô đưa ra một hộp đựng rất nhiều đồ chơi (cùng loại) cho trẻ nhận xét: “Hộp

có rất nhiều đồ chơi”

+ Sau đó cô cho mỗi cháu lên lấy một đồ chơi (hộp hết đồ chơi), cho trẻ nhậnxét: “Mỗi cháu có một đồ chơi, hộp không còn đồ chơi nào” (hình thành biểutượng một)

+ Cô cho trẻ tập trung tất cả đồ chơi vào hộp rồi cho trẻ nhận xét: “Mỗi cháu đã

bỏ một đồ chơi vào hộp, hộp có nhiều đồ chơi, cháu không còn đồ chơi nào” (hìnhthành các biểu tượng nhiều)

+ Lần sau cô có thể gọi 3-4 cháu lên bàn cho mỗi cháu chọn 1 đồ chơi rồi cho

cả lớp nhận xét để thấy: Mỗi bạn trên bàn có một đồ chơi, trong hộp có nhiều đồchơi, các bạn ở dưới không có đồ chơi nào

Khi dạy trẻ tạo nhóm từ các vật riêng rẽ, cô chú ý cho trẻ nhấn mạnh vào các từ

“Chỉ có một, không phải một, nhiều”

- Dạy trẻ tạo nhóm đồ vật theo dấu hiệu cho trước: Cô phát cho mỗi trẻ một rổđựng các nhóm đồ chơi và các dấu hiệu khác nhau, cho trẻ quan sát sau đó yêu cầutrẻ chọn trong rổ đồ chơi tất cả các đối tượng có dấu hiệu nào đó

Trang 15

+ Khi dạy trẻ tạo nhóm theo dấu hiệu cô cần chú ý giúp trẻ khi trả lời, sử dụngđúng các từ mô tả, gợi ý tập hợp: “Chọn hết, chọn tất cả, chỉ toàn là,…”.

Trong những tiết đầu dấu hiệu để tạo nhóm đồ vật thường là đồng nhất về màusắc, hình dạng, chủng loại Trong các bài luyện tập chỉ cần chỉ ra cho trẻ thấy: Cóthể tạo nên một tập hợp bất kì từ các vật riêng rẽ đồng thời cho trẻ thấy tập hợpkhông phải là một thể thống nhất, trọn vẹn mà có thể gồm nhiều phần, mỗi phần cóthể khác nhau về hình dạng, màu sắc, số lượng Khi trẻ biết ghép đôi ta có thể chotrẻ so sánh xem nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn

Ví dụ: Cô đưa 1 khay đựng các khối gỗ xanh và đỏ số khối gỗ = số trẻ, cho trẻ

quan sát, giúp trẻ nhận xét được: “Trong khay có nhiều khối gỗ, gồm 2 màu xanh

và đỏ”

Cô cho mỗi cháu chọn 1 khối gỗ rồi đặt câu hỏi để trẻ trả lời được: “Mỗi cháu

có một khối gỗ, trong tay không còn khối gỗ nào” Cô tiếp tục hỏi “cả lớp đoánxem số khối gỗ màu xanh nhiều hơn hay màu đỏ nhiều hơn?” Sau đó cô yêu cầu

“Mỗi cháu có khối gỗ màu xanh nắm tay một bạn có khối gỗ màu đỏ” Khi đó cònthừa một số bạn có khối gỗ màu đỏ, cô cho trẻ quan sát và nhận xét: “Số khối gỗmàu đỏ nhiều hơn” Cô cho trẻ kiểm tra lại bảng bằng cách: các bạn có khối gỗmàu đỏ xếp thành hàng ngang trước, các bạn có khối gỗ màu xanh xếp kề phíadưới

Màu đỏ

Màu xanh

Sau khi trẻ xếp xong cô cho trẻ quan sát kết quả và kết luận: Cô có rất nhiềukhối gỗ gồm 2 màu xanh và đỏ Cứ xếp mỗi khối gỗ màu xanh với khối gỗ màu đỏthì có một số khối gỗ đỏ thừa ra Số các khối gỗ đỏ nhiều hơn các khối gỗ xanh.Như vậy thực chất của phần này là ta cho trẻ thấy mối quan hệ giữa các phần

tử, các tính chất của phần tử và tập hợp

- Dạy trẻ tìm 1 vật và nhiều vật trong môi trường xung quanh:

Nội dung các bài tập này là dạy trẻ tìm trong môi trường xung quanh hay tự tạo

Trang 16

ra các nhóm có nhiều vật hoặc chỉ có 1 vật đơn lẻ Lúc đầu trẻ thường dễ tìm ra cácnhóm có 1 vật và khó tìm ra các nhóm có nhiều vật, vì vậy:

+ Ban đầu cô hướng dẫn trẻ phân chia khu vực quan sát thành từng phần

+ Sau đó hướng dẫn trẻ đặt các tập hợp có sẵn vào các vị trí theo yêu cầu của cô.+ Các bài tập sau sẽ phức tạp hơn, đòi hỏi trẻ phải tập trung suy nghĩ, tổng hợptrong óc các phần tử giống nhau vào 1 tập hợp

 Dạy trẻ ghép đôi (xếp tương ứng 1-1) từng đối tượng của 2 nhóm đồ vật.

Nhiệm vụ của giờ học này bao gồm:

- Dạy trẻ phân biệt tay phải, tay trái, chiều chuyển động của tay từ trái sang phải

- Dạy trẻ biết ghép mỗi đối tượng của nhóm này, với một đối tượng của nhómkia theo hướng từ trái sang phải

- Dạy trẻ biết diễn đạt các từ “bao nhiêu…bấy nhiêu” hoặc “mỗi…với một” khi

mô tả kết quả đã làm được

Vì vậy trong các giờ dậy ở mẫu giáo bé cô giáo phải cho trẻ xem mẫu (hoặclàm mẫu) sau đó kết hợp phân tích hướng dẫn trẻ thực hiện từng nhiệm vụ theotrình tự:

Xác định đối tượng của nhóm I, xếp tất cả các đối tượng của nhóm I thành hàngngang theo hướng từ trái sang phải

Xác định đối tượng của nhóm I, xếp lần lượt mỗi đối tượng của nhóm II bêncạnh (hoặc lên trên) một đối tượng của nhóm I theo hướng từ trái sang phải chođến hết

Ví dụ: Ghép đôi các nhóm hình vuông với nhóm các hình tam giác để tạo thành

những cái nhà, cô hướng dẫn theo các bước:

+ Chọn tất cả các hình vuông lên tay

+ Xếp các hình vuông thành hàng ngang từ trái sang phải

+ Chọn tất cả các hình tam giác lên tay

+ Xếp một tam giác lên trên một hình vuông để thành cái nhà Khi trẻ xếp côgợi ý để trẻ vừa xếp vừa nói “mỗi…với một” nhằm giúp trẻ khắc sâu bản chất củaviệc ghép đôi Sau khi hoàn thành bài tập cô cho trẻ trả lời để giúp trẻ phát triểnngôn ngữ

Trang 17

Ví dụ: Sau khi xếp các chấm tròn với các quả cam, trẻ phải trả lời được: “Cháu

đã xếp mỗi chấm tròn với một quả cam” hoặc “ Có bao nhiêu quả cam cháu đãxếp bấy nhiêu chấm tròn”

Những bài tập sau ta có thể thay đổi đồ chơi cho trẻ sử dụng biện pháp xếp

kề với số lượng đối tượng nhóm II nhiều hơn nhóm I và hoàn thành bài chỉ bằnglời hướng dẫn của giáo viên, không cần hành động mẫu Qua đó cho trẻ hiểu được:

Số lượng không phụ thuộc vào tính chất của vật thể, số lượng của các nhóm vậtkhác nhau có thể bằng hoặc không bằng nhau

 Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về số lượng các đối tượng giữa 2 nhóm

Ví dụ: Cô cho trẻ chơi kéo co (Nhóm I: 5 bạn, nhóm II: 3 bạn) Qua vài lần

chơi, ở các vị trí khác nhau bao giờ nhóm I cũng thắng nhóm II, trẻ nhận thấy kếtquả đó có được là do nhóm I nhiều bạn hơn nhóm II

Sau khi trẻ phát hiện ra nhóm nào nhiều hơn hoặc ít hơn qua hoạt động thựctiễn, cô kiểm tra lại kết quả bằng cách so sánh số lượng giữa 2 nhóm nhờ biện phápxếp tương ứng 1-1 để trẻ nhìn thấy kết quả cụ thể Kiểm tra lại kết quả là nhiệm vụcủa cô không bắt buộc phải dạy trẻ kĩ năng này và không bắt buộc trẻ giải thích kếtquả Nhưng cô giáo cần lưu ý khi giới thiệu để trẻ nhận ra sự khác biệt một cách rõràng qua đồ dùng trực quan bằng việc xếp tương ứng 1-1, cô cần chỉ cho trẻ thấyphần thừa của nhóm nhiều hơn hoặc phần còn thiếu của nhóm ít hơn Trên cơ sở

đó trẻ hiểu được ý nghĩa của từ “nhiều hơn”, “ít hơn”

Ví dụ: Cho trẻ lấy thìa và cốc cho búp bê, sau khi làm xong trẻ thấy: Mỗi búp

bê được một cốc nhưng có một búp bê không có thìa Nhờ cô giáo hướng dẫn trẻ

Trang 18

nhận ra được kết quả “số cốc nhiều hơn số thìa hoặc số thìa ít hơn số cốc” Nhưvậy nếu trong bài “dạy trẻ cách ghép đôi” việc dạy trẻ biết ghép mỗi đối tượng củanhóm này với một đối tượng của nhóm kia là nhiệm vụ cung cấp tri thức mới chotrẻ thì trong bài “dạy trẻ so sánh để nhận ra sự khác biệt số lượng giữa 2 nhóm”việc ghép đôi (ghép tương ứng 1-1) là phương tiện giúp trẻ kiểm tra và khẳng địnhkết quả tìm được bằng trực giác.

 Dạy trẻ cảm thụ các tập hợp bằng các giác quan khác nhau

Ta biết rằng các tập hợp xung quanh trẻ rất đa dạng và phong phú, chúng rấtkhác nhau về bản chất: có tập hợp gồm các vật giống hệt nhau, có tập hợp gồm cácvật riêng rẽ và có tập hợp là những âm thanh động tác,… Vì vậy tất cả các tập hợpnày được trẻ thu nhận bằng những giác quan khác nhau của mình: Mắt nhìn,tainghe, cơ bắp vận động… Việc lặp lại các cảm giác giống nhau, cảm thụ bằng cácgiác quan là cơ sở để hình thành các biểu tượng về tập hợp Việc luyện cho trẻ cảmthụ các tập hợp bằng các giác quan đã tạo điều kiện thiết lập mối quan hệ giữa cácgiác quan với nhau

Ví dụ:

+ Khi cô yêu cầu “hãy chọn tất cả các màu đỏ đặt lên sàn” thì trẻ phải kết hợptai nghe, cơ bắp vận động để chọn đúng tập hợp cô yêu cầu

+ Hãy nghe xem cô gõ bao nhiêu tiếng?

Một hay nhiều? Trẻ phải dùng thính giác

+ Hoặc bài tập khó hơn: “nghe cô gõ một tiếng, cháu lấy một đồ chơi đặt rabàn” Trẻ phải dùng tai nghe, tay đặt đồ chơi đồng thời phải biết thiết lập mốitương quan 1-1 giữa số tiếng gõ và số đồ chơi (chỉ gõ 3 lần) Sau khi thực hiệnxong cô có thể hỏi trẻ: “cháu đã lấy được bao nhiêu đồ chơi?” và giúp trẻ hiểu diễnđạt được nội dung: “cô gõ bao nhiêu tiếng thì cháu lấy bấy nhiêu đồ chơi”

Có thể cho trẻ làm thêm các bài tập khó hơn: “cháu xem có bao nhiêu búp bêthì mang bấy nhiêu củ cà rốt”, “nghe xem có bao nhiêu tiếng gõ thì cháu gõ bấynhiêu lần”, “nhìn xem trên bàn có bao nhiêu đồ chơi thì cháu gõ bấy nhiêutiếng”… (không quá 3 lần)

Qua các bài tập như vậy, cô giáo giúp trẻ hình thành mối tương quan 1-1 giữa

Trang 19

số lượng tiếng kêu với số lượng đồ chơi, số lượng động tác Đó là cơ sở đầu tiên đểsau này để chúng ta dạy trẻ tập đếm.

Như vậy ở trẻ 3-4 tuổi các cháu đã nắm vững cách tạo các tập hợp theo các dấuhiệu, nắm được cách so sánh số lượng hai tập hợp bằng xếp chồng, xếp kề Nhờcác biện pháp đó các cháu hiểu được các quan hệ toán học “Nhiều hơn”; “ít hơn”;

“bằng nhau”, nhìn thấy cái chung và những cái khác nhau của vật theo dấu hiệuphân chia

 Dạy trẻ ngoài giờ:

Trước khi dạy trẻ tạo nhóm đồ vật theo dấu hiệu cô cần cung cấp cho trẻ một

số kiến thức khả năng nhận màu, nhận hình, nhận dạng các nhóm đồ dùng , đồ chơitrong lớp học Ngoài các giờ học toán trong các hoạt động hoặc trong các giờ họckhác cô nên cho trẻ được gọi tên các nhóm đồ vật có sẵn trong môi trường xungquanh trẻ, cho trẻ tự tạo nên các nhóm đồ vật Sau đó cô gợi ý để trẻ tự tìm ra dấuhiệu chung của nhóm và có thể cả dấu hiệu của các nhóm thành phần tạo nên nhóm lớn Ngoài việc luyện kĩ năng ghép đôi bằng xếp kề và xếp chồng đã dậy tronggiờ học, cô cho trẻ làm quen với việc ghép theo cặp bằng cách cứ lấy lần lượt từngđối tượng của nhóm này ghép với đối tượng của nhóm kia cho đến hết Qua cáchoạt động này giúp trẻ hiểu được ý nghĩa: Số lượng không phụ thuộc vào các dấuhiệu không cơ bản như hình dạng, kích thước, màu sắc, chủng loại Từ việc cho trẻ

so sánh các tập hợp bằng nhau, cô giáo cho trẻ so sánh các tập hợp không bằngnhau về số lượng giúp trẻ hiểu và diễn đạt được các mối quan hệ khi so sánh:

- Hai tập hợp bằng nhau, trẻ diễn đạt được “mỗi…với một” hoặc ‘có bao nhiêu

… thì có bấy nhiêu…” Ví dụ “có bao nhiêu chấm tròn thì có bấy nhiêu ngôi sao”

- Hai tập hợp không bằng nhau, “trẻ biết diễn đạt” “nhiều hơn vì có phần thừara” hoặc “ít hơn vì còn thiếu hay không đủ”

Từ việc so sánh đó cô có thể hướng dẫn trẻ thay đổi số lượng để tạo thành mốiquan hệ mới

Ví dụ: Số thỏ nhiều hơn số cà rốt, cô yêu cầu trẻ: “hãy cất những chú thỏ

thừa vào rổ, bây giờ số thỏ và số cà rốt như thế nào?” Hoặc khi số ô bằng số mèo

cô yêu cầu trẻ: “hãy đặt thêm một chú mèo nữa Bây giờ cái gì nhiều hơn, cái gì ít

Trang 20

Ở lớp 3- 4 tuổi trẻ chỉ so sánh 2 tập hợp bằng trực giác để nhận ra sự khác biệt

rõ nét về số lượng, cô giáo kiểm tra lại bằng ghép tương ứng 1-1 để trẻ nhận rõ hơnkết quả Ở trẻ 4- 5 tuổi việc ghép tương ứng 1-1 đã trở thành kiến thức, kỹ năng cósẵn

Lúc này trẻ sử dụng cách ghép tương ứng 1-1 làm phương tiện để so sánh,nhận biết mối quan hệ hơn, kém về số lượng các phần tử giữa 2 tập hợp

Đối với trẻ 4-5 tuổi, có thể sử dụng cả 2 cách xếp trên nhưng trong giờ học côgiáo nên sử dụng cách ghép 1 để trẻ có hình ảnh rõ ràng khi so sánh số lượng phần

Trong giờ dạy trẻ so sánh nhận biết sự giống nhau về số lượng giữa hai nhóm,

cô chú ý cho trẻ được luyện tập kỹ năng theo ghép tương ứng 1-1 Ban đầu cho trẻxếp các đối tượng theo hàng ngang (hoặc hàng dọc) sau đó có thể cho trẻ ghép theocặp bằng cách:

Trang 21

- Xếp tất cả các đối tượng của nhóm I ra trước sau đó ghép mỗi đối tượng củanhóm II với đối tượng của nhóm I.

- Xếp mỗi đối tượng của nhóm I với một đối tượng của nhóm II cho đến hết.Ghép theo một quy ước nào đó: Chẳng hạn nối hai đối tượng thành một đường

để tạo thành cặp

O O

Sau khi dạy trẻ biết ghép đôi để trẻ nhận ra mối quan hệ bằng nhau về số lượng,giữa hai nhóm cô luyện cho trẻ biết diễn đạt đúng mối quan hệ này bằng lời và cóthể dạy trẻ giải thích được mối quan hệ này

Ví dụ: Sau khi ghép xong trẻ trả lời được: “Số lượng các hình tròn bằng số

lượng các hình tam giác” hoặc “có bao nhiêu hình tròn thì có bấy nhiêu hình tam giác” Cao hơn, trẻ giải thích được: Hai nhóm này nhiều bằng nhau vì không nhómnào có phần tử thừa ra hay cứ mỗi hình tròn ghép được với một hình tam giác…

 Hai nhóm có số lượng không bằng nhau

Trong giờ học này cô cho trẻ luyện kĩ năng ghép đôi để trẻ tự so sánh, tìm ramối quan hệ giữa hai nhóm, trẻ thấy một trong hai nhóm có đối tượng thừa ra Côgợi ý và hướng dẫn để trẻ nhận xét được nhóm nào “nhiều hơn – ít hơn” Điềuquan trọng khi dạy trẻ so sánh hai nhóm có số lượng không bằng nhau cô giáo phảichỉ cho trẻ thấy phần thừa ra (hoặc còn thiếu) giúp trẻ hiểu được số hơn (hoặckém) là phần thừa ra (hay còn thiếu) Điều này giúp trẻ tiếp thu các biểu tượng về

số được chính xác

Ví dụ: Muốn dạy trẻ lập số 5, cô cho trẻ so sánh hai nhóm 5 chấm tròn và 4

ngôi sao Trẻ nhận ra số chấm tròn nhiều hơn số ngôi sao Khi cô giáo hỏi “Sốchấm tròn nhiều hơn số ngôi sao là mấy” thì phần lớn trẻ đã trả lời “nhiều hơn là5” hoặc ngược lại “số ngôi sao ít hơn là 4” Điều này còn sảy ra cả ở trẻ lớn 5-6

Trang 22

tuổi Như vậy chứng tỏ trẻ chưa phân biệt được tổng số các đối tượng của nhóm và

số hơn (hay kém) là số đối tượng ở phần thừa ra (hay còn thiếu) của nhóm

Vì khi dạy trẻ so sánh 2 nhóm có số lượng không bằng nhau cô giúp trẻ tìm rađược phần thừa ra (hoặc còn thiếu) của mỗi nhóm, dạy trẻ biết diễn đạt đúng nộidung của mối quan hệ này và giải thích kết quả

Ví dụ: Khi so sánh số lượng chấm tròn và số lượng ngôi sao ở trên, trẻ diễn

đạt được: “Cháu thấy có một chấm tròn thừa ra Số chấm tròn nhiều hơn số ngôisao và nhiều hơn là 1” Hoặc “ Số ngôi sao ít hơn số chấm tròn và ít hơn 1 vì cháuthấy còn thiếu 1 ngôi sao, phải có thêm 1 ngôi sao nữa mới đủ”… Khi đã biết sosánh bằng cách ghép đôi một cách thành thạo cô có thể cho trẻ so sánh 3 nhóm vớinhau theo từng cặp để rút ra kết luận, 2 nhóm nhiều bằng nhau hoặc không nhiềubằng nhau Cho trẻ lấy nhóm đồ vật theo số lượng cho trước hoặc nhiều (ít) hơnnhóm cho trước là 1

Ví dụ:

- So sánh nhóm 3 bông hoa, 3 cái ô với 4 con mèo trẻ nhận thấy 4 con mèonhiều hơn 3 bông hoa là 1 và 4 con mèo cũng nhiều hơn 3 cái ô là 1 Vậy số hoanhiều bằng số ô

- Cô đưa ra nhóm 4 con mèo, yêu cầu trẻ lấy số thỏ bằng số mèo, hoặc lấy sốhoa nhiều hơn (ít hơn) số mèo là 1

Để mở rộng biểu tượng về tập hợp cô có thể cho trẻ lập các tập hợp với cácthành phần khác nhau, sau đó so sánh các thành phần với nhau bằng xếp tương ứng1-1

Qua các giờ học này trẻ nắm được cách sắp xếp các đồ vật với nhau và biếtrằng tập hợp có thể có nhiều phần, mỗi phần đó có một dấu hiệu riêng và số lượngcủa chúng có thể bằng nhau hay khác nhau

Khi dạy trẻ so sánh cô nên chọn các nhóm có số lượng hơn kém nhau một đơn vị

 Dạy trẻ đếm và nhận biết số lượng trong phạm vi 5

Trang 23

Ta đã biết: Đếm là một hoạt động có mục đích, có phương tiện và có kết quả.Hoạt động đếm bao gồm quá trình đếm và xác định kết quả đếm.

Bản chất của hoạt động đếm là thiết lập tương úng 1-1 từ tập hợp các vật cầnđếm đến bộ phận đầu tiên của dãy số tự nhiên bắt đầu từ 1 Số thứ tự cuối cùngtrong quá trình đếm là kết quả của phép đếm

Đặc điểm của hoạt động đếm là được thực hiện trên một tập hợp hữu hạn, cụ thể

Vì vậy trẻ thường đọc một, hai, ba, bốn… thậm chí đếm mười lăm, hai mươi

Đó không phải là hoạt động đếm vì nó không có mục đích và không có kết quả.Đấy chỉ là việc đọc các số tự nhiên theo thứ tự do trẻ bắt trước người lớn

Dạy trẻ đếm là dạy trẻ xác định số lượng các đối tượng trong từng nhóm Mà ởlứa tuổi này trẻ thích đếm và có khả năng đếm bằng số từ song chưa biết đếm, thể hiện:

- Chưa phân biệt được quá trình đếm với kết quả của phép đếm

- Khi đếm còn nhầm lẫn giữa đếm động tác với đếm số vật

- Khi đếm còn chưa nắm được thứ tự các số tự nhiên trong dãy số

- Khi đếm còn lặp lại, còn bỏ sót các đối tượng trong nhóm

- Chưa phân biệt được số nhiều hơn (hoặc ít hơn) với tổng số các đối tượngtrong nhóm khi so sánh số lượng 2 nhóm để lập số mới Những sai sót đó của trẻ

đã ảnh hưởng đến việc xác định kết quả của phép đếm

Vì vậy việc dạy trẻ biết đếm đúng và hiểu rõ ý nghĩa của phép đếm như mộthoạt động là một nhiệm vụ rất quan trọng

Khi dạy trẻ đếm, để có kết quả đếm đúng cô giáo cần chú ý các vấn đề sau:

- Cho trẻ nắm được thứ tự các số tự nhiên trong dãy số bắt đầu từ 1 Điều này

có được khi ta dạy trẻ đọc lần lượt các số mới theo đúng thứ tự

- Khi đếm không lặp lại hoặc không bỏ sót Muốn vậy cô cần hướng dẫn trẻtheo một trình tự nào đó Đếm theo hàng ngang từ trái sang phải hay theo hàng dọc

từ dưới lên trên Khi đếm nhất thiết phải chỉ tay vào từng vật, mỗi vật ứng với một

số, bắt đầu từ số một Nếu đếm số lượng các đối tượng bằng cách nhặt vật thì khinào kết thúc động tác đặt vật mới đọc số để trẻ không nhầm là đếm động tác:

Ví dụ: Khi nhặt vật trẻ đọc 1 số, đặt vật xuống lại đọc 1 số nữa Như vậy mỗi

vật tương ứng với 2 số

Trang 24

- Nhấn mạnh cho trẻ thấy sự khác nhau giữa quá trình đếm và kết quả đếm.Quá trình đếm là quá trình trẻ vừa chỉ vào từng đối tượng của nhóm đồ vật vừa gọi

số từ theo thứ tự, tương ứng mỗi số từ với một đối tượng (bắt đầu từ số 1) còn kếtquả đếm chính là số từ cuối cùng trong quá trình đếm Vì vậy sau khi đếm xong côdạy trẻ biết tách số từ cuối cùng ra khỏi quá trình đếm và xác định kết quả đếmbằng cách cho trẻ nói số từ cuối cùng kèm theo tên đơn vị

Ví dụ: “Một, hai, ba, tất cả có 3 con thỏ” và có thể cho trẻ dùng động tác

khoanh tròn bao quanh nhóm đối tượng Không đếm: Một con thỏ, hai con thỏ, bacon thỏ

Hoạt động đếm là phương tiện để dạy trẻ hiểu ý nghĩa số lượng của số Số mớiđược dạy cho trẻ dựa trên nguyên tắc: So sánh nhóm có số lượng là số mới vớinhóm có số lượng là số kề trước đã biết

Trong giờ dạy trẻ đếm và nhận biết số mới thường được tiến hành như sau: Cho trẻ xếp tất cả các đối tượng của nhóm có số lượng là số mới thành hàngngang (không cho đếm)

- Xếp kề hoặc xếp chồng mỗi đối tượng của nhóm có số lượng là số cũ với mộtđối tượng của nhóm mới Đếm lại để kiểm tra kết quả

Cho trẻ so sánh nhận xét sự khác biệt giữa hai nhóm: Nhóm nào nhiều hơn (íthơn), nhiều hơn (ít hơn) bao nhiêu?

- Cho trẻ tạo sự bằng nhau giữa 2 nhóm bằng cách thêm vào một đối tượng chonhóm cũ để có số lượng bằng số lượng nhóm mới Cô đếm trước hoặc cô cùng trẻđếm nhiều lần nhóm cũ sau khi bổ sung thêm đối tượng để gọi số mới Từ đó chotrẻ thấy nguyên tắc lập số: nhóm mới được thành lập bằng cách bổ sung vào nhóm

cũ một đối tượng, số mới bằng số cũ thêm vào một đơn vị

- Cho trẻ đếm lại cả 2 nhóm và so sánh số lượng 2 nhóm bằng kết quả của phépđếm, trẻ thấy hai nhóm có số lượng nhiều bằng nhau và được gọi bằng cùng 1 số làmới Khi đếm cô hướng dẫn trẻ chỉ lần lượt vào từng đối tượng theo hướng từ tráisang phải, hoặc từ trên xuống dưới, vừa chỉ vừa gọi số, nói kết quả bằng câu đầyđủ: “Tất cả có…” và dùng danh số kết hợp với động tác bao quanh nhóm đốitượng Khi đếm nên đếm nhóm đối tượng mới vừa được tạo thành bằng cách bổ

Trang 25

sung thêm 1 đối tượng trước để trẻ hiểu rõ nguyên tắc lập số mới.

Ví dụ: Trong quá trình lập số 4 Trẻ so sánh nhóm 4 chấm tròn với nhóm 3 tam

giác

Trẻ nhận xét: Có 3 tam giác, số chấm tròn nhiều hơn số tam giác là 1 Muốn

số tam giác nhiều bằng số chấm tròn thì phải thêm 1 tam giác Một nhóm mới đượcthành lập Cô đếm trước (hoặc cô và trẻ cùng đếm) để xác định tên gọi số lượngcủa nhóm mới: một, hai, ba, bốn Tất cả là 4 tam giác Cô khẳng định kết quả: Batam giác thêm một tam giác là 4 tam giác Cho trẻ nhắc lại kết quả này Sau đó côcho trẻ so sánh 2 nhóm trẻ thấy 2 nhóm nhiều bằng nhau, đếm lại cả 2 nhóm trẻ điđến kết luận: Hai nhóm nhiều bằng nhau và được gọi bằng cùng một số là số 4 Tiếp tục cho trẻ được đếm các nhóm đối tượng có dấu hiệu khác nhau nhưng

số lượng bằng nhau là số mới, được sắp xếp thành dãy, rồi sắp xếp tự do trongkhông gian chẳng hạn: 4 bông hoa, 4 cái cốc, 4 con thỏ, 4 cái ô tô, 4 con vật, 4tiếng gõ… Các nhóm này khác nhau về dấu hiệu song đều có số lượng nhiều bằngnhau và bằng 4 Dần dần con số bắt đầu tách ra ngoài dấu hiệu của các nhóm đồvật và nó trở thành chỉ số lượng bằng nhau của các nhóm đồ vật

Như vậy trọng tâm của giờ học này là dạy trẻ cách tạo số mới và tập đếm cácnhóm đồ vật có số lượng là số mới được xếp thành dãy

 Dạy trẻ luyện đếm và nhận biết mối quan hệ giữa các số.

Trong giờ học này cô có thể cho trẻ làm các bài tập:

- Cho trẻ luyện đếm các nhóm đối tượng khác nhau về bản chất được sắp xếp ởcác vị trí khác nhau trong không gian nhưng có số lượng giống nhau để trẻ thấy:kết quả của phép đếm là duy nhất và không phụ thuộc vào dấu hiệu, kích thước,màu sắc, hướng đếm của các đối tượng trong không gian

- Cho trẻ tạo ra các nhóm đồ vật theo mẫu đã có Chẳng hạn cô đặt trên bàn 4chú thỏ, rồi yêu cầu trẻ: “Cháu hãy xem trên bàn có bao nhiêu bạn thỏ thì lấy cho

cô bấy nhiêu bông hoa, bấy nhiêu cái ô…” Hoặc “Hãy tìm ra những nhóm đồ chơi

có số lượng bằng số thỏ trên bàn của cô”

Trang 26

Cái mới trong bài tập này là trẻ phải đếm số lượng nhóm đồ vật có sẵn rồi mới

tự tạo ra nhóm đồ vật hoặc tìm nhóm đồ vật có số lượng đúng bằng số vừa đếm Thực hiện bài tập xong cô dạy trẻ biết giải thích kết quả làm của mình là đúng,bằng cách đưa ra câu hỏi; “làm thế nào để biết cháu đã lấy số đồ chơi bằng số thỏtrên bàn?”, hướng dẫn trẻ trả lời bằng một trong 2 cách

+ Xếp chồng (hay xếp kề) số đồ chơi của 2 nhóm với nhau và trả lời “có baonhiêu bạn thỏ cháu đã lấy bấy nhiêu đồ chơi’ Trẻ hiểu ý nghĩa từ “bao nhiêu”trong mối quan hệ “bằng nhau” khi so sánh các đối tượng của 2 nhóm

+ Trẻ đếm cả 2 nhóm và sử dụng kết quả của phép đếm để giải thích: hai nhómnhiều bằng nhau vì có cùng số lượng Trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa số lượng của số Hiện nay các cô giáo thường chỉ chú ý tới kết quả bài tập của trẻ, ít để ý xemtrẻ có hiểu việc mình làm không Nhiều khi những hành động đó chỉ là sự bắtchước một cách máy móc cô giáo và các bạn xung quanh Vì vậy cô giáo mầm noncần tạo điều kiện để trẻ được tự giải thích kết quả việc làm của mình

- Cho trẻ tạo nhóm đồ vật theo số cho trước Mục đích của tập này là dạy trẻmột cách tổng quát cách lựa chọn và nhóm các đối tượng theo số lượng đã cho, cáikhó trong bài tập này là trẻ cần phải xác định số lượng vật, dấu hiệu của vật màtrước mắt lại không có vật mẫu Trong khi đi tìm các nhóm có số lượng và dấuhiệu phù hợp, gặp nhiều nhóm không phù hợp trẻ dễ dàng quên đi sự chú ý chính

là số lượng vật cần lấy Vì vậy điều quan trọng trong bài tập này là phải nhắc trẻchú ý nhớ tới con số, các dấu hiệu của nhóm cũng phức tạp dần theo sự hiểu biếtcủa trẻ

Ví dụ: Hệ thống bài tập có thể:

- Cháu hãy lấy 4 con thỏ, 4 ô tô, 4 cái ô

- Cháu hãy lấy 3 con vật, 3 cái hình

- Cháu hãy lấy 3 đồ chơi

Cô cũng có thể cho trẻ lấy 2 nhóm đồ vật với dấu hiệu và số lượng khác nhau;trẻ đếm, so sánh, thêm bớt để tạo sự bằng nhau hoặc bằng các số đã biết hay sốmới

Ví dụ: Cô đưa bài tập: Cháu hãy lấy cho cô 4 hình vuông màu đỏ, 3 tam giác

Trang 27

màu xanh.

- So sánh xem nhóm nào nhiều hơn (ít hơn), nhiều hơn (ít hơn) là mấy?

- Làm thế nào để 2 nhóm nhiều bằng nhau (thêm vào nhóm ít hơn hoặc bớt đi

ở nhóm nhiều hơn)

Trong các bài luyện đếm, cô nên cho trẻ đếm và so sánh các nhóm hơn kémnhau một đối tượng nhằm giúp trẻ vừa luyện đếm vừa biết so sánh các số Việc chotrẻ so sánh, thêm bớt để tạo thành nhóm mới giúp cho trẻ hiểu được: Các nhóm cóthể có những dấu hiệu rất khác nhau về bản chất (hình dạng, độ lớn, màu sắc,chủng loại…) nhưng vẫn có thể bằng nhau về số lượng, sự bằng nhau ấy luôn đượcbiểu thị bằng cùng một số Còn nếu hai nhóm hơn kém nhau một đối tượng đượcbiểu tượng bằng 2 số liền nhau Dần dần trẻ nhận ra sự khác nhau giữa các số vàtrẻ hiểu được con số là một chỉ số chỉ độ lớn của 1 nhóm Từ đó trẻ thấy rằng chỉcần thêm vào (hay bớt đi) một đối tượng ở nhóm cũ thì số lượng của nó sẽ tăng lên(hoặc giảm đi) và được gọi bằng một số khác

 Dạy trẻ đếm với sự tham gia của các giác quan khác nhau

Bên cạnh việc cảm thụ các tập hợp bằng thị giác là chính thì các giác quankhác cũng tham gia tích cực vào hoạt động đếm Trẻ 4-5 tuổi có thể đếm được số

âm thanh và nhớ lại được số lượng tổng quát Cô giáo có thể tổ chức luyện tậpdưới các hình thức:

- Cho trẻ đếm các tiếng động bằng tai nghe

Ví dụ: Cô giáo lắc xắc xô hoặc giả làm tiếng còi ô tô… yêu cầu trẻ nghe và

đếm nhẩm sau đó nêu số lượng tổng

- Cho trẻ đếm số các con vật bằng sờ mó

Ví dụ: Hãy đếm xem bên dưới cái khăn của cô có mấy hình tròn.

- Kết hợp đếm bằng tai nghe và lấy đồ vật bằng số lượng âm thanh cô vừa gõ

Ví dụ: Nghe xem cô gõ bao nhiêu tiếng thước thì cháu vỗ tay bấy nhiêu lần

- Hoặc “nghe xem cô vỗ tay bao nhiêu tiếng thì lấy bấy nhiêu đồ chơi”…Lúc này trẻ phải đếm âm thanh bằng tai nghe và đếm số vật, số động tác tươngứng bằng số lượng các âm thanh

Tóm lại: Hoạt động đếm có đặc tính phong phú nó làm phát triển tính đa dạng

Trang 28

của tập hợp đồng thời làm cho trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa của số: số là một chỉ tiêu xácđịnh độ lớn của một tập hợp, tức là số lượng các phần tử của một tập hợp.

Mỗi bài dạy số ở lớp 4-5 tuổi được chia làm 2 tiết:

- Tiết 1: Trọng tâm là dạy trẻ lập số mới và cho trẻ tập đếm các nhóm có sốlượng là số mới

- Tiết 2: Trọng tâm là cho trẻ luyện kĩ năng đếm dưới các hình thức khácnhau Dạy trẻ so sánh, thêm bớt giúp trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa của số và mối quan hệgiữa các số

 Dạy trẻ ngoài giờ học

Cô giáo tận dụng các tình huống có trong hoạt động của trẻ để sử dụng kỹnăng ghép tương úng 1-1, nhận biết mối quan hệ số lượng giữa các nhóm đồ vật.Cho trẻ ghép đôi bằng cả 2 cách, chú ý cách ghép thứ hai

Cô tiếp tục cho trẻ được luyện kĩ năng đếm khi xác định số lượng các nhómđối tượng có dấu hiệu khác nhau để trẻ hiểu rõ hơn bản chất của số lượng: Sốlượng không phụ thuộc vào các dấu hiệu khác nhau của nhóm đối tượng, kết quảcủa phép đếm không phụ thuộc vào hướng đếm và thứ tự các đối tượng khi đếm

Cô kết hợp cho trẻ vừa đếm vừa so sánh, thêm bớt để trẻ thấy được mối quan hệgiữa các số với số lượng các nhóm: Nhóm nhiều hơn tương úng với số lớn hơn cònnhóm ít hơn tương ứng với số nhỏ hơn Cô giáo còn cho trẻ luyện tập đếm bằngcác giác quan khác nhau qua các trò chơi có luật

Khi trẻ đã biết đếm thành thạo, cô cho trẻ sử dụng trong các giờ học khác vàtrong các hoạt động khác

Trang 29

3.3 Trẻ 5-6 tuổi

Ở lớp 5-6 tuổi cô giáo tiếp tục củng cố, mở rộng biểu tượng về tập hợp phần

tử, mối quan hệ giữa các phần tử, từng phần với toàn bộ tập hợp Dạy trẻ biết đếm

để nhận biết số lượng trong phạm vi 10, biết dùng phép đếm để nhận biết mối quan

hệ hơn kém về số lượng đối tượng, nhận biết và hiểu ý nghĩa của số: Chỉ số lượng

và chỉ thứ tự, trên cơ sở đó biết tạo nhóm đồ vật theo số cho trước, biết thực hiệncác phép biến đổi đơn giản: thêm, bớt, chia làm 2 phần trong phạm vi 10 trên cáctập hợp cụ thể

Ngoài ra ở lớp 5-6 tuổi cô giáo cần chú ý tới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ.Bên cạnh việc hướng dẫn để trẻ biết tự nêu lên kết quả và giải thích được kết quả

đã làm, cô giáo giúp trẻ biết sử dụng đúng, chính xác các từ trong nội dung toánhọc

Ví dụ: Khi so sánh 8 bông hoa với 7 con thỏ, trẻ thường nói: “8 nhiều hơn

nhóm 7”, cô phải sửa lại “8 bông hoa nhiều hơn nhóm 7 con thỏ” hoặc “ số 8 lớnhơn số 7”

 Dạy trong giờ học

 Dạy trẻ đếm và nhận biết số lượng, chữ số trong phạm vi 10

 Dạy trẻ đếm

Một nội dung mới đối với trẻ 5-6 tuổi là nhận biết các chữ số từ 1 đến 10

Ở lớp 4-5 tuổi trẻ đã được học đếm và nhận biết số lượng từ 1 đến 5 nên ởlớp 5-6 tuổi cô giáo cho trẻ ôn lại phần tập đếm và nhận biết số lượng giúp trẻ hiểu

rõ ý nghĩa số lượng của số trong phạm vi 5 sau đó dạy trẻ nhận biết các chữ số Các số từ 6 đến 10, khi dạy trẻ tập đếm và nhận biết số lượng, cách lập số dạyđếm tiến hành tương tự như đối với lớp 4-5 tuổi

Việc dạy trẻ học số cho phép trẻ nhận thức ở mức cao hơn về ý nghĩa sốlượng của nhóm đồ vật: Số là một chỉ số chỉ độ lớn của tập hợp, số được tạo thành

từ các đơn vị, mỗi đơn vị có thể là một vật riêng rẽ có thể là một nhóm vật

Hiện nay xu thế chung của cô giáo thường cho trẻ xác định số lượng cácnhóm đồ vật là các vật riêng rẽ: Số hoa, số thỏ, số cà rốt… nên ở trẻ từ “một”thường gắn với một đối tượng cụ thể Cô giáo cần mở rộng biểu tượng về tập hợp,

Trang 30

vạch rõ ý nghĩa các từ tập hợp, phần tử của tập hợp, mối quan hệ giữa phần tử vớitập hợp, giúp trẻ hiểu được mối quan hệ của số với đơn vị nghĩa là nhấn mạnh sốđơn vị trong mỗi số, thông qua các vật cụ thể.

Dạy trẻ hiểu mối quan hệ của số với đơn vị

Ban đầu cô đưa ra các vật riêng rẽ, cụ thể

Ví dụ: Dạy trẻ số 3, cô đưa ra 3 lá cờ khác màu, 3 hình khác màu (xanh, đỏ,

vàng), 3 con vật khác nhau (thỏ, vịt, gà)…

Cho trẻ đếm các nhóm này xong, cô hỏi trẻ “phải dùng số mấy để chỉ sốlượng các nhóm đồ vật này” - số 3 (trẻ trả lời) Cô hỏi “số 3 được tạo thành như thếnào?” Cho trẻ suy nghĩ rồi cô hướng dẫn trẻ trả lời, cô nhấn mạnh vào nội dung:

“số 3 được tạo thành từ 1 lá cờ xanh, 1 cờ đỏ, 1 cờ vàng hay 1 hình màu xanh, 1hình màu đỏ, 1 hình màu vàng”…

Sau đó cô đưa ra các tập hợp mỗi phần gồm nhiều vật

Ví dụ: Cô đặt trên bàn một ống cắm nhiều cờ đỏ, trẻ trả lời “ống có nhiều cờ”.

Cô hỏi: “Cờ có mấy màu”- Một màu Cô cắm thêm một số cờ màu vàng và màuxanh vào, trẻ vẫn nhận xét “trong ống có nhiều cờ” Cô hỏi “bây giờ cờ trong ống

có mấy phần” Trẻ sẽ trả lời có 3 phần: Một phần là màu đỏ, một phần là màuxanh, một phần là màu vàng “Dùng số mấy để chỉ số màu cờ trong ống” (cô hỏi) –

3 (trẻ trả lời)

Hoặc cô đặt trên bàn 3 nhóm: gà, thỏ, gấu Mỗi nhóm có một số con Trẻnhận xét: “trên bàn có nhiều con vật” Cô hỏi: “các con vật gồm mấy loại?” – Baloại: một phần là gà, một phần là thỏ, một phần là gấu (trẻ trả lời) Cô hỏi “dùng sốmấy để chỉ số loại vật trên bàn” – Số 3 (trẻ trả lời)

Khi làm các bài tập này cô giáo cần lưu ý trẻ khi xác định thành phần cần nói

rõ cả tên vật và số lượng của chúng (1 vật hay 1 nhóm vật)

Qua các bài tập này biểu tượng về từ “một” gắn với từng vật riêng lẻ đượcphá vỡ và mở rộng thêm Các cháu hiểu được “một” là chỉ số, là một đơn vị xácđịnh thành phần của số (thông qua các đối tượng cụ thể) “một” không phải chỉphản ánh từng vật mà có thể phản ánh cả từng nhóm, từng phần Từ đó giúp trẻhiểu: “số được hình thành từ các đơn vị, số là 1 chỉ số chỉ độ lớn của tập hợp”

Trang 31

Để trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa số lượng của số, cô giáo cần cho trẻ đếm và tìmcác nhóm đồ vật khác nhau về chủng loại, bản chất, thuộc tính nhưng số lượnggiống nhau.

Cô giới thiệu cho trẻ biết: Để chỉ sự giống nhau về số lượng của các nhómchúng ta đã dùng các số: một, hai, ba, bốn… và dùng các ký hiệu là các chữ số:1,2,3,4,… để chỉ sự giống nhau đó

 Dạy trẻ nhận biết chữ số (ký hiệu của số)

Để dạy trẻ nhận biết các chữ số có thể cho trẻ vận dụng vốn king nghiệm củamình tự chọn, sau đó cô đưa ra chữ số chuẩn để trẻ kiểm tra và sửa sai (nếu chọnchưa đúng) Cô phân tích hình dạng các chữ số có đặc điểm nổi bật số 8, số 9, số 6.Không bắt buộc phải phân tích hình dạng tất cả các chữ số

Để giúp trẻ phân biệt và nhận biết được các chữ số, cô cần cho trẻ sử dụngthường xuyên các thẻ số trong các giờ học khi nói về kết quả đếm hoặc các phépbiến đổi số trong các trò chơi có luật, thay các bìa chấm tròn bằng các bìa chữ số Việc cho trẻ nhận biết chữ số được tiến hành trong giờ tập đếm và lập số mới(tiết 1)

Như vậy qua các bài đếm, xác định thành phần các đối tượng trong nhóm trẻ

đã hiểu rằng số phản ánh số đơn vị (trong đó đơn vị có thể là 1 đối tượng riêng lẻ,

có thể là 1 nhóm) Chữ số (ký hiệu của số) là chỉ số xác định số lượng của nhóm

Lúc đầu cô cho trẻ so sánh các nhóm vật có số lượng hơn kém nhau 1 đơn vị,trên cơ sở so sánh và đếm

Trang 32

- Cô hướng dẫn để trẻ biết tạo sự bằng nhau giữa 2 nhóm bằng 2 cách thêm vàonhóm ít hơn 1 đối tượng thì được số lớn hoặc bớt đi ở nhóm nhiều hơn 1 đối tượngthì được số nhỏ.

Khi làm các bài tập này cô cho trẻ tập diễn đạt các mối quan hệ bằng lời nói

“số 7 lớn hơn số 6 là 1 đơn vị”, “số 7 lớn hơn số 6” hoặc “số 7 lớn hơn còn số 6 béhơn…” Trẻ có thể so sánh số lượng các nhóm dựa vào phép đếm (không cần xếp1-1)

Tiếp tục cô cho trẻ so sánh 3 nhóm có số lượng là các số liên tiếp 2,3,4 hoặc3,4,5,… để hình thành mối quan hệ giữa các số, vị trí các số trong dãy số tự nhiên,

từ đó hình thành biểu tượng về hướng của dãy số tự nhiên, mở rộng các hình thứchình thành các số cho trước và các số đứng kề bằng 2 cách:

Ví dụ: Số 6 được hình thành cách lấy 5 thêm 1 hoặc lấy 7 bớt 1 (thông qua các

nhóm vật cụ thể)

Khi trẻ biết thêm, bớt thành thạo cô cho trẻ so sánh các nhóm hơn kém nhau2-3 đối tượng, thêm bớt để tạo thành các nhóm có số lượng bằng nhau hay khácnhau theo yêu cầu nội dung bài học

Trẻ 5-6 tuổi đã biết đếm thành thạo theo hàng, trong giờ luyện đếm cô cho trẻlàm quen với ý nghĩa “thứ tự” của số Có thể tiến hành bài tập như sau:

- Cho trẻ nhận biết dấu hiệu các đối tượng trong nhóm

- Xếp các đối tượng thành hàng ngang hay hàng dọc

Trang 33

- Đếm để xác định số lượng của cả nhóm.

- Đếm lại theo hướng từ trái sang phải hay từ phải sang trái (đến đối tượng códấu hiệu đặc biệt dừng lại) Số ứng với đối tượng đó chính là số “thứ tự” của đốitượng trong nhóm theo hướng đếm đã chỉ ra từ trước

Tóm lại: Dù rằng số biểu diễn 1 đối tượng hay một nhóm các đối tượng, mỗi số

vẫn luôn nhỏ hơn số đứng sau và lớn hơn số đứng trước 1 đơn vị Mỗi số đều đượcđặc trưng bởi 2 dấu hiệu: chỉ số lượng và chỉ thứ tự Bằng cách thực hành đối chiếugiữa các đối tượng của các nhóm vật khác nhau và thiết lập sự bằng nhau bằngcách thêm hay bớt 1 vật đã hình thành sự hiểu biết về vị trí và mối quan hệ giữacác số trong phạm vi 10

 Dạy trẻ chia một nhóm thành 2 phần và tập làm một số bài toán đơn giản trên các nhóm đối tượng cụ thể

Khi trẻ đã biết đếm thành thạo, biết thêm bớt để tạo thành nhóm có số lượngcho trước, cô giáo dạy trẻ biết cách chia một nhóm thành 2 phần bằng các cách Cóthể tiến hành theo trình tự

- Đếm số đối tượng của nhóm trước khi chia

- Cho trẻ chia tự do theo ý thích sau đó đếm để biết kết quả sau mỗi lần chia

Cô khái quát để trẻ thấy: Có nhiều cách để chia nhóm một thành 2 phần, mỗi cáchchia cho một kết quả

- Cho trẻ chia theo yêu cầu của cô: Một phần có số lượng cho trước, trẻ đếm vàbiết số lượng phần còn lại Khi cho trẻ chia theo yêu cầu cô thay đổi lời hướng dẫn

để tạo điều kiện cho trẻ thêm bớt

Ví dụ: Chia 6 viên sỏi làm 2 phần:

Cô yêu cầu trẻ: “chia sang 1 tay 2 viên, tay kia còn lại bao nhiêu?” - 4 viên.Cho trẻ xếp thành 2 nhóm và đếm lại

Mỗi nhóm đối tượng cô cho trẻ chia làm 2 phần bằng tất cả các cách

Khi dạy trẻ chia cô hướng dẫn trẻ biết diễn đạt cách làm và kết quả bằng ngônngữ của các phép biến đổi thêm, bớt Các bài tập này sẽ là cơ sở để trẻ học cácphép tính cộng, trừ ở lớp 1 sau này

Ví dụ:

- Cho trẻ chia 6 viên sỏi thành 2 nhóm 1- 5

- 6 bông hoa thành 2 nhóm 2- 4

Trang 34

- 6 con thỏ thành 2 nhóm 3- 3.

Sau đó cô gợi ý để trẻ trả lời được: “có 6 đối tượng chia làm 2 phần, có 3 cáchchia: Một phần 1- một phần 5; Một phần 2- Một phần 4; Hai phần bằng nhau vàcùng bằng 3

Qua các bài tập đó xây dựng cho trẻ thói quen biết giải quyết một nhiệm vụbằng nhiều cách khác nhau

Ví dụ: Cô yêu cầu trẻ:

- Đếm xem trong rổ có mấy bông hoa (6 bông hoa)

- Xếp lên hàng trên 2 bông hoa

- Còn lại bao nhiêu bông hoa để xếp xuống hàng dưới? (Cô gợi ý: Có tất cả baonhiêu? Đã xếp mấy bông ở bảng trên? Làm thế nào để biết số hoa còn lại?)

- Cho trẻ xếp số hoa còn lại xuống hàng dưới rồi kiểm tra lại kết quả

- Sau đó cô cho trẻ làm bài toán ngược: “4 bông hoa thêm 2 bông hoa tất cả làmấy bông hoa?”

Qua các bài tập dạng này bước đầu cô cho trẻ làm quen với cấu trúc một đềtoán đố bao giờ cũng gồm 2 phần: giả thiết (là những cái đã biết), kết luận (kết quảcần tìm) Các bài toán này là tiền đề giúp trẻ sau này biết cách giải các bài toán đố

ở lớp 1 bằng các phép tính cộng trừ

Ở trẻ 5-6 tuổi qua các bài luyện đếm, thêm bớt và chia 1 nhóm thành 2 phầnbằng nhau các cách đã giúp trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa số lượng của số, thấy được vịtrí và mối quan hệ giữa các số với nhau trong phạm vi 10 Từ đó trẻ có khả năng sosánh số lượng các đối tượng của các nhóm nhờ kết quả của phép đếm, không cầnphải xếp tương ứng 1-1

Mỗi số ở lớp 5-6 tuổi (từ số 6 đến 10) được dạy trong 3 tiết:

- Tiết 1: Trọng tâm là dạy trẻ lập số mới, tập đếm các nhóm có số lượng là sốmới Nhận biết chữ số chỉ nhóm có số lượng là số mới lập

- Tiết 2: Trọng tâm là dạy trẻ luyện đếm, thêm, bớt để hiểu rõ ý nghĩa số lượngcủa số và thấy được mối quan hệ giữa các số Củng cố nhận biết và gọi tên các chữsố

- Tiết 3: Trọng tâm là dạy trẻ chia một nhóm thành 2 phần Trên cơ sở đó củng

cố việc luyện đếm, thêm, bớt và sử dụng các chữ số

 Dạy ngoài giờ học

Cô tiếp tục cho trẻ luyện đếm bằng các cách khác nhau, bằng các hình thứckhác nhau khi cho trẻ xác định số lượng của các nhóm đối tượng có bản chất,

Trang 35

chủng loại, màu sắc, kích thước và cách sắp xếp khác nhau.

Để giúp trẻ hiểu rõ hơn ý nghĩa số lượng của số, bản chất của “đơn vị” trongthành phần của số qua biểu tượng “một” cô cần cho trẻ luyện đếm các nhóm màđối tượng là các nhóm vật, chảng hạn: đôi đũa, đôi dép, màu cờ, loại hình, loại đồchơi… Ngoài ra cô cần cho trẻ được chơi các trò chơi củng cố những phép biến đổi

số lượng, nhận biết, gọi tên các chữ số, củng cố thứ tự các số trong phạm vi 10.Bước đầu cho trẻ làm quen với việc giải toán trên các bài tập cụ thể

4 Cấu trúc chung của kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

Trang 36

4.3 Tổ chức hoạt động

Nội dung Hoạt động của giáo viên Hoạt động của trẻ

(I)Những vấn đề kiến

thức kĩ năng liên quan

trực tiếp đến bài mới

HĐ : (Tên hoạt động)-

-

-HĐ : (Tên hoạt động)-

-

-(II)Cung cấp những kiến

thức kĩ năng mới

HĐ 1: ( Tên hoạt động)-

-HĐ 2: (Tên hoạt động)-

-HĐ 1: (Tên hoạt động)-

-HĐ 2: (Tên hoạt động)-

-(III)Luyện tập chung

HĐ : ( Tên hoạt động)-

-HĐ : (Tên hoạt động)-

Trang 37

-CHƯƠNG II: XÂY DỰNG MỘT SỐ KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CÓ CHỦ ĐÍCH HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ

SỐ LƯỢNG CHO TRẺ MẦM NON

1 Một số hoạt động bổ trợ quá trình hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo

1.1 Hoạt động 1: Chơi bạn mới

1.1.1 Mục đích:

- Luyện tập nhận biết các chữ số trong phạm vi 10 và quy luật sắp xếp của chúng

- Luyện tập khả năng quan sát, suy luận và thực hành của trẻ, từ đó phát triểnkhả năng tư duy toán học của trẻ

+ Hôm nay đi chơi với cô cháu mình còn có

các bạn gấu, các con rủ các bạn gấu đi chơi

nào

+ Trên màn hình xuất hiện 7 bạn gấu

+ Cô cho trẻ xếp 7 bạn gấu trong rổ đồ dùng

thành 1 hàng ngang, cho trẻ đếm và chọn chữ

số tương ứng (7 bạn gấu và đặt chữ số 7)

+ Mỗi bạn gấu mang theo một số cái gùi để đi

hái quả đấy (màn hình xuất hiện 6 cái gùi)

+ Cô cho trẻ xếp 6 cái gùi thành hàng ngang,

HĐ : chơi bạn mới

+ Trẻ vừa theo dõi vừa thựchiện theo cô

+ Trẻ xếp tương ứng 1-1,

Trang 38

dưới mỗi bạn gấu là một cái gùi.

+ Cho trẻ so sánh số bạn gấu và số gùi như

thế nào với nhau?

+ Muốn cho số gùi và số gấu bằng nhau các

con phải làm như thế nào ?

Cho trẻ lấy thêm một cái gùi hoặc bớt một

bạn gấu và hỏi xem ai đã làm cách nào ?

+ Bây giờ số gấu và số gùi như thế nào với

nhau? (Cho trẻ đếm số bạn gấu và số gùi Đặt

chữ số tương ứng)

+ Cho trẻ bớt 2 bạn gấu

+ Các con hãy so sánh số bạn gấu và số cái

gùi?

+ Muốn số bạn gấu và số gùi bằng nhau các

con phải làm như thế nào?

+ Yêu cầu trẻ thực hành rồi mô tả kết quả đã

làm, chọn chữ số tương ứng

+ Muốn có 7 bạn gấu thì phải làm thế nào?

+ Muốn có 7 cái gùi thì làm như thế nào?

(Cho trẻ thêm vào cho đủ 7 gấu, 7 gùi)

+ Tìm và đặt các chữ số tương ứng vào các

nhóm

+ Vừa đếm lần lượt, vừa cất gấu (gùi) vào rổ

Đến thăm bạn cô đã chuẩn bị một số đồ dùng,

đồ chơi Chúng mình cùng nhìn xung quanh

lớp xem có những nhóm đồ dùng, đồ chơi nào

có số lượng là 7 và ít hơn 7 Nếu ít hơn 7 thì

đếm 6 cái gùi và gắn chữ số6

+ Số bạn gấu và số gùikhông bằng nhau, số bạn gấunhiều hơn số cái gùi là 1, sốgùi ít hơn số gấu là 1

+ Phải thêm 1 gùi hoặc bớtmột gấu

+ Bằng nhau

+ Trẻ đếm, lấy các chữ số 7đặt vào các nhóm

+ Trẻ bớt 2 bạn gấu vào rổ.+ Trẻ thực hiện theo yêu cầucủa giáo viên

+ Trẻ thi đua tìm xung quanhlớp, đếm và chọn chữ sốtương ứng đặt vào các nhóm

đồ dùng đồ chơi

Trang 39

phải làm gì để đủ số lượng 7, lấy chữ số tương

ứng đặt vào các nhóm đồ dùng, đồ chơi)

+ Cô cùng cả lớp kiểm tra kết quả

1.2 Hoạt động 2: Đội nào nhanh hơn

1.2.1 Mục đích:

- Luyện đếm đến 10, tạo nhóm có số lượng trong phạm vi 10 bởi các thao tácđếm – thêm – bớt Trẻ hiểu mối quan hệ giữa số và chữ số 1- 10

1.2.2 Chuẩn bị:

- Lô tô theo chủ điểm

- Bìa cứng hoặc giấy A0 thiết kế thành các bảng cài có từ 5 đến 7 dòng (sốbảng ứng với số nhóm trẻ tham gia chơi) Mỗi đầu dòng được gắn (hoặc viết) mộtchữ số trong phạm vi 10 Trên mỗi dòng gắn các lô tô với số lượng không tươngứng với các chữ số ở đầu hàng Chẳng hạn bảng sau:

1.2.5 Cách chơi:

Trang 40

- Có thể áp dụng 1.2 chia lớp thành các nhóm trẻ (kết hợp ôn số lượng trongphạm vi 10).

- Mỗi nhóm được gọi là một đội chơi (có thể đặt tên theo chủ đề) đứng thànhmột hàng dọc trước bảng của đội mình (cách bảng 3m)

- Khi nghe hiệu lệnh thi đua, các trẻ đứng đầu mỗi đội chạy lên bảng mình:Đếm, Thêm, Bớt để tạo thành các nhóm có số lượng tương ứng với chữ số ở đầuhàng của bảng Sauk hi thực hiện xong ở một hàng (dù đúng hay sai), trẻ đó chạy

về cuối hàng của đội mình, khi đó trẻ đứng đầu hàng mới tiếp tục chạy lên bảngcủa đội mình, thực hiện tương tự bạn trước ở một hàng nào đó của bảng (có thể ởhàng đã được bạn trước thực hiện) Thực hiện xong chạy về cuối hàng của độimình Trò chơi tiếp tục tương tự như trên cho đến khi hết thời gian

- Giáo viên cùng các đội nhận xét sản phẩm kết quả Nên chú ý tích hợp các nộidung liên quan hợp lý

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.3. Hình thức chơi: - Xây dựng một số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo
1.2.3. Hình thức chơi: (Trang 39)
1.4.3. Hình thức chơi: - Xây dựng một số kế hoạch tổ chức hoạt động học có chủ đích hình thành các biểu tượng về số lượng cho trẻ mẫu giáo
1.4.3. Hình thức chơi: (Trang 42)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w