PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp Doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp kê khai thường xuyên 1.1 Sự cần thiết của công t
Trang 1PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp (Doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp kê khai thường xuyên)
1.1 Sự cần thiết của công tác kế toán nguyên vật liệu ở doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Khái niệm nguyên vật liệu
“Nguyên liệu, vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [1, trang 83]
NVL là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hoá như: đất sét, đá vôi trong doanh nghiệp sản xuất xi măng; sắt thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo; sợi trong doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng giày; vải trong doanh nghiệp may mặc…
1.1.2 Đặc điểm và yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
1.1.2.1 Đặc điểm nguyên vật liệu
“Vật liệu là đối tượng lao động nên có đặc điểm: tham gia vào một chu kỳ sản xuất, thay đổi hình dáng ban đầu sau quá trình sử dụng và chuyển toàn bộ giá trị vào giá trị của sản phẩm được sản xuất ra” [2, trang 75]
Về mặt hiện vật: Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất Dưới tác dụng của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị thay đổi hình thái vật chất tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm Vì vậy nguyên vật liệu được coi
là cơ sở vật chất, là yếu tố không thể thiếu được của một quá trình mà đặc biệt đối với quá trình hình thành nên sản phẩm mới
Về mặt giá trị: Giá trị của vật liệu được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra Nguyên vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp liên doanh, vốn góp của các thành viên tham gia trong công ty trong đó chủ yếu là doanh nghiệp mua ngoài
Trang 2NVL là một loại hàng tồn kho được doanh nghiệp dự trữ với mục đích phục
vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Mỗi một loại NVL nhất định lại gắn liền với một thời hạn bảo quản nhất định Vì vậy doanh nghiệp phải dựa vào đặc điểm này của NVL để có kế hoạch trong việc thu mua,
dự trữ và bảo quản NVL cũng như việc xuất NVL vào sản xuất
NVL là một bộ phận quan trọng trong tài sản lưu động của doanh nghiệp
1.1.2.2 Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
NVL là một yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh
ở các doanh nghiệp Giá trị NVL thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh, vì vậy, quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ và sử dụng vật liệu là điều kiện để bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá
thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhiệm vụ chủ yếu ở từng khâu như sau:
- Khâu thu mua: Cần lập kế hoạch thu mua để bảo đảm doanh nghiệp luôn
có nguồn cung cấp NVL với số lượng lớn, chất lượng tốt và giá cả ổn định hợp
lý Quản lý tốt quá trình vận chuyển NVL chống thất thoát, hao hụt, giảm chất lượng trong quá trình vận chuyển Đồng thời quan tâm đến chi phí thu mua
nhằm hạ thấp chi phí NVL một cách tối đa
- Khâu bảo quản: Điều kiện cần thiết giúp cho việc bảo quản tốt NVL ở doanh nghiêp là phải có hệ thống kho hàng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, nhân viên thủ kho có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt Ngoài ra, việc bảo quản
đảm bảo đúng chế độ quy định phù hợp với tính chất lý hoá của mỗi loại
- Khâu dự trữ: Các doanh nghiệp cần xây dựng định mức dự trữ hợp lý cho từng danh điểm NVL Định mức tồn kho là cơ sở để xây dựng kế hoạch thu mua
và kế hoạch tài chính của doanh nghiệp Dự trữ hợp lý, cân đối các loại NVL trong doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục,
tránh được tồn đọng vốn trong kinh doanh
- Khâu sử dụng: Yêu cầu sử dụng phải hợp lý, tiết kiệm và theo đúng các định mức kinh tế kỹ thuật đặt ra cho từng sản phẩm Đây là một trong những khâu có tính quyết định đến việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành để tăng tính cạnh
tranh trên thị trường của doanh nghiệp
Trang 3Như vậy để tiến hành tốt tổ chức công tác quản lý NVL thì doanh nghiệp phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Có đủ trang thiết bị vật chất đảm bảo cho việc bảo quản, cất giữ NVL từ khâu
thu mua đến khi đưa vào sử dụng
- Có đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực, trình độ và tinh thần trách
nhiệm trong các khâu trên
- Có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận trong công ty trong quá trình thu mua, dự trữ, sử dụng Các bộ phận này bao gồm: Bộ phận cung ứng, bộ phận
hạch toán, bộ phận kỹ thuật, bộ phận sử dụng…
Giữa các bộ phận này phải đảm bảo có sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả
Để tránh nhầm lẫn trong công tác quản lý và hạch toán NVL trước hết các doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống danh điểm và đánh số danh điểm cho NVL Hệ thống danh điểm và số danh điểm phải rõ ràng, chính xác tương ứng với quy cách của NVL đó
Để quá trình kinh doanh liên tục và sử dụng vốn tiết kiệm thì doanh nghiệp phải dự trữ NVL ở một mức độ hợp lý Do vậy doanh nghiệp phải xây dựng định mức tồn kho tối đa và tối thiểu cho từng danh điểm NVL, tránh việc dự trữ quá nhiều hoặc quá ít một loại NVL nào đó Định mức tồn kho của NVL còn là
cơ sở để xây dựng kế hoạch thu mua NVL và kế hoạch tài chính của doanh
kho với tiếp liệu và kế toán vật tư
1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.3.1 Vai trò của công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản
xuất
Đối với từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh mà NVL có
Trang 4vai trò cụ thể
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì NVL có vai trò rất quan trọng, được thể
hiện ở các điểm sau:
NVL là một trong các tố đầu vào của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp, là một trong các yếu tố tham gia hình thành nên chi phí sản xuất kinh
doanh, chi phí NVL là một bộ phận của giá thành sản phẩm
NVL là một loại hàng tồn kho được dự trữ để đáp ứng cho nhu cầu của quá trình sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp NVL là thành phần thuộc về vốn lưu động Giá trị NVL trong kho cuối niên độ không chỉ là giá trị được thể hiện trên báo cáo tài chính mà còn là chỉ tiêu để đánh giá khả năng hoạt động của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu “Vòng quay vốn lưu động” Nếu quá trình thu mua, dự trữ và xuất dựng NVL được phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả sẽ làm tăng nhanh
quan trọng nhất Thông tin đó được thể hiện ở các mặt sau:
- Cung cấp thông tin cần thiết để quản trị mua hàng, quản trị hàng tồn kho, công nợ với người bán Kế toán vật tư cung cấp thông tin về số lượng, giá trị của NVL nhập, xuất kho của từng kho, từng đơn vị, cung cấp thông tin về trả khoản
phải trả…
- Cung cấp thông tin cần thiết để ghi các chỉ tiêu lên các báo cáo tài chính
liên quan đến hàng tồn kho, các khoản phải trả…
Để cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thông tin cho công tác quản lý NVL trong các doanh nghiệp, kế toán NVL phải thực hiện được các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời số lượng,
chất lượng và giá thành thực tế của NVL nhập kho
Trang 5- Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số lượng và giá trị NVL
xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao của từng loại
- Phân bổ hợp lý giá trị NVL sử dụng vào các đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất kinh doanh
- Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và giá trị NVL tồn kho, phát hiện kịp thời NVL thiếu thừa, ứ đọng, kém phẩm chất để doanh nghiệp có biện
pháp xử lý kịp thời, hạn chế đến mức tối đa thiệt hại có thể xảy ra
- Tổ chức chứng từ, tài khoản về kế toán, sổ sách kế toán phù hợp với tình hình biến động tăng, giảm của vật tư trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm cung cấp thông tin để tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh và phù
hợp với các chuẩn mực, chế độ kế toán quy định
1.2 Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
1.2.1 Phân loại nguyên vật liệu
NVL sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, mỗi loại có vai trò công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong điều kiện đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phân loại NVL thì mới tổ chức tốt việcquản lý và hạch toán NVL Có nhiều cách phân loại NVL căn cứ vào chỉ tiêu khác nhau,
sau đây là một số cách phân loại phổ biến
Căn cứ vào yêu cầu quản lý, nguyên liệu, vật liệu bao gồm:
- Nguyên vật liệu chính: Đặc điểm chủ yếu của nguyên vật liệu chính là khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ cấu thành nên thực thể sản phẩm,
toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị của sản phẩm mới
- Vật liệu phụ: Là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để bảo đảm cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu
kỹ thuật, nhu cầu quản lý
- Nhiên liệu: Là những vật liệu để tạo nhiệt năng như than đá, than bùn, củi, xăng, dầu… Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu phụ, tuy nhiên nó được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu dùng
Trang 6nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn khác với
các loại vật liệu phụ thông thường
- Phụ tùng thay thế: Là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,
bảo dưỡng TSCĐ
- Vật liệu và thiết bị XDCB: Là những vật tư được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt cho công
trình xây dựng cơ bản
Các loại vật liệu khác: bao gồm các loại vật liệu không thuộc những loại vật liệu đã nêu trên như bao bì đóng gói sản phẩm, phế liệu thu hồi được trong quá trình sản xuất và thanh lý tài sản
*Căn cứ nguồn gốc nguyên vật liệu:
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến
- Nguyên vật liệu tự gia công chế biến
*Căn cứ vào mục đích sử dụng:
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất sản phẩm
- Nguyên vật liệu dùng cho công tác quản lý
- Nguyên vật liệu dùng cho các mục đích khác [1, trang 83]
Trong hai cách phân loại trên thì cách phân loại thứ nhất căn cứ vào yêu cầu quản lý nguyên vật liệu của NVL được sử dụng rộng rãi và thông dụng hơn Hạch toán theo cách phân loại nói trên, đáp ứng được yêu cầu phản ánh tổng quát về mặt giá trị đối với mỗi loại NVL Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý và hạch toán về số lượng và giá trị đối với từng thứ NVL, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công dụng của NVL, các doanh nghiệp phải tiếp tục chi tiết và hình thành nên “Sổ danh điểm vật liệu” Sổ này xác định thống nhất tên gọi, ký mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của từng danh điểm NVL
Trang 71.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu
- Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Các loại nguyên vật liệu thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do đó về nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu cũng phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho Theo chuẩn mực 02 - Hàng tồn kho ″Hàng tồn kho của doanh nghiệp được đánh giá theo giá gốc ( trị giá vốn thực tế) và trong trường hợp giá trị thuần có thể thục hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần
có thể thực hiện được" [6]
Giá trị thuần có thực hiện được của vật tư là giá ước tính của nguyên vật liệu trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường trừ đi chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm
Giá gốc vật tư được xác định cụ thể cho từng loại bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí khác có kiên quan đến việc sở hữu các loại nguyên vật liệu đó
Chi phí mua nguyên vật liệu bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp bảo quản trong quá trình mua nguyên vật liệu đó
Chi phí chế biến nguyên vật liệu bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất chế biến ra các loại nguyên vật liệu đó
Trường hợp sản xuất ra nhiều loại nguyên vật liệu trên một quy trình công ngệ mà không thể tách được các chi phí chế biến thì phải phân bổ các chi phí này theo tiêu chuẩn thích hợp
Trường hợp có sản phẩm phụ thì giá trị sản phẩm phụ được tình theo giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị này được loại trừ khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung cho sản phẩm chính
Các khoản chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và các khoản chi phí khác phát sinh trên mức bình thường, chi phí bán hàng, chi phí quản lí doanh nghiêp không được tính vào giá gốc của nguyên vật liệu
Nguyên tắc thận trọng: NVL được tính giá theo giá gốc nhưng trừ trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá trị gốc thì tính theo giá trị
Trang 8thuần có thể thực hiện được Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá trị bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất kinh doanh trừ đi chi phí ước tính
để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng
Thực hiện được nguyên tắc này kế toán lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và trên báo cáo tài chính trình bày thông qua hai chỉ tiêu trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu và dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Nguyên tắc nhất quán: Các phương pháp kế toán áp dụng trong tính giá nguyên vật liệu phải đảm bảo tính nhất quán Tức là kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó nhất quán trong suốt niên độ kế toán Nếu doanh nghiệp có yêu cầu thay đổi phương pháp đã lựa chọn thì phải giải thích lý do thay đổi và ảnh hưởng của sự thay đổi đó
1.2.2.1 Đánh giá nguyên vật liệu nhập kho
Tính giá là một công tác quan trọng trong việc tổ chức hạch toán NVL Tính giá NVL là dùng tiền để biểu hiện giá trị của chúng Theo quy định của chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho – Hàng tồn kho được tính theo giá gốc Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được, cụ thể:
- Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và
trạng thái hiện tại
- Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm: Giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng
và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất
được trừ (-) khỏi chi phí mua
- Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất như: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định, chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển
hoá nguyên, vật liệu thành thành phẩm
- Chi phí liên quan trực tiếp khác được tính vào giá gốc hàng tồn kho bao
Trang 9gồm các khoản chi phí khác ngoài chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho Như vậy phù hợp với chuẩn mực kế toán hàng tồn kho trong công tác hạch toán NVL ở các doanh nghiệp, NVL được tính theo giá thực tế
Giá thực tế của NVL là loại giá được hình thành trên cơ sở các chứng từ
hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra NVL
Giá thực tế của NVL nhập kho được xác định tuỳ theo từng nguồn nhập
♦ Đối với NVL mua ngoài thì các yếu tố để hình thành nên giá thực tế là:
- Giá hoá đơn kể cả thuế nhập khẩu (nếu có):
+ Đối với những doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
thì thuế GTGT không được tính vào giá thực tế của NVL
+ Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì
thuế GTGT được tính vào giá thực tế của NVL
- Chi phí thu mua: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức…
(cũng được xác định trên cơ sở phương pháp tính thuế GTGT
mà doanh nghiệp lựa chọn)
♦ Đối với NVL gia công chế biến xong nhập kho thì thực tế bao gồm giá
xuất và chi phí gia công chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ…
♦ Đối với NVL nhận vốn góp liên doanh hoặc cổ phần thì giá thực tế của
NVL là giá trị được các bên tham gia góp vốn thừa nhận
♦ Đối với NVL vay mượn tạm thời của đơn vị khác, thì giá thực tế nhập
kho được tính theo giá thị trường hiện tại của số NVL đó
♦ Đối với phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì giá thực tế được tính theo đánh giá thực tế hoặc theo giá bán trên thị
trường
1.2.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu xuất kho
Việc lựa chọn phương pháp tính giá thực tế vật tư xuất kho phải căn cứ vào
Chi phí thu mua
Thuế (không hoàn lại)
Chiết khấu thương mại, giảm giá
Trang 10đặc điểm của từng doanh nghiệp về số lượng danh điểm, số lần nhập xuất kho, trình độ của nhân viên kế toán, thủ kho, điều kiện kho hàng của doanh nghiệp Việc tính giá NVL là cơ sở để xác định chi phí NVL trực tiếp Do đó nó cũng là
cơ sở để kế toán tính giá thành sản phẩm và ghi giá vốn hàng bán Với mọi
doanh nghiệp việc tính giá NVL đều phải đảm bảo phương trình cân bằng sau: NVL tồn ĐK + nhập trong kỳ = NVL tồn CK + xuất trong kỳ
Việc tính giá hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương
pháp sau: [1, trang 88]
- Phương pháp bình quân gia quyền
- Phương pháp giá thực tế đích danh
- Phương pháp nhập trước - xuất trước
- Phương pháp nhập sau - xuất trước
- Phương pháp bình sau mỗi lần nhập
Các phương pháp sau đây được trình bày về tính giá NVL trong doanh nghiệp
* Giá thực tế đích danh (tính trực tiếp):
- Đặc điểm: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có điều kiện bảo quản riêng từng lô NVL, nhập kho, vì vậy khi xuất kho lô nào thì tính
theo giá thực tế nhập kho đích danh của lô đó
- Ưu điểm: Phương pháp này có ưu điểm là công tác tính giá được thực hiện kịp thời và thông qua việc tính giá NVL, xuất kho, kế toán có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô vật tư Tuy nhiên, để áp dụng được áp dụng được phương pháp này, thì điều kiện cốt yếu là hệ thống kho tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản riêng từng lô nhập kho Có thể nói đây là phương pháp lý tưởng, giá trị vật tư được phản ánh theo giá trị thực tế của nó, đồng thời phương pháp này tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp của hạch toán kế toán là chi
phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế
- Nhược điểm: Phương pháp này đòi hỏi những điều kiện áp dụng rất khắt khe trong việc quản lý và phân lô sản phẩm Chính vì thế mà doanh nghiệp rất khó có thể áp dụng phương pháp này nếu như không có bộ máy quản lý tốt
Trang 11Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có ít chủng loại
NVL, giá trị của mỗi loại lớn, dễ phân biệt giữa các chủng loại với nhau
* Phương pháp nhập trước - xuất trước
- Đặc điểm: NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định là lô NVL nào nhập vào kho trước sẽ được xuất dùng trước, vì vậy lượng NVL xuất kho thuộc lần nhập nào thì tính giá thực tế của lần nhập đó Nói cách khác, giá thực tế của số hàng nhập trước sẽ dùng làm giá để tính giá thực tế của số hàng xuất trước và vì thế giá thực tế của số vật tư tồn cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số
hàng mua vào sau
- Ưu điểm: Phương pháp này là nó gần đúng với luồng tiền xuất nhập hàng trong thực tế Trong trường hợp vật tư được quản lý theo đúng hình thức nhập trước xuất trước thì phương pháp này gần giống như phương pháp giá thực tế đích danh Do đó sẽ phản ánh tương đối chính xác giá trị của vật tư xuất kho Hơn nữa, giá trị vật tư còn lại cuối kỳ là giá trị hàng mua vào sau nên nó được phản ánh gần đúng với giá trị thị trường Phương pháp này thích hợp với điều
kiện hàng tồn kho luân chuyển nhanh
- Nhược điểm: Phương pháp nhập trước - xuất trước là phải tính theo từng danh điểm NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá nên tốn nhiều công sức Ngoài ra phương pháp này làm cho chi phí kinh doanh của
doanh nghiệp không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL
Phương pháp nhập trước - xuất trước chỉ thích hợp với những doanh nghiệp
có ít danh điểm NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều
* Phương pháp Nhập sau - xuất trước
- Đặc điểm: Theo phương pháp này, NVL được tính giá thực tế xuất kho trên cơ sở giả định là lô NVL nào nhập kho sau sẽ được xuất dung trước, vì vậy việc tính giá xuất của NVL được làm ngược lại với phương pháp Nhập trước -
xuất trước
- Ưu điểm: Trước hết nó khắc phục được những nhược điểm của phương pháp Nhập trước - xuất trước, nó đảm bảo được nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí, cụ thể là doanh thu hiện tại được tạo ra bởi giá trị của vật tư mới
Trang 12được thu mua vào ngày gần đó Điều này dẫn đến việc kế toán sẽ cung cấp những thông tin đầy đủ và chính xác hơn về thu nhập của doanh nghiệp trong
kỳ Phương pháp này đặc biệt đúng trong thời kỳ lạm phát
Thuế là nguyên nhân làm cho phương pháp này được áp dụng phổ biến Khi giá cả thị trường có xu hướng tăng lên, phương pháp này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được số thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước
- Nhược điểm: Phương pháp này bỏ qua việc nhập xuất vật tư trong thực tế Vật tư trong kỳ được quản lý gần như phương pháp nhập trước - xuất trước Hơn nữa, với phương pháp này chi phí quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp có thể cao và phải mua thêm vật tư nhằm tính vào giá vốn hàng bán những chi phí mới nhất với giá cao Điều này trái ngược với xu hướng quản lý hàng tồn kho một
cách có hiệu quả, giảm thiểu hàng tồn kho nhằm cắt giảm chi phí quản lý NVL
Phương pháp này dẫn đến thu nhập thuần của doanh nghiệp giảm trong điều kiện lạm phát Các nhà quản lý trong doanh nghiệp dường như thích trên báo cáo tài chính phản ánh lợi nhuận sau thuế cao hơn là chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp ít đi Một nhược điểm khác đó là giá trị NVL, trên bảng cân đối kế toán có thể bị phản ánh thấp đi so với giá trị thực tế của nó Vì theo phương pháp này giá trị hàng tồn kho sẽ bao gồm vật tư được nhập về đầu tiên với giá thấp hơn so với giá hiện thời Điều này làm cho vốn lưu động của doanh nghiệp
thấp hơn giá thực tế HTK
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có ít chủng loại NVL,
số lần nhập ít, vật tư không có thời hạn bảo quản
* Phương pháp bình quân gia quyền
- Đặc điểm: Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán xác định được giá được giá bình quân của một đơn vị NVL Căn cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực tế xuất trong kỳ:
Trang 13kế toán vào trong công tác kế toán, nên đây cũng không phải là một nhược điểm
quá lớn của phương pháp này
* Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập
- Đặc điểm: Theo phương pháp này, sau mỗi lần nhập kế toán phải xác định giá bình quân của từng danh điểm NVL Căn cứ vào giá đơn vị bình quân
và lượng NVL xuất kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế
nghiệp có ít danh điểm NVL và số lần nhập của mỗi loại không nhiều
1.3 Chuẩn mực kế toán áp dụng trong kế toán nguyên vật liệu
Chuẩn mực kế toán áp dụng trong kế toán nguyên vật liệu là chuẩn mực số
02 - Hàng tồn kho Các vấn đề chuẩn mực này quy định bao gồm: Xác định giá trị hàng tồn kho; phương pháp tính giá trị hàng tồn kho; lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; ghi nhận chi phí
Trang 14- Xác định giá trị hàng tồn kho
Hàng tồn kho được xác định theo giá gốc Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
- Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho
Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp: Phương pháp tính theo giá đích danh; Phương pháp bình quân gia quyền; Phương pháp nhập trước, xuất trước; Phương pháp nhập sau, xuất trước
- Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập, là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho Đối với dịch
vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính theo từng loại dịch vụ có mức giá riêng biệt
Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần
có thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó Trường hợp cuối kỳ kế toán năm nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập, để đảm bảo cho giá trị của hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) hoặc theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được)
- Ghi nhận chi phí
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến
Trang 15chúng được ghi nhận
1.4 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu
1.4.1 Thủ tục nhập - xuất kho nguyên vật liệu
1.4.1.1 Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu
Bộ phận cung cấp vật tư căn cứ vào kế hoạch mua hàng và hợp đồng mua hàng đã ký kết để tiến hành mua hàng Khi hàng về đến nơi, nếu xét thấy cần thiết có thể lập ban kiểm nghiệm vật tư sau đó đánh giá hàng mua về các mặt số lượng, chất lương và quy cách
Căn cứ vào kết quả kiểm nghiệm ban kiểm nghiệm lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư” Sau đó bộ phận cung cấp cấp hàng lập phiếu nhập kho trên cơ
sở hóa đơn và biên bản, sẽ ghi số lượng thực nhập vào phiếu nhập, giao cho thủ kho làm thủ tục nhập kho Trường hợp phát hiện thừa, thiếu, sai quy cách phẩm chất thủ kho phải báo cáo cho bộ phận cung cấp, cùng với người giao lập biên bản Hàng ngày hoặc định kỳ, thủ kho chuyển giao phiếu nhập cho kế toán vật
tư làm căn cứ để ghi sổ kế toán
1.4.1.2 Thủ tục xuất kho nguyên vật liệu
Căn cứ vào phiếu xuất kho thủ kho xuất vật tư và ghi sổ thực xuất vào phiếu xuất Sau đó, ghi số lượng xuất và tồn kho của từng thứ vật tư vào thẻ kho Hằng ngày hoặc định kỳ thủ kho chuyển phiếu xuất kho cho kế toán vật tư, kế toán tính giá thành hoàn chỉnh phiếu xuất để lấy số liệu ghi vào sổ
1.4.2 Chứng từ kế toán sử dụng
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ
về vật tư bao gồm:
- Chứng từ nhập:
Hóa đơn giá trị gia tăng Mẫu số 01 GTKT - 3LL Hóa đơn bán hàng thông thường Mẫu số 02 GTKT - 3LL Hóa đơn cước phí vận chuyển Mẫu số 03 - BH
Biên bản kiểm nghiệm vật tư Mẫu số 03 - VT
Trang 16Bảng kê mua hàng (vật tư) Mẫu số 06 - VT
- Chứng từ xuất:
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ Mẫu số 03 PXK - 3LL
- Chứng từ theo dõi quản lý:
Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ Mẫu số 04 - VT
Biên bản kiểm kê vật tư Mẫu số 05 - VT
Bảng phân bổ nguyên vật liệu Mẫu số 07 - VT
- Ngoài ra còn sử dụng nhiều loại chứng từ khác trong kế toán nguyên vật liệu như:
Giấy thanh toán tiền tạm ứng… Mẫu số 04 - TT
Mỗi chứng từ kế toán NVL phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và
thời gian hợp lý phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp
thời của các bộ phận
1.4.3 Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
1.4.3.1 Nhiệm vụ, yêu cầu hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Tổ chức kế toán chi tiết nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo quản, công tác kiểm tra tình hình cung cấp, sử dụng nguyên vật liệu Mục tiêu chủ yếu của công tác kế toán chi tiết nguyên vật liệu là cung cấp thông tin cần thiết để quản lý từng danh điểm nguyên vật liệu, giá trị tồn kho Hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà còn về mặt hiện vật, không chỉ theo từng kho mà chi tiết cho từng loại và được tiến hành đồng thời ở các kho và phòng kế toán Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết và lựa chọn phương pháp kế toán chi tiết cho phù hợp Hạch toán
chi tiết phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây:
- Theo dõi chặt chẽ tình hình nhập - xuất - tồn theo chỉ tiêu hiện vật của
Trang 17từng danh điểm vật tư
- Tổng hợp tình hình luân chuyển và tồn kho của từng danh điểm theo từng kho
và trên phạm vi toàn doanh nghiệp, tạo căn cứ để đối chiếu số liệu trên sổ cái TK 152
1.4.3.2 Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu
Hiện nay, các doanh nghiệp thường hạch toán chi tiết vật tư theo một trong
3 phương pháp chủ yếu, đó là: [1, trang 89]
- Phương pháp thẻ song song
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
Mỗi phương pháp có hệ thống sổ sách riêng, trình tự ghi sổ khác nhau, và
có đặc điểm cũng như ưu nhược điểm riêng nên mỗi phương pháp có điều kiện
áp dụng khác nhau chỉ phù hợp với điều kiện áp dụng nhất định Vì vậy mà mỗi doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình, căn cứ vào đặc điểm NVL để lựa chọn một phương pháp hạch toán thích
hợp và hiệu quả nhất
* Phương pháp thẻ song song
Ưu điểm : Phương pháp này rất đơn giản trong khâu ghi chép, đối chiếu số liệu và phát hiện sai sót, đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn kho của
từng danh điểm vật tư kịp thời, chính xác
Nhược điểm : Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán cũng trùng lặp về chỉ tiêu số lượng làm tăng khối lượng công việc của kế toán, ngoài việc kiểm tra đối chiếu số lượng chủ yếu tiến hành vào cuối tháng do vậy hạn chế tính chất
kịp thời
Điều kiện áp dụng : Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp
sử dụng kế toán máy Đối với doanh nghiệp sử dụng kế toán thủ công thì chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có ít danh điểm vật tư, khối lượng các nghiệp vụ nhập - xuất ít, không thường xuyên
* Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
- Ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng:
+ Ưu điểm : Khối lượng ghi chép của phòng kế toán được giảm bớt do chỉ
Trang 18ghi một lần vào cuối tháng
+ Nhược điểm: Việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về mặt số lượng ; hạn chế tác dụng của kiểm tra vì công việc đối chiếu số liệu chỉ đợc thực hiện vào cuối tháng
+ Điều kiện áp dụng: Áp dụng đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chủng loại và khối lượng nhập, xuất vật liệu không thường xuyên, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết nguyên vật liệu, do vậy không có điều kiện ghi chép theo dõi tình hình nhập xuất hàng ngày
* Phương pháp sổ số dư:
- Ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng:
+ Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm được khối lượng công việc ghi chép vì chỉ ghi sổ theo nhóm vật liệu và theo chỉ tiêu giá trị
+ Nhược điểm: Do chỉ ghi sổ theo nhóm vật liệu và theo chỉ tiêu giá trị nên không biết được sự biến động của từng loại vật liệu, khó kiểm tra khi đối chiếu thấy không khớp đúng
+ Điều kiện áp dụng: Áp dụng đối với doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập, xuất vật liệu phát sinh thường xuyên và đã xây dựng được hệ thống danh điểm vật liệu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ kế toán vững vàng
các chứng từ nhập - xuất đó được phân loại cho phòng kế toán
- Tại phòng kế toán
Hàng ngày hoặc định kỳ kế toán xuống kho để lấy chứng từ nhập - xuất kho Kế toán phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi căn cứ vào đó
Trang 19ghi vào sổ thẻ chi tiết NVL theo chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu giá trị cho từng loại NVL nhập xuất kho Mẫu sổ, thẻ kế toán chi tiết tương tự như thẻ kho nhưng có thêm cột thành tiền
Cuối tháng, căn cứ vào số liệu trên sổ, thẻ kế toán chi tiết vật tư để lập bảng
kê nhập - xuất - tồn kho NVL để lập bảng kê nhập - xuất - tồn kho mỗi loại vật tư Việc đối chiếu số liệu số lượng giữa phòng kế toán với thủ kho thông qua đối chiếu số liệu tương ứng giữa thẻ kho với sổ, thẻ chi tiết vật tư và đối chiếu
số lượng từng lần nhập - xuất Việc đối chiếu số liệu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết được thực hiện bằng việc đối chiếu chỉ tiêu thành tiền trên bảng
tổng hợp nhập - xuất - tồn với số liệu trên sổ cái TK 152 Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song (Phụ lục 01)
* Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
Đặc điểm công việc tại phòng kế toán và tại kho:
Sổ đối chiếu luân chuyển được theo dõi cả về mặt chỉ tiêu số lượng và giá trị Cuối tháng kế toán và thủ kho kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng nhập và tổng xuất giữa sổ đối chiếu luân chuyển và thẻ kho với số liệu tổng hợp
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp ghi sổ đối
chiếu luân chuyển (Phụ lục 02)
Trang 20phương pháp ghi thẻ song song Sau đó cuối tháng căn cứ vào thẻ kho, thủ kho ghi vào sổ số dư Nhưng thủ kho chỉ ghi vào cột số lượng trên Sổ số dư mà không ghi vào cột giá trị
♦ Tại phòng kế toán:
Định kỳ khoảng 3, 5, 10 ngày kế toán xuống kho cùng thủ kho lập phiếu giao nhận chứng từ nhập kho, chứng từ xuất kho Kế toán căn cứ vào phiếu giao nhận chứng từ để tính thành tiền và ghi vào bảng luỹ kế nhập - xuất - tồn Sau
đó, khi nhận được sổ số dư và thẻ kho, kế toán tính giá trị thực tế của vật tư bằng cách lấy số lượng nhân với đơn giá thực tế để điền vào cột thành tiền trên
sổ số dư và đối chiếu với bảng luỹ kế nhập - xuất - tồn
Sơ đồ 1.3: Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp ghi sổ số dư (Phụ lục 03)
1.5 Kế toán tổng hợp tăng, giảm nguyên vật liệu
1.5.1 Tài khoản kế toán sử dụng
Để phản ánh số hiện có và tình hình biến động của nguyên vật liệu, kế toán
sử dụng:
Tài khoản 152- Nguyên liệu vật liệu
Công dụng: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của nguyên vật liệu theo giá gốc [1, trang 91]
Kết cấu cơ bản của tài khoản này như sau:
+ Bên Nợ ghi:
- Trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập trong kỳ
- Số tiền điều chỉnh tăng giá nguyên vật liệu khi đánh giá lại
- Trị giá nguyên vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê
+ Bên Có ghi:
- Trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu xuất trong kỳ
- Số tiền giảm giá, chiết khấu thương mại hàng mua
- Số tiền điều chỉnh giảm giá nguyên vật liệu khi đánh giá lại
- Trị giá nguyên vật liệu thiếu phát hiện khi kiểm kê
+ Số dư Nợ: Phản ánh trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ
TK 152 có thể được mở theo dõi chi tiết các TK cấp 2 theo từng loại
Trang 21nguyên vật liệu phù hợp với nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.Bao gồm:
Tài khoản 151 – Hàng mua đang đi đường
Công dụng: Tài khoản này phản ánh trị giá vốn thực tế các loại nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua nhưng chưa về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đang đi đường đã về nhập kho
Kết cấu tài khoản này như sau:
+ Bên Nợ ghi: Trị giá vật tư đang đi đường
+ Bên Có ghi: Trị giá vật tư đang đi đường tháng trước, tháng này đã về nhập kho hay đưa vào sử dụng ngay
+ Số dư Nợ: Phản ánh trị giá vật tư đang đi đường cuối kỳ
Tài khoản 331 – Phải trả người bán
Công dụng: TK này dùng để phản ánh mối quan hệ giữa DN với người bán, người nhận thầu về các khoản vật tư, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng
kinh tế đã ký TK 331 được mở chi tiết cho từng đối tượng cụ thể
Tài khoản 133 – Thuế GTGT được khấu trừ
Công dụng: Dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đó
khấu trừ và cũn được khấu trừ
Ngoài ra kế toán tổng hợp NVL còn sử dụng các TK liên quan khác nhau
như: TK 111, TK 112, TK 128, TK 621, TK 627, TK 641, TK 642…
1.5.2 Phương pháp kế toán tổng hợp tăng, giảm nguyên vật liệu
1.5.2.1 Kế toán tổng hợp tăng nguyên vật liệu
Nhập mua vật tư trong nước
* Trường hợp vật tư và hóa đơn cùng về trong kỳ: Căn cứ vào phiếu nhập kho,
Trang 22hóa đơn và chứng từ thanh toán ( nếu đã thanh toán) kế toán phản ánh:
Nợ TK 152 (chi tiết)
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ (nếu DN tính thuế theo phương pháp
khấu trừ)
Có 111, 112, 331, 311, 141…
Nếu vật tư thừa so với hóa đơn
Có 2 cách để xử lý giá trị vật tư thừa so với hóa đơn
Cách 1: Nhập theo số thực nhập
Nợ TK 152 giá thực nhập
Nợ TK 133: VAT theo hóa đơn
Có TK 331: Tổng thanh toán theo hóa đơn
- Nếu mua lại số thừa của người bán:
Nợ TK 3381: Giá trị mua lại
Nợ TK 133 Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 331 Phải trả thêm cho người bán
Cách 2 : Nhập theo đúng hóa đơn
Phần thừa được ghi đơn Nợ TK 002
- Nếu mua lại của người bán:
Nợ Tk 152
Nợ TK 133
Có TK 331
Và Ghi đơn Có TK 002: Số thừa
- Nếu trả lại cho người bán
Ghi đơn Có TK 002
Nếu vật tư thiếu so với hóa đơn:
Trang 23Phản ánh giá trị thực nhập và phần thiếu hụt được phản ánh vào TK 1381
- Không phải lỗi của bên bán
Nợ TK 1388: Cá nhân bồi thường
Nợ TK 811/632: Tính vào chi phí
Có TK 1381: Giá trị thiếu
* Vật tư về trước, hóa đơn về sau: Khi vật tư về ,lưu phiếu nhập kho vào
tập hàng chưa có hóa đơn.Nếu trong kỳ hóa đơn về hạch toán hoàn toàn tương tự trường hợp trên.Nếu cuối kỳ hóa đơn chưa về th kế toán phản ánh theo giá tạm
Trang 24- Phản ánh thuế:
Nợ TK 133
Có TK 331
* Trường hợp Hóa đơn về trước, vật tư về sau: Lưu hóa đơn vào tập hồ sơ
hàng mua đi đường
Nếu trong kỳ hàng về nhập kho thì hạch toán bình thường
Nếu đến cuối kỳ hàng chưa về thì kế toán hạch toán vào hàng mua đi đường
- Giá trị NVL nhập khẩu bao gồm tổng số tiền phải thanh toán cho người bán,
thuế nhập khẩu phải nộp, chi phí thu mua, vận chuyển…
Nợ TK 152 Trị giá vật tư nhập khẩu
Có TK 3333 Thuế nhập khẩu phải nộp
Có TK 111, 112, 331… Tổng giá thanh toán cho người bán
- Nếu hàng nhập khẩu dùng vào sản xuất hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ thì thuế GTGT hàng nhập khẩu sẽ được phản ánh
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 33312: Thuế GTGT hàng nhập khẩu
- Nếu hàng hóa nhập khẩu dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT hoặc nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc dùng vào hoạt động sự nghiệp, chương trình, dự án văn hóa, phúc lợi được đầu
tư bằng các nguồn kinh phí khác th thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp được tính vào giá trị hàng mua:
Trang 25Nợ TK 152
Có TK 33312 – Thuế GTGT hàng nhập khẩu
1.5.2.2 Kế toán tổng hợp giảm nguyên vật liệu
Xuất góp vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết Giá trị của vật tư
được hội đồng liên doanh, liên kết đánh giá lại:
Nợ TK 222, 223 Theo giá đánh giá lại
Nợ TK 811 - Giá đánh giá lại nhỏ hơn giá trị ghi sổ của vật tư hàng hóa
Có TK 3387 – Giá đánh giá lại của vật tư, hàng hóa lớn hơn giátrị ghi sổ
- Xuất cho vay mượn:
Nợ TK 111, 112, 131 – Tổng giá thanh toán
Có TK 511 – Giá bán chưa VAT
Có TK 33311 – Thuế VAT
Kiểm kê thiếu NVL
- Phản ánh trị giá vật tư thiếu khi kiểm kê:
Nợ TK 1381 – Giá trị vật tư thiếu
1.6 Công tác kiểm kê nguyên vật liệu và đánh giá lại nguyên vật liệu
Kiểm kê là một trong những biện pháp để quản lý nguyên vật liệu Thông qua kiểm kê, doanh nghiệp nắm được hiện trạng của nguyên vật liệu cả về số
Trang 26lượng, chất lượng , ngăn ngừa và phát hiện những hiện tượng tham ô, lãng phí,
và có biện pháp quản lý tốt hơn đảm bảo an toàn nguyên vật liệu cho doanh nghiệp [1, trang 97]
Đánh giá lại nguyên vật liệu thường trong trường hợp đem nguyên vật liệu
đi góp vốn liên doanh, và trong trường hợp giá nguyên vật liệu có biến động lớn Tùy theo yêu cầu quản lý, kiểm kê có thể thực hiện theo phạm vi toàn doanh nghiệp hay từng bộ phận, đơn vị; kiểm kê định kỳ hay kiểm kê bất thường
Khi kiểm kê doanh nghiệp phải lập hội đồng hoặc ban kiểm kê với đầy đủ các thành phần theo quy định, khi kiểm kê phải cân đo, đong, đếm cụ thể đối với từng loại nguyên vật liệu và phải lập biên bản kiểm kê theo quy định (Mẫu số 08-VT), xác định chênh lệch giữa số ghi trên sổ kế toán với số thực kiểm kê, trình bày ý kiến xử lý các chênh lệch
- Căn cứ vào biên bản kiểm kê kế toán ghi:
+ Nếu thừa nguyên vật liệu chưa rõ nguyên nhân:
Có TK 412: Chênh lệch đánh giá lại tài sản
+ Nếu đánh giá lại nhỏ hơn giá ghi sổ kế toán, phần chênh lệch do đánh giá lại
Trang 27nghiệp thực hiện Hội đồng này có trách nhiệm phân tích các nguyên nhân cụ thể để có các kết luận khách quan
Căn cứ quyết định của hội đồng xử lý tài sản để ghi sổ kế toán:
+ Nếu được ghi tăng thu nhập phần giá trị nguyên vật liệu thừa:
Nợ TK 1388: (Phải thu tiền bồi thường của người phạm lỗi)
Nợ TK 334: (Phần trừ vào lương của người phạm lỗi)
Nợ TK 632: (Phần mất mát, hao hụt còn lại tính vào giá vốn)
Có TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý
- Trường hợp xử lý các khoản tăng giảm do đánh giá lại
+ Nếu chênh lệch tăng được ghi tăng nguồn vốn kinh doanh:
1.7 Dự phòng giảm giá nguyên vật liệu
Dự phòng giảm giá vật tư tồn kho là việc ước tính một khoản tiền tính vào chi phí (giá vốn hàng bán) vào thời điểm cuối niên độ khi giá trị thuần có thể thực hiện được của vật tư tồn kho nhỏ hơn giá gốc Giá trị dự phòng vật tư được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của vật tư tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được [1, trang 99]
Ngày 27/02/2006, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 13/2006/TTBTC hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Trang 28Theo đó hạch toán dự phòng giảm giá HTK được quy định như sau:
Cuối kỳ kế toán hàng năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ hơn giá trị gốc thì phải lập dự phòng giảm giá HTK Số dự phòng giảm giá HTK được lập là số chênh lệch giữa giá gốc HTK lớn hơn giá trị thuần có thể
+ Cuối niên độ kế toán năm sau (31/12/N+1) tiếp tục tính mức dự phòng cần lập
cho năm tiếp theo
Nếu khoản dự phòng phải lập cuối kỳ kế toán năm nay lớn hơn khoản dự
phòng giảm giá đã lập cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn được
lập thêm:
Nợ TK 632 (CT)
Có TK 159
Nếu khoản dự phòng phải lập cho năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng đã lập năm
trước thì số chênh lệch nhỏ hơn được hoàn nhập:
Nợ TK 159
Có TK 632 (CT)
1.8 Hệ thống sổ kế toán vận dụng trong công tác kế toán nguyên vật liệu
Hệ thống sổ kế toán sử dụng theo hình thức kế toán trên máy vi tính:
- Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính
Số dự phòng
cần trích lập
năm N + 1
Số lượng HTK Ngày 31/12/N
Đơn giá gốc hàng
tồn kho
Đơn giá ước tính có
thể bán
Trang 29Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định
- Các loại sổ của hình thức kế toán trên máy vi tính:
Phần mềm kế toán được thiết kế theo hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay
Sơ đồ 1.4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính (phụ lục 04)
1.8.1 Hệ thống sổ chi tiết
Trong công tác kế toán nguyên vật liệu gồm các sổ chi tiết :
Sổ (Thẻ) kho – Mẫu số S12-DN
Biểu 1.1: Sổ (Thẻ) kho – Mẫu số S12-DN (Phụ lục 05)
Sổ (Thẻ) chi tiết vật liệu – Mẫu số S10-DN
Biểu 1.2: Sổ (Thẻ) chi tiết vật liệu – Mẫu số S10-DN (Phụ lục 06)
Sổ nhật ký mua hàng – Mẫu số S03a3 - DN
Biểu số 1.4: Sổ nhật ký mua hàng – Mẫu số S03a3 - DN (Phụ lục 08)
Sổ cái TK 152 - Mẫu số S03b-DN
Biểu số 1.5: Sổ cái TK 152 - Mẫu số S03b-DN (Phụ lục 09)
Sổ nhật ký chung - Mẫu số S03a-DN
Biểu số 1.6: Sổ nhật ký chung - Mẫu số S03a-DN (Phụ lục 10)
Theo hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái, trong công tác kế toán nguyên vật liệu gồm sổ tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký – Sổ cái – Mẫu số S01-DN
Trang 30Theo hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, trong công tác kế toán nguyên vật liệu gồm các sổ tổng hợp:
Chứng từ ghi sổ - Mẫu số S02a-DN
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ - Mẫu số S02b-DN
Trang 31Chương 2 Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần xi măng
Bỉm Sơn
2.1 Khái quát chung về công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Giới thiệu chung về công ty cổ phần Xi Măng Bỉm Sơn:
- Tên công ty : Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
- Tên tiếng Anh : Bim Son Cement Joint Stock Company
- Tên viết tắt : BCC
- Biểu tượng của công ty :
- Trụ sở : Phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Điện thoại : (84-37) 824.242 Fax: (84-37) 824.046
- Địa chỉ Email: ttximangbimson@hn.vnn.vn
- Website : www.ximangbimson.com.vn
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2603000429 do Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 01/05/2006
- Mã số thuế doanh nghiệp: 2800232620
Lĩnh vực sản xuất kinh doanh : Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu xi măng
- Vốn điều lệ : 956.613.970.000 đồng (Chín trăm năm sáu tỷ sáu trăm mười
ba triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng)
Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn :
Công ty CP xi măng Bỉm Sơn tiền thân là nhà máy xi măng Bỉm sơn, trụ sở đặt tại phường Ba Đình - Bỉm Sơn - Thanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá
Trang 3235km về phía Bắc và cách thành phố Hà Nội 125km về phía Nam Vị trí của Nhà máy nằm gần vùng núi đá vôi, đất sét có trữ lượng dồi dào và chất lượng tốt Đây là 2 nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất xi măng chất lượng cao nên
có thể nói đó là thuận lợi lớn về nguồn tài nguyên phong phú, tạo đà cho nhà máy nhanh chóng đi vào sản xuất và phát triển
Vào ngày 04/03/1980, Chính Phủ đã ra quyết định số 334/BXD-TCCB thành lập nhà máy xi măng Bỉm Sơn Sau gần hai năm thi công nữa, ngày 22/12/1981 một dây chuyền của nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động Cũng cần phải nói thêm, với thiết bị kỹ thuật công nghệ hiện đại của Liên Xô lúc bấy giờ, Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn có công suất thiết kế 1,20 triệu tấn sản phẩm/năm Được trang bị hai dây chuyền với công nghệ theo phương pháp ướt, sản phẩm của Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn mang nhãn hiệu “Con Voi” được đánh giá cao về chất lượng, được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm sử dụng Thực hiện chủ trương sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, ngày 12/8/1993, Bộ Xây Dựng ra quyết định số 366/BXD-TCLĐ hợp nhất công ty kinh doanh vật tư số 4 với Nhà máy xi măng Bỉm Sơn và lấy tên là công ty xi măng Bỉm Sơn
Công ty Xi măng Bỉm Sơn là doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam Từ khi thành lập đến nay, công ty đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Với công suất thiết kế của dây truyền sản xuất cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên có chuyên môn kỹ thuật tay nghề cao, có trình độ quản lý tốt, Công ty xi măng Bỉm Sơn không những cung cấp đáp ứng nhu cầu xây dựng dân dụng phổ biến của nhân dân và còn phục vụ cho nhiều công trình quan trọng mang tính chất quốc gia như: Thuỷ điện Hoà Bình, Bảo tàng Hồ Chí Minh, đường dây 500 Km Bắc Nam và xuất khẩu ra nước ngoài (chủ yếu sang Lào) Ngoài ra, công ty còn có nhiệm vụ chính trị là cung cấp xi măng cho các địa bàn theo sự điều hành tiêu thụ của Tổng công ty xi măng Việt Nam để tham gia vào việc bình ổn giá cả trên thị trường
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng xi măng Bỉm Sơn ngày càng cao theo sự tăng
Trang 33trưởng chung của đất nước, tháng 03/1994 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
dự án đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền số 2 Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn,chuyển đổi công nghệ sản xuất xi măng từ công nghệ ướt sang công nghệ khô hiện đại Dự án được khởi công ngày 13/01/2001 do hãng IHI Nhật Bản trúng thầu thực hiện thiết kế và cung cấp thiết bị kỹ thuật cho nhà máy và nâng công suất lò nung số 2 từ 1.750 tấn Clinker/ngày lên 3.500 tấn Clinker/ngày Sau
dự án cải tạo hiện đại hoá dây chuyền số 2, tổng công suất sản xuất của nhà máy được nâng lên từ 1,20 triệu tấn sản phẩm/năm lên 1,80 triệu tấn sản phẩm/năm
Ngày 23/03/2006, Bộ Xây dựng có Quyết định số 486/QĐ-BXD về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước: Công ty Xi măng Bỉm Sơn thuộc Tổng Công ty
Xi măng Việt Nam thành Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
Ngày 01/05/2006 Công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần
Sau khi hoàn thành dây chuyền sản xuất mới vào đầu năm 2009 đã đưa tổng công suất của Nhà máy lên 3,2 triệu tấn xi măng/năm
Với mục tiêu mở rộng thị trường, đáp ứng được nhu cầu trong và ngoài nước, trong những năm gần đây sản lượng tiêu thụ của công ty không ngừng tăng lên Do đó sản lượng sản xuất cũng phải tăng để đáp ứng được nhu cầu Tình hình kinh doanh của công ty có nhiều lợi thế và có nhiều thành tựu Với
sự cố gắng ngay từ khi bắt đầu xây dựng nhà máy, và trong suốt quá trình phát triển hiện nay công ty CP xi măng Bỉm Sơn là một trong những doanh nghiệp đầu ngành của ngành công nghiệp sản xuất xi măng Chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiêu thụ của tổng công ty xi măng Việt Nam
Doanh thu của Công ty liên tục tăng trong những năm gần đây và lợi nhuận thì cũng không ngừng tăng lên, năm 2012 lợi nhuận đạt mức 68.899.113.989 đồng trong khi năm 2011 chỉ đạt 49.565.450.675 Điều đó thể hiện sự cố gắng của công ty trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời nó cũng cho thấy sự phát triển của công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 342.1.2 Đặc điểm hoạt động và cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận của công ty CP xi măng Bỉm Sơn:
Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có
quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty Đại hội đồng cổ đông họp ít nhất mỗi năm một lần và trong thời hạn theo quy định của pháp luật
Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty gồm có năm (05) thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn nhiệm Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty, quản trị Công ty giữa hai kỳ Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ đông, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Ban Kiểm soát: Ban Kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của Công ty Ban kiểm soát hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám
đốc
Ban Giám đốc: Ban Giám đốc Công ty gồm 6 người, có 01 Giám đốc và
Trang 3505 Phó Giám đốc Cụ thể như sau:
Giám đốc: Là người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về
việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Các phó Giám đốc được phân công theo chức năng, nhiệm vụ:
Phó Giám đốc phụ trách nội chính: Giúp Giám đốc công ty quản lý, chỉ đạo điều hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của công ty, công tác hành chính văn phòng, công tác quân sự - phòng cháy - chữa cháy, công tác văn hóa xã hội và chăm lo sức khỏe đời sống cho CBCNV của Công ty
Phó Giám đốc phụ trách tiêu thụ sản phẩm: Giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo, điều hành công tác thị trường, tổ chức mạng lưới bán hàng, vận tải hàng hóa
và tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh của Công ty Phó Giám đốc phụ trách sản xuất: Giúp Giám đốc công ty quản lý, chỉ đạo điều hành về kỹ thuật công nghệ, sản xuất, đảm bảo năng suất, chất lượng sản phẩm, an toàn trong sản xuất và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế hoạch sản xuất - kinh doanh của Công ty
Phó Giám đốc phụ trách công tác cơ điện: Giúp Giám đốc công ty quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác cơ điện, cung cấp điện, nước, khí nén, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện bốc xúc, vận chuyển và hệ thống cầu đường đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty được liên tục, đạt hiệu quả cao
Phó giám đốc phụ trách công tác đầu tư xây dựng dự án dây chuyền mới: Trực tiếp giữ chức vụ Giám đốc Ban quản lý dự án xi măng Bỉm Sơn Tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Ban quản lý dự án theo đúng quy định của HĐQT công ty
- Ngoài ra còn có các phòng ban chủ yếu sau:
Phòng Kỹ thuật sản xuất: Có nhiệm vụ theo dõi điều độ sản xuất của các phân xưởng sản xuất chính và sản xuất phụ; quản lý kỹ thuật công nghệ sản xuất
xi măng nhằm đảm bảo sản xuất xi măng có chất lượng theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam quy định; quản lý chặt chẽ các quá trình sản xuất sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu để đạt hiệu quả kinh tế cao
Phòng Cơ khí: Có nhiêm vụ theo dõi tình hình hoạt động của thiết bị, sửa
Trang 36chữa chúng khi bị hư hỏng, chế tạo các thiết bị thay thế
Phòng Năng lượng: Có nhiệm vụ quản lý kỹ thuật trong lĩnh vực điện năng, theo dõi tình hình liên quan đến việc cung cấp năng lượng cho sản xuất
Phòng Điều hành sản xuất: Giúp giám đốc Công ty điều hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Phòng Thí nghiệm KCS: Giúp giám đốc kiểm tra, xác định chất lượng của nguyên vật liệu, phụ gia, bán thành phẩm, sản phẩm theo tiêu chuẩn Nhà nước quy định Tổ chức thí nghiệm, chế tạo thử các sản phẩm mới, nghiên cứu các phương pháp mới về cơ, lý, hoá để áp dụng vào sản xuất có hiệu quả
Phòng Kỹ thuật an toàn: Giúp giám đốc chỉ đạo về công tác an toàn và vệ sinh công nghiệp, bảo vệ môi trường, giám sát việc chấp hành quy trình an toàn; quản lý, cấp phát bảo hộ lao động theo quy định của Nhà nước
Phòng Tổ chức lao động: Tham mưu cho giám đốc về công tác quản lý, tổ chức lao động, tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động và các chế độ chính sách khác Thực hiện công tác hợp đồng lao động, đào tạo bồi dưỡng, thi đua khen thưởng
Phòng Kinh tế kế hoạch: Tham mưu cho giám đốc định hướng, dự báo kế hoạch lâu dài, xây dựng, tổng hợp và cân đối toàn bộ hệ thống kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn; xây dựng các biện pháp, kiểm tra đôn đốc, giám sát việc thực hiện kế hoach đề ra
Phòng Kế toán - Thống kê - Tài chính: Có chức năng quản lý tài chính và giám sát mọi hoạt động kinh tế tài chính trong công ty, tổ chức chỉ đạo toàn bộ công tác thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế nội bộ theo điều lệ kế toán tài chính
Phòng vật tư: Có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo và thực hiện kế hoạch cung ứng vật tư thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh
Phòng đời sống quản trị: Có nhiệm vụ tổ chức, quản lý các nhà ăn phục vụ ăn
ca cho CBCNV, nhà khách phục vụ cho khách đến giao dich, công tác
Phòng Bảo vệ: Có nhiệm vụ bảo vệ tài sản, gìn giữ trật tự an ninh trong địa bàn sản xuất của công ty, công tác phòng cháy chữa cháy, chống cháy nổ,
Trang 37xây dựng lực lượng dân quân tự vệ
Ban quản lý dự án: Có nhiệm vụ thay mặt chủ đầu tư (Giám đốc) để ký kết hợp đồng kinh tế với các tổ chức tư vấn, thực hiện các công việc phục vụ cho dự án cải tạo hiện đại hoá
Công ty còn có hệ thống tiêu thụ gồm trung tâm tiêu thụ và các chi nhánh, đại lý làm nhiệm vụ tiêu thụ xi măng trên địa bàn do từng chi nhánh phụ trách 2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh
- Chức năng : Chức năng của công ty CP xi măng Bỉm Sơn là sản xuất xi măng bao PC30, PC40 chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của Nhà nước với thông số kĩ thuật hàm lượng thạch cao trong xi măng đạt 1,3% đến 3%
- Nhiệm vụ : Công ty CP xi măng Bỉm Sơn có nhiệm vụ sản xuất và cung cấp
xi măng cho các công trình xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài (Hiện tại chủ yếu là xuất khẩu sang Lào)
- Lĩnh vực sản xuất kinh doanh : Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu xi măng, clinker 2.1.2.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất, qui trình công nghệ
Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty :
Cơ cấu tổ chức sản xuất của Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn bao gồm
11 phân xưởng, trong đó có 6 phân xưởng sản xuất chính (Xưởng mỏ, Xưởng ô
tô, Xưởng tạo nguyên liệu, Xưởng lò nung, Xưởng nghiền xi măng, Xưởng đóng bao) và 5 phân xưởng phụ trợ (Xưởng Sửa chữa thiết bị, Xưởng Công trình, Xưởng Điện tự động, Xưởng Cấp thoát nước - Nén khí, Xưởng Cơ khí)
- Phân xưởng sản xuất chính :
Là các phân xưởng thực hiện công việc sản xuất theo đúng quy trình công nghệ của Công ty áp dụng Nhiệm vụ cụ thể của từng phân xưởng như sau :
- Xưởng Mỏ: Làm nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo công tác khai thác đá vôi và đất sét cho sản xuất bằng các dụng cụ máy móc thiết bị
- Xưởng Ô tô: Thực hiện nhiệm vụ tổ chức và sử dụng hợp lý các loại phương tiện xe, máy để vận chuyển nguyên liệu đã khai thác và vận tải hàng hoá cho sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
- Xưởng Tạo nguyên liệu: Thực hiện nhiệm vụ nghiền đá vôi và đất sét
Trang 38tạo ra hỗn hợp dưới dạng bột (bột liệu) bằng các thiết bị chính là máy đập đá vôi, thiết bị nghiền và các thiết bị phụ trợ khác
- Xưởng Lò nung: Thực hiện nhiệm vụ quản lý thiết bị từ tiếp liệu, lò nung, nghiền than đến nạp Clinker và tổ chức vận hành đúng quy trình đảm bảo thiết bị hoạt động liên tục, đồng bộ nhằm tạo ra Clinker có chất lượng cao
- Xưởng Nghiền xi măng: Thực hiện nhiệm vụ nghiền hỗn hợp Clinker, thạch cao và các chất phụ gia khác thành xi măng bột bằng máy nghiền chuyên dùng và máy đập thạch cao
- Xưởng Đóng bao: Thực hiện nhiệm vụ đóng gói xi măng bột đã được sản xuất thành bao xi măng
- Xưởng Sửa chữa thiết bị: Thực hiện nhiệm vụ sửa chữa máy móc thiết bị phần cơ khí thuộc dây chuyền sản xuất của Công ty
- Xưởng sửa chữa công trình: Thực hiện nhiệm vụ sửa chữa các công trình kiến trúc, xây lót lò nung và làm công tác vệ sinh công nghiệp trong Công ty
- Xưởng Điện tự động: Có nhiệm vụ tổ chức quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả hệ thống điện được Công ty giao và đảm bảo vận hành an toàn các thiết
bị cung cấp điện trong Công ty
- Xưởng Cấp thoát nước nén khí: Thực hiện nhiệm vụ cung cấp khí nén cho máy móc thiết bị, nắm vững nhu cầu sử dụng khí nén và tổ chức vận hành thiết bị sản xuất khí nén
Quy trình công nghệ sản xuất
Quy trình Sản phẩm chính của công ty CP xi măng Bỉm Sơn là xi măng PCB30, PCB 40.Sản phẩm được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình công nghệ (Phụ lục 12)
Trang 39Khai thác nguyên liệu: Nguyên liệu sản xuất ra xi măng là đá vôi và đất sét được khai thác bằng phương pháp khoan nổ mìn, sau đó vận chuyển về nhà máy bằng ôtô
Nghiền nguyên liệu: Hỗn hợp hai nguyên liệu (đá vôi và đất sét) được cho vào máy nghiền Theo phương pháp ướt lò quay phối liệu ra khỏi máy nghiền có
độ ẩm từ 35%-36% được điều chỉnh thành phần hoá học trong tám bể chứa có dung tích 800 m3/bể, sau đó được chuyển vào hai bể dự trữ có dung tích 800
m3/bể Còn theo phương pháp khô lò quay, hỗn hợp hai nguyên liệu được sấy, lắng bụi
Nung clinker và nghiền xi măng: Phối liệu dưới dạng bùn hoặc bột được đưa vào lò quay thành clinker (ở dạng hạt) Trong quá trình này người ta cho thêm thạch cao và một số chất phụ gia khác để tạo ra thành xi măng bột Tuỳ theo từng chủng loại xi măng mà người ta sử dụng các chất phụ gia và tỷ lệ pha khác nhau
Đóng bao: Xi măng bột ra khỏi máy nghiền, dùng hệ thống nén khí để chuyển vào 8 xilô chứa sau đó được chuyển sang xưởng đóng bao Lúc đó thu được thành phẩm là xi măng bao, hoàn thành quy trình công nghệ sản xuất xi măng
2.1 3 Đặc điểm về công tác kế toán tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty
Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức đúng với quy định điều lệ tổ chức
kế toán nhà nước, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước Đồng thời phải phù hợp chế độ, chính sách, văn bản pháp quy về kế toán do nhà nước ban hành Tổ chức công tác kế toán còn phải phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý, quy mô, yêu cầu quản lý của công ty Để bộ máy kế toán làm việc có hiệu quả thì công tác kế toán của công ty phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ kế toán Và để phù hợp với đặc điểm sản xuất và quy mô, công ty đã áp dụng hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung – phân tán Và hình thức kế toán chủ yếu mà công ty sử dụng là kế toán
Trang 40máy Công ty sử dụng phần mềm kế toán Fast Accouting, phần mềm này đáp ứng được yêu cầu hạch toán và quản lý của đơn vị Bên cạnh đó Công ty cũng
sử dụng kế toán thủ công trong việc tính toán lương công nhân viên của phần hành tiền lương
Về tổ chức bộ máy kế toán: Đứng đầu là kế toán trưởng, có 2 phó phòng giúp công việc quản lý của kế toán trưởng được dễ dàng hơn, và có các tổ kế toán phân theo nhiệm vụ riêng gồm có: Tổ kế toán tài chính, tổ kế toán vật tư, tổ
kế toán tổng hợp và tính giá, tổ kế toán tiêu thụ sản phẩm, tổ kế toán nhà ăn Ở mỗi tổ có 1 trưởng phòng và 1 phó phòng làm nhiệm vụ quản lý việc thực hiện công việc của tổ mình
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy kế toán (Phụ lục 13)
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán
Phòng Kế toán –Thống kê - Tài chính có 32 người gồm có: 1 kế toán trưởng, 2 phó phòng, 5 tổ và các bộ phận kế toán ở các chi nhánh và trung tâm tiêu thụ
Kế toán trưởng : Phụ trách chung về mọi hoạt động tài chính của công ty,
có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán đảm bảo hoạt động có hiệu quả
Phó phòng tổng hợp: Phụ trách việc lập báo cáo tổng hợp và báo cáo tài chính
Phó phòng phụ trách tiêu thụ: Phụ trách về công tác tiêu thụ sản phẩm
Tổ kế toán tổng hợp: Gồm 8 người phụ trách việc lập báo cáo tài chính, tính giá thành sản phẩm, theo dõi TSCĐ, theo dõi về thanh toán với người bán
Kế toán vật tư: Gồm 6 người có nhiệm vụ theo dõi việc nhập - xuất - tồn kho nguyên liệu của công ty và việc hạch toán nội bộ
Tổ tài chính: Gồm 11 người (trong đó có cả 2 thủ quỹ và một người quản
lý toàn bộ máy vi tính của phòng), có nhiệm vụ theo dõi việc thanh toán với cán
bộ công nhân viên, thanh toán tạm ứng, các khoản phải thu, phải trả và theo dõi việc thanh toán đối với ngân sách nhà nước
Tổ kế toán tiêu thụ: Gồm 3 người có nhiệm vụ theo dõi và hạch toán đối với khâu tiêu thụ sản phẩm và các chi nhánh đại lý