Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá húng quế Ocimum basilicum L ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học
Trang 11
MỤC LỤC
Lời cảm ơn 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nội dung nghiên cứu: 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
PHẦN I.TỔNG QUAN 8
1 Giới thiệu thực vật họ Hoa môi (Lamiaceae ) 8
2 Giới thiệu thực vật cây Húng quế (Ocimum basilicum L) 8
2.1 Vài nét về thực vật cây Húng quế 8
2.1.1Mô tả cây 9
2.1.2 Phân bố, sơ lược về cây Húng quế 9
2.2 Thành phần hoá học cây Húng quế 9
3 Vài nét về tinh dầu 10
3.1 Phân loại tinh dầu: 10
3.2 Trạng thái thiên nhiên và phân bố: 11
3.3 Vai trò của tinh dầu đối với đời sống thực vật 12
3.4 Công dụng của tinh dầu 13
3.5 Tính chất vật lí của tinh dầu: 14
3.6 Thành phần hóa học của tinh dầu: 14
4 Tổng quan về tinh dầu lá Húng quế 15
4.1 Hàm lượng, đặc điểm tinh dầu 15
4.2 Công dụng trong thực phẩm, y dược 16
5 Tổng quan về các phương pháp thực nghiệm 19
5.1 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 19
5.1.1 Nguyên tắc chung 19
Trang 22
5.1.2 Ưu điểm 19
5.1.3 Nhược điểm 19
5.2 Phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC - MS) 20
6 Xác định hàm lượng tinh dầu theo phương pháp dược điển Việt Nam: 22
6.1 Phương pháp thu hái và bảo quản mẫu: 22
6.2 Định lượng tinh dầu: 23
PHẦN II THỰC NGHIỆM 24
1 Thu hái, xử lý mẫu: 24
1.1 Địa điểm và điều kiện lấy mẫu: 24
1.2 Cách bảo quản và chưng cất: 24
2 Cách tiến hành: 25
3 Chưng cất tinh dầu: 25
4 Chiết và bảo quản tinh dầu: 26
5 Xác định thành phần hóa học tinh dầu lá Húng quế 26
PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
I Kết quả chưng cất tinh dầu lá Húng quế: 28
1 Kết quả chưng cất tinh dầu lá Húng quế: 28
1.1 Kết quả: 28
1.2 Định lượng tinh dầu 28
2.Kết quả phân tích bằng sắc ký khí - khối phổ liên hợp (GC - MS) 28
3.Phân tích kết quả và thảo luận 30
3.1 So sánh thành phần hóa học tinh dầu la Húng quế với địa phương khác 30
3.2 Công thức và ứng dụng của một số hợp chất chính trong tinh dầu lá Húng quế 31
KẾT LUẬN 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 33
Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hường đã
tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Hoá học - khoa Khoa học tự nhiên - trường
Đại học Hồng Đức đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Cảm ơn trung tâm giáo dục và phát triển sắc ký Việt Nam (EDC Việt Nam) đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài này
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 4 năm 2020
Lê Thị Hằng
Trang 4
Cây húng quế (Húng chó, Húng giổi, Rau é, É tía, É quế) có tên khoa học là:
Ocimum basilicum L, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae) Cây thuộc thảo,
sống hằng năm, thân nhẵn hay có lông, thường phân cành ngay từ dưới gốc, cao 50-60cm Lá mọc đối có cuống, phiến lá hình thuôn dài, có loại màu xanh lục, có loại màu tím đen nhạt Hoa nhỏ màu trắng hay hơi tía, mọc thành chùm đơn hay phân nhánh với những hoa mọc thành vòng 5 đến 6 hoa một Quả chứa hạt đen bóng, khi ngâm vào nước có chất nhầy màu trắng bao quanh Toàn cây có tinh dầu, nên có mùi thơm Húng quế cho nhiều canxi, photpho, Vitamin K và Vitamin A.Húng quế (với vị cay, tính nóng, có mùi thơm) được dùng làm gia vị cho các món ăn và cũng mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe Một số người còn dùng nước cây húng quế để súc miệng
Trong thực phẩm: – Húng quế được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu trong nấu ăn Các loại húng quế tươi có thể được giữ trong thời gian ngắn trong túi nhựa trong tủ lạnh hoặc trong thời gian dài trong tủ đông, sau khi được trần qua trong nước sôi Húng quế khô thường bị mất đi hầu hết hương vị ban đầu của nó – Húng quế là một trong những nguyên liệu chính của pesto – một loại nước sốt của Ý
Trang 5Trong y học: Theo Đông y, húng quế có vị cay, tính nóng.Cây húng quế có thể giảm triệu chứng một số bệnh như co thắt dạ dày, biếng ăn, đầy hơi, các bệnh về thận, chứng phù nề, cảm lạnh, mụn cóc, nhiễm giun, vết rắn cắn và côn trùng cắn Loài cây này còn có khả năng trị viêm khớp, bảo vệ gan, kháng lại vi khuẩn
Ngoài ra, tinh dầu húng quế có chứa chất chống oxy hóa giúp ngăn ngừa lão hóa và bệnh ung thư Một thành phần hóa học được gọi là axit cafferic có hiệu quả chống lại ung thư cổ tử cung
Tinh dầu này cũng được sử dụng để dưỡng da, điều trị mụn trứng cá và vẩy nến.Lá cây thì có công dụng chống căng thẳng Một nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ cho thấy húng quế giúp duy trì mức độ bình thường của cortisol – hormone gây stress cho cơ thể Bên cạnh đó, lá của thảo dược này còn làm dịu thần kinh, điều chỉnh khả năng tuần hoàn máu và đánh bại các gốc tự do vốn là tác nhân dẫn đến stress
Cây húng quế còn có tác dụng làm mát cổ họng tương tự như bạc hà nên sẽ giúp kiểm soát cảm giác thèm hút thuốc
Những nghiên cứu mới về húng quế:
Các nhà nghiên cứu đã báo cáo của một nghiên cứu được tiến hành tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghệ, Kanpur, Ấn Độ rằng các chất được chiết xuất từ lá húng quế ngọt sẽ làm giảm lượng đường trong máu Trong nghiên cứu, được công
bố trong năm 1996 trên một tạp chí Y dược, người ta thấy, những người tham gia tiêu thụ lá húng quế sẽ giảm 17% tình trạng giảm đường huyết lúc đói và giảm 7% lượng đường trong máu ngay lập tức sau bữa ăn Tương tự, nồng độ đường trong
Trang 66
nước tiểu cũng được cải thiện đáng kể Các tác giả kết luận rằng húng quế có thể
có một vị trí quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường từ nhẹ đến vừa
Theo một nghiên cứu được công bố trong năm 2010 trên Tạp chí Sản khoa và Phụ Khoa của Đài Loan thì húng quế có thể giúp giảm cholesterol, chống ung thư và tăng cường hệ thống miễn dịch Một thành phần hóa học của húng quế, được gọi là axit caffeic, đã được thử nghiệm trong nghiên cứu này, tại Trường Đại học Y Chung Shan, Đài Trung, Đài Loan, và được kết luận là có hiệu quả chống lại ung thư cổ tử cung
Trên thế giới cây Húng quế đã được nghiên cứu từ lâu Ở nước ta, cây húng quế cũng đã được nghiên cứu nhưng các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu dược liệu để điều chế thuốc Tinh dầu húng quế cũng đã được nghiên cứu về thành phần hóa học Tuy nhiên ở Thanh Hóa chưa có tác giả nào nghiên cứu về cây
húng quế Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá húng quế (Ocimum basilicum L) ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học tinh dầu lá Húng quế và so sánh
thành phần hóa học tinh dầu trong lá cây Húng quế để góp phần vào việc nghiên cứu và khai thác có hiệu quả cây Húng quế phục vụ cho ngành công nghiệp dược phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân
2 Mục đích nghiên cứu
+ Tách được tinh dầu từ lá Húng quế (Ocimum basilicum L)
+ Nghiên cứu được thành phần hóa học của tinh dầulá húng quế (Ocimum basilicum L)
3 Nội dung nghiên cứu:
+ Tổng quan tài liệu về cây Húng quế (Ocimum basilicum L), thuộc họ Hoa môi(Lamiaceae)
+ Chưng cất lôi cuốn hơi nước để thu tinh dầu lá Húng quế (Ocimum basilicum L)ở huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trang 74 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lá Húng quế (Ocimum basilicum L)huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước để trích ly tinh dầu lá Húng
quế
+ Xác định thành phần hóa học của tinh dầu lá Húng quế bằng phương pháp sắc kí khí - khối phổ liên hợp (GC - MS)
Trang 88
PHẦN I.TỔNG QUAN
1 Giới thiệu thực vật họ Hoa môi (Lamiaceae )
Họ Hoa môi (danh pháp khoa học: Lamiaceae hay Labiatae), còn được gọi bằng
nhiều tên khác như họ Húng, họ Bạc hà v.v, là một họ thực vật có hoa
Các loài thực vật trong họ này nói chung có hương thơm trong mọi phần của cây
và bao gồm nhiều loài cây thân thảo được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, như húng quế, bạc hà, hương thảo, xô thơm, hương bạc hà, ô kinh giới, ngưu chí, bách lý hương, oải hương, tía tô, hương nhu Một số loài là cây bụi hay cây gỗ, hiếm gặp hơn là các dạng dây leo Nhiều loài được gieo trồng rộng rãi, không chỉ
vì hương thơm của chúng mà còn vì dễ gieo trồng: chúng thuộc về các loài thực vật dễ nhân giống nhất bằng các cành giâm Bên cạnh những loài lấy lá để ăn, làm gia vị còn một số loài được trồng làm cảnh, như húng chanh Một số loài khác được trồng vì mục đích lấy hạt (chứ không phải lá) làm thực phẩm, như hạt cây chia
Tên gọi nguyên gốc của họ này là Labiatae, do hoa của chúng thông thường có
các cánh hoa hợp thành môi trên và môi dưới Tên gọi này hiện nay vẫn là hợp lệ, nhưng phần lớn các nhà thực vật học hiện tại thích sử dụng tên gọi "Lamiaceae" hơn khi nói về họ này
Các lá của chúng mọc chéo chữ thập, nghĩa là lá sau mọc vuông góc với lá trước, hay mọc vòng
Thân cây nói chung có tiết diện hình vuông, nhưng điều này không phải bắt buộc ở tất cả các loài cũng như tiết diện kiểu này cũng có thể xuất hiện ở các họ thực vật khác
Hoa của chúng đối xứng hai bên với 5 cánh hoa hợp, 5 lá đài hợp.Chúng thường là lưỡng tính và mọc vòng (cụm hoa trông giống như một vòng hoa nhưng thực tế bao gồm 2 cụm chụm lại)
Thế giới có 200 chi và 3500 loài, phân bố ở khắp thế giới.Ở Việt Nam có trên 40 chi và khoảng 145 loài
Phân loại: Nó được chia làm 9 – 10 phân họ Đa số các chi ôn đới thuộc phân
họ Stachyoideae và các chi nhiệt đới thuộc phân họ Ocimoideae Nói chung nó được coi là một họ tiến hóa cao của Hai lá mầm Lamiaceae rất gần với Verbenaceae thân gỗ không có tinh dầu và bầu không có 4 thùy sâu.Họ Callitrichaceae cũng được coi là một liên minh của Lamiaceae
2 Giới thiệu thực vật cây Húng quế (Ocimum basilicum L)
2.1 Vài nét về thực vật cây Húng quế
Trang 99
2.1.1Mô tả cây
Hình I.1: Cây và lá Húng quế
Mô tả: Húng quế là cây mọc hàng năm, thân thảo, hình vuông, cao khoảng 40 - 50
cm, có khi cao hơn tùy chất đất và khoảng cách trồng
Lá hình xoan, mọc đối, các chồi thường hay đâm ra từ các nách lá nên cành húng quế thường xum xuê Lá màu lục xanh có loại màu tím đen nhạt Hoa nhỏ màu trắng hay tía, mọc thành chùm đơn hay phân nhánh với những hoa mọc thành vòng
có từ 5 đến 6 hoa
Quả chứa hạt đen nhánh khi ngâm vào nước có chất nhầy màu trắng bao quanh Rễ mọc nông, ăn lan trên mặt đất
2.1.2 Phân bố, sơ lược về cây Húng quế
Húng quế hay húng chó hoặc rau quế tên khoa học là Ocimum basilicum L, thuộc
họ Hoa môi (Lamiaceae) Cây này có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Quốc Cây được trồng ở khắp nơi trong nước ta Còn được trồng phổ biến để làm cây gia vị
2.2 Thành phần hoá học cây Húng quế
Trang 103 Vài nét về tinh dầu
Tinh dầu còn gọi là Dầu thơm, Tinh du hay hương du là những hợp chất có mùi thơm hay khó chịu, có một số tính chất lí học chung thường gặp trong cây hay trong động vật
Ví dụ: Tinh dầu bạc hà, tinh dầu khuynh diệp, tinh dầu quế, tinh dầu hoa hồng,
tinh dầu con hươu xạ…
Tinh dầu có vai trò quan trọng trong đời sống: ngành thực phẩm (làm gia vị, chế biến rượu mùi…), công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm, công nghiệp sơn, công nghiệp chế biến hóa chất, y học (làm thuốc sát trùng, tiêu hóa)…
3.1 Phân loại tinh dầu:
Dựa vào thành phần của tinh dầu người ta chia tinh dầu thành những loại sau:
- Tinh dầu chứa cacbua như pinen (tinh dầu thông), limonen (tinh dầu chanh)…
- Tinh dầu chứa rượu như geraniol, xitronelol (tinh dầu hoa hồng, sả, hương diệp); chứa linalol (tinh dầu hoa cải, tinh dầu quả mùi); chứa metol (tinh dầu bạc hà)
Trang 1111
- Tinh dầu chứa andehit như xitral (tinh dầu chanh, màng tang)
- Tinh dầu chứa xeton như xineol (tinh dầu bạch đàn, khuynh diệp), anetol (tinh dầu tiểu hồi, đại hồi)…
3.2 Trạng thái thiên nhiên và phân bố:
Tinh dầu ở hai trạng thái: tự do và tiềm tàng
Tinh dầu ở trạng thái tự do trong cây có thể được tạo thành tập trung ở những
tế bào trông giống như những tế bào khác của cây họ lớn hơn, nhưng thường tinh dầu tự do được tập trung ở cơ quan bài tiết của cây như: lông bài tiết của cây họ Hoa môi (Labiatae); họ Cúc (Compositae) ở dưới lớp cutin; túi bài tiết trong họ Xim (Myrtaceae)…
Tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng vốn không phải là những thành phần bình thường của cây mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định tương ứng với sự chết của một số bộ phận Ví dụ: tinh dầu trong nhân hạt mơ, hạt đào, hạt cải và củ tỏi Tinh dầu hạt mơ, hạt đào (Andehyt bezoic) xuất hiện do tác dụng của men emulsin trên một heterozit gọi là amygdalin Tinh dầu hạt cải (bạch đới tử) xuất hiện do tác dụng của men myrosin trên một heterozit gọi là grozit Tinh dầu củ tỏi xuất hiện do tác dụng của men alliinnaza trên một chất không phải eterozit mà là một axit amin chứa sunfua là allinin cho một sunfoxyt gọi là allixin để cho chất đisunfua allyl
Về mặt phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặc biệt nhiều trong một số như họ Thông (Coniferae), họ Cam (Rutace), họ Hoa tán (Umbelliferae), họ Xim (Myrtaceae)…
Điều đặc biệt là trong cùng một cây, thành phần tinh dầu của những bộ phận khác nhau có thể khác nhau và tuỳ theo điều kiện sinh sống, thu hái
➢ Phân bố theo thực vật:
Tinh dầu được phân bố khá rộng, hiện diện trong gần 300 họ, trong đó có 87 họ
có giá trị kinh tế
Sau đây là 3 họ có nhiều cây tinh dầu:
+ Họ cúc: (Asteraceae) bao gồm hơn 1.000 giống và 25.000 loài chủ yếu trong
Trang 12+ Họ Hoa tán, Ngò: (Umbelliferae, Apiaceae) bao gồm khoảng hơn 300 giống
và 3.000 loài, được phân bố khắp nơi, một số loài tập trung ở vùng ôn đới
➢ Phân bố theo bộ phận:
Tất cả các bộ phận của cây, trên nguyên tắc, đều có thể chứa tinh dầu như: rễ, thân, cành, lá, hoa, trái, hạt…
+ Lá: Khuynh diệp, bạc hà, tía tô, xả, tràm, hương nhu, kinh giới…
+ Thân: trầm hương, long não, quế…
+ Rễ: Gừng, nghệ, hành tỏi, xuyên khung, đương quy…
+ Quả: cam, chanh, bưởi, hồi, sa nhân…
+ Hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa cúc, hoa nhài, hoa quế…
Tinh dầu ở mỗi bộ phận trên cùng một cây có thể giống nhau hoặc khác nhau
rất nhiều về thành phần hóa học và hàm lượng tinh dầu Hàm lượng tinh dầu phụ thuộc vào giống, di truyền, đất đai, phân bón, thời tiết,ánh sáng, lượng mưa, thời điểm thu hoạch…
3.3 Vai trò của tinh dầu đối với đời sống thực vật
Vấn đề về vai trò của tinh dầu trong đời sống của cây đã được đề cập tới trong rất nhiều công trình nghiên cứu Theo quan niệm được trình bày trong các công trình khác nhau, vai trò của tinh dầu được quy tụ trong các nội dung sau đây (Ph X Tanaxienco, 1985):
- Bảo vệ cây khỏi các tác động của sâu bệnh
- Che phủ các vết thương ở cây gỗ
- Ngăn chặn các bệnh do nấm
- Biến đổi sức căng bề mặt của nước trong cây, thúc đẩy sự vận chuyển nước,
Trang 1313
tăng hiệu quả của các phản ứng enzym
Phân tích các giả thuyết về vai trò của tinh dầu trong đời sống thực vật,
Coxtrisep X P (1937) cho rằng tinh dầu có thể được xếp vào 2 nhóm chức năng:
- Nhóm các tinh dầu có chức năng sinh lý được cây sử dụng trong quá trình sinh trưởng
- Nhóm các tinh dầu không có chức năng sinh lý, không được cây sử dụng, chúng đơn thuần chỉ là các chất tiết của cơ thể và được tích lũy trong các bể chứa tinh dầu
3.4 Công dụng của tinh dầu
Tinh dầu hiện nay là nguồn nguyên liệu không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực: Thực phẩm: Gia vị làm sẵn, thức ăn nhanh, nước ngọt, đồ hộp, kem lạnh, bánh kẹo, nước chấm…
Dược phẩm: Dùng làm thuốc chữa một số bệnh thông thường, hương vị liệu pháp,
át mùi thuốc, …
Mỹ phẩm: dầu thơm, kem dưỡng da, chất khử mùi, dầu gội đầu, son…
Tính chất đặc trưng của tinh dầu:
Tinh dầu là hợp chất hữu cơ hòa tan lẫn nhau, có mùi đặc trưng, ở nhiệt độ thường hầu hết tinh dầu ở thể lỏng, có khối lượng riêng nhỏ hơn 1(trừ một số tinh dầu như quế, đinh hương có khối lượng riêng lớn hơn 1)
Qua các bằng chứng thực nghiệm, có thể thấy rằng, nhiều thành phần hóa học của tinh dầu, ví dụ một số acid có phân tử lượng thấp, rượu, các aldehid mạch vòng
… là những nguyên liệu khởi đầu để tổng hợp hàng loạt các chất có hoạt tính sinh học
Trong thành phần của tinh dầu, có thể gặp hàng loạt các chất khởi nguyên nói trên: các acid hữu cơ thường gặp gồm: acid acetic, acid valerianic, acid isovalerianic …,
và các rượu tương ứng với chúng; ngoài ra còn thường gặp các aldehid, các ester, một số terpenoid như geraniol, linalool, pharnesol, nerolydol … Đó là
Trang 1414
những hợp chất liên quan tới nhiều kiểu cấu trúc hóa học khác nhau và tham gia vào các hệ thống đồng hóa khác nhau Trong thành phần tinh dầu còn thường thấy các hợp chất có nhân thơm như aneton, pheniletilnol, benzaldehid, vanilin, thậm chí cả các hợp chất có chứa nitơ và lưu huỳnh
Tinh dầu thường không màu hay có màu vàng, một số có màu nâu sẫm (như
tinh dầu quế), đa số có mùi dễ chịu, một số có mùi hắc khó chịu, thường có vị cay,một số có vị ngọt…
Tinh dầu dễ bị bay hơi, không tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ
Tinh dầu dễ bị oxi hóa, thường xảy ra khi trùng hợp hóa
Mỗi tinh dầu có các hằng số vật lý đặc trưng như: tỷ trọng(d), góc quay cực(α), chỉ số khúc xạ, độ hòa tan, chiết suất, điểm đông…và các chỉ số hóa học như: chỉ
số axit, chỉ số este, chỉ số iot, chỉ số savon hóa,…Qua các chỉ số đó người ta có thể đánh giá sơ bộ tinh dầu
3.5 Tính chất vật lí của tinh dầu:
Tinh dầu thường ở thể lỏng ở nhiệt độ thường, mùi thơm, ít khi có màu trừ tinh dầu chứa azulen có màu xanh
Tinh dầu có tỉ trọng thấp so với nước.Chỉ số khúc xạ cao và có năng suất quay cực Tinh dầu bay hơi được và kéo được bằng hơn nước Tinh dầu ít tan trong nước nhưng làm cho nước có mùi thơm Tinh dầu tan trong cồn, ete, phần lớn dung môi hữu cơ và trong chất béo
Một số tinh dầu có phần đặc và một phần lỏng như tinh dầu bạc hà, tinh dầu long não…
Tinh dầu là hỗn hợp nên không có nhiệt độ sôi nhất định Khi đun nóng có thể lấy riêng được các thành phần khác nhau trong tinh dầu
Tinh dầu cháy với ngọn lửa nhiều khói
3.6 Thành phần hóa học của tinh dầu:
Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều hoạt chất với tỉ lệ thay đổi; thành phần quan trọng nhất về phương diện thơm có khi lại chiếm tỉ lệ thấp
Trang 1515
Thành phần trong tinh dầu bao gồm các hiđrocacbua, ancol tự do hay dưới dạng các este, hợp chất chứa N, hợp chất chứa S, hợp chất halogen…Các hiđrocacbon béo thường ít đại diện, phần nhiều là cacbua thơm hoặc nhóm cacbua tecpennic Trong các thành phần trên, thường este chiếm tỉ lệ cao nhất rồi đến các rượu và andehit
Sau đây là một số hợp phần chính hay gặp trong thành phần tinh dầu:
* Hiđrocacbua bao gồm:
- Cacbua tecpennic (chiếm nhiều nhất): limonen, pinen, camphen, caryophyllen, sylvestren
- Cacbua no: heptan, parafin
*Ancol: Ancol metylic, ancol etylic, ancol xinamic, xitronellol, geraniol, linalol,
bocneol, tecpineol, mentol, santalol, xineol
*Phenol và ete phenolic: anetol, eugenol, safrol, apiol, tymol
* Andehit: andehit benzoic, xinamic, salyxilic, xitral, xitronellal
* Xeton: menton, campho, thuyon
* Axit (dưới dạng este): axit axetic, butiric, valerianic, benzoic, namic, salyxilic,
fomic
* Những hợp chất chứa sunfua, nitơ, halogen: các tinh dầu có sunfua trong các
cây thuộc họ chữ Thập (Cruciferae) có một kiến trúc đặc biệt gọi là senevol tức là este của axit isosunfoxianic
* Cumarin: becgapten, ombelliferon
4 Tổng quan về tinh dầu lá Húng quế
4.1 Hàm lượng, đặc điểm tinh dầu
Khi nghiên cứu thành phần các loài cây tinh dầu ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các nhà nghiên cứu nhận định rằng khu vực có khí hậu nhiệt đới là nơi tập trung cây tinh dầu với số lượng lớn Bên cạnh đó, một số loài cây tinh dầu trong đai khí hậu này lại có sự đa dạng về thành phần hóa học
Trang 1616
Phân bố cây tinh dầu trong mỗi hệ thực vật nói chung theo 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc phổ biến (hay còn gọi là nguyên tắc có tính quy luật) Theo
nguyên tắc này, ở một số taxon thực vật, sự có mặt tinh dầu trong cây và trong các
bộ phận xác định là đặc tính phổ biến.Giới hạn của quy luật này thường xác định ở các bậc họ (ngay trong 1 họ, có chi hầu như tất cả các loài đều chứa tinh dầu, trong khi đó ở các chi khác hoàn toàn không có loài nào được coi là có tinh dầu) Với những họ mà tích lũy tinh dầu là đặc tính chung của các loài trong cả họ thì được gọi là họ cây tinh dầu
- Nguyên tắc ngẫu nhiên: Theo nguyên tắc này, sự có mặt của tinh dầu ở các
cá thể trong taxon là một đặc tính ngẫu nhiên Khi nghiên cứu phân bố cây tinh dầu
ở các họ khác nhau, dễ nhận thấy rằng trong đa số họ thực vật, đặc tính tích lũy của tinh dầu chỉ là một số chi nhất định trong họ
Phân tích và tìm hiểu quy luật phân bố của cây tinh dầu ở các họ thực vật không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu tiến hóa sinh lý, sinh hóa mà còn có giá trị rất lớn đối với công tác điều tra, phát hiện Hiện nay, trong hệ thực vật Việt Nam
có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ chứa tinh dầu Như vậy, nguồn tài nguyên cây tinh dầu nói riêng và tài nguyên thực vật Việt Nam rất là đa dạng và phong phú
Toàn cây húng quế chứa tinh dầu (0,02 – 0,08%) có hàm lượng cao nhất lúc cây đã
ra hoa
4.2 Công dụng trong thực phẩm, y dược
Húng quế được đánh giá là chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ.Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá có hàm lượng tinh dầu rất cao
Trong lá húng quế chứa nhiều canxi, sắt, phospho và riboflavin, vitamin A, B1, K,
E và C Không chỉ thế, húng quế cũng có đầy đủ chất dinh dưỡng gồm protein, chất béo và chất xơ
Trang 1717
Theo Y học cổ truyền húng quế có vị cay, thơm dịu, tính nóng, làm ra mồ hôi, lợi tiểu và giảm đau Để làm thuốc có thể dùng toàn bộ cây rau húng quế (tươi hay phơi khô), thường hái vào mùa thu Dưới đây là một số công dụng chữa bệnh của húng quế:
Chữa rắn cắn, sâu bọ đốt, eczema, viêm da
Giã nát một nắm lá húng quế tươi rồi đắp lên vết thương hoặc cũng có thể nấu nước lá rồi rửa
Chữa ho
Giã giập một nắm lá húng quế, húng chanh, xương sông với một ít muối Ngậm và nuốt dần nước
Cảm lạnh, đau đầu, miệng đắng
Sắc lấy nước uống hỗn hợp gồm 20g húng quế, 15g húng chanh, 8g lá chanh, 8 lát gừng tươi, ngày uống 1 thang
Lợi sữa
Lấy một nắm lá húng quế sắc với 1 lít nước, chia thành 2 cốc, uống trong ngày
Giảm Cholesteron và giữ huyết áp ổn định, phòng tránh các bệnh về tim
Nhai sống một vài lá húng quế đã rửa sạch khi đói Tác dụng này có được là do trong húng quế có chất eugenol rất dồi dào giúp bảo vệ tim
Giảm Stress, căng thẳng, lo âu
Trang 1818
Bằng cách nhai sống 10-12 lá húng quế 2 lần mỗi ngày giúp làm dịu thần kinh, điều chỉnh khả năng tuần hoàn máu và từ đó ngăn ngừa stress, đặc biệt tốt cho những người có công việc căng thẳng
Lợi tiểu, khử độc
Sắc nước uống từ lá húng quế giúp lợi tiểu và làm sạch thận
Chữa đau đầu do viêm xoang, cảm, dị ứng
Giã nát lá rồi cho vào đun sôi, để nước nguội bớt, sờ thấy hơi ấm thì nhúng khăn mềm vào nước, vắt bớt rồi đắp lên trán Hoặc có sẵn tinh dầu húng quế thì nhỏ 2-3 giọt vào nước ấm rồi làm giống như trên
Cai thuốc lá cho người nghiện thuốc
Mang theo trong túi 1 ít lá húng quế, khi cảm thấy thèm thuốc, thì lấy lá ra nhai Lá
có khả năng làm mát cổ họng giống như bạc hà nên sẽ kiểm soát cảm giác thèm thuốc
Tăng cường hệ miễn dịch, làm chậm quá trình lão hóa
Nước ép lá húng quế kết hợp với mật ong sẽ là thức uống tốt cho hệ miễn dịch, giảm mệt mỏi và chống lão hóa
Cải thiện làn da và chăm sóc tóc
Lá húng quế tươi ăn sống giúp thanh lọc máu mang lại làn da khỏe mạnh, ngăn ngừa mụn Lấy lá húng quế giã nát lấy nước uống hay uống nước ép còn có thể làm dịu cảm giác ngứa da đầu và chống rụng tóc
Giúp ngăn ngừa sâu răng
Nhai trực tiếp lá húng quế tươi hoặc đun lấy nước làm nước suc miệng hàng ngày, vừa ngừa sâu răng vừa có hơi thở thơm
Nhiễm trùng tai
Trộn hỗn hợp gồm tinh dầu húng quế, tinh dầu dừa, tinh dầu trầm hương, bôi trực tiếp hỗn hợp trên sau tai và gam bàn chân, sẽ làm giảm đau và sưng tấy
Trang 1919
5 Tổng quan về các phương pháp thực nghiệm
5.1 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước
Có nhiều phương pháp tách tinh dầu, nhưng chúng tôi chọn phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước vì đây là phương pháp không đòi hỏi thiết bị phức tạp
mà có khả năng lấy được triệt để tinh dầu có trong nguyên liệu Hơn nữa, dung phương pháp này cho phép chúng ta dựa vào tính chất bay hơi của cấu tử trong tinh dầu để tách tinh dầu có độ tinh khiết cao
5.1.1 Nguyên tắc chung
Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước dựa trên nguyên lý của quá trình chưng cất một hỗn hợp không tan lẫn vào nhau là nước và tinh dầu Khi hỗn hợp này được gia nhiệt, hai chất đều bay hơi.Nếu áp suất của hơi nước cộng với áp suất của tinh dầu bằng áp suất của môi trường thì hỗn hợp sôi, và tinh dầu được lấy ra cùng với hơi nước
Nguyên liệu và nước được cho vào cùng một thiết bị, đun sôi, hơi nước bay ra sẽ lôi cuốn theo hơi tinh dầu, sau đó làm lạnh ngưng tụ hơi, ta sẽ thu được tinh dầu sau khi phân li tách nước ra Cuối cùng để lấy tinh dầu ta làm khan bằng Na2SO4
khan và dung để tách tinh dầu hoàn toàn khỏi nước
5.1.2 Ưu điểm
- Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản, lấy được triệt để tinh dầu có trong nguyên liệu
- Thiết bị đơn giản, dễ chế tạo
- Thời gian tương đối nhanh
- Dựa vào tính chất dễ bay hơi của các cấu tử trong tinh dầu để phân li chúng thành những phần riêng biệt có độ tinh khiết hơn
- Ứng dụng trong sản xuất công nghiệp
5.1.3 Nhược điểm
- Không có lợi cho những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp
Trang 20- Trong nước chưng luôn luôn có một hàm lượng tinh dầu tương đối lớn
- Những tinh dầu có nhiệt độ sôi cao thường cho hiệu suất rất kém
5.2 Phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC - MS)
Sắc ký khí – khối phổ liên hợp GC – MS (Gas Chomatography Mass Spectometry) là một trong những phương pháp sắc kí hiện đại nhất hiện nay với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích kết hợp Thiết bị GC – MS được cấu tạo thành 2 phần:
+ Phần sắc kí khí ( GC ) dùng để phân tách hỗn hợp hóa chất thành một mạch theo từng chất tinh khiết
+ Phần khối phổ (MS) dùng để xác định định tính và định lượng
Bằng sự kết hợp 2 kỹ thuật này (GC – MS) các nhà khoa học có thể đánh giá, phân tích định tính và định lượng và có cách giải quyết đối với một số hóa chất.Ngày nay, người ta ứng dụng kỹ thuật GC – MS rất nhiều và sử dụng rộng rãi trong các ngành như y học, môi trường, nông sản, kiểm nghiệm thực phẩm
- Sắc kí khí (GC):
Sắc kí khí được dùng để chia tách các hỗn hợp của hóa chất ra các phần riêng lẻ, mỗi phần có một giá trị riêng Trong sắc kí khí chia tách xuất hiện khi mẫu bơm vào pha động là một khí trơ giống như He Pha động mang hỗn hợp mẫu
đi qua pha tĩnh, pha tĩnh được sử dụng là các hóa chất, hóa chất này có độ nhạy và hấp thụ thành phần hỗn hợp trong mẫu
Thành phần trong hỗn hợp pha động tương tác với pha tĩnh, mỗi hợp chất trong hỗn hợp tương tác với một tỉ lệ khác nhau, hợp chất tương tác nhanh sẽ thoát ra khỏi cột trước và hợp chất tương tác chậm sẽ ra khỏi cột sau Đó là đặc trưng cơ