Vui chơi góp phần phát triển toàn diện nhân cáchtrẻ, thông qua vui chơi trẻ học cách làm người, do vậy việc hình thành tính tựlập trong hoạt động vui chơi ở lứa tuổi này rất quan trọng v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
LÊ NGỌC ÁNH (MSV: 1569010004)
XÂY DỰNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Trang 2THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
XÂY DỰNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH TỰ LẬP CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Ánh MSSV: 1569010004
Lớp: K18A - GDMN Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Thị Huyên
Trang 3THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2019
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được thực hiện tại trường Đại Học Hồng Đức
Có được kết quả này, trước tiên em xin được tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Lê Thị Huyên, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp với đề tài : “Xây dựng biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non”
Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầmnon, thư viện Trường Đại Học Hồng Đức đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoànthành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp đỡ emtrong quá trình làm khóa luận của em
Trong khuôn khổ thời gian cho phép và vốn kiến thức có hạn, chắc chắnkhóa luận của em không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được sựgóp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Lê Ngọc Ánh
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và hội nhập trên diện rộng vì thếđòi hỏi con người Việt Nam phải là những người có trí tuệ, năng động, sáng tạo,đáp ứng yêu cầu phát triển theo xu hướng chung của khu vực và thế giới Trongcác phẩm chất cần hình thành cho con người trong thời đại mới thì tính tự lập làmột phẩm chất rất quan trọng Tính tự lập là điều kiện giúp cho con người thíchứng nhanh với những thay đổi của xã hội, giúp mỗi cá nhân tự chủ hơn trongcông việc,trong cuộc sống - từ đó phát huy được năng lực bản thân và khẳngđịnh giá trị của chính mình
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốcdân, với mục tiêu: “cần phát triển một số giá trị,nét tính cách phẩm chất phù hợpvới độ tuổi như:mạnh dạn, tự tin, độc lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác tạo điềukiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống,chuẩn bị tốt cho việc học tập ở lớp
1 và các bậc học sau này có kết quả”, như vậy việc phát triển (giáo dục) tính tựlập ngay từ độ tuổi mầm non là phù hợp với mục tiêu đào tạo của bậc học cũngnhư mục tiêu đào tạo của hệ thống giáo dục
Ngay từ tuổi lên ba trẻ đã bộc lộ tính tự lập nhưng lại chưa có khả năng
tự chủ và chưa tự lập thực sự trong hành động mà chỉ mới biểu hiện mong muốnđược “tự làm” như người lớn và bắt chước người lớn Đến 5 – 6 tuổi mức độhoàn thiện các quá trình tâm lý của trẻ đã cao hơn, hoạt động vui chơi đã có sựphát triển về chất, các kỹ năng trong trò chơi của trẻ đã hoàn thiện hơn, mầmmống của hoạt động học tập cũng bắt đầu xuất hiện là thời điểm thích hợp đểphát triển tính tự lập cho trẻ Vui chơi góp phần phát triển toàn diện nhân cáchtrẻ, thông qua vui chơi trẻ học cách làm người, do vậy việc hình thành tính tựlập trong hoạt động vui chơi ở lứa tuổi này rất quan trọng và cần thiết, khả năng
tự lập giúp trẻ có thể tự mình giải quyết những vấn đề trẻ gặp phải trong “cuộcsống” của chính trẻ, là cơ sở cho khả năng làm việc độc lập trong hoạt động họccủa trẻ sau này
Môi trường có ảnh hưởng đến sự phát triển tính độc lập của trẻ tronghoạt động vui chơi nên nếu được nhà giáo tổ chức một cách khoa học, hấp dẫn,linh hoạt và tạo điều kiện cho trẻ được tự do hoạt động chính những đối tượng
Trang 6trong môi trường chơi đó sẽ thúc đẩy nảy sinh ý tưởng chơi sáng tạo ở trẻ, giúptrẻ chơi một cách tích cực, phát huy tính tự lập của trẻ: trẻ có thể tự nghĩ ra tròchơi, tự lập kế hoạch chơi cho mình, tự tổ chức buổi chơi, tự giải quyết các tìnhhuống nảy sinh trong trò chơi Môi trường chơi mang tính “mở” sẽ giúp trẻđược trải nghiệm nhiều hơn, phát triển nhận thức đồng thời tạo cơ hội cho trẻđược thể hiện tính tự chủ, trẻ trở nên nhanh nhẹn hơn và chơi tự lập hơn Môitrường ảnh hưởng rất nhiều đến việc giáo dục tính tự lập của trẻ: môi trườngkhông tốt sẽ khó phát huy được hết khả năng, năng lực của trẻ không hình thànhcho trẻ tính tự lập, sang tạo một cách tốt nhất.
Chương trình đổi mới hiện nay đã quan tâm nhiều hơn tới cách tổ chứcmôi trường hoạt động cho trẻ và trong quá trình tổ chức hoạt động, quan điểmtích hợp theo chủ điểm và dạy học lấy trẻ làm trung tâm cũng được chú ý hơnbao giờ hết Thực tế hiện nay ở các trường mầm non, giáo viên chưa quan tâmđúng mức hoặc chưa biết cách tổ chức môi trường để có thể phát huy tối đa tínhtích cực cũng như khả năng tự lập của cá nhân trẻ hoặc nhóm trẻ Môi trườnghoạt động của trẻ chưa được tổ chức một cách khoa học hoặc còn nghèo nàn vềhọc liệu, làm trẻ nhàm chán; chưa phát huy hết tác dụng của đồ dùng đồ chơitrong việc định hướng cho sự nảy sinh ý tưởng chơi sáng tạo của trẻ Môi trườngchưa thực sự gợi mở, chưa kích thích trẻ hoạt động một cách tích cực, độc lập,
tự tin, làm cho trẻ thấy gò bó, trẻ trở nên thụ động và ỷ lại vào người khác nênchưa phát huy được khả năng tư lập ở trẻ
Khả định môi trường chơi có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động vui chơi
và sự phát triển tính tự lập của trẻ nên từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu vấn đề: “Xây dựng biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát triểntính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động chơi ở trường mầm non hiên nay,góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tính tự lập và thực hiện mục tiêu phát triểntoàn diện nhân cách trẻ
Trang 73 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ 5 –
6 tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát
huy tính tự lập cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Môi trường chơi có ảnh hưởng tới hoạt động vui chơi của trẻ Mẫu giáo lớn
và sự hoàn thiện các phẩm chất tâm lý cá nhân của trẻ, đặc biệt là sự phát triểnkhả năng tự lập trong hoạt động chơi của trẻ, do vậy nếu giáo viên quan tâm tổchức môi trường chơi phù hợp với năng lực và kinh nghiệm của trẻ, đưa vào môitrường chơi những yếu tố tự điều khiển, thay đổi không gian chơi linh hoạt thì
sẽ tạo điều kiện phát triển tính tự lập trong trò chơi cho trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi ở trường mầm non
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận của việc xây dựng biên pháp tổ chức môi trường chơi
nhằm phát triển tính tự lập của trẻ
5.2 Nghiên cứu thực trạng tổ chức môi trường chơi cho trẻ MGL ở trường
MN và thực trạng biểu hiện tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi trong trò chơi
5.3 Đề xuất một số biện pháp để tổ chức môi trường chơi nhằm phát huy
tính tự lập trong hoạt động vui chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non đạthiệu quả
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng vào nghiên cứu một số biện pháp để tổ chức môi trường chơinhằm phát triển tính tự lập trong hoạt động vui chơi của trẻ 5 – 6 tuổi tại một sốtrường mầm non ở Huyện Quảng Xương
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, so sánh, tổng hợp hóa, khái quát hóa hệ thống hóa cơ sở lý luậnliên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 8 Phương pháp quan sát sư phạm
- Quan sát biểu hiện tính tự lập của trẻ trong hoạt động vui chơi trước và sauthực nghiệm
- Quan sát tác động sư phạm của giáo viên trong quá trình tổ chức môitrường hoạt động và tổ chức hoạt động chơi cho trẻ
Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên để tìm hiểu nhận thức và lấy ýkiến của giáo viên về việc tổ chức môi trường chơi nhằm phát huy tính tự lậpcủa trẻ
Phương pháp đàm thoại
- Trao đổi với giáo viên những biện pháp giáo viên đang sử dụng và nhữngkhó khăn trong việc tổ chức môi trường chơi cho trẻ 5 – 6 tuổi
Phương pháp thống kê toán học
8 Những đóng góp mới của khóa luận
8.1.Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức môi trường chơi và
biểu hiện tính tự lập trong trò chơi của trẻ mẫu giáo, chỉ ra thực trạng tổ chứcmôi trường chơi và biểu hiện tính tự lập trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫugiáo 5 – 6 tuổi tại một số trường mầm non trên đại bàn Huyện Quảng Xương
8.2 Đề xuất một số biện pháp để tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển
khả năng tự lập của trẻ MGL ở trường MN
Trang 9PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC MÔI TRƯỜNG CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH TƯ LẬP
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về môi trường chơi
Con người sinh ra và lớn lên trong “ môi trường” Sự sống của con ngườikhông thể tồn tại nếu thiếu “ môi trường” Chính vì thế mà có nhiều quan niệmkhác nhau về “ môi trường” đến sự phát triển toàn diện của con người cả về mặtthể chất lẫn các phẩm chất tâm lý cá nhân
Theo trường phái sinh học như: Uynxon, Monot, S.Freud,… đã phủ nhận vaitrò của môi trường đến sự phát triển con người Họ cho rằng sự phát triển củacon người được quy định bởi gen di truyền, yếu tố môi trường chỉ có thể sảnsinh ra những biến đổi nhỏ trong hành vi của trẻ Trong khi đó các hà khoa họctheo trường phái xã hội học (do J.Watson- nhà tâm lý học người Mỹ khởixướng) lại quá đề cao tầm quan trọng của môi trường Họ cho rằng môi trường
là động lực trong sự phát triển của con người, còn con người là đối tượng thụđộng được tạo nên bởi yếu tố môi trường, nhân tố môi trường làm thay đổi hành
vi của trẻ Một số tác giả khác lại đưa ra quan điểm mang tính nhị nguyên khicho rằng cả hai yếu tố sinh học và môi trường đều có giá trị ngang nhau đối với
sự phát triển toàn diện của con người [1]
Nhìn chung, những quan điểm đó đều nhìn nhận ảnh hưởng của môi trườngtới sự phát triển nhân cách còn phiến diện, chưa đầy đủ Chủ nghĩa duy vật biệnchứng khẳng định con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là tổng hòa các mốiquan hệ xã hội mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ biệnchứng
Trang 10Lý luận mác-xít về sự hình thành và phát triển con người trong bối cảnh xãhôi cụ thể đã được C.Mác khẳng định trong luận điểm duy vật biện chứng nổitiếng: “ bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cánhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa cácmối quan hệ xã hội” [2] Nó trở thành kim chỉ nam đúng đắn để nghiên cứu sựphát triển con người trong điều kiện lịch sử - xã hội nhất định để các ngành khoahọc nghiên cứu về con người như: Xã hội học, Triết học, Tâm lí học, Giáo dụchọc đều lấy làm cơ sở xuất phát.
Trong sản xuất sự ảnh hưởng của môi trường đến năng suất lao động đượccác nhà tâm lý học lao động nghiên cứu tập trung vào các điều kiện môi trường
vi mô như: nhiệt độ, màu sắc, âm thanh, khung cảnh, mối quan hệ liên nhâncách của nhóm nhỏ là những yếu tố có tác dộng mạnh đến hiệu quả làm việccủa người lao động Những nghiên cứu về môi trường theo hướng này có ýnghĩa đối với việc thiết kế môi trường vi mô và tổ chức quản lý sản xuất để đạtđược năng suất cao nhất
Các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của môitrường đến sự phát triển nhân cách con người Nhà Tâm lý học Mỹ Kenloc(1923) đã nuôi một con khỉ 10 tháng tuổi trong cùng điều kiện môi trường vớicậu con trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh hưởng của môi trường đến conkhỉ và con người Và nhiều ví dụ khác cũng đã cho chúng ta thấy vai trò của môitrường sống đối với con vật hoặc con người đều rất quan trọng, nhưng tác độngcủa môi trường sống của con người không thể làm thay đổi bản chất dã thú củacon vật và ngược lại môi trường của loài vật có thể tác động mạnh vào bản chấtcủa con người
Nhà Xã hội học Mỹ R.E Pác- cơ đã nói: “Người không đẻ ra người, đứatrẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo dục” Điều này nói lên rằng: Vai tròcủa yếu tố môi trường văn hóa xã hội, môi trường giáo dục có tính quyết địnhđến sự hình thành nhân cách con người
Cuối thế kỷ XIX, trên thế giới xuất hiện những nghiên cứu về ảnh hưởngcủa yếu tố môi trường và di truyền đối với sự hình thành nhân cách cá nhân
Trang 11Đến năm 1959, I.I Canaev công bố kết quả nghiên cứu của mình trong tác phẩm
Trẻ sinh đôi và sau đó vấn đề này cũng được Đ.B.Enconhin tiếp tục nghiên cứu.
Nhiều nhà tâm lý học đã chỉ ra ảnh hưởng rất quan trọng của môi trường đến sựhình thành nhân cách cá nhân, từ những kết quả nghiên cứu có được dần hìnhthành chuyên ngành tâm lý học mới – tâm lý học môi trường và được khái quáttrong tài liệu Giáo dục học, Tâm lý học,…[3]
Nhìn chung, quan điểm của các nhà tâm lý học và giáo dục học đều khẳngđịnh vai trò quyết định của yếu tố môi trường đến sự hình thành và phát triểnnhân cách con người, quan tâm đến việc nghiên cứu xây dựng môi trường cóảnh hưởng tốt nhất đến quá trình dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ
Theo học thuyết Mác xít, con người là sinh vật có ý thức nhưng ý thức củacon người không tự nhiên sinh ra đã có mà nó được hình thành bằng chính hoạtđộng của con người trong mối quan hệ qua lại giữa con người với thế giới vậtchất xung quanh Quá trình hình thành nhân cách và sự phát triển nhân cách chỉ
có thể thực hiện trong môi trường nhất định và con người có thể nhận thức thếgiới, cải tạo nó theo mục đích của mình Mặc dù hi sinh ra chưa có tâm lý, ýthức nhưng ngay từ khi xuất hiện trên thế giới này, con người đã phải nỗ lựchoạt động để thích nghi với môi trường xung quanh Môi trường góp phần tạo rađộng cơ, mục đích, cung cấp phương tiện cho điều kiện hoạt động giao lưu củacon người, nhờ đó mà con người chiếm lĩnh được kinh nghiệm lịch sử- xã hội,các giá trị văn hóa của loài người để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhâncách Các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng, mức độ ảnh hưởng của môi trường đến
sự phát triển nhân cách cũng còn tùy thuộc vào thái độ (chấp nhận, tiếp thu vàphản đối), tùy vào xu thế và năng lực của từng cá nhân
Nói đến những nghiên cứu về môi trường hoạt động cho trẻ nhỏ, trước hếtphải kế đên Maria Montessori ( 1870-1952) – nhà giáo dục nổi tiếng người Ý
Bà là người đầu tiên thành lập “ Children’s House” ở Rôme trở thành một trong
những người đi tiên phong trong việc tạo dựng cho trẻ một môi trường học phùhợp với sự phát triển tự nhiên và mong muốn của trẻ, giúp trẻ phát triển thể chất,trí lực cũng như sự tự lập và giúp trẻ sớm thích nghi với các điều kiện xã hội Bà
Trang 12cho rằng, trong đứa trẻ luôn chứa đựng một “sức sống nội tại”, sức sống đó có từkhi trẻ sinh ra, nó tồn tại tích cực trong sự vận động và phát triển, nó là nguồnsức mạnh vô tận và giáo dục có nhiệm vụ khích lệ, phát huy để nó được pháttriển tự nhiên, tự do theo quy luật của bản thân Trong mô hình “ Ngôi nhà trẻthơ” đồ dùng dụng cụ hoạt động được thiết kế phù hợp , gọn nhẹ, dễ dịchchuyển: tủ đồ ăn có đủ kích cỡ để trẻ có thể với tay, khóa cũng thích hợp cho trẻ
sử dụng, cánh cửa dễ dàng mở ra đóng vào, móc quần áo được đóng ở độ caothích hợp , kích thích trẻ làm những công việc tự phát theo ý thích của chúng.Các vật dụng trong môi trường hoạt động của trẻ thuộc loại “ nhẹ nhàng tiện lợi”, đảm bảo tính thẩm mỹ, văn hóa, tính logic, hệ thống và vừa với số lượng trẻ.Khi làm việc với môi trường tốt đẹp đó vừa có thể giúp trẻ tập trung suy nghĩvừa giúp trẻ hồi phục lại sức lực[4]
Ngoài mô hình tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ theo phương phápMontessori, trên thế giới còn xuất hiện một số mô hình khác: DAP, High/Scope,Anti- Bias,… và một mô hình môi trường hoạt động hiện nay mới được cáctrường trong nước tiếp cận đó là Mô hình môi trường theo phương pháp ReggioEmilia Trong môi trường này đồ dùng và thiết bị của trẻ cũng được đề cao vềtính thẩm mỹ Ở đó trẻ được tăng cường khám phá và có thể tham gia các hoạtđộng lâu dài [5] Tác giả Edward Rây Krisnan trong một bài báo về giáo dục đạhọc cũng đã nói: “… Đứa trẻ học rất nhanh trong những năm thơ ấu của cuộcđời, bởi vì thực tế không có ai thực sự dạy các em mà chính bản thân các emđóng vai trò tích cực trong việc học tập của bản thân…Hãy suy nghĩ về các môitrường quanh đứa trẻ… trong hầu hết các trường hợp, trẻ em học cách tư duytrong những môi trường không theo khuôn phép, không nghiêm ngặt và rất linhhoạt ở nhà, ở sân chơi, ở cửa hiệu, trong gia đình, để phát triển tư duy cảm giác
và hình thành kỹ năng tư duy phân tích cho trẻ, cần tạo ra những môi trường họctập tự do hơn cho các em”[6]
Như vậy, đối với trẻ mầm non giáo viên cần tạo cho tẻ có cơ hội được tựmình khám phá, được tư duy cảm xúc, cần cho trẻ được ồn ào, được tự do traođổi các ý tưởng , tự do chìm đắm trong những ý tưởng riêng của trẻ với các bạn,
Trang 13giáo viên cũng cần để trẻ được tự làm việc gì đó, được mắc sai lầm, quan trọng
là giáo viên phải tạo ra được một bầu không khí thoải mái, vui vẻ, khuyến khíchtrẻ tự đánh giá, bày tỏ cảm xúc của mình trong các hoạt động, cả hoạt động họctập và vui chơi… Với môi trường tâm lý như vậy trẻ sẽ rất tin tưởng vào côgiáo, tin vào bạn bè và tin vào khả năng của chính mình để chủ động, tự tin thựchiện hoạt động Đây là những yếu tố quan trọng để bộc lộ và phát huy tính tự lập
ở trẻ, vì thế trong kiến tạo môi trường cần thiết phải tạo được tâm lý an toàn chotrẻ
Nghiên cứu về tính tự lập
Các tác giả như: A.G Coovaliop, IU.A Đimitrieva,… nghiên cứu về cácthành tố tâm lý biểu hiện của tính tự lập đã gắn tính tự lập với các quá trình tâmlý: tư duy, chú ý, trí nhớ, sáng tạo,… xem nó là một cấu tạo tâm lý bền vững, cócấu trúc phức tạp và được gắn với hoạt động ý chí của cá nhân , được thể hiện ở
sự độc lập trong hoạt động của cá nhân Theo đó tính tự lập là tổng hòa cả mặtnhận thức, đạo đức- ý chí và tình cảm của cá nhân Tính tự lập được hình thànhtrong quá trình hoạt động , nó thể hiện mối quan hệ của cá nhân đối với sự vật,hiện tượng với người khác và với bản thân mình …[7][8][9]
Một số tác giả như: IU.A Đimitrieva, T.I.Galina, B.G.Ananhiep,…nghiên cứu tính tự lập như một hoạt động của cá nhân được phát triển trên cơ sở
là một “ hình thức mới của tự ý thức”, là một phẩm chất ý chí của nhân cách, làkhả năng con người biết sử dụng những cố gắng của mình để đặt ra và giải quyếtnhững mục đích có ý nghĩa xã hội Tính tự lập được hình thành thông qua việc ýthức và đánh giá những hành động của bản thâ, quan hệ của bản thân với môitrường và đánh giá những người xung quanh
Maria Montessori cho rằng: trẻ sơ sinh như là một cá thể hoàn toàn độc
lập và dùng khái niệm tính tự lập ngay cho trẻ vừa chào đời, theo bà: “Trẻ vừa
chào đời như một mũi tên bắn đi, lao về hướng giáo dục tự lập; sự tự lập của trẻ phát triển trên cơ sở trẻ được tạo điều kiện để được hoạt động độc lập, được tự
do làm những gì chúng muốn, chúng quan tâm[10] Bà cho rằng cần giáo dục
trẻ từ trước tuổi lên ba- lứa tuổi đánh dấu quyết định cuộc đời trẻ Tuy nhiên bà
Trang 14đã quá đề cao yếu tố di truyền tự nhiên ở trẻ khi cho rằng nhu cầu được độc lập
ở trẻ là thể hiện cơ bản của phát triển tự nhiên, trẻ sinh ra đã có sẵn tự lập, nếungười lớn có sự giúp đỡ cần thiết để trẻ được phát triển tự nhiên thì chúng sẽthực hiện được tính tự lập của mình và cũng chính vì thế mà khi tạo ra “ ngôinhà tuổi thơ” cho trẻ bà đã tôn trọng trẻ như một người lớn và để trẻ được tựhoạt động trong môi trường mà bà tạo ra cho chúng
Theo các nhà tâm lý học và giáo dục học Liên Xô thì mầm mống của tính
tự lập xuất phát từ lứa tuổi mầm non, cùng với sự hình thành tự ý thức của trẻ vàmột số phẩm chất nhân cách như: tính chủ định, tính định hướng, ý chí,… Họchỉ rằng, mức độ tự lập ở trẻ được nâng cao dần cùng với sự phát triển và sựtăng thêm khả năng hành động trí óc và chân tay của trẻ, sự thành công của việcgiáo dục tính tự lập ở giai đoạn tuổi mầm non có ý nghĩa xác định phần lớn xuhướng nhân cách sau này Nhưng “ muốn hình thành được nó, phải giáo dục chotrẻ thói quen hành động, suy nghĩ một cách độc lập, không ỷ lại vào người lớn” T.Guscova trong bài: “ Có thể giáo dục tính tự lập cho trẻ không?” đãđược đưa ra các tiêu chí để xác định tính tự lập của trẻ trước 6 tuổi như: Tínhchủ động của các ý định và sự tự lập kế hoạch thực hiện hành động đi cùng vớimong muốn “ tự tôi” của trẻ, tính kiên trì, bền bỉ đạt kết quả như dự định và khảnăng tự kiểm tra, đánh giá kết quả hành động Tác giả cũng đưa ra ba giai đoạnhình thành tính tự lập cho trẻ và khẳng định vai trò giúp đỡ đúng mức của ngườilớn trong hoạt động với đồ vật, HĐVC để dần dần hình thành tính tự lập ở trẻmột cách bền vững.[11]
Quan điểm giáo dục trẻ em ở phương Tây và một số nước châu Á (Nhật Bản,Hàn Quốc,…) hiện nay rất chú trọng tới việc phát triển tính tự lập cho trẻ Họ đãứng dụng một số phương pháp như: Montessori, Reggio way… như là nhữngphương pháp dạy học hướng vào trẻ, tôn trọng nhu cầu của trẻ Nhà giáo dục giữvai trò là người tạo điều kiện cho trẻ tự mình trải nghiệm, tự thực hiện, tự tìmcách khắc phục khó khăn và lớn khôn trong tất cả các hoạt động hằng ngày,trong cuộc sống của chúng
Trang 151.1.2 Lịch sử nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu về môi trường chơi
Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình của các tác giả: Vũ Thị Sơn- Về
môi trường học tập trong lớp [12]; Đặng Thành Hưng- Thiết kế bài học nhằm tích cực hóa học tập[13], Môi trường hoạt động chơi và trò chơi[14]; PGS.TS.
Trần Đức Minh: Xây dựng môi trường sư phạm trong trường cao đẳng sư phạm
– nhận thức và hành động thực tiễn[ 15]… Các tác giả đã phân tích và đưa ra
kiến nghị về điều kiện của môi trường sư phạm vĩ mô trong nhà trường và môitrường học trong lớp học Theo đó, muốn phát triển được chất lượng dạy và học,môi trường sư phạm phải được đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, điềukiện tâm lý của giáo viên, học sinh, sự tác động qua lại của các yếu tố trong môitrường dạy học Hiện nay cùng với sự đổi mới sâu và rộng các biện pháp giáodục trẻ ở trường mầm non, các nhà giáo dục cũng đã quan tâm nhiều hơn đếnmôi trường hoạt động của trẻ Ở trẻ mẫu giáo, hoạt động vui chơi đóng vai tròchủ đạo, môi trường chơi có tác động rất nhiều tới quá trình và kết quả chơi.Việc tổ chức môi trường hoạt động chơi được các tác giả xem nó như là biệnpháp trong tổ chức hoạt động chơi để phát triển một năng lực nào đó hay một sốphẩm chất như tính tích cực, tính tự lập, óc sáng tạo… nhằm phát triển toàn diệnnhân cách trẻ
Nghiên cứu về tính tự lập
Các nhà nghiên cứu về tính tự lập ở trẻ nhỏ được thực hiện chủ yếu tronghai môi trường: Môi trường giáo dục ở gia đình và môi trường giáo dục ở trườngmầm non Các nhà tâm lý học và giáo dục học Việt Nam cũng cho rằng tính tựlập xuất hiện rất sớm, ngay từ tuổi nhà trẻ; có vai trò quan trọng đối với sựtrưởng thành và hoàn thiện nhân cách con người Nhưng nghiên cứu của các nhàgiáo dục học Việt Nam chủ yếu đi theo hướng phát triển tính tự lập của trẻ;nghiên cứu tính tự lập trong mối quan hệ với các phẩm chất tâm lý khác nhưtính tích cực - chủ động, tính sáng tạo, tính tự tin để giáo dục tính tự lập trongmục tiêu phát triển toàn diện nhân cách Mặc dù nghiên cứu ở nhiều độ tuổi
Trang 16khác nhau, các tác giả đều xem xét tính tự lập của trẻ trên quan điểm hoạt động
và thông qua các hoạt động như lao động, hoạc tập, vui chơi của chúng
Nghiên cứu về tính tự lập của trẻ trong gia đình có thể kể đến công trìnhcủa TS Nguyễn Hồng Thuận và Th.S Tăng Tiến San trong đó chỉ ra sự khácnhau căn bản của các khái niệm tính tự lập, tính độc lập và tính tự lực Các tácgiả cũng cho rằng lao động và thực hành là con đường cơ bản để hình thành tính
tự lập cho trẻ và tính tự lập của trẻ phụ thuộc vào cả môi trường gia đình mà trẻsống, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp tác động nhằm phát triển tính tự lậpcho trẻ
Nghiên cứu về sự phát triển tính tự lập của trẻ mầm non có công trìnhcủa các tác giả Mai Ngọc Liên, Nguyễn Thị Kim Ngân – giáo dục tính tự lậpcho trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động với đồ vật và lao động tự phục vụ PTSNguyễn Thị Mỹ Lộc nghiên cứu về tính tự lập của trẻ MGL thông qua hoạt độngsáng tạo ( vẽ, nặn, xé dán ) và sử dụng hoạt động này như là hình thức để giáodục tính tự lập cho trẻ
Coi tính tự lực như tính tự lập, tác giả Phạm Thị Huyên nghiên cứu pháttriển tính tự lực của trẻ MGL trong hoạt động vui chơi Phương pháp tỏ chứcmôi trường chơi được tác giả xem như biện pháp hỗ trợ trong hệ thống biệnpháp tác giả đưa ra nhằm phát triển tính tự lực chơi cho trẻ
Tóm lại, vấn đề tổ chức môi trường hoạt động và phát triển tính tự lập đãđược quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử Môi trường ảnh hưởng đến sựphát triển các phẩm chất nhân cách của trẻ vì thế cũng ảnh hưởng đến sự pháttriển tính tự lập của trẻ Đối với trẻ mầm non nói chung, việc giáo dục trẻ trongchế độ sinh hoạt hàng ngày thông qua các hoạt động của trẻ là phương pháp phùhợp với đặc điểm phát triển của trẻ
Ở tuổi MGL, vui chơi là cuộc sống của trẻ Trong trò chơi trẻ đóng vai trò
là chủ thể, được tự do, tự nguyện tham gia chơi bằng chính khả năng của mìnhnên hoạt động vui chơi rất có ưu thế với việc phát triển tính tự lập cho trẻ.Tổchức môi trường chơi có ý nghĩa như là tổ chức “môi trường sống” cho trẻ Pháttriển tính tự lập cho trẻ thông qua việc tổ chức môi trường chơi là dùng môi
Trang 17trường chơi thay đổi linh hoạt để tác động vào trẻ, giúp trẻ tự lập hơn trong tròchơi: tự lựa chọn trò chơi, tự xác định chủ đề, tự tổ chức hoạt động chơi, tự tổchức đánh giá , nhờ đó mà trẻ trở nên năng động, sáng tạo hơn và chủ động hơn
Đề tài của chúng tôi dựa trên sự kế thừa các thành quả nghiên cứu về môitrường hoạt động cho trẻ và thể nghiệm nó để phát triển tính tự lập - một phẩmchất quan trọng của nhân cách, góp phần chứng minh: Môi trường có ảnh hưởngđến sự phát triển và hoàn thiện nhân cách trẻ, môi trường hoạt động của trẻ vàmôi trường chơi của trẻ tác động đến hiệu quả chơi, ảnh hưởng đến sự hoànthiện các phẩm chất nhân cách, trong đó có tính tự lập Từ đó giúp cho giáo viên
có cái nhìn thay đổi đối với việc tổ chức môi trường chơi nhằm nâng cao hơnnữa hiệu quả chơi, giúp trẻ chủ động , tự lập hơn trong hoạt động chơi cũng nhưtrong cuộc sống và phát triển toàn diện nhân cách
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm môi trường chơi và tổ chức môi trường chơi
Khái niệm “môi trường”.
Theo định nghĩa chung nhất của UNESCO, môi trường (nghĩa rộng) là tất cảnhững sự vật có trong hành tinh chúng ta đang sống; bao gồm tất cả các vật thểhữu sinh và các yếu tố vô sinh, các tương tác giữa chúng và sản phẩm của cáctương tác ấy Ở phạm vi hẹp hơn, môi trường là tập hợp các điều kiện và hiệntượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện
Đối với các cơ thể sống thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài
có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cá thể nên về nghĩa hẹp, môitrường được hiểu là những hoàn cảnh cụ thể trong đó có sự vật hiện tượng liênquan đến đối tượng mà chúng ta hướng đến đối tượng mà chúng ta hướng đến Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện tự nhiên và xãhội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển của từng cánhân cũng như cả cộng đồng người và tác động qua lại với hoạt động sống củacon người Trong tài liệu giáo dụ c học đại cương (1998), nhiều tác giả thốngnhất quan điểm cho rằng: môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài,cácđiều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh con người, cần thiết cho hoạt động sống
Trang 18và phát triển của con người đó [16] Môi trường sống của con người có thể phânthành môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Trong đó:
Môi trường tự nhiên là tổng hợp các yếu tố vô sinh như: nước, không khí,ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời, hệ thực vật và động vật Môi trường
tự nhiên gần gũi, gắn bó và có ảnh hưởng rất lớn tới con người nhất là đối vớitrẻ em Tự nhiên không chỉ là cuộc sống của con người về phương diện cá thể
mà còn là một trong những phương tiện giáo dục quan trọng, giúp trẻ phát triểntoàn diện nhân cách
Môi trường xã hội là tổng thể các tổng thể các quan hệ giữa con người vớicon người trong cộng đồng của họ Những mối quan hệ đó có ý nghĩa rất quantrọng với sự phát triển của con người, ảnh hưởng đến nền văn hóa chung và sựphát triển của toàn xã hội Trong môi trường xã hội, quan hệ con người với nhaucũng phát triên theo xu hướng phát triển lịch sử xã hội và ngược lại nó góp phầnảnh hưởng tới sự phát triển và hoàn thiện xã hội
Môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người, tạo nênđộng cơ, mục đích, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao lưu cá nhân.Song, mức độ ảnh hưởng của môi trường tới cá nhân lại tùy thuộc vào năng lực
và thái độ của từng cá nhân khi tiếp nhận nó, vì thế mà giáo dục cần tạo ra chotrẻ những định hướng đúng đắn để tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp từ môitrường
Vậy, môi trường là điều kiện hoàn cảnh, là những sự vật xung quanh con người, vây quanh và tác động đến đời sống của mỗi người, có ảnh hưởng
to lớn đến sự phát triển mọi mặt của con người.
Khái niệm “môi trường giáo dục”
Các nhà khoa học giáo dục thừa nhận: môi trường giáo dục có ảnh hưởng
tới chất lượng hoạt động dạy và học nhưng có nhiều ý kiến khác nhau về kháiniệm môi trường giáo dục Ban đầu, khái niệm môi trường giáo dục được đưa radựa trên một đặc tính nào đó như: những điều kiện tạo ra những xúc cảm về mặttâm lý (K.Sosnicki) hay như những hệ thống các tình huống trong đó con ngườiđang thích nghi (J.Peter) Ngày nay, môi trường giáo dục được hiểu theo nghĩa
Trang 19rộng hơn: “là một hệ thống gồm bất cứ những nhân tố kích thích hay ảnh hưởngnào” hoặc cũng được qaun niệm là: “ một hệ thống gồm những nhân tố kíchthích có ý đồ, có phương hướng nhằm đạt mục giáo dục nhất định” [17].
Theo từ điển Giáo dục học, môi trường giáo dục là “tập hợp những khônggian,những hoạt động xã hội và cá nhân,những phương tiện giao lưu,những quátrình, phối hợp lại với nhau và tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt được kếtquả cao nhất” [18]
Với khái niệm học: “Học là qúa trình tự biến đổi mình và lầm phong phú
mình bằng cách chọn nhập và xử lí thông tin lấy từ môi trường xung quanh” của
tác giả Lâm Quan Thiệp [19],chứng tỏ cần xây dựng một môi trường thông tinphong phú, môi trường kiến thức tích cực để tích cực hóa hoạt động học tập củangười học, giúp người học phát triển Môi trường giáo dục có thể chia thành:môi trường xã hội và môi trường tự nhiên
Môi trường giáo dục trong gia đình và môi trường ở trường mầm non cùngvới các điều kiện, các cơ hội học tập mà người lớn tạo ra cho trẻ sẽ tác động tới
sự hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách ở trẻ, đặc biệt là tính tự lập
Vậy, môi trường giáo dục là toàn bộ cở sở vật chất, tinh thần được sử dụng
nhằm tác động đến sự hình thành nhân cách của con người được giáo dục theomục tiêu giáo dục đã định
Khái niệm “môi trường hoạt động”
Khi nói đến môi trường giáo dục cho trẻ mầm non, không thể không nóiđến môi trường hoạt động giáo dục
Môi trường hoạt động là không gian cho một hoạt động nhất định, bao
gồm hệ thống các phương tiện, các điều kiện vật chất mà nhà giáo dục lựa chọn
để tiến hành các hoạt động giáo dục, trong đó có sự phối hợp, định hướng củanhà giáo dục tới các mối quan hệ xã hội, các phương tiện giao lưu, các đặc điểmphát triển tâm lí cá nhân nhằm hướng tới mục tiêu giáo dục
Trang 20Môi trường chơi của trẻ mẫu giáo
Môi trường chơi là không gian nơi diễn ra hoạt động chơi của trẻ đượcxác định bởi gồm 2 thành phần cơ bản là môi trường vật lý và môi trường xãhội, trong đó:
Môi trường vật lý là những điều kiện vật chất mà giáo viên tạo ra cho
trẻ, bao gồm 4 yếu tố chính: Thời gian – không gian – con người ( giáo viên vàtrẻ) - Đồ dùng, thiết bị, vật liệu được tổ chức phù hợp với mục tiêu giáo dục đã
Thời gian trong trò chơi không bó buộc theo bất cứ quy định nào mà linhđộng tùy theo hứng thú và kết quả hoạt động của trẻ
- Không gian chơi: Không gian hoạt động chơi được xác định là toàn bộkhu vực diễn ra hoạt động chơi ( trong lớp, ngoài sân, trong vườn trường,
…).Các không gian rộng hẹp khác nhau tùy vào tính chất và chủ đề trẻ chọn ởtừng góc chơi, được bố trí, sắp xếp hợp lý giữa “ động” và “ tĩnh” đảm bảo chotrẻ được quan sát dễ dàng, an toàn về mặt thể chất và sức khỏe… và hài hòagiữa yếu tố tự nhiên, nhân tạo… đảm bảo sự hợp tác lẫn nhau và giúp trẻ được
sử dụng tối đa các giác quan trong trò chơi của chúng
- Phương tiện, thiết bị, đồ dùng và vật liệu chơi: Đồ dùng, đồ chơi đa dạngphải đảm bảo sự tiện ích cho trẻ, phù hợp với trẻ, gợi cho trẻ những mối liênquan tới cuộc sống thực, gợi mở ý tưởng và trở thành đối tượng hoạt động chotrẻ Vật liệu chơi phải đảm bảo an toàn, đảm bảo vệ sinh, đa dạng, phong phú,gắn kết mối quan hệ hợp tác của trẻ trong trò chơi
- Con người: Nguồn nhân lực này chính là các thành viên tham gia vàohoạt động chơi, chủ yếu là giáo viên và trẻ
Trang 21Môi trường tâm lý là tổng hợp các yếu tố tâm lý xuất phát từ mối quan hệ
tương tác giữa trẻ với các bạn cùng chơi, giữa trẻ với cô giáo, giữa trẻ với môitrường chơi và từ chính bản thân trẻ, được biểu hiện ra ngoài thông qua bằng cáctương tác lời nói và phi lời nói, qua hành vi
Vậy môi trường tổ chức chơi cho trẻ mầm non là thiết kế, tạo ra môi
trường vật lý và môi trường tâm lý chơi sao cho đối tương chơi và các mối quan
hệ liên quan đến nó trong môi trường phải trở thành tiềm năng sinh ra động cơ chơi cho trẻ đồng thời các mối qaun hệ liên quan đến trong môi trường phải hỗ trợ và thúc đẩy trẻ thực hiện hoạt động đó.
1.2.2 Khái niệm tính tự lập
Tự lập là từ nguồn gốc Hán Việt thường được dùng để chỉ một phẩm chất
nhân cách tốt của người trưởng thành Theo từ điển Hán - Việt thì tự lập là tự
mình, mình vun trồng lấy mình và lớn lên được, không cậy dựa vào ai, còn tự lực là chỉ dựa vào sức mình mà hoàn thành công việc.
Trong cuộc sống trong quá trình nghiên cứu – tính tự chủ, tính tự lực, tínhđộc lập và tự lập đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau như những từ đồngnghĩa Tuy nhiên chúng không hoàn toàn trùng khít nhau về mặt ý nghĩa:
Tính tự chủ: Theo từ điển tiếng Việt, tự chủ có nghĩa là tự điều hành,
quản lí mọi công việc của mình, không để ai chi phối; là tực chủ trong tình cảm,hành động, không để hoàn cảnh chi phối; là tự chủ trong tình cảm, hành độngkhông để hoàn cảnh chi phối Do vậy, tính tự chủ có chiều hướng thiên về sự nỗlực ý chí của cá nhân, sự kiềm chế của cá nhân trước hoàn cảnh khách quan,không bị chi phối bởi những người xung quanh; thể hiện sự vững vàng,kiên địnhcủa mình trong lập trường và quyết định của mình tự chủ được xem là biểu hiệncủa hành vi, của hành động cụ thể được kiểm soát chặt chẽ bởi ý thức bên trongchứ không được dùng để chỉ tính chất của một hoạt động như tự lập
Tính độc lập: độc lập là tự mình tồn tại, hoạt động không nương tựa hoặc
phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác, ví dụ: sống độc lập, độc lập suy nghĩ; độc lậpcũng được hiểu là riêng [20] Trong nhiều từ điển khác, tự lập cũng được hiểu là
sự độc lập, tự lập, không phụ thuộc
Tính độc lập ít được dùng cho người trưởng thành, chỉ dùng trong phạm vihẹp để chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, một cá nhân và một hành động mang tính
Trang 22riêng rẽ, riêng biệt Đối với trẻ nhỏ, tính độc lập không phải phẩm chất nhâncách trọn vẹn mà là thuộc tính chỉ tính chất, trạng thái hoạt động và tồn tại của
cá nhân trẻ, độc lập biểu hiện sự phát triển tính tự lập ở mức độ nhất định
Tính tự lực: được xem là gần giống với tính tự lập nhiều nhất nhưng tự
lực nói đến những hành vi, những công việc được thực hiện bằng chính sức lựccủa bản thân, nó không bao hàm tính cách của cá nhân thực hiện công việc đó
Tự lập có phạm vi rộng hơn, nó là “tự mình và bằng chính sức của mình”, nókhông hạn hữu các mối quan hệ liên cá nhân Tự lực còn được hiểu theo nghĩaghép của tự lập và độc lập
Với trẻ mầm non, tính tự lập chưa phải là một phẩm chất đã hoàn thiện màđược phát triển trên cơ sở rèn luyện tính độc lập, tự lực và khả năng tự chủ Nókhông biểu hiện rõ ràng như ở người trưởng thành mà mới chỉ biểu hiện là trẻmuốn được thừa nhận, muốn được tự khẳng định mình, trẻ độc lập trong hoạtđộng, tự mình tìm cách giải quyết vấn đề
Tính tự lập được hình thành thông qua quá trình hoạt động của cá nhân, nóbiểu hiện cả ở mặt ý thức và hoạt động của cá nhân trong mối liên hệ của cánhân với các cá nhân khác, với thế giới xung quanh và với bản thân mình
Như vậy, tính tự lập là một phẩm chất quan trọng của nhân cách, được
đặc trưng bởi khả năng tự định hướng hoạt động, tự đặt ra kế hoạch và mục đích hoạt động của bản thân, biết sử dụng trí tuệ và sức lực của bản thân với thái độ tích cực, tự tin để thực hiện đến cùng nhiệm vụ của mình mà không dựa dẫm vào người khác.
Tính tự lập của trẻ mẫu giáo là một phẩm chất nhân cách cá nhân, được
hình thành trong quá trình hoạt động của trẻ với sự vật, với con người trong môi trường xung quanh và với chính trẻ, được đặc trưng bởi khả năng trẻ tự định hướng hoạt động, tự đặt mục đích, tự đề ra kế hoạch, tự lựa chọn phương tiện, cách thức hoạt động, tự đánh giá, kiểm tra bản thân với thái độ tích cực, tự tin
để thực hiện đến cùng nhiệm vụ của mình mà không dựa dẫm vào người khác.
1.2.3 Khái niệm “biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ”
Biện pháp trong giáo dục nói đến cách làm cụ thể của nhà giáo dục để tácđộng đến đối tượng dạy học trong điều kiện nhất định nhằm thực hiện mục đích
Trang 23giáo dục đã đặt ra… Từ đó đưa ra khái niệm “ Biện pháp tổ chức môi trường
chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ” như sau:
Biện pháp tổ chức môi trường chơi nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ là cách thức giáo viên tác động vào môi trường chơi (gồm cả môi trường vật lý và môi trường tâm lý) sao cho môi trường chơi và các mối liên hệ đến nó trong môi trường phải trở thành tiềm năng sinh ra dộng cơ chơi ở trẻ đồng thời phải hỗ trợ và thúc đẩy trẻ tự nghĩ ra trò chơi, tự định hướng tổ chức trò chơi, tự mình thực hiện và tự mình đánh giá việc thực hiện trò chơi đó.
1.3 Sự phát triển tính tự lập của trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1 Cơ sở hình thành tính tự lập ở trẻ mẫu giáo
Maria Montessorri – theo quan điểm giáo dục tự nhiên đã cho rằng tính tựlập nằm trong sự phát triển tự nhiên của trẻ, nó có sẵn và trẻ cần có sự giúp đỡ
để phát triển tính tự lập ngay từ khi mới được sinh ra Nhưng theo các nhà giáohọc Xô Viết thì tính tự lập là biểu hiện của tính tích cực ở trẻ, liên quan chặt chẽđến sự hình thành, phát triển của tâm lý và nhân cách Ngay khi mới bước vàotuổi lên ba, khi trẻ ý thức được “cái tôi” của mình thì việc giáo dục hình thành
và phát triển tính tự lập cho trẻ là một việc làm quan trọng và cần thiết đối vớinhững nhà giáo dục Tính tự lập ở trẻ 5 -6 tuổi được hình thành dựa trên một sốtiền đề nhất định
Về mặt sinh lý, cơ thể trẻ đã phát triển tương đối hoàn thiện, hệ xương cứng
chắc hơn, hệ cơ cũng phát triển dẻo dai hơn, trẻ có thể thực hiện các vận động
cơ bản khéo léo hơn trước và có khả năng thể hiện một số vận động tinh khéokhác Trẻ có khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường tốt hơn trước.Phạm vi giao lưu với thế giới xung quanh trẻ được mở rộng, kiến thức của trẻcũng trở nên phong phú hơn, kinh nghiệm của trẻ về thế giới cũng được rộng mởhơn Các nhu cầu của trẻ đã phát triển nhiều hơn trước và trẻ mong muốn đượckhẳng định, muốn thể hiện mình trong thế giới đó Như vậy, trẻ 5 – 6 tuổi khôngcòn phụ thuộc hoàn toàn vào người lớn mà trẻ là một cơ thể hoàn toàn độc lập,
có thể thực hiện một số hoạt động tự phục vụ cho bản thân mình
Trang 24Về mặt tâm lý, bắt đầu từ giai đoạn khủng hoảng tuổi lên ba, ngoài mong
muốn được mọi người chú ý, quan tâm, ở trẻ nảy sinh nhu cầu tự khẳng địnhmình Trẻ thường đòi hỏi ở mọi người nhiều thứ không phù hợp với quyền hạn
và khả năng của mình, muốn được tự làm mọi việc Trẻ luôn đề đạt nhu cầu “tựcon” và tỏ ra bướng bỉnh, chống đối thiếu hợp tác nếu phải làm theo yêu cầu củangười lớn hoặc nếu người lớn áp đặt ý muốn của mình vào ý muốn của trẻ.Nhưng “tính tự lập của trẻ không giống với hành vi tự phát của chúng mà baogiờ cũng có sự lãnh đạo và những yêu cầu của người lớn” [21], do đó những tácđộng sư phạm không đúng đắn thời kỳ này cung có thể gây ảnh hưởng đến sựhình thành nhân cách trẻ sau này, biến trẻ vụng về, ỷ lại vào người khác Nhưvậy cho thấy rằng môi trường sống, môi trường giáo dục và những điều kiện màngười lớn tạo ra cho trẻ có ảnh hưởng đến sự phát triển tính tự lập của trẻ
Các nhà khoa học chỉ ra rằng tính tự lập của trẻ được hình thành cơ bản dựatrên sự phát triển của ba yếu tố:
- Sự xuất hiện ý thức và nhu cầu tự khẳng định mình
- Sự phát triển tính chủ định trong các hành động tâm lý
- Sự rèn luyện kỹ năng và thói quen
1.3.2 Vai trò của tính tự lập với sự phát triển nhân cách trẻ MG 5 – 6 tuổi
Mục đích cuối cùng của giáo dục chính là giúp con trẻ tự lập, tự tin để đứngvững trên đôi chân của mình nên có thể nói tính tự lập có ý nghĩa rất lớn đối vớicuộc sống và hoạt động của chính trẻ cả ở hiện tại và trong tương lai
Trong giai đoạn tuổi mầm non, nhân cách của trẻ đang trên đà phát triển,tính tự lập được đánh giá là một đặc trưng quan trọng của nhân cách mà sự hìnhthành của nó không tách rời các sự phát triển của các phẩm chất nhân cách khácnhư: tính chủ định, tính định hướng và sự nỗ lực ý chí cá nhân Tính tự lậpgiúp trẻ phát triển và hoàn thiện dần các quá trình tâm lý: chú ý, tư duy, ghinhớ , phát triển nhận nhức, phát triển năng lực xúc cảm,thúc đẩy trẻ tích cựchoạt động và ảnh hưởng tới sự phát triển tính sáng tạo sự tự tin ở trẻ giúp trẻ lĩnhhội chuẩn mực hành vi đạo đức và giúp đẩy nhanh quá trình chuẩn bị vào lớpmột của trẻ
Trang 25Trước hết, tính tự lập giúp trẻ phát triển trí tuệ, phát triển nhận thức Tính
tự lập nảy sinh cùng sự phát triển ý thức và nhu cầu tự khẳng định mình nên trẻthường có mong muốn được độc lập thông qua quá trình tự mình hoạt động đó,trẻ sẽ tự nhận thức vấn đề, tự phân tích, đối chiếu, so sánh, suy luận, dự đoán,đặt giả thuyết và tự đưa ra quyết định Mặc dù ban đầu, do vốn kinh nghiệmcòn ít ỏi nên hành động của trẻ còn phải trải qua nhiều lần “thử và sai”, nhưng
về sau khi đã lớn hơn và có kinh nghiệm hơn, trẻ phân tích vấn đề nhanh nhạyhơn và thực hiện công việc đạt hiệu quả hơn; như vậy tính tự lập góp phần giúp
tư duy của trẻ phát triển Tự lập trong hoạt động nhận thức, tự tìm kiếm và lĩnhhội tri thức cho riêng mình giúp trẻ trở nên nhanh nhẹn và linh động hơn trongviệc giải quyết các tình huống gặp phải trong cuộc sống, trẻ cũng biết cố gắnghết sức để tìm cách giải quyết các vấn đề gặp phải khi tìm kiếm sự giúp đỡ củangười khác
Tính tự lập thúc đẩy trẻ tích cực, sáng tạo trong các hoạt động như: nhận
thức, khám phá khoa học hoạt động nghệ thuật cùng với trí tò mò và lòng hamhiểu biết, trẻ trở nên hào hứng hơn, tích cực trong quá trình nhận thức, khám phávới mong muốn tìm hiểu đến cùng sự vật hiện tượng xung quanh Do vậy trẻ sẽghi nhớ kiến thức thu được lâu hơn, trí tuệ của trẻ cũng phát triển hơn và trẻ cóthể phát triển khả năng tự khám phá đối với các hiện tượng xung quanh chúng
Trong các hoạt động nghệ thuật - thẩm mĩ như âm nhạc, tạo hình , tính tự
lập thể hiện ở khả năng hoạt động độc lập, ở những “ý tưởng” độc đáo mangmầm mống sáng tạo Đồng thời, bên cạnh việc trẻ được tự do thể hiện cảmnhận,suy nghĩ, tình cảm và thái độ đối với thế giới xung quanh trẻ được thự dothể hiện sự tích cực, trẻ là việc một cách chăm chú, độc lập, sáng tạo Và cũngnhờ đó mà năng lực cảm thụ thẩm mĩ của trẻ được cải thiện hơn, trẻ tự tin đưa racảm nhận của mình trong cảm thụ cũng như trong nhận xét “tác phẩm nghệthuật” của chúng
Ngoài ra, tính tự lập còn giúp trẻ phát triển năng lực xúc cảm và năng
lực hòa nhập vào xã hội Trẻ 5 – 6 tuổi có thể tự nhận ra và gọi tên các xúc cảm
của mình, biết đồng cảm với người khác, biết định hướng kết quả hành động và
Trang 26điều chỉnh cách ứng xử của bản thân, trẻ hòa nhập tốt hơn vào môi trường xã hội
mà trẻ tham gia Trẻ tự lập để trải nghiệm cuộc sống nhiều hơn nên sẽ tự tin và
có thái độ hơn với các hoạt động trong cuộc sống, trẻ biết cách thể hiện và gọitên các xúc cảm của mình chính xã hơn
Về ý nghĩa của việc giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non, PGS.TS Đào
Thanh Âm cũng nhận định rằng việc hình thành tính tự lập cho trẻ là kết quả củamột quá trình giáo dục về phía người lớn và tự giáo dục của trẻ em, nó là cơ sởquan trọng để trẻ dễ thích nghi với môi trường phổ thông sau này [22]
Tự lập là biểu hiện cao nhất về hành động ý chí của trẻ mầm non Trẻ đượcgiáo dục hình thành tính tự lập sẽ có thái độ độc lập trong hoạt động nhận thức,phù hợp với hoạt động chủ đạo ở trường phổ thông là hoạt động học tập Giáodục tính tự lập cho trẻ mầm non sẽ tạo cho trẻ có thái độ tích cực với hoat độnghọc tập: trẻ hứng thú từ việc học tập, xem học tập là nhiệm vụ của chính mình
và thực hiện nó bằng động cơ từ bên trong bản thân mình nên sẽ cố gắng hoànthành nhiệm vụ học tập một cách tự giác chứ không trông chờ hay ỷ lại vàongười khác Tự lập là phẩm chất cần thiết của người học sinh trong quá trình tựhọc và tự giáo dục chính mình Rèn luyện tính tự lập cho trẻ có ý nghĩa đẩynhanh và làm cho quá trình chuẩn bị vào lớp một của trẻ hiệu quả hơn
Tuổi mầm non là thời điểm thuận lợi để đánh giáo dục tính tự lập cho trẻ
mà nếu bỏ qua thời điểm đó, sẽ rất khó tạo dựng tính cách tự lập cho trẻ sau này.Trẻ không được quan tâm giáo dục hình thành và phát triển tính tự lập ngay từgiai đoạn này cũng rất dễ trưởng thành và phát triển tính tự lập ngay từ giai đoạnnày cũng rất dễ trưởng thành một tính cách thị động, có tư tưởng trông chờ vàongười khác Tính tự lập ảnh hưởng đến tính tự tin , tích cực và sáng tạo vì thế,trẻ tự lập kém thường không thu được kết quả cao trong các hoạt động, tronghọc tập và cả công việc trong tương lai của trẻ Như vậy,tính tự lập được hìnhthành ngay từ tuổi mầm non là nhân tố quan trọng giúp trẻ hoàn thiện nhân cách.Tính tự lập được rèn luyện tốt là tiền đề cho một cá nhân có bản lĩnh,tự tin vàgiúp trẻ đạt nhiều thành công trong cuộc đời sau này Hoạt động vui chơi là môi
Trang 27trường thuận lợi để rèn luyện, phát triển tính tự lập cho trẻ mẫu giáo, giúp trẻnhanh chóng hòa nhập hoạt động học ở trường phổ thông,với công đồng
1.4.Ảnh hưởng của môi trường chơi tới sự phát triển tính tự lập của trẻ
1.4.1 Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển tính tự lập của trẻ
Vui chơi với trẻ thơ là cuộc sống Thông qua trò chơi trẻ khám phá môitrường xung quanh, thông qua trò chơi mà trẻ học làm người Điều này đã đượccác nhà tâm và giáo dục học trên thế giới khẳng định và sử dụng nó như là mộtphương tiện toàn diện giáo dục nhân cách trẻ, để chuẩn bị cho trẻ đến với cuộcsống trong tương lai A.X Makarenco đã đánh giá rất cao ý nghĩa của trò chơiđối với cuộc sống của trẻ Ông tin rằng nhân cách của trẻ được hình thành vàbộc lộ trong khi chơi, vì vậy, việc giáo dục những nhà hoạt động tương lai cầnbắt đầu trước tiên bằng trò chơi,bằng hoạt động vui chơi
Trong hoạt động vui chơi, các phẩm chất tâm lý và những đặc điểm nhâncách của trẻ được hình thành một cách mạnh mẽ và có ý nghãi nhất định đến sựhình thành tính tự lập của trẻ:
Trước hết, vui chơi ảnh hưởng đến sự hình thành tính chủ định trong cácquá trình tâm lý của trẻ vì thế mà nó ảnh hưởng đến việc hình thành tính cách tựlập ở trẻ Sự chú ý và ghi nhớ các điều kiện giúp trẻ chủ động và tự lập hơntrong quá trình thực hiện nhiệm vụ chơi mà không sợ khó khăn: trẻ trở nênnhanh nhẹn hơn trong việc giải quyết những nhiệm vụ nảy sinh bất ngờ trong tròchơi, dần dần trẻ khẳng định được mình, tự tin đưa ra quyết định cho nhóm chơicủa trẻ Bằng cách này trò chơi trở thành môi trường rèn luyện cho tính tự lập vàcho sự phát triển nhân cách của trẻ
Vui chơi làm cho tư duy, trí tuệ của trẻ có sự phát triển vượt trội, bình diện
tư duy chuyển dần từ bên ngoài vào bên trong cho phép trẻ thực hiện phép thửngầm trong óc trước khi đưa ra quyết định cuối cùng và trẻ có khả năng đoán ratrước diễn biến hành vi của người khác để từ đó mà lập kế hoạch hành động chobản thân và có cách xử lý phù hợp Tính tự lập liên quan đến việc trẻ có thể tự
Trang 28nhận thức ra vấn đề và tự giải quyết hay không nên sự phát triển của trò chơitrong tư duy trở thành điều kiện cần thiết cho sự phát triển tính cách tự lập củatrẻ và là yếu tố rất quan trọng cho cuộc sống tự lập sau này của mỗi người.
Vui chơi đã tạo ra cho trẻ những nét tính cách đặc trưng chỉ có ở riêng tuổimẫu giáo như tính hình tượng và tính dễ xúc cảm đồng thời giúp trẻ giải quyếtmâu thuẫn giữa khát vọng được tự lập, được giống như người lớn và khả năngcòn non yếu của trẻ Các nhà giáo dục khẳng định tuổi mẫu giáo là lứa tuổi nềntảng cho sự phát triển nhân cách của trẻ, những gì trẻ không đạt được khi đã kếtthúc lứa tuổi này thì rất khó hình thành cho trẻ ở lứa tuổi sau, vì thế việc quantâm giáo dục tính tự lập cũng như giáo dục phát triển toàn diện nhân cách chotrẻ ngay từ độ tuổi này thông qua trò chơi là việc cần thiết
Tóm lại, hoạt động vui chơi là phương tiện thuận lợi để phát triển tính tựlập ở trẻ việc tổ chức môi trường hoạt động vui chơi với vật liệu chơi hấp dẫnphong phú và môi trường tâm lý an toàn thúc đẩy trẻ hứng thú, tích cực, chủđộng, tự tin sẽ phát triển khả năng tự lập trong trò chơi của chúng
1.4.2 Ảnh hưởng của môi trường chơi đối với tính tự lập của trẻ MGL trong hoạt động chơi
Tính tự lập của trẻ chịu ảnh hưởng của mối quan hệ tương tác trong bộ ba:Giáo viên - Trẻ em – Môi trường chơi [23]
- Ảnh hưởng của môi trường vật chất đến sự phát triển tính tự lập ở trẻ:Môi trường vật chất cho trẻ chơi bao gồm các yếu tố về Thời gian – Khônggian
- Đồ dùng, vật liệu, thiết bị - Con người, các yếu tố này có ảnh hưởng nhấtđịnh tới tính tự lập trong khi chơi của trẻ
- Ảnh hưởng của môi trường tâm lý tới sự phát triển tính tự lập ở trẻ: Môitrường tâm lý trong trò chơi được tạo bởi trạng thái tâm lý của bản thân trẻ, mốiquan hệ của trẻ và cô giáo,mối quan hệ của trẻ với các bạn, được thể hiện thôngqua hành vi, ngôn ngữ nói, qua cách trẻ giao tiếp với giáo viên với bạn
Như vậy, cách tổ chức các yếu tố trong môi trường chơi với các yếu tố vậtchất và tâm lý trong môi trường chơi có ảnh hưởng lớn đến khả năng chơi tự lập
Trang 29của trẻ Không gian chơi rộng rãi, thoải mái, các đồ dùng đồ chơi hấp dẫn, gợi
mở sẽ như là những yếu tố “tự điều khiển” tác động vào hứng thú của trẻ, giúptrẻ tự nghĩ ra trò chơi, tự tìm kiếm môi trường chơi phù hợp với đối tượng đó.Cảm giác tự tin và an toàn mà môi trường chơi mang lại sẽ kích thích trẻ chủđộng định hướng môi trường chơi, trẻ có thể tự chọn bạn chơi, cùng nhau thảoluận tự đưa ra kế hoạch hoạt động cho trò chơi và có thể tự kiểm tra, đánh giáquá trình chơi của mình
1.4.3 Biểu hiện tính tự lập của trẻ trong hoạt động vui chơi
Sự tự lập của trẻ trong hoạt động vui chơi là kết quả của mối quan hệ tác
động của trẻ đối với môi trường chơi của chúng Khả năng tự lập chơi của trẻđược biểu hiện thông qua một số nét sau:
Trẻ tự lập chơi biểu hiện trước hết ở khả năng tự định hướng được khônggian chơi Khi đưa trẻ vào môi trường chơi của chúng, trẻ sẽ tự quan sát, phântích, so sánh để tự xác định chủ đề chơi, qua đó trẻ sẽ tự lựa chọn trò chơi mà trẻthích Biểu hiện cao nhất của khả năng tự định hướng là trẻ tự nghĩ ra được tròchơi bằng kinh nghiệm của chính mình và phù hợp với chủ đề và mục tiêu màgiáo viên đề ra Cùng với việc tự nghĩ ra trò chơi và xác định góc chơi, trẻ sẽ tựbiết tìm bạn, tự kết nhóm, phân vai và cùng nhau lập kế hoạch để chuẩn bị tiếnhành trò chơi của chúng
Không chỉ tự nghĩ ra trò chơi, trẻ còn có khả năng tổ chức thực hiện trò chơi
đó Khi đã tự lên kế hoạch chơi, trẻ sẽ tự nhận ra những điều cần thiết để tiếnhành chơi và biết tự tìm kiếm phương tiện chơi cho phù hợp để tác động vào đốitượng chơi mà trẻ và nhóm của chúng đã chọn Ở đây trẻ đã tự xác định đượccách thức tác động lên đối tượng – là các đồ dùng, đồ chơi trong góc chơi củatrẻ Cũng từ cách tác động, công dụng và giá trị của đồ chơi mà trẻ tự xác địnhnôi dung chơi Tự lập nghĩ ra trò chơi và tự lập nghĩ ra nội dung chơi nên trẻ sẽbiết tự lập giải quyết các vấn đề nảy sinh trong trò chơi đó
Trong quá trình tham gia trò chơi, trẻ tự lập rất tự tin đưa ra ý tưởng chơimới và thuyết phục bạn cùng tham gia với mình Ngoài ra trẻ còn biết tự kiểmsoát những mong muốn của mình để phục vụ mục đích chơi chung mà nhóm trẻ
Trang 30đã đề ra Trẻ biết tự nhận xét, đánh giá bản thân và đánh giá bạn cùng chơi.Trong các mối quan hệ của trẻ với môi trường chơi, trẻ tự lập luôn tỏ ra chủđộng, có nỗ lực và cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ chơi.
3 Môi trường chơi của trẻ là tổng thể bao gồm cả yếu tố vật chất và tâm lý những điều kiện mà người lớn đã tạo ra cho trẻ chơi Môi trường chơi tác độngđến tính tự lập của trẻ trong khi chơi, định hướng cho trẻ tự lựa chọn góc chơi và
-tự tìm kiếm các cách thức giải quyết vấn đề nảy sinh và -tự tìm phương tiện chơicho phù hợp Sự thay đổi không gian chơi, thay đổi các điều kiện về đồ chơi,vật liệu chơi , sự thay đổi các mối quan hệ tương tác giữa trẻ với bạn và trẻ với
cô giáo có ảnh hưởng đáng kể đến tính tự lập trong trò chơi của trẻ
4 Giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức môi trường cho trẻ chơi.Khi tổ chức môi trường chơi cho trẻ, giáo viên phải đảm bảo nó phù hợp với khảnăng nhận thức và nhu cầu phát triển của trẻ đồng thời đảm bảo tính giá trị, tính
hệ thống và tính thẩm mĩ, văn hóa trong đó Những tác động của giáo viên tớimôi trường chơi và trẻ ảnh hưởng tới tính chất các mối quan hệ tương tác kháccủa trẻ trong trò chơi, tác động trực tiếp tới sự tự tin và từ đó ảnh hưởng tới khảnăng tự lập trong hoạt động của trẻ Do đó, giáo viên cần xác định được vai trò