1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát âm đúng của trẻ 4 5 tuổi ở các trường mầm non vùng ven biển huyện quảng xương thanh hóa

63 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng phát âm đúng của trẻ 4-5 tuổi ở các trường mầm non vùng ven biển huyện Quảng Xương - Thanh Hóa
Tác giả Đỗ Huyền Trang
Người hướng dẫn ThS. Tạ Mai Anh
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 648,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. MỞ ĐẦU (6)
    • 1. Lý do chọn đề tài (6)
    • 2. Lịch sử vấn đề (9)
    • 3. Mục đích nghiên cứu (11)
    • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
    • 5. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • B. NỘI DUNG (13)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Cơ sở ngữ âm học (13)
      • 1.1.1. Khái quát về ngữ âm và ngữ âm học (13)
      • 1.1.2. Cơ sở của ngữ âm (14)
      • 1.1.3. Hệ thống ngữ âm Tiếng Việt (17)
      • 1.1.4. Vấn đề chính âm trong Tiếng Việt (19)
    • 1.2. Cơ sở giáo dục học (19)
      • 1.2.1. Đặc điểm ngữ âm của trẻ 4 - 5 tuổi (19)
      • 1.2.2. Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng việt (22)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT ÂM ĐÚNG CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON VEN BIỂN (29)
    • 2.1. Vài nét về các trường mầm non vùng ven biển huyện Quảng Xương - tỉnh (29)
      • 2.1.1. Trường mầm non Quảng Nham (29)
      • 2.1.2. Trường mầm non Quảng Thạch (31)
      • 2.1.3. Trường mầm non Quảng Thái (32)
    • 2.2. Khảo sát (34)
      • 2.2.1. Cơ sở tiến hành khảo sát (34)
      • 2.2.2. Đối tượng khảo sát (35)
      • 2.2.3. Hình thức khảo sát (35)
      • 2.2.4 Nội dung khảo sát (35)
      • 2.2.4 Kết quả khảo sát (36)
  • Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN PHÁT ÂM ĐÚNG CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON VEN BIỂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (47)
    • 3.1. Giáo viên tổ chức luyện phát âm theo mẫu cho trẻ (47)
    • 3.2. Giáo viên tổ chức cho trẻ luyện phát âm qua tranh ảnh, vật thật, đồ chơi (47)
    • 3.3. Giáo viên cần thường xuyên tổ chức cho trẻ luyện phát âm qua đọc kể diễn cảmnhư đọc đồng dao, đọc thơ,kể chuyện (48)
    • 3.6. Giáo viên rèn luyện phát âm cho trẻ thông qua việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường (58)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (63)

Nội dung

NỘI DUNG

1.1 Cơ sở ngữ âm học

1.1.1 Khái quát về ngữ âm và ngữ âm học

Các nhà khoa học gọi mặt âm thanh của ngôn ngữ là ngữ âm Ngữ âm làm nên tính hiện thực của ngôn ngữ

Ngữ âm là cách gọi tắt của âm thanh ngôn ngữ - một loại âm thanh đặc biệt do con người phát ra dùng để giao tiếp và tư duy

Ngữ âm học nghiên cứu các âm, thanh điệu và sự kết hợp âm thanh trong ngôn ngữ, tập trung vào những yếu tố có giá trị biểu đạt ý nghĩa Các âm thanh không mang tính biểu đạt như tiếng ho, tiếng nấc không thuộc phạm trù ngữ âm.

Tóm lại, ngữ âm đóng vai trò là hình thức vật chất của ngôn ngữ, yếu tố biểu đạt không thể thiếu để ngôn ngữ tồn tại và truyền đạt ý nghĩa Ngữ âm, cùng với từ vựng và ngữ pháp, tạo nên hai mặt cơ bản của ngôn ngữ: biểu đạt và được biểu đạt, trong đó ngữ âm đảm nhận vai trò biểu đạt chính.

Giao tiếp là một phần thiết yếu của cuộc sống, diễn ra dưới nhiều hình thức như ngôn ngữ, cử chỉ, hội họa và âm nhạc Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng nhất, đòi hỏi sự nắm bắt thông tin để hiểu nhau Ngữ âm học và âm vị học nghiên cứu các yếu tố này trong giao tiếp ngôn ngữ Các âm của ngôn ngữ được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, hình thành nên ba phân môn: ngữ âm học cấu âm (quan điểm người nói), ngữ âm học thính âm (quan điểm người nghe) và ngữ âm học âm học (đặc điểm vật lý của âm thanh).

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cơ sở ngữ âm học

1.1.1 Khái quát về ngữ âm và ngữ âm học

Các nhà khoa học gọi mặt âm thanh của ngôn ngữ là ngữ âm Ngữ âm làm nên tính hiện thực của ngôn ngữ

Ngữ âm là cách gọi tắt của âm thanh ngôn ngữ - một loại âm thanh đặc biệt do con người phát ra dùng để giao tiếp và tư duy

Ngữ âm học nghiên cứu các âm, thanh điệu và sự kết hợp âm thanh trong ngôn ngữ, tập trung vào những âm thanh có giá trị biểu đạt, phân biệt chúng với các âm thanh vô nghĩa như tiếng ho.

Tóm lại, ngữ âm đóng vai trò là hình thức vật chất của ngôn ngữ, yếu tố biểu đạt không thể thiếu để ngôn ngữ tồn tại và truyền đạt ý nghĩa Ngữ âm, cùng với từ vựng và ngữ pháp, tạo nên hai mặt cơ bản của ngôn ngữ: biểu đạt và được biểu đạt, trong đó ngữ âm đảm nhận vai trò biểu đạt chính.

Giao tiếp là một phần thiết yếu của cuộc sống con người, diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng như ngôn ngữ, cử chỉ, hội họa và âm nhạc Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng nhất Để hiểu nhau, con người cần nắm bắt thông tin, và đây là đối tượng nghiên cứu của ngữ âm học và âm vị học Các âm của ngôn ngữ được nghiên cứu từ nhiều góc độ, hình thành ba phân môn: ngữ âm học cấu âm (nghiên cứu từ góc độ người nói), ngữ âm học thính âm (nghiên cứu từ góc độ người nghe), và ngữ âm học âm học (nghiên cứu đặc điểm vật lý của âm thanh).

Ngữ âm học nghiên cứu âm thanh ngôn ngữ, tập trung vào chất liệu âm thanh trong các đơn vị có nghĩa và liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và hiểu ngôn ngữ.

- Ngữ âm học nghiên cứu hình thức ngữ âm của ngôn ngữ từ những quan điểm khác nhau:

+ Từ những đặc trưng vật lý âm học của chúng

+ Từ những hoạt động cơ quan phát âm tương ứng của con người

Ngữ âm học có ý nghĩa thực hành lớn, cung cấp phương pháp đúng để dạy viết và đọc, phát âm đúng tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài, tạo hệ thống chữ viết hợp lí, và nghiên cứu các bệnh về lời nói Ứng dụng của ngữ âm học mở rộng vào kĩ thuật truyền tin, nhận diện tự động và tổng hợp lời nói nhân tạo Về mặt lí luận, ngữ âm học giúp hiểu ngôn ngữ là một hệ thống toàn vẹn và là nơi thí nghiệm của ngôn ngữ học do tính ổn định và đơn giản của nó.

1.1.2 Cơ sở của ngữ âm

Cơ sở của ngữ âm còn được gọi là bản chất của ngữ âm, bao gồm mặt tự nhiên và mặt xã hội của ngữ âm

1.1.2.1 Cơ sở tự nhiên Âm thanh ngôn ngữ có thể tiến hành nghiên cứu về bản chất âm học ( cảm thụ - vật lý) và những phương thức cấu âm ( nguồn gốc - sinh lý ) tức là cơ sở tự nhiên.Hai hướng nghiên cứu này tuy có một tính chất độc lập nhất định nhưng không loại trừ nhau, bởi lẽ một đặc trưng âm học nào đó chính là kết quả của một phương thức cấu âm nhất định.Cơ sở tự nhiên về mặt ngữ âm gồm cơ sở sinh lý và cơ sở vật lý

Âm thanh ngôn ngữ được tạo ra từ hoạt động của bộ máy phát âm, bao gồm cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang như khoang mũi, khoang miệng và khoang yết hầu.

Cơ quan hô hấp đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp luồng hơi, yếu tố khởi đầu cho việc tạo ra âm thanh Phổi và khí quản là những bộ phận chính của cơ quan hô hấp, đảm bảo cung cấp "vật liệu không khí" cần thiết cho quá trình này.

Âm thanh được tạo ra từ luồng không khí từ phổi, kết hợp với sự điều khiển của thần kinh để làm rung dây thanh Sự rung động này, cùng với sự cọ xát vào các bộ phận phát âm trong khoang miệng và khoang mũi, tạo nên các âm thanh khác nhau.

Thanh hầu là cơ quan phát ra âm thanh, cấu tạo phức tạp từ sụn, cơ và gân Khí quản và thanh hầu tạo thành một ống rộng, cử động nhờ hệ thống cơ bên ngoài Dây thanh rung động khi luồng hơi đi qua, tạo ra âm thanh Thanh hầu là hộp cộng hưởng đầu tiên, khuếch đại âm thanh từ phổi.

- Các khoang ( khoang mũi,khoang miệng ,khoang yết hầu )

Khoang họng, miệng và mũi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra âm thanh Khoang họng hoạt động như một hộp chứa hơi, cộng hưởng với dây thanh Khoang miệng là hộp cộng hưởng quan trọng nhất, nơi thể hiện các khu biệt về cấu âm Sự thay đổi hình dáng và thể tích khoang miệng, thông qua hoạt động của môi, răng, lưỡi, và các bộ phận khác, tạo ra các âm thanh khác nhau.

+ Phụ thuộc vào tần số giao động Tần số là chu kì được thực hiện trong một giây

+ Đơn vị đo độ cao là Hertz(Hz)

+Tần số dao động càng lớn thì âm thanh càng cao, ngược lại, tần số dao động thấp thì âm thanh thấp

Tần số dao động của dây thanh là yếu tố then chốt quy định độ cao giọng nói, trong đó, dây thanh rung động nhanh tạo ra âm cao, còn rung động chậm tạo ra âm thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến âm vực và sắc thái giọng nói của mỗi người.

+ Đơn vị đo cường độ là decibel(dB)

+ Phụ thuộc vào biên độ dao động, biên độ dao động càng lớn thì phát âm ra càng mạnh

+ Dây thanh chấn động mạnh thì âm thanh phát ra càng lớn và ngược lại thì phát ra nhỏ

- Độ dài ( trường độ ) phụ thuộc vào sự chấn động lâu hay nhanh của các phần tử không khí

- Âm sắc là sắc thái riêng biệt của âm thanh Âm sắc giúp chúng ta phân biệt giọng nói của người này với giọng nói của người khác

Ngữ âm học có cơ sở xã hội, thể hiện qua chức năng giao tiếp của nó, cho phép người nói hiểu nhau dù có sự khác biệt nhỏ trong phát âm Cộng đồng lựa chọn và xác lập âm thanh làm hình thức biểu đạt ý nghĩa, biến chúng thành đơn vị âm thanh ngôn ngữ Nhờ mặt xã hội này, người sử dụng ngôn ngữ nhận biết và phân biệt các đơn vị âm thanh có tính chức năng, phục vụ giao tiếp hiệu quả.

1.1.3 Hệ thống ngữ âm Tiếng Việt

- Bao gồm các thành phần :

- Thành phần ở vị trí thứ nhất là phụ âm đầu do phụ âm đảm nhiệm

- Thành phần ở vị trí thứ hai là âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết

Ví dụ như: âm A trong chữ Trang, âm O trong chữ Sóng

-Thành phần ở vị trí thứ ba là âm chính, do các nguyên âm đảm nhiệm.Âm chính là hạt nhân của âm tiết

-Thành phần ở vị trí thứ tư là âm cuối do các phụ âm bán nguyên âm (y, i, u, o) đảm nhiệm

-Thành phần ở vị trí thứ năm là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết

Vần trong tiếng Việt được cấu tạo từ ba thành phần chính: âm đệm, âm chính và âm cuối, trong đó âm chính và thanh điệu là yếu tố bắt buộc, còn âm đệm và âm cuối có thể xuất hiện hoặc không.

-Âm tiết Tiếng Việt có cấu trúc hai bậc:

+ Bậc 1: Thanh điệu, âm đầu, phần vần

+ Bậc 2: Âm đệm, âm chính, âm cuối

Thanh điệu là yếu tố ngữ âm quan trọng, tạo nên sự khác biệt về nghĩa giữa các âm tiết trong tiếng Việt, ví dụ như sự đối lập giữa "la, lá, lả" (cao độ cao) và "là, lả, lạ" (cao độ thấp).

Cơ sở giáo dục học

1.2.1 Đặc điểm ngữ âm của trẻ 4 - 5 tuổi

Ngôn ngữ nói là công cụ giao tiếp hàng ngày của con người, vì vậy việc rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ từ nhỏ là vô cùng quan trọng Quá trình này bắt đầu bằng việc rèn luyện khả năng nghe và phát âm, đòi hỏi sự hiểu biết về đặc điểm ngữ âm của trẻ ở từng độ tuổi để lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, thúc đẩy quá trình phát âm hiệu quả.

Thời kỳ sơ sinh đánh dấu bằng những âm thanh đầu tiên như tiếng khóc, "ọ," "ẹ," tuy chưa phải là ngôn ngữ thực sự, mà là phản ứng tự nhiên của cơ thể trẻ khi đói hoặc khó chịu Dù vậy, những âm thanh này đóng vai trò quan trọng, giúp mẹ nhận biết và phản ứng với các nhu cầu khác nhau của bé.

Từ tháng thứ 2, trẻ bắt đầu bập bẹ, hóng chuyện và cười với người xung quanh, đánh dấu sự khởi đầu của giao tiếp Đến tháng thứ 5 và 6, trẻ luyện tập âm thanh một mình, lặp lại những âm như "a", "u", "ư", phát triển khả năng ngôn ngữ một cách tự nhiên.

Từ tháng thứ 7, trẻ bắt đầu phát ra chuỗi âm thanh như "cha cha, ba ba, da da", kết hợp phụ âm và nguyên âm Trong tiếng bập bẹ, âm đầu thường được nhấn mạnh, dù âm sắc chưa rõ ràng.

Trong giai đoạn gần một năm tuổi, trẻ bắt đầu sử dụng một hoặc hai âm tiết để biểu thị một nội dung cụ thể, ví dụ như "ò ò" để chỉ con bò hoặc "bim bim" để chỉ ô tô Những từ này được gọi là từ giả, và mỗi trẻ sẽ có một hệ thống từ giả riêng mà chỉ người thân thiết mới hiểu được Đến cuối năm thứ nhất, trẻ có khả năng bắt chước âm thanh và bập bẹ những âm tiết đơn giản có nghĩa Tóm lại, giai đoạn tiền ngôn ngữ là thời kỳ trẻ học cách sử dụng bộ máy phát âm, luyện tập phát âm các âm vị của tiếng mẹ đẻ, và quan sát sự chuyển động của cơ quan phát âm, tạo cơ sở quan trọng cho giai đoạn tiếp theo.

Trong giai đoạn 1-2 tuổi, trẻ tăng cường giao tiếp, thúc đẩy tiếp thu ngôn ngữ, hiểu từ quen thuộc và thể hiện mong muốn bằng lời nói, dù phát âm còn khó khăn Từ 2-3 tuổi, trẻ phát âm đúng hơn nhưng vẫn mắc lỗi ở một số âm và thanh điệu Giai đoạn 3-4 tuổi là thời kỳ phát cảm ngôn ngữ, vốn từ tăng nhanh, trẻ giao tiếp chủ yếu bằng lời nói, phát âm tốt hơn nhưng vẫn sai ở âm khó và từ nhiều âm tiết Đến 4-5 tuổi, trẻ hoàn thiện ngữ âm, phát âm đúng các âm vị, điều chỉnh nhịp điệu lời nói phù hợp hoàn cảnh.

Ở lứa tuổi này, trẻ nhỏ vẫn còn mắc lỗi phát âm, nhầm lẫn phụ âm, nguyên âm và thanh điệu Tuy nhiên, trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi đã có thể hiểu lời nói của người lớn, bao gồm cả chỉ dẫn và các tác phẩm văn chương đơn giản.

Trẻ đạt được khả năng nghe và hiểu thông báo ngoài ngữ cảnh trực tiếp, mở ra khả năng sử dụng ngôn ngữ để nhận thức thế giới xung quanh Giao tiếp bằng lời nói giữa trẻ và người lớn thúc đẩy sự phát triển lời nói mạch lạc, đối thoại trở thành cơ sở cho lời nói độc thoại Tuy nhiên, trẻ 4-5 tuổi thường nói chậm, kéo dài giọng, ậm ừ và phát âm chưa chuẩn.

1.2.2 Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng việt

1.2.2.1 Nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng việt

* Hoàn thiện cơ quan phát âm

Giai đoạn mầm non là thời điểm vàng để phát triển khả năng ngôn ngữ và cơ quan phát âm của trẻ Giáo dục ngữ âm ở lứa tuổi này đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt để đảm bảo sự phát triển tự nhiên của cơ quan phát âm Chăm sóc sức khỏe và vệ sinh cơ quan phát âm, cùng với việc rèn luyện phát âm đúng cách, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng ngôn ngữ của trẻ.

* Rèn luyện khả năng nghe lời nói

Trẻ sơ sinh phản ứng sớm với âm thanh tự nhiên, đặc biệt là giọng nói, thể hiện khả năng phân biệt các sắc thái khác nhau như sự âu yếm và quát mắng Trẻ cũng có thể nhận biết giọng nói của mẹ và người thân, cho thấy sự phát triển thính giác và khả năng nhận diện âm thanh từ rất sớm.

Trẻ tập trung vào nguồn âm thanh, ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ, như tiếng chim hót hay nhạc, và im lặng lắng nghe.\$->$ Điều này giúp trẻ sớm phân biệt các âm vị, ví dụ như sự khác biệt giữa "bà", "bé", và "bố".

"a" , "e" , "ô"; tiếng "nhà" khác với tiếng " bà" , "gà" nhờ các âm vị b,g

Rèn luyện tri giác biểu cảm ngôn ngữ giúp trẻ phản ứng phù hợp với các sắc thái tình cảm Phát triển khả năng nghe, bao gồm chú ý, cảm thụ âm vị, cao độ, tốc độ và nhịp điệu lời nói, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển khả năng nói của trẻ.

*Rèn luyện khả năng phát âm

Yêu cầu: trẻ phải phát âm đúng tất cả các âm vị trong tiếng Việt dù nó nằm ở vị trí nào ( đầu ,giữa hoặc cuối âm tiết)

Để phát triển kỹ năng phát âm, cần rèn luyện sự linh hoạt của lưỡi, môi và hàm dưới, giúp chúng phối hợp nhịp nhàng với răng, ngạc, tạo ra âm thanh rõ ràng và chính xác.

Rèn luyện thở ngôn ngữ là kỹ năng then chốt, giúp hít vào nhanh và thở ra nhịp nhàng, tạo sự thoải mái khi diễn đạt Thở ngôn ngữ đúng cách không chỉ giúp phát âm rõ nét mà còn duy trì cường độ nói phù hợp, đảm bảo lời nói mạch lạc, nhịp điệu biểu cảm, tăng hiệu quả giao tiếp.

- Chú ý đến đặc tính của giọng nói cần được phát triển:

+cao độ: sự nâng lên hạ xuống của âm thanh, chuyển động từ cao xuống thấp và ngược lại

+ cường độ: phát âm với một cường độ xác định (to, trung bình, nhỏ), hợp lý, phù hợp ngữ cảnh

+ Âm sắc: sắc thái của giọng (âm vang, trong, trầm ấm, đục )

*Hoàn thiện chuẩn mực chính âm

Chính âm là quy định thống nhất về âm thanh ngôn ngữ của một quốc gia, dân tộc, đòi hỏi các nhà nghiên cứu ngữ âm chỉ ra phương thức chuẩn và nhà nước ban hành quy định pháp luật yêu cầu toàn dân tuân theo Việc giao tiếp theo chính âm giúp loại bỏ tình trạng phát âm khác nhau giữa các vùng miền, từ đó tăng cường khả năng hiểu nhau trong giao tiếp tiếng Việt.

THỰC TRẠNG PHÁT ÂM ĐÚNG CỦA TRẺ 4 - 5 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON VEN BIỂN

Vài nét về các trường mầm non vùng ven biển huyện Quảng Xương - tỉnh

Tôi khảo sát 3 trường mầm non :

- Trường mầm non Quảng Nham

-Trường mầm non Quảng Thạch

- Trường mầm non Quảng Thái

2.1.1 Trường mầm non Quảng Nham

- Địa chỉ : xã Quảng Nham - huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa

- Hiệu trưởng : Ngô Thị Phượng

- Đội ngũ cán bộ giáo viên : 23 đồng chí

- Tổng số nhóm lớp : 8 nhóm, trong đó 2 nhóm lớp nhà trẻ và 6 nhóm lớp mẫu giáo

- Tổng số học sinh : 225, trong đó:

+ Bàn ghế vừa tầm : 60 bộ

* Vài nét về tình hình nhà trường

Trường mầm non Quảng Nham, tọa lạc tại trung tâm văn hóa xã và gần khu dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ huynh đưa đón con em Trường có 8 nhóm lớp, bao gồm 2 nhóm nhà trẻ và 6 lớp mẫu giáo, với tổng số 225 trẻ, trong đó có 59 trẻ mẫu giáo lớn, 64 trẻ mẫu giáo nhỡ, 66 trẻ mẫu giáo bé và 36 trẻ nhà trẻ.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường có tổng số 23 người, bao gồm 3 cán bộ quản lý trong ban giám hiệu, 16 giáo viên trực tiếp giảng dạy và 4 nhân viên hỗ trợ.

Về trình độ giáo viên : 100% cán bộ giáo viên, nhân viên có trình độ đạt chuẩn Trong đó trên chuẩn là 20 đồng chí đạt tỷ lệ 87%

Về trình độ chính trị : có 15 đồng chí là đảng viên ,trong đó 3 đồng chí đã hoàn thành chương trình trung cấp lý luận chính trị

Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh Mỗi phòng học được trang bị điều hòa và tivi, tuy nhiên, nhà trường mới chỉ đáp ứng được các nhu cầu cơ bản do hạn chế về kinh tế để đầu tư trang thiết bị hiện đại hơn.

Có 8 phòng học, ngoài ra còn có các phòng chức năng như : phòng y tế, phòng hành chính, phòng kho, phòng nhân viên, phòng làm việc của ban giám hiệu, văn phòng, nhà bếp, phòng bảo vệ Năm 2018 - 2019, xã đầu tư xây dựng sửa chữa khu bếp ăn đảm bảo theo quy định nhà bếp, một phòng kho, một phòng cho nhân viên Trường đã xây dựng lại Vườn Cổ Tích, sân vận động và khu vui chơi cho trẻ, nâng cấp sân làm mới cổng trường

Trang trí phòng và nhóm lớp cần phù hợp với lứa tuổi của trẻ, tạo không gian gần gũi và thân thiện Đồ dùng, đồ chơi nên được làm từ nguyên liệu phế thải phong phú, hấp dẫn và an toàn cho trẻ.

Trường mầm non thực hiện chương trình giáo dục mầm non cho mọi độ tuổi, tập trung xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm Chất lượng giáo dục hàng năm đạt loại tốt từ 90% trở lên, đáp ứng yêu cầu đề ra.

2.1.2 Trường mầm non Quảng Thạch

- Địa chỉ : xã Quảng Thạch - huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa

- Hiệu trưởng : Hoàng Thị Oanh

- Đội ngũ cán bộ giáo viên : 32 đồng chí

+ Ban giám hiệu : 3 đồng chí

+ Giáo viên đứng lớp : 24 đồng chí

+ Trung cấp,cao đẳng : 13 đồng chí

- Tổng số nhóm lớp : 14 nhóm

- Tổng số học sinh : 427, trong đó:

+ 4 lớp Mẫu giáo lớn : 59 trẻ

+ 4 lớp Mẫu giáo nhỡ : 64 trẻ

+ 3 lớp Mẫu giáo bé : 66 trẻ

+ Tổng số phòng : 17 phòng,trong đó 12 phòng học,1 phòng giám hiệu,1 phòng họp,1 phòng y tế, 1 phòng âm nhạc, 1 phòng kho

* Vài nét về tình hình nhà trường

Trường mầm non Quảng Thạch tự hào với 18 năm phát triển, liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến và chuẩn mức độ 1 từ năm 2008, khẳng định chất lượng giáo dục Đội ngũ giáo viên 100% đạt chuẩn, giàu kinh nghiệm và tận tâm, cùng cơ sở vật chất hiện đại, đảm bảo môi trường chăm sóc và giáo dục trẻ tốt nhất.

Nhà trường thực hiện nghiêm túc cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhà trường xây dựng kế hoạch, trường học thân thiện học sinh tích cực,các lớp đã thực hiện tốt và đạt hiệu quả cao

Chỉ đạo đổi mới trong công tác quản lý

+ Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong trường

+ Làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, củng cố đội ngũ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ, đánh giá trung thực khách quan

+ Thực hiện nghiêm túc các quy định trong quy chế giáo dục về đánh giá, xem xét, bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên đạt kết quả tốt

+ Đổi mới công tác thi đua, chống chạy theo thành tích

Trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ:

+ Số lượng trẻ huy động ra lớp so với chỉ tiêu giao đạt 100%.Nhà trường duy trì tốt về sĩ số

Ban giám hiệu nhà trường thực hiện kiểm tra và đánh giá toàn diện đội ngũ giáo viên, đảm bảo 100% đạt trình độ chuyên môn vững vàng từ khá trở lên, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ theo hướng phát triển tích cực.

Xây dựng chế độ ăn đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng hợp vệ sinh Xây dựng các giờ dạy mẫu theo những phương pháp đổi mới

Trường học được đầu tư đầy đủ trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, đáp ứng nhu cầu dạy học và chăm sóc trẻ Khuôn viên trường được xây dựng và không ngừng bổ sung, thay mới các thiết bị, đồ dùng dạy học.

Điều kiện khó khăn hiện tại gây hạn chế về không gian học tập và vui chơi, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục trẻ.

2.1.3.Trường mầm non Quảng Thái

Tổng số trẻ theo học tại trường là 300 trẻ

Tổng số nhóm lớp : 10 nhóm

+ 3 lớp Mẫu giáo lớn : 124 trẻ

+ 3 lớp Mẫu giáo nhỡ : 77 trẻ

+ 2 lớp Mẫu giáo bé : 50 trẻ

Tổng số cán bộ giáo viên :25 đồng chí

+ Ban giám hiệu : 3 đồng chí

+ Giáo viên đứng lớp : 20 đồng chí

+ Trung cấp,cao đẳng : 6 đồng chí

* Vài nét về tình hình nhà trường

Trường mầm non Quảng Thái, với 21 năm kinh nghiệm từ năm 1996, là một trường trọng điểm của huyện Quảng Xương Trường được đầu tư 20 phòng học thoáng mát, trang thiết bị dạy học tối ưu, phục vụ tốt nhất cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ Đây là cơ sở giáo dục vững vàng về kiến thức, chuyên môn và kinh nghiệm giáo dục trẻ trên địa bàn huyện.

Các cán bộ giáo viên nhà trường đều tâm huyết với nghề và có năng lực chuyên môn vững vàng Họ nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc, cũng như trong mọi hoạt động của nhà trường, đóng góp vào sự phát triển chung.

Về công tác tổ chức quản lý :

+ Nhà trường đã xây dựng kế hoạch nhiệm vụ năm học đầy đủ, xây dựng theo từng chủ điểm

+ Tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ

+ Tham gia đầy đủ có hiệu quả các cuộc vận động, quan điểm chính trị tư tưởng của Đảng

+ Thực hiện tốt các quy định trong quy chế giáo dục, về đánh giá xem xét, bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên

+ Đổi mới công tác thi đua, thường xuyên áp dụng các phương pháp giáo dục mới

Về công tác chăm sóc giáo dục trẻ :

+ Nhà trường 100% trẻ bán trú tại trường

+ Số trẻ huy động so với chỉ tiêu Đạt 100%

+ Chế độ thực đơn của trẻ thường xuyên thay đổi

+ Khám sức khỏe định kỳ đầu tư trang thiết bị trường và lớp học đầy đủ khang trang.

Khảo sát

2.2.1 Cơ sở tiến hành khảo sát

- Mục đích khảo sát : thống kê và đánh giá thực trạng phát âm của các trường mầm non ven biển huyện Quảng Xương

- Địa điểm tại 3 trường mầm non :

- Trường mầm non Quảng Nham

-Trường mầm non Quảng Thạch

- Trường mầm non Quảng Thái

Ba trường mầm non tại huyện Quảng Xương, dù nằm ở các xã nông thôn riêng lẻ và rải rác, có vị trí địa lý gần bờ biển và thuộc vùng đất liền Hàng năm, các trường đều đạt danh hiệu tiên tiến, nhận được sự quan tâm từ lãnh đạo các cấp, chính quyền địa phương và phụ huynh.

Giáo viên có trình độ chuyên môn đồng đều, nhiệt tình và yêu trẻ, nắm vững phương pháp giáo dục.

Trang thiết bị mầm non được trang bị đầy đủ, cùng với phong trào làm đồ dùng, đồ chơi được phát động thường xuyên, tạo nên sự phong phú và hấp dẫn cho trẻ.

Trường mầm non tạo điều kiện học tập, vui chơi giải trí toàn diện cho trẻ, đồng thời rèn luyện khả năng phát âm, đặc biệt ở trẻ 4-5 tuổi.

Chọn 3 lớp mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổicủa 3 trường mầm non: Quảng Nham ,Quảng Thạch, Quảng Thái

Mỗi lớp có tổng số học sinh là :

-Lớp 4 -5 tuổi Trường mầm non Quảng Nham : 60 trẻ

-Lớp 4 -5 tuổi Trường mầm non Quảng Thạch : 56 trẻ

-Lớp 4 -5 tuổi Trường mầm non Quảng Thái : 40 trẻ

2.2.3 Hình thức khảo sát Để điều tra được thực trạng phát âm của trẻ 4 - 5 tuổi tại 3 trường mầm non Quảng Nham, Quảng Thạch, Quảng Thái Tôi đã lập ra một bảng từ, trong bảng tôi đã liệt kê ra tất cả những lỗi mà trẻ 4 đến 5 tuổi hay mắc phải, tương ứng với mỗi lỗi đó là một từ, cụm từ cụ thể có kèm theo hình ảnh biểu đạt nội dung của từ đó

Để tìm kiếm tài năng nhí cho cuộc thi "Bé Khỏe, Bé Thông Minh", tôi đã đến các lớp học với vai trò là nhân viên của một trò chơi phát triển trí tuệ Tại đây, tôi sử dụng hình ảnh từ trò chơi để kiểm tra khả năng nhận biết và phát âm của trẻ, tạo sự hứng thú thông qua các hoạt động tương tác trực tiếp Quá trình này được thực hiện trong hơn một tuần để đảm bảo không gây ảnh hưởng đến lịch trình sinh hoạt và tránh sự nhàm chán cho các em.

- Lỗi phát âm phần âm đầu

- Lỗi phát âm phần vần

- Lỗi phát âm về thanh điệu

2.2.4.1 Các lỗi phát âm thường mắc a Lỗi phát âm phần âm đầu

Phần âm đầu là phụ âm, hầu hết các phụ âm tiếng việt đều có thể đảm nhận chức năng làm âm đầu

Khảo sát cho thấy, trẻ 4 – 5 tuổi ở các trường mầm non ven biển huyện Quảng Xương

Trẻ thường hay nói lẫn lộn giữa : l và n

+ Lẫn lộn cả hai n và l : nón lá – lón ná ; nên làm – lên nàm

- Trẻ thường lẫn lộn giữa kh – h ;g – h; c – t

Ví dụ: Quả khế - quả hế ; Con gà – con hà ; quả cà – quả tà

- Trẻ thường lẫn lộn giữa p – b , r – d , gi – d

Ví dụ : đèn pin – đèn bin, con rùa – con dùa, cô giáo – cô dáo

Dưới đây là kết quả khảo sát tình hình phát âm của mỗi trẻ ở từng trường

Trường mầm non Quảng Nham

Phụ âm đầu l→n Chiếc lá → chiếc ná 59 1 98,3% 1,7% n→l Quả na → Quả la 59 1 98,3% 1,7% kh → h Quả khế → Quả hế 57 3 95% 5% g→ c Con gà → Con cà 60 0 100% 0% c → t Con cá → Ton tá 60 0 100% 0% p → b Đèn pin → Đèn bin 40 20 66,6% 33,4%

Trường mầm non Quảng Thạch

Phụ âm đầu l→n Chiếc lá → chiếc ná 46 10 82,1% 17,9% n→l Quả na → Quả la 41 15 73,2% 26,8% kh → h Quả khế → Quả hế 52 4 92,8% 7,2% g→ c Con gà → Con cà 56 0 100% 0% c → t Con cá → Ton tá 54 2 96,4% 3,6% p → b Đèn pin → Đèn bin 46 10 82,1% 17,9%

Trường mầm non Quảng Thái

Lỗi phát âm phụ âm đầu thường gặp ở trẻ em bao gồm sự nhầm lẫn giữa l→n, n→l, kh→h, g→c, c→t, và p→b, với tỷ lệ sai khác nhau Âm đệm, do được đọc lướt, thường bị trẻ bỏ qua do khó nhận diện.

Ví dụ trẻ phát âm quả quất – cả cất ; hoa quả - ha cả

Dưới đây là kết quả khảo sát tình hình phát âm của mỗi trẻ ở từng trường

Q.Nham Mất âm đệm Hoa quả → Ha cả 59 1 98,3% 1,7% Q.Thạch Mất âm đệm Hoa quả → Ha cả 56 0 100% 0% Q.Thái Mất âm đệm Hoa quả → Ha cả 36 4 90% 10% c Lỗi âm chính

Trẻ thường mắc các lỗi ở âm chính như : phát âm nguyên âm đơn này thành nguyên âm đơn kia,nhầm lẫn một số nguyên âm đôi

- Lỗi nguyên âm đơn e → ia vd: Xe → xia o → ua vd: Cỏ → của â → ư vd : Bẩn → bửn ư → ê vd : Thư → thơ i → ư vd: Mình → mừn

Uô → u vd : Chuồn chuồn → Chùn Chùn Ươ → iê vd : Con huơu → con hiêu

Yê → y vd : Tuyết → Tuýt Dưới đây là kết quả khảo sát tình hình phát âm của mỗi trẻ ở từng trường

Trường mầm non Quảng Nham

Trẻ Tỷ lệ % Đ S Đ S Âm chính ươ→ iê Con huơu → Con hiêu 45 15 75% 25% ư → ê Quả lựu → Quả lệu 40 20 66,6% 33,4% uô → u Chuồn chuồn→ Chùn chùn

60 0 100% 0% yê→ y Tuyết→ tuýt 60 0 100% 0% e → e dẹt Mẹ → Mẹ ( e dẹt) 60 0 100% 0% o→ oo Đi học → Đi họoc 60 0 100% 0%

Trường mầm non Quảng Thạch

Nghiên cứu cho thấy sự biến đổi ngữ âm ở trẻ em, với các hiện tượng như "ươ → iê" (ví dụ: "Con huơu → Con hiêu" với tỷ lệ 64,2% trẻ phát âm biến đổi), "ư → ê" (ví dụ: "Quả lựu → Quả lệu" với tỷ lệ 60,7%), và "uô → u" (ví dụ: "Chuồn chuồn → Chùn chùn" với tỷ lệ 100%) Một số biến đổi khác bao gồm "yê → y" (ví dụ: "Tuyết → tuýt" với tỷ lệ 46,4%), "e → e dẹt" (ví dụ: "Mẹ → Mẹ (e dẹt)" với tỷ lệ 82,1%), và "o → oo" (ví dụ: "Đi học → Đi họoc" với tỷ lệ 100%).

Trường mầm non Quảng Thái

Các lỗi phát âm thường gặp ở trẻ em bao gồm sự nhầm lẫn giữa các âm "ươ" và "iê" (ví dụ: "con huơu" thành "con hiêu"), "ư" và "ê" (ví dụ: "quả lựu" thành "quả lệu") Bên cạnh đó, hiện tượng mất âm "ô" trong vần "uô" (ví dụ: "chuồn chuồn" thành "chùn chùn") và thay thế âm "ê" bằng "yê" (ví dụ: "tuyết" thành "tuýt") cũng khá phổ biến Ngoài ra, còn có các lỗi khác như phát âm "e" dẹt (ví dụ: "mẹ"), và biến âm "o" thành "oo" (ví dụ: "đi học" thành "đi họoc"), cũng như các lỗi liên quan đến âm cuối.

Trong phụ âm đứng làm âm cuối thì những cặp ch và nh trẻ phát âm thành t và n

Ví dụ : Cây xanh - cây xăn , trách nhiệm - trát nhịm , anh chị - ăn chệ

Dưới đây là kết quả khảo sát tình hình phát âm của mỗi trẻ ở từng trường

Trường mầm non Quảng Nham

Trẻ Tỷ lệ % Đ S Đ S Âm cuối ch → t Cuốn sách→ Cún sát 60 0 100% 0% nh→ n Quả Chanh→Quả chăn 58 2 96,6% 3,3% n → ng Con kiến →Coong kiếng 60 0 100% 0% m → n Cánh Buồn→ Cán bùn 59 1 98,3% 1,7%

Trường mầm non Quảng Thạch

Trẻ Tỷ lệ % Đ S Đ S Âm cuối ch → t Cuốn sách→ Cún sát 54 2 96,4% 3,6% nh→ n Quả Chanh→Quả chăn 56 0 100% 0% n → ng Con kiến →Coong kiếng 55 1 98,2% 1,8% m → n Cánh Buồn→ Cán bùn 53 3 94,6% 3,3%

Trường mầm non Quảng Thái

Trẻ Tỷ lệ % Đ S Đ S Âm cuối ch → t Cuốn sách→ Cún sát 40 0 100% 0% nh→ n Quả Chanh→Quả chăn 38 2 95% 5% n → ng Con kiến →Coong kiếng 26 14 65% 35% m → n Cánh Buồn→ Cán bùn 28 12 70% 30% e Lỗi thanh điệu

Thanh điệu là độ trầm, bổng của giọng nói trong 1 âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ thành hình vị

Trong tiếng Việt, thanh hỏi và thanh ngã có cấu tạo phức tạp, gây khó khăn cho trẻ em trong việc phát âm chính xác thanh ngã, dẫn đến xu hướng đơn giản hóa và phát âm tương tự như thanh sắc.

Ví dụ phát âm lũ thành lú,mỡ thành mớ

Trẻ nhỏ gặp khó khăn trong việc phát âm thanh hỏi do quá trình phát âm kéo dài và hơi thở ngắn, dẫn đến việc thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy Điều này khiến thanh hỏi ở trẻ dễ bị nhầm lẫn với thanh nặng, một vấn đề phổ biến trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ.

Ví dụ: phát âm Quả thành Quạ , Củ thành Cụ Đến hết tuổi mẫu giáo lỗi sai về hai thanh này gần như được khắc phục hoàn toàn

Dưới đây là bảng khảo sát của 3 trường mầm non ven biển huyện Quảng

Q.Nham Ngã →Sắc Nước Mĩ → Nước Mí 56 4 93,3% 6,67%

Hỏi →Nặng Cửa sổ → Cựa sộ 60 0 100% 0%

Q.Thạch Ngã → Sắc Nước Mĩ → Nước Mí 51 5 91,1% 8,9%

Hỏi →Nặng Cửa sổ → Cựa sộ 55 1 98,2% 1,8%

Q.Thái Ngã → Sắc Nước Mĩ → Nước Mí 28 12 70% 30%

Hỏi →Nặng Cửa sổ → Cựa sộ 40 0 100% 0%

Bảng tổng kết tình hình phát âm đúng của trẻ 4 - 5 tuổi ở 3 trường mầm non ven biển huyện Quảng Xương

Q.N Q.Thạch Q.Thái Q.N Q.Thạch Q.Thái Thanh điệu

Phụ âm đầu l→n 98,3% 82,1% 32,5% 1,7% 17,9% 67,5% n→l 98,3% 73,2% 37,5% 1,7% 26,8% 62,5% kh → h 95% 92,8% 80% 5% 7,2% 20% g→ c 100% 100% 100% 0% 0% 0% c → t 100% 96,4% 62,5% 0% 3,6% 37.5% p → b 66,6% 82,1% 100% 33,4% 17,9% 0% Âm đệm Mất âm đệm 98,3% 100% 90% 1,7% 0% 10% Âm chính ươ→ iê 75% 64,2% 25% 25% 35,8% 65% ư → ê 66,6% 60,7% 12,5% 33,4% 39,3% 81,5% uô → u 100% 100% 100% 0% 0% 0% yê→ y 100% 46,4% 100% 0% 53,65 0% e → e dẹt 100% 82,1% 50% 0% 17,9% 50% o→ oo 100% 100% 100% 0% 0% 0% Âm cuối ch → t 100% 96,4% 100% 0% 3,6% 0% nh→ n 96,6% 100% 95% 3,3% 0% 5% n → ng 100% 98,2% 65% 0% 1,8% 35% m → n 98,3% 94,6% 70% 1,7% 3,3% 30%

Từ bảng tổng kết, có thể thấy thực trạng phát âm đúng của trẻ 4-5 tuổi tại ba trường mầm non ven biển huyện Quảng Xương.

Trẻ em ở cả ba trường ít mắc lỗi về thanh điệu, tuy nhiên vẫn còn một số trường hợp phát âm sai Lỗi phát âm thanh ngã và thanh sắc được trẻ 4-5 tuổi ở trường mầm non Quảng Nham sửa đúng nhiều nhất.

Trường Mầm non Quảng Nham phát âm sai 6,67%; trẻ ở trường Mầm non Quảng

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ phát âm sai ở trường Mầm non Quảng Thạch là 8,9%, trong khi đó, con số này ở trường Mầm non Quảng Thái lên tới 30%, cho thấy sự khác biệt đáng kể trong khả năng phát âm giữa các trường Đáng chú ý, lỗi phát âm thanh hỏi thành thanh nặng hầu như không xảy ra ở trẻ thuộc trường Mầm non Quảng Nham và Quảng Thái, nhưng lại xuất hiện ở 1,8% trẻ trường Mầm non Quảng Thạch.

Dựa vào bảng thống kê số liệu trên ta thấy trẻ ở Trường Mầm non Quảng

Nham phát âm đúng nhiều hơn hẳn so với hai trường kia

+ Với âm l thành n: Trẻ ở Trường Mầm non Quảng Nham phát âm đúng

98,3%; Trẻ ở Trường Mầm non Quảng Thạch phát âm đúng 82,1% và trẻ ở

Trường Mầm non Quảng Thái phát âm đúng có 32,5%

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ mầm non phát âm sai phụ âm "n" thành "l" có sự khác biệt đáng kể giữa các trường: Trường Mầm non Quảng Nham (1,75%), Trường Mầm non Quảng Thạch (26,8%) và cao nhất là Trường Mầm non Quảng Thái (62,5%).

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN PHÁT ÂM ĐÚNG CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON VEN BIỂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Ân (2006), Giáo dục học Mầm non, tập 1, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non, tập 1
Tác giả: Đào Thanh Ân
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
2. Đào Thanh Ân (2006), Giáo dục học Mầm non, tập 2, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non
Tác giả: Đào Thanh Ân
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
3. Đào Thanh Ân (2006), Giáo dục học Mầm non, tập 3, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non
Tác giả: Đào Thanh Ân
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
4. Nguyễn Thị Bích Hạnh (2007), Tìm hiểu về Giáo dục Mầm non và nhiệm vụ quản lí nhà trường, BGD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Giáo dục Mầm non và nhiệm vụ quản lí nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: BGD&ĐT
Năm: 2007
5. Nguyễn Xuân Khoa (2003), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2003
6. Nguyễn Xuân Khoa (2006), Tiếng Việt giáo trình đào tạo giáo viên mầm non tập 1, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt giáo trình đào tạo giáo viên mầm non tập 1
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
7. Nguyễn Xuân Khoa (2006), Tiếng Việt giáo trình đào tạo giáo viên mầm non tập 2, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt giáo trình đào tạo giáo viên mầm non tập 2
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
8. Đặng Hồng Phương (2006), Giáo trình lí luận và phương pháp phát triển thể chất cho trẻ mầm non, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận và phương pháp phát triển thể chất cho trẻ mầm non
Tác giả: Đặng Hồng Phương
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
9. Đinh Hồng Thái (2006), Giáo trình phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
10. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2006), Giáo dục mầm non lí luận và thực tiễn, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
11. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2006), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non , Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006
12. Lê Thanh Vân (2006), Giáo trình sinh lí học trẻ em, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lí học trẻ em
Tác giả: Lê Thanh Vân
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w