1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11
Tác giả Phạm Thị Hằng Phương
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Thị Phượng
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 trong chương trình Ngữ văn THPT .... Bài viết của học sinh vẫ

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị

luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong

luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được ai công bố trong

bất kì công trình khoa học nào

T

Thanh Hóa, tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

P Phạm Thị Hằng Phương

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ với đề tài “Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11”, tác

giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc của mình tới người dẫn khoa học là PGS TS

Lê Thị Phượng – người đã gợi mở về hướng nghiên cứu cũng như góp ý cho tôi những vấn đề quan trọng về phương pháp, cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu Tác giả cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến tập thể Ban giám hiệu Trường Đại học Hồng Đức, các thầy, cô giáo thuộc Trường Đại học Hồng Đức, đặc biệt là các thầy, cô giáo thuộc khoa Khoa học xã hội đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Hồng Đức

Trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Nguyễn Huệ và bạn bè đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và bản luận văn này

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng để tìm hiểu, nghiên cứu về kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 nhưng chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót hạn chế Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến chân thành từ phía các thầy cô giáo, các nhà khoa học, đồng nghiệp và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện tốt hơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 12 năm 2020

Tác giả

P Phạm Thị Hằng Phương

Trang 3

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương ICƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG 9

VIẾT KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN HOẶC ĐOẠN TRÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Khái quát chung về kiểu văn bản nghị luận 9

1.1.2. Năng lực tạo lập văn bản và kĩ năng viết văn bản 11

1.1.3 Đổi mới dạy học làm văn trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn hiện hành và chương trình năm 2018 21

1.1.4 Thang phân loại mức độ nhận thức của Bloom và việc phát triển kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trong chương trình giáo dục THPT môn Ngữ văn hiện hành 24

1.2.2 Thực trạng dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 trong chương trình Ngữ văn THPT 29

Tiểu kết chương 1 35

Chương II TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VIẾT KIỂU BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN HOẶC ĐOẠN TRÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 36

2.1 Chuẩn kỹ năng viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 theo chương trình GDPT môn Ngữ văn năm 2018 36

2.1.1 Cơ sở xác định chuẩn kĩ năng (yêu cầu cần đạt về kĩ năng viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ở lớp 11) 36

Trang 4

iv

2.1.2 Mô tả Chuẩn kĩ năng (yêu cần đạt về kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ở lớp 11 theo chương trình Ngữ văn năm

2018 36

2.2 Nguyên tắc dạy học phát triển kỹ năng viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực 38

2.2.1 Cung cấp đầy đủ kiến thức làm cơ sở dẫn đường cho thực hành rèn luyện kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích 38 2.2.2 Đảm bảo nguyên tắc phát triển các kĩ năng viết bài văn nghị luận theo quy trình phù hợp với đặc trưng kiểu văn bản/ kiểu bài 39

2.2.3 Đảm bảo tích hợp kiến thức, kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận học sinh đã học ở các lớp dưới và trong các văn bản đọc hiểu 41

2.2.4 Đảm bảo yêu cầu dạy học phân hóa phát huy khả năng viết sáng tạo của học sinh 42

2.3 Biện pháp dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 43

2.3.1 Tổ chức cho HS nhận biết các kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận về 1 tác phẩm truyện hoặc đoạn trích thông qua phân tích ngữ liệu 43

2.3.2 Tổ chức cho HS thực hành viết bài văn theo quy trình 4 bước 47

2.3.3 Phát triển kĩ năng viết bài văn cho HS thông qua dạy học dự án viết theo chủ đề 61

2.3.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích theo định hướng phát triển năng lực người học 70

Tiểu kết chương 2 73

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74

3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 74

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 74

3.1.2 Nguyên tắc thực nghiệm 74

Trang 5

v

3.1.3 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 74

3.1.4 Quy trình, tiêu chí đánh giá thực nghiệm 75

3.2 Tổ chức thực nghiệm 76

3.2.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 76

3.2.2 Tổ chức dạy học thực nghiệm 83

3.3.2 Về kết quả bài kiểm tra TN, ĐC 86

3.3.3 Nhận xét chung 87

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 92

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là một trong những môn học

có khả năng tích hợp cao vì các phân môn văn đều hướng đến mục tiêu chung là hình thành những kĩ năng giao tiếp quan trọng cho người học như nghe, nói, đọc, viết Trong quá trình dạy môn văn trong nhà trường, nếu hoạt động dạy đọc văn và Tiếng việt cung cấp kiến thức văn học và rèn luyện kĩ năng cho học sinh mang tính chất bộ phận, thì đến công đoạn viết văn, học sinh được thực hành

tổng hợp, tổng hợp về kiến thức và tổng hợp về kỹ năng “Với làm văn, kiến thức chung và kiến thức văn học của học sinh mới thực sự được củng cố và phát triển lên một bước cơ bản về chất, kiến thức lẻ tẻ được hệ thống hóa, phạm trù hóa, kiến thức chết trở thành kiến thức sống; kiến thức tản mạn trở thành kiến thức định hướng; thao tác và kĩ năng văn học lẻ tẻ bộ phận được huy động tổng lực qua quá trình làm văn” [22; tr16] Trong đó, kiểu văn bản nghị luận nói

chung, kiểu bài văn NL về 1 TP truyện hoặc đoạn trích nói riêng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và trong nhà trường Không chỉ có tác dụng lớn trong việc rèn cho học sinh tư duy logic, kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt tư tưởng quan điểm một cách rõ ràng và thuyết phục; viết được văn bản nghị luận còn là điều kiện thuận lợi để hình thành tình cảm, bản lĩnh, sự tự tin và nhân cách cho học sinh trong cuộc sống Chính vì vai trò ấy, kiểu bài văn nghị luận được chú trọng trong chương trình, HS được học kiểu bàu này từ lớp lớp 6 đến lớp 12 trong chương trinh GDPT môn Ngữ văn hiện hành và học từ lớp 7 THCS đến lớp 12 THPT trong chương trình GDPT năm 2018

1.2 Kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích có nhiều

đổi mới về nội dung dạy học và phương pháp dạy học Nội dung dạy học trong

chương trình GDPT năm 2018 đã dành nhiều tiết thực hành để dạy cho học sinh

kĩ năng viết văn nghị luận, trong đó có kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích Về phương pháp dạy học có những đổi mới so với

Trang 8

2

phương pháp day học truyền thống, ví dụ dạy học viết theo quy trình và phát

triển năng lực người học…

1.3 Thực tế giáo viên và học sinh THPT nói chung, học sinh lớp 11 nói riêng đang gặp không ít khó khăn trong quá trình dạy và học khi viết kiểu bài văn này Có nhiều tài liệu nghiên cứu về kỹ năng viết văn nghị luận nhưng nghiên cứu về những biện pháp để phát triển kỹ năng viết văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích hầu như rất ít Hệ thống bài tập trong sách giáo khoa chưa thật sự phong phú Nhiều giáo viên chủ yếu kiểm tra đánh giá bài văn nghị luận của học sinh nghiêng về kiến thức của tác phẩm mà chưa chú trọng để phát triển kỹ năng viết bài Học sinh chưa được rèn luyện theo quy trình viết văn nghị luận và chưa được chú trọng phát huy năng lực bản thân Vì vậy, kỹ năng viết bài văn nghị luận văn học của học sinh hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu; kỹ năng viết bài chưa thành thạo và đạt mức sáng tạo Bài viết của học sinh vẫn còn sai về cách dùng từ, lập luận, lúng túng trong cách triển khai luận điểm, nêu dẫn chứng, sử dụng các thao tác lập luận, các phương thức biểu đạt…

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11”

nhằm góp phần nâng cao chất lượng viết văn nghị luận cho học sinh hiện nay

Trang 9

3

khảo Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến những sách giáo khoa và tài

liệu tham khảo liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu

Sách giáo khoa Làm văn 10 (1990) và sách giáo khoa Làm văn chương trình chỉnh lý hợp nhất (2000): Có nhiều đơn vị kiến thức đã được trình bày như:

những yêu cầu chủ yếu của văn nghị luận, những thao tác chính xây dựng câu, đoạn, bài nghị luận, cách làm bài văn nghị luận

Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2,[5]: được xây dựng theo hướng tích hợp ba

phân môn: Văn học, tiếng Việt và Làm văn Trong phần Làm văn, vấn đề lập dàn ý cho bài văn nghị luận, lập luận trong văn nghị luận, các thao tác lập luận

và luyện tập viết đoạn văn nghị luận được trình bày khá rõ ràng

Sách giáo khoa Ngữ văn 11, phần Làm văn [6]: đã nhắc lại một số khái niệm

chính về văn nghị luận như: khái quát khái niệm văn nghị luận, liệt kê các kiểu văn nghị luận ở lớp 10 và lớp 11, cách triển khai và trình bày ý trong đoạn văn, bài văn nghị luận

Sách giáo khoa Ngữ văn 12, phần Làm văn [7]: Các tác giả đề cập đến một

số kỹ năng làm văn nghị luận: lập ý và lập dàn ý cho bài văn nghị luận, lập luận trong văn nghị luận, mở bài, kết bài và chuyển đoạn trong văn nghị luận, chọn

và trình bày dẫn chứng trong văn nghị luận, hành văn trong văn nghị luận

Rèn kĩ năng làm văn nghị luận [44] của tác giả Bảo Quyến (2002) đã trình

bày một hệ thống kiến thức cơ bản về văn nghị luận và những kĩ năng, kĩ xảo làm văn của thể loại này, đồng thời giới thiệu một số kiểu bài nghị luận thường gặp Ngoài ra, tác giả cũng hướng dẫn phương pháp làm văn nghị luận, kĩ năng xây dựng đoạn và liên kết đoạn, dẫn chứng, cách sử dụng dẫn chứng trong văn nghị luận

Nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh trong

cuốn Muốn viết được bài văn hay [26] đã đề cập đến vấn đề lý thuyết thiết thực

về nghị luận văn học và bài nghị luận văn học hay Đặc biệt, các tác giả trình bày khá chi tiết, đầy đủ về những công việc cụ thể để xây dựng một bài văn hay

từ đề cương đến bài văn hoàn chỉnh, và luyện tập viết văn nghị luận: luyện viết

Trang 10

4

ngắn, viết dài; luyện nghị luận bằng hình ảnh và diễn đạt ý bằng nhiều cách khác nhau; luyện viết câu, đoạn chuyển tiếp; luyện viết đoạn văn; luyện nhận xét văn người, sửa văn mình

Xuất phát từ thực tiễn dạy học Làm văn ở trường THPT, cuốn Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông (2000) [36] của tác

giả Nguyễn Quang Ninh tập trung nghiên cứu kiến thức và kĩ năng lập luận trong văn nghị luận, kĩ năng diễn đạt cho học sinh trong làm văn nghị luận

Tác giả Lê A trong Giáo trình làm văn [2] trình bày khá kĩ về những vấn đề

thuộc văn bản nghị luận: Khái quát về văn nghị luận, phương pháp làm văn nghị luận, một số lưu ý khi viết các kiểu bài cụ thể và các bài tập thực hành Đây là những kiến thức tương đối toàn diện về văn nghị luận

Kỹ năng làm văn nghị luận phổ thông(2001) [50]: Đây là công trình nghiên

cứu khá công phu của tác giả Nguyễn Quốc Siêu về văn bản nghị luận: Khái quát về văn nghị uận, tinh luyện và xác định luận điểm, lựa chọn và vận dụng luận cứ, luận chứng, cách thức vận dụng kỹ năng thuyết lý, nắm vững toàn bộ quá trình làm văn

Phương pháp dạy học Tiếng Việt [1] của các tác giả Lê A, Nguyễn Quang

Ninh, Bùi Minh Toán, chương 8 trình bày phương pháp dạy học Làm văn, bao gồm phương pháp dạy học lý thuyết, phương pháp dạy học thực hành một bài làm văn Cuối chương tác giả cung cấp một số kỹ năng làm văn cần rèn luyện cho học sinh: kỹ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và phương hướng triển khai bài viết, kỹ năng lập dàn ý, kỹ năng viết đúng theo dàn ý, kỹ năng lập luận, kỹ năng hành văn, kỹ năng hoàn thiện bài viết

Trong cuốn Làm văn [47], của các tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh

Diệu, Nguyễn Thành Thi đã lưu ý đến những đặc điểm sau của văn nghị luận: các thao tác lập luận và sự kết hợp của chúng trong văn bản nghị luận; Luận điểm của bài văn nghị luận; Lập luận trong bài văn nghị luận và Ngôn ngữ của văn bản nghị luận[47; tr 165-213] Công trình đã cung cấp một cơ sở lý thuyết vững chắc, toàn diện cho việc dạy văn nghị luận

Trang 11

5

Tác giả Đỗ Kim Hồi trong cuốn Nghĩ từ công việc dạy học văn [18] cũng

đã đề cập đến các nội dung như: quan niệm về tập làm văn nghị luận, vấn đề kiểu bài văn nghị luận, tập làm văn nghị luận với học sinh giỏi văn… Đồng thời, tác giả chỉ ra hạn chế của học sinh trong làm văn nghị luận cả về nội dung và hình thức, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng viết văn nghị luận đối với học sinh giỏi

Bên cạnh đó, vấn đề rèn kỹ năng viết văn nghị luận còn là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án, luận văn

Luận án tiến sĩ Rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở THPT [4] của Phạm Kiều Anh, tác giả đã đưa ra một trong biện pháp

nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận là sử dụng các thao tác lập luận và kết hợp các thao tác lập luận qua hệ thống bài tập

Luận văn thạc sĩ Từ thực tế viết văn nghị luận của học sinh THPT xây dựng

hệ thống bài tập sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng làm văn của tác giả [27] Nguyễn

Thị Ly Na khẳng định tính thực hành, vai trò của bài tập trong dạy học làm văn; chỉ ra những lỗi thường gặp trong viết văn nghị luận và cách khắc phục chúng

2.2 Dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trong nhà trường phổ thông

Giáo trình phương pháp dạy học kĩ năng làm văn [43] đề cập đến các biện

pháp, cách thức, quy trình vận dụng tri thức lý luận để làm bài văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12, cụ thể là các dạng bài: nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Tuy nhiên, vấn đề nâng cao kỹ năng viết văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 chưa được đề cập đến Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu về văn nghị luận là vấn đề rất được quan tâm hiện nay Rèn luyện kỹ năng viết bài văn nghị luận là nội dung quan trọng trong dạy học văn nghị luận Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ định hướng kỹ năng viết văn nghị luận, vấn đề phát triển kỹ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học

Trang 12

6

sinh còn chưa cụ thể, chưa trở thành nội dung trọng tâm để có cái nhìn sâu sắc

và hệ thống Việc dạy học để phát triển kỹ năng đó cho học sinh vẫn còn nhiều điều để ngỏ, chưa có công trình, bài viết chuyên biệt nào đề cập tới Vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài “Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11” nhằm đi sâu vào nghiên

cứu, đề xuất biện pháp dạy học để học sinh làm văn về tác phẩm truyện góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn ở nhà trường phổ thông

3 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất được chuẩn kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ở lớp 11 đồng thời đưa ra được các nguyên tắc, biện pháp dạy học phù hợp theo mục tiêu, yêu cầu phát triển kĩ năng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

- Khảo sát thực trạng kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11

- Đề xuất các nguyên tắc, biện pháp, cách thức dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phù hợp với Chuẩn yêu cầu cần đạt

- Tổ chức dạy học thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của đề tài trong thực tiễn, đưa ra những đánh giá bước đầu kết quả nghiên cứu, và rút ra kết luận kiến nghị

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Dạy học sinh THPT viết kiểu bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trong chương trình Ngữ văn lớp 11

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 13

7

Đề tài tập trung nghiên cứu các tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trong chương trình Ngữ văn lớp 11 Đối tượng áp dụng thực nghiệm nghiên cứu là học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Huệ, Tam Điệp, Ninh Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các vấn đề lí luận về việc dạy học sinh kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11

- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn dạy học

- Thống kê, phân loại, đánh giá thực trạng dạy học sinh THPT kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra, khảo sát, bài làm văn về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

- Thực nghiệm, thiết kế, tổ chức dạy học một giờ học làm văn về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

- Phân loại thống kê, đánh giá kết quả thực nghiệm

7 Đóng góp mới của đề tài

- Về lí luận: góp phần bổ sung làm phong phú và làm sáng tỏ hệ thống các biện pháp, cách thức dạy học phát triển kĩ năng viết bài văn nghị luận

- Về mặt thực tiễn: Đưa ra được các nguyên tắc, biện pháp dạy học phát triển

kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích trên

cơ sở xác định được đầy đủ đúng đắn các yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra) Là tài liệu tham khảo giúp GV và HS nâng cao chất lượng dạy học kĩ năng viết theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

Trang 14

8

Chương 2: Tổ chức dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về tác phầm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

9

Chương I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG

VIẾT KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN

HOẶC ĐOẠN TRÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái quát chung về kiểu văn bản nghị luận

1.1.1.1 Khái niệm văn nghị luận

Văn bản nghị luận là kiểu văn bản thường gặp trong nhà trường và trong các lĩnh vực giao tiếp Với vẻ đẹp riêng về lý lẽ, cách lập luận, văn nghị luận có vị trí và vai trò to lớn trong đời sống và nhà trường Không chỉ mang sứ mệnh lớn lao suốt chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc, văn nghị luận ở nước ta vẫn đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay Bởi vậy, văn nghị luận là mảnh đất rộng lớn, hấp dẫn để nhiều học giả nhà nghiên cứu khai thác, tìm hiểu

Từ trước đến nay, khái niệm văn bản nghị luận được nhiều tài liệu đề cập tới theo nhiều cách khác nhau:

Từ điển Tiếng Việt [38; tr 705] (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa: “Nghị luận

là bàn và đánh giá cho rõ một vấn đề nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lý lẽ phân tích, giải quyết vấn đề”

Trong giáo trình Làm văn [45; tr 69], Đỗ Ngọc Thống định nghĩa: “Văn

nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học, chính trị, đạo đức, lối sống…nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục…”

Theo Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy Tập làm văn cấp III phổ thông [8; tr 5]: “Văn nghị luận là một thể loại văn học dùng lí luận (bao gồm lí

lẽ và dẫn chứng) để làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về chân lý cuộc sống nhằm làm cho người đọc, người nghe có thái độ đúng và có hành động đúng”

Trong cuốn Làm văn nghị luận phổ thông [48; tr 7] tác giả Nguyễn Quốc

Siêu cho rằng: Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích,

Trang 16

10

lí lẽ Nó là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đới với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương,

ý kiến, quan điểm của tác giả

Tác giả Bảo Quyến trong cuốn Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận quan

niệm: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những

ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một vấn đề thuộc chân lí nhằm làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin, đồng tình với ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất [44; tr 5] Như vậy, có thể thấy điểm thống nhất trong các khái niệm về văn nghị luận của các tác giả đó là: Văn nghị luận là loại văn mà bằng cách lập luận chặt chẽ bao gồm đưa ra lí lẽ, dẫn chứng mà người viết phát biểu ý kiến, quan điểm về một vấn đề nào đấy để người đọc hiểu, tin và tán đồng Đây cũng chính là quan điểm mà chúng tôi định hướng cho học sinh khi dạy học về văn nghị luận

1.1.1.2 Đặc trưng của văn nghị luận

Thứ nhất, văn nghị luận có tính chất logic, được thể hiện ở việc vận dụng cú pháp, tu từ học phải đảm bảo sự chặt chẽ của suy nghĩ để việc trình bày tư tưởng hợp lý, dễ hiểu, thuyết phục Nếu kiểu văn bản tự sự, miêu tả nhằm tái hiện con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu khơi gợi tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc, người nghe; thì văn bản nghị luận lại thiên về trình bày các ý kiến, lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận…về một vấn

đề nào đó nhằm tác động vào lí trí của người đọc

Thứ hai, nội dung của văn nghị luận không chỉ là những vấn đề thuộc lĩnh vực văn chương mà có vấn đề mang ý nghĩa xã hội Có những vấn đề được đặt

ra trong văn nghị uận mang tầm khái quát rộng lớn như tư tư tưởng của nhà văn, thời đai, trào lưu văn chương, vấn đề về lý tưởng sống, nhân sinh quan, thế giới quan…nhưng cũng có những vấn đề được đặt ra rất gần gũi, cụ thể như một nhân vật, một chi tiết trong tác phẩm văn học, hoặc những vấn đề thiết thực với

Trang 17

11

cuộc sống con người như tình bạn, tình yêu, cách ứng xử… Bởi vậy, văn nghị luận đem đến không chỉ là những khám phá về cuộc sống qua tầm tư tưởng của nhà văn mà còn giúp người đọc trực tiếp trải nghiệm với cuộc đời qua lăng kính của chính mình

Thứ ba, văn nghị luận có tính chỉnh thể trong cấu trúc Trong bất cứ kiểu văn bản nào, đặc trưng cơ bản là đều trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức Trong văn nghị luận, tính chỉnh thể được thể hiện ở cấu trúc nội dung vấn

đề và hệ thống trình bày, cách thức lập luận; thể hiện trong mối quan hệ giữa vấn đề được đặt ra và cách giải quyết vấn đề, giữa nội dung và hình thức, giữa tính khoa học và tính nghệ thuật, giữa tư duy và ngôn ngữ, giữa mục đích nghị luận và phong cách nghị luận

Thứ tư văn nghị luận có tính chất đối thoại Nếu văn miêu tả giúp người đọc hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự việc, sự vật, con người, phong cảnh; văn tự sự giúp giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ của người viết, thì văn nghị luận lại nhằm mục đích thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến, quan điểm của người viết Vì vậy, văn bản nghị luận lấy việc đề xuất, bàn bạc, thảo luận, phê bình vấn đề là nội dung, tức là nó đang thực hiện một cuôc giao tiếp, đối thoại Trong văn nghị luận, người viết bày tỏ quan điểm tán thành hoặc phản bác với ý kiến trước đó, đương thời, cũng như thể hiện quan điểm của mình đối với mọi thời đại, mọi xứ sở Chính vì văn bản nghị luận là một một cuộc đối thoại giả định, sự “phản biện ngầm” nên chủ thể nghị luận phải hình dung ra, dự kiến trước, phán đoán những tình huống đối thoại, để không chỉ bảo vệ vững chắc quan điểm của mình mà còn làm văn bản nghị luận trở nên cuốn hút hơn, thuyết phục hơn với nhiều ý tưởng bài văn phong phú

1.1.2 Năng lực tạo lập văn bản và kĩ năng viết văn bản

1.1.2.1 Năng lực tạo lập văn bản

Về phạm trù năng lực hiện có rất nhiều cách quan niệm khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, phương pháp và lĩnh vực tiếp cận của các nhà nghiên cứu

Trang 18

12

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã chỉ rõ: “Năng lực là khả

năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào

đó Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại

hoạt động nào đó với chất lượng cao.” [38; tr 32]

Trong cuốn Làm văn - Từ lí thuyết đến thực hành, PGS.TS Đỗ Ngọc

Thống lại cho rằng: “Năng lực là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở mỗi cá nhân khi thực hiện một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành Nói cách khác năng lực là một tình trạng cụ thể hay một khả năng làm việc tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể” [44; tr 67]

Cách hiểu chung nhất về năng lực là khả năng thực hiện tốt một nhiệm vụ được giao trong một hoàn cảnh cụ thể trên cơ sở của sự phối hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm

Chúng tôi hiểu khái niệm “năng lực” là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” theo quan niệm của

“Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”

Kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng thì chưa chắc đã được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công các nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi Như vậy, năng lực là một hệ thống phức hợp hơn và toàn diện hơn kĩ năng Cấu trúc của năng lực bao gồm các thành tố như: kiến thức, khả năng nhận thức, khả năng thực hành, thái độ, xúc cảm, động cơ, giá trị và đạo đức

Việc phân loại năng lực hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Trang 19

và phát triển lâu dài trong quá trình tiếp nhận nhiều môn học, nó liên quan đến kiến thức liên môn nên có thể gọi một tên khác là năng lực xuyên chương trình

Năng lực riêng là loại năng lực cụ thể, chuyên biệt được hình thành và phát triển để đáp ứng cho một bộ môn hoặc lĩnh vực nào đó, vì thế, nó còn có thể gọi là năng lực môn học cụ thể

Năng lực Ngữ văn gồm năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Trong

đó, năng lực văn học là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học Khả năng tiếp nhận văn bản văn học được thể hiện qua việc vận dụng kiến thức văn học và kinh nghiệm cá nhân vào việc đọc, giải mã, kiến tạo nghĩa và đánh giá văn bản văn học Khả năng tạo lập văn bản văn học được thể hiện qua khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ cao Năng lực ngôn ngữ là năng lực sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp thể hiện ở các kĩ năng đọc, nói, viết và nghe

Về năng lực tập lập văn bản, Đỗ Ngọc Thống cho rằng NL này được thể hiện trên hai phương diện sau: Biết suy nghĩ trước một vấn đề của văn học và cuộc sống; Biết diễn đạt, trình bày những suy nghĩ, tình cảm cũng như những hiểu biết của mình về văn học và cuộc sống một cách sáng sủa, mạch lạc, có sức thuyết phục theo yêu cầu của một kiểu loại văn bản nào đó trong nhà trường

Trang 20

14

Tài liệu Dạy học phát triển năng lực môn Ngữ văn Trung học phổ thông

[45; tr 68] xác định: Năng lực tạo lập văn bản của học sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức về các kiểu văn bản, với ý thức và tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa cùng kĩ năng thực hành tạo lập văn bản theo các phương thức biểu đạt khác nhau, theo hình thức trình bày miệng hoặc viết

Trong bài viết này, chúng tôi quan niệm năng lực tao lập văn bản là khả năng tạo ra một văn bản hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, đúng yêu cầu về thể loại, thể hiện cách thức tổ chức văn bản của người viết Vận dụng vào kiểu bài nghị luận, có thể hiểu năng lực tạo lập văn bản nghị luận là khả năng tạo ra một văn bản nghị luận ở dạng nói hoặc viết, hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, thể hiện cách thức tổ chức, xây dựng văn bản đúng quy cách của văn bản nghị luận và có ý nghĩa

Văn bản là một chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn được nói bằng miệng (ngôn bản) hay được ghi lại bằng chữ viết (ngôn bản viết), có tính thống nhất về đề tài, tư tưởng, tình cảm, mục đích, có tính hoàn chỉnh về hình thức, tính liên kết mạch lạc và vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp

Như vậy có thể thấy rằng năng lực tạo lập văn bản chính là khả năng tự tạo nên một chỉnh thể văn bản đạt được mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp rõ ràng và có thái độ của người giao tiếp

Năng lực tạo lập văn bản gồm các thành phần: Kĩ năng xác định vấn đề và mục đích văn bản; Kĩ năng lập dàn ý; Kĩ năng viết văn bản; Kĩ năng tìm kiếm phản hồi; Kĩ năng xem xét lại và chỉnh sửa Kĩ năng viết văn bản là một trong những thành phần của năng lực tạo lập văn bản

1.1.2.2 Kĩ năng viết văn bản

Khái niệm kĩ năng có nhiều ý kiến khác nhau Quan điểm chung nhất “kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức nhận được trong một lĩnh vực nào

đó vào thực tế” [37; tr 28]

Trang 21

Cũng theo nhà khoa học này, kĩ năng được xem xét ở hai phương diện: khả năng thực hiện một hành động nào đó trong điều kiện quen thuộc và khả năng thực hiện hành động một cách thành thạo, tự động, linh hoạt, sáng tạo Nói một cách khác, việc hình thành kĩ năng phải thực hiện trải qua hai giai đoạn: hình thành khả năng thực hiện hành động và rèn luyện khả năng đó thành năng lực riêng của mỗi cá nhân Vì thế, con đường hình thành kĩ năng phải trải qua các bước :

Bước 1: Tìm hiểu nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hành động cần thực hiện Đây là bước trang bị những kiến thức và sự hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thành kĩ năng

Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu Đây chính là bước theo dõi kĩ lưỡng các động tác thực hiện hành động, đối chiếu với lí thuyết, từ đó hình thành

* Kĩ năng viết kiểu văn bản nghị luận

Trong hoạt động dạy học làm văn, kĩ năng là những hoạt động thực hành mà người học thực hiện trên cơ sở kiến thức đã tiếp thu Để quá trình thực hành đạt hiệu quả, học sinh phải thực hiện các hành động theo trình tự vận động hợp quy

Trang 22

16

luật của nó Trình tự phát triển của quá trình đó là: Giáo viên tìm cách tổ chức, hướng dẫn học sinh đi từ cái chưa biết đến những nội dung các em biết và biến kiến thức ấy thành kĩ năng của mình Quá trình dạy học làm văn chính là con đường giúp học sinh hình thành, phát triển những kĩ năng, kĩ xảo sử dụng lời nói vào giao tiếp

Phát triển kĩ năng viết kiểu văn bản nghị luận tức là hướng đến việc rèn luyện, nâng cao kỹ năng viết đoạn văn nghị luận, kĩ năng lập luận (sử dụng lí lẽ

và bằng chứng để làm sáng tỏ cho ý kiến của mình), kĩ năng sử dụng các phương thức biểu đạt, kĩ năng nêu được vấn đề và suy nghĩ của người viết (kĩ năng nêu luận điểm và trình bày luận điểm), kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong bài văn nghị luận

Thứ nhất, kĩ năng viết đoạn văn trong văn nghị luận

Đoạn văn là đơn vị tạo lập nên văn bản Một bài văn được tạo thành từ nhiều đoạn văn hoàn chỉnh ghép lại, cùng thống nhất thể hiện một chủ đề chung Bởi vậy, muốn tạo lập văn bản không thể thiếu kĩ năng viết từng đoạn văn Tập viết đoạn văn có vai trò rất quan trọng, đó là cơ sở để viết bài văn Bên cạnh đó, việc viết đoạn văn còn cần kĩ năng viết theo luận đề, luận điểm Không thể viết tốt từng đoạn nếu không xác định được chủ đề chung toàn văn bản, vị trí của đoạn văn trong toàn hệ thống chung Vì thế, trong một văn bản, các đoạn văn không đồng nhất với nhau Một bài văn thường có cấu tạo ba phần : mở bài, thân bài, kết bài Trong bài văn có ít nhất là ba kiểu đoạn văn:

- Đoạn mở bài: Phần mở bài thường gồm một hay một số đoạn văn Đoạn văn mở bài có nhiêm vụ giới thiệu vấn đề, dẫn vào nội dung cơ bản của bài văn

- Các đoạn thân bài thường trình bày từng nội dung cụ thể là rõ vấn đề mà phần mở bài đặt ra Các đoạn văn trong phần thân bài có liên kết chặt chẽ với nhau và được sắp xếp theo một trật tự nhất định phù hợp với phương thức biểu đạt Nếu trong văn bản miêu tả, đoạn văn thường trình bày theo thứ tự không gian, trong văn bản tự sự, các đoạn văn thường được sắp xếp theo thứ tự thời

Trang 23

nâng cao, khắc sâu chủ đề

Đoạn văn có thể triển khai theo nhiều kết cấu:

- Kết cấu diễn dịch : câu chủ đề đặt ở đầu đoan nêu ý tổng quát, các câu chứa đựng lí lẽ, dẫn chứng cụ thể ở phía sau

- Kết cấu quy nạp : các câu chứa lĩ ẽ, dẫn chứng cụ thể đứng trước rồi khái quát lại bằng câu chủ đề ở cuối đoạn

- Phối hợp diễn dịch và quy nạp sẽ có đoạn văn kết cấu tổng phân hợp Trong đoạn văn, câu chủ đề đứng trước nêu ý tổng quát , các câu tiếp theo diễn giải chi tiết rồi kết lại bằng câu khái quát, nâng cao chủ đề

Khi học sinh đã thành thạo các kĩ năng trên, cũng có thể không cần theo cấu trúc mà “phá cách” đoạn văn, quan trọng là có ý đúng, hay, sáng tạo và biết phát triển ý một cách chặt chẽ, rõ ràng, thuyết phục

Thứ 2, kĩ năng sử dụng thao tác lập luận

Để tạo nên tính thuyết phục cho một bài văn nghị luận, cần có kĩ năng sử dụng và kết hợp các thao tác lập luận Lập luận là cách tổ chức vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục Theo CT, SGK Ngữ văn hiện hành có 7 thao tác lập luận bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, bình luận, bác bỏ, giải thích, chứng minh Văn nghị luận là sản phẩm của

tư duy logic, giúp cho việc phát triển tư duy và nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống Một bài văn nghị luận bao giờ cũng tập trung vào môt vấn đề nào đó- có thể là vấn đề xã hội hoặc vấn đề văn học Để đánh giá cái hay, sức thuyết phục của văn bản nghị luận người viết cần soi chiếu vấn đề từ nhiều góc độ, nói cách khác là phải đặt ra và trả lời rất nhiều câu hỏi về vấn đề đang bàn tới, như : Là gì? Như thế nào? Tại sao? Có những khía cạnh gì? Có ý nghĩa, giá trị gì? Được biểu hiện như thế nào trong

Trang 24

bộ văn bản nghị luận

Nghệ thuật lập luận phụ thuộc rất nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt người đọc, người nghe với nhiều thủ pháp như so sánh, đối chiếu, đưa số liệu, nêu dẫn chứng thực tế… Nghệ thuật lập luận còn phụ thuộc vào lối hành văn, giọng văn, cách dùng từ, đặt câu Do nhu cầu lập luận trong kiểu văn bản nghị luận thường phải dùng đến những từ như: tuy nhiên, giả sử, nếu như, tóm lại, nói chung…gọi là hệ thống từ lập luận

Tuy nhiên một bài văn nghị luận không chỉ sử dụng thuần túy một thao tác lập luận Trong văn nghị luận, các thao tác trên không tách riêng rẽ mà luôn kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn

Thứ 3, kĩ năng vận dụng các phương thức biểu đạt

Việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt cũng tạo nên cách lập luận thuyết phục trong kiểu văn bản nghị luận Kiểu văn bản nghị luận mặc dù sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận là phương thức chính, nhưng cũng rất cần

sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt khác như: phương thức biểu cảm, phương thức tự sự, phương thức miêu tả Yếu tố biểu cảm giúp cho văn nghị luận có hiệu quả thuyết phục lớn hơn, vì nó tác động mạnh mẽ tới tình cảm của

Trang 25

19

người đọc (người nghe) Để bài văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình viết (nói) và phải biết biểu hiện cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm Sự diễn

tả cảm xúc cần phải chân thực và không được phá vỡ mạch lạc nghị luận của văn bản Kiểu bài văn nghị luận vẫn thường phải có các yếu tố tự sự và miêu tả Hai yếu tố này giúp cho việc trình bày luận cứ được rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn, và do đó, có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn Các yếu tố miêu tả và tự sự được dùng làm luận cứ phải phục vụ cho việc làm rõ luận điểm và không phá vỡ

sự mạch lạc của bài văn nghị luận

Thứ tư, kĩ năng nêu được vấn đề và suy nghĩ của người viết (kĩ năng nêu luận điểm và trình bày luận điểm)

Khi tạo lập văn bản nghị luận, người viết phải trình bày được các luận điểm, luận cứ và luận chứng Đó là cũng là những đặc trưng cơ bản của văn nghị luận Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận được nêu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất các đoạn văn thành một khối Để có sức thuyết phục, luận điểm cần phải đúng đắn, chân thực

và đáp ứng nhu cầu thực tế Trong một bài văn nghị luận, luận điểm có thể có các cấp độ khác nhau Kiểu văn bản nghị luận thường có các luận điểm: luận điểm chính, luận điểm xuất phát, luận điểm khai triển, luận điểm kết luận Việc xác định được hệ thống, các cấp độ của luận điểm trong văn bản là một yêu cầu cấp thiết chứng tỏ khả năng thâu tóm, hiểu sâu vấn đề và kỹ năng tư duy logic của người học

Trình bày luận điểm là sự tổ chức, sắp xếp các ý kiến thể hiện tư tưởng theo trình tự chặt chẽ, hợp lí Để làm sáng tỏ luận điểm, người viết phải nêu những luận cứ, tức là những lí lẽ, dẫn chứng để xác nhận sự đúng đắn của luận điểm Luận cứ là một yếu tố không thể thiếu khi nhắc tới đặc điểm của kiểu văn bản nghị luận Luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm Luận cứ trả lời các câu hỏi: Vì sao phải nêu luận điểm? Nêu ra để làm gì? Luận

Trang 26

có sức thuyết phục.Trong quá trình tìm hiểu văn bản nghị luận, để tìm hiểu, phân tích đánh giá được tính đúng đắn của luận điểm thì việc phân tích luận cứ

là một thao tác hết sức quan trọng và cần thiết

Như vậy, để đưa ra quan điểm, ý kiến, tư tưởng của mình về một vấn đề nào

đó nhằm thuyết phục người đọc tán đồng với mình, người viết phải nêu được những luận điểm thể hiện khả năng thâu tóm và hiểu sâu vấn đề; các luận điểm được triển khai bởi các luận cứ rõ ràng, xác thực, được sắp xếp trình bày mạch lạc, logic, khoa học

Thứ năm, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong bài văn nghị luận

Sử dụng ngôn ngữ hay cách diễn đạt trong văn nghị luận là một trong những kĩ năng quan trọng để có một bài văn trau chuốt, hấp dẫn Sử dụng ngôn ngữ thể hiện ở các khía cạnh: cách dùng từ ngữ, các sử dụng và kết hợp các kiểu câu, giọng văn Về cách dùng từ ngữ, trong diễn đạt, việc lựa chọn các từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề cần nghị luận ở học sinh cũng ảnh hưởng đến chất lượng của bài văn Khác với văn tự sự hoặc biểu cảm, văn nghị luận thường tránh những từ ngữ mang tính khẩu ngữ, hoặc những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì Từ ngữ không chỉ đúng mà còn độc đáo, mới mẻ từ ngữ biểu cảm, gợi hình tượng

để bộc lộ cảm xúc phù hợp, góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho bài văn nghị luận

Về cách sử dụng và kết hợp các kiểu câu kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh là kết hợp các kiểu câu trong đoạn văn, bài văn để tránh sự đơn điệu, nặng nề; sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ cảm xúc Về giọng điệu trong văn nghị luận cần trang trọng, nghiêm túc nhưng

Trang 27

mà còn biết tư duy phản biện, lật đi lật lại vấn đề và liên hệ thực tế

Sách giáo khoa làm văn trước đây chia nhỏ và phân biệt các kiểu bài khá máy móc, khô cứng Làm văn mới chủ trương dạy cho học sinh năng lực vận dụng các thao tác làm văn một cách linh hoạt, sáng tạo Các thao tác vẫn được chú ý luyện tập riêng, nhưng khi viết bài văn bao giờ cũng yêu cầu học sinh vận dụng chúng một cách tổng hợp

Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành lấy 6 kiểu văn bản làm văn làm trục tích hợp của chương trình Ngữ văn Tích hợp chính là môi trường tốt để đổi mới cách dạy và học phân môn làm văn ở nhà trường phổ thông Cả Đọc hiểu văn bản – Tiếng Việt và Làm văn đều có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau rất mật thiết Những kiến thức giúp cho việc đọc văn cũng đồng thời giúp cho việc làm văn và ngược lại Chính vì thế, mỗi bài dạy cần lưu ý thể hiện

rõ và tập trung hướng vào các nội dung tích hợp Các nội dung tích hợp đó cần được thể hiện và khai thác theo tinh thần tích cực hóa hoạt động của chủ thể người học

Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp theo 2 trục Đọc văn và Làm văn Phần Làm văn không lặp lại kiến thức

về kiểu văn bản và phương thức biểu đạt ở THCS mà cung cấp các kiến thức về tìm ý, lập dàn ý, thao tác lập luận, cách tạo lập văn bản… Chương trình Ngữ văn

Trang 28

22

năm 2018 với định hướng phát triển năng lực, yêu cầu về kĩ năng viết ở THPT được nâng cao hơn THCS Kĩ năng viêt được phát triển trên cơ sở tập trung hơn vào văn bản nghị luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp nhưng vẫn phù hợp với vấn đề mà học sinh THPT thường gặp trong học tập và đời sống Về văn bản nghị luận, các vấn đề phù hợp với lứa tuổi học sinh được chú trọng, đòi hỏi cấu trúc và thao tác lập luận tương đối phức tạp Về văn bản thuyết minh, chương trình chủ yếu yêu cầu viết về những vấn đề có tính khoa học dưới hình thức một báo cáo nghiên cứu có những quy ước theo thông lệ, biết kết hợp thuyết minh với các yếu tố nghị luận, tự sự, miêu tả khi cần; kết hợp các thông tin khách quan với cách nhìn nhận, đánh giá mang dấu ấn cá nhân của người viết Biết cách tạo lập và trình bày các văn bản điện tử với yêu cầu cao hơn cấp THCS về nội dung và hình thức thể hiện, có hiểu biết về vấn đề quyền

sở hữu trí tuệ và chống đạo văn Qua bài viết, học sinh thể hiện được những trải nghiệm, cảm xúc, ý tưởng và thái độ của cá nhân đối với những vấn đề được đặt

ra trong văn bản ; từng bước xây dựng cho mình một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính

1.1.4 Thang phân loại mức độ nhận thức của Bloom và việc phát triển kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11

Hiện nay chương trình các môn học ở Việt Nam đang sử dụng thang phân loại của Bloom (Bloom Taxonomi) để lượng hóa các mục tiêu giáo dục làm căn

cứ xây dựng chuẩn tối thiểu của môn học Theo kết quả nghiên cứu của Bloom

và các đồng nghiệp ở trường Đại học Chicago Hoa Kì (Nguồn: Các vấn đề về đánh giá giáo dục, Dự án Việt - Bỉ hỗ trợ học từ xa, HN 2000), lĩnh vực nhận thức có thể chia thành 6 mức độ:

Trang 29

23

Bảng 1.1: Thang phân loại mức độ nhận thức của Blooom

Mức độ 1 có thể hiểu là mức độ thấp nhất chỉ dùng để đo năng lực ghi nhớ và tái hiện

Mức độ 2 và 3 rất khó tách bạch vì nội hàm của hai mức độ này chồng chéo lên nhau Thực chất đó là sự vận dụng (tái tạo lại) những kiến thức đã biết theo những yêu cầu khác nhau hoặc theo một quan điểm mới và cũng đồng nghĩa với việc di chuyển kiến thức từ bối cảnh quen thuộc sang một bối cảnh hoàn toàn mới

Mức độ 3 còn có thể chia ra thành 2 mức khác nhau: vận dụng ở mức độ

thấp (sự vận dụng mang tính chất tái tạo theo mẫu có sẵn) và vận dụng ở mức

Sáng tạo Tổng hợp thông tin một cách sáng tạo

Đưa ra nhận định, phán quyết dựa trên các hướng dẫn

Chia thông tin thành những phần nhỏ,chỉ ra các mối quan hệ

Sử dụng kiến thức theo cách mới

Xác định được ý nghĩa của thông tin được học

Lấy những thông tin từ bộ nhớ dài hạn

Trang 30

24

độ cao (sự vận dụng sáng tạo) không lệ thuộc vào mẫu sẵn có hay nói khác đi là

sự vận dụng những gì đã học vào những tình huống hoàn toàn mới

Đặc biệt, đối với lĩnh vực tạo lập văn bản phần làm văn, vận dụng là một năng lực tổng hợp thể hiện sự làm chủ cao nhất các nội dung học tập của bản thân người học Ở đó người học phải huy động một cách tổng lực tối đa các kiến thức, kĩ năng đã học không chỉ thuộc lĩnh vực làm văn mà còn ở các môn học khác như Đọc hiểu và Tiếng Việt; gắn vấn đề làm văn với các vấn đề gần gũi của đời sống xã hội Và cũng chính ở bước vận dụng tạo lập văn bản, khả năng

tự lập, tinh thần sáng tạo của học sinh được phát huy mạnh mẽ, những kĩ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá được vận dụng nhiều hơn

Các mức độ 4,5,6 thực chất là sự vận dụng những kiến thức vào việc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó nhưng ở mức độ cao hơn và mang ý nghĩa làm chủ kiến thức của các nhân

Thang phân loại 6 mức độ nhận thức của Bloom là cơ sở khoa học để đề tài nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các nguyên tắc, biện pháp phát triển kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoăc đoạn trích cho học sinh lớp 11

* Hoàn thiện những kiến thức về liên kết trong văn bản nghị luận; hiểu một số thao tác lập luận: phân tích so sánh, bác bỏ, bình luận; biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc đọc- hiểu và tạo lập các văn bản nghị luận

* Hoàn thiện kiến thức về đoạn văn, các loại đoạn văn, cách viết đoạn văn

Trang 31

Mục tiêu dạy học viết kiểu bài văn nghị luận trong chương trình mới 2018 như sau:

Quy trình viết: Viết được văn bản đúng quy trình, bảo đảm các bước đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp trước; có hiểu biết về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn

Thực hành viết: Viết được một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học: chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng của chúng Viết được văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học hoặc một bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng; nêu và nhận xét về nội dung, một số nét nghệ thuật đặc sắc Viết được một bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội; trình bày rõ hệ thống các luận điểm; có cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc gây ấn tượng; sử dụng các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục: chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy đủ; biết đặt ra các ý kiến phản bác để trao đổi, tranh luận lại; sử dụng các yếu tố thuyết minh và biểu cảm Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ Viết được văn bản nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm văn học

1.2.1.2 Nội dung dạy học

Xét trong 6 kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành thì kiểu văn bản nghị luận được chương trình Ngữ văn THPT và THCS tổ chức dạy học ở hầu hết các khối lớp, từ lớp 3 đến lớp 12 Nội dung dạy học được tổ chức theo nguyên tắc hàng ngang và đồng tâm Đồng tâm nhưng không có nghĩa là lặp lại một cách giản đơn mà càng lên cao càng khó hơn, phức tạp hơn về kiến thức và kĩ năng tạo lập văn bản

Trang 32

26

Lớp 3,4,5: Học sinh bắt đầu làm quen với văn nghị luận, viết đoạn văn nghị luận, kĩ năng lập luận (sử dụng lí lẽ, dẫn chứng, các thao tác lập luận bình luận, bác bỏ) để trình bày ý kiến về tác phẩm truyện (Viết được đoạn văn ngắn nêu lí do vì sao mình thích hoặc không thích một nhân vật trong câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe; Viết được đoạn văn ngắn nêu lí do vì sao mình thích câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe; Viết được đoạn văn nêu lí do vì sao tán thành hoặc phản đối về một hiện tượng, sự việc có ý nghĩa trong cuộc sống)

Lớp 6: Cách nêu luận điểm, kĩ năng lập luận đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ cho ý kiến của mình

Lớp 7: Thao tác lập luận bình luận, bác bỏ; phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học

Lớp 8: Nâng cao kĩ năng lập luận: sử dụng thao tác bình luận, bác bỏ (lí lẽ

rõ ràng và bằng chứng thuyết phục); phân tích một tác phẩm văn học: nêu được chủ đề; phân tích phương diện nghệ thuật trong tác phẩm

Lớp 9: Sử dụng thao tác lập luận phân tích, bình luận trong bài văn nghị luận một tác phẩm văn học về phương diện nội dung chủ đề, và hình thức nghệ thuật của tác phẩm

Lớp 10: Kĩ năng trình bày quan điểm, xây dựng hệ thống các luận điểm; cấu trúc bài văn; cách sử dụng bằng chứng thuyết phục; Viết văn bản nghị luận

sử dụng thao tác lập luận phân tích, bình luận về tác phẩm văn học: chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật

Lớp 11: Kĩ năng trình bày quan điểm, xây dựng hệ thống các luận điểm; cấu trúc bài văn, kĩ năng viết đoạn văn mở bài, kết bài, cách sử dụng lí lẽ, bằng chứng thuyết phục; Viết văn bản nghị luận tác phẩm văn học sử dụng thao tác lập luận phân tích, tổng hợp, bình luận về nội dung, một số nét nghệ thuật đặc sắc

Lớp 12: Nâng cao kĩ năng trình bày luận điểm; xây dựng cấu trúc, kĩ năng viết đoạn văn mở bài; cách sử dụng các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục; nâng

Trang 33

Kiểu văn bản nghị luận văn học có 3 kiểu bài: nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ; nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích và nghị luận về một ý kiến bàn về văn học Trong đó kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích chiếm phần lớn trong chương trình Ngữ văn THPT Kiểu bài này có các dạng cụ thể như:

* Nghị luận về toàn bộ tác phẩm hoặc 1 đoạn/phần trong tác phẩm

Đối tượng nghị luận là toàn bộ nội dung, nghệ thuật của toàn bộ tác phẩm Dạng đề này đối tượng nghị luận khá rộng đòi hỏi học sinh có cái nhìn bao quát, tổng thể về các phương diện trong tác phẩm Chẳng hạn như: Phân tích tác phẩm

“Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam; Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài

xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu…

Nhiều học sinh còn chưa phân biệt được nghị luận về một đoạn trích và nghị luận về một tác phẩm Còn tình trạng bài làm của hoc sinh đề cập tới tất cả các nội dung của tác phẩm còn nội dung của đoạn trích lại sơ lược Tập trung vào đoạn trích nhưng phải biết vận dụng kiến thức của toàn tác phẩm như nội dung tư tưởng, cách kể chuyện, cách sử dụng chi tiết, cách xây dựng nhân vật, các biện pháp tu từ Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể của tác phẩm mới có cách đánh giá chính xác Dạng đề nghị luận về một đoạn trích có các đề

bài như: Phân tích đoạn văn rong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài:

“Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những

Trang 34

28

đám chơi “ Em không yêu, quả pao rơi rồi Em yêu người nào, em bắt pao nào…” Mị vùng bước đi Nhưng tay chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”

* Nghị luận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm truyện

Trong một tác phẩm truyện ngoài các phương diện nội dung (ví dụ: giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, cảm hứng lãng mạn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng,…) còn có các phương diện nghệ thuật để làm nên vẻ đẹp cho tác phẩm (ví dụ cốt truyện, tình huống truyện, giọng văn, bút pháp…) Những phương diện đó có thể trở thành đối tượng nghị luận Chẳng hạn như: Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài; Nghệ thuật trào phúng trong “Hạnh phúc của một tang gia” trích tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Phân tích tình huống truyện trong “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân…

Chi tiết nghệ thuật hàm chứa trong nó những nội dung tư tưởng và cả giá trị nghệ thuật lớn lao Mỗi chi tiết nghệ thuật như một viên gạch nhỏ góp xây nên tòa thành vĩ đại, lộng lẫy của ngôn từ – những tác phẩm văn học Phân tích, cảm nhận về chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự, vì thế, đã trở thành một việc làm cần thiết, thậm chí là một thử thách với nhiều giáo viên và học sinh Chính ở đây người viết, người nói có thể chứng minh khả năng phát hiện, cảm thụ văn chương, bộc lộ tư duy sáng tạo Khi con đường dạy, học văn đang có nguy cơ đứng trước lối mòn, sự khuôn sáo thì việc đào sâu vào những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự là một hướng đi mới mẻ, ở đó mỗi khám phá lại giúp ta mở thêm ra thế giới văn chương đa hình muôn sắc Các dạng đề chi tiết như: Cảm nhận của anh chị về chi tiết “bát cháo hành” mà nhân vật Thị Nở mang cho Chí

Phèo (Chí Phèo – Nam Cao); Phân tích chi tiết tiếng sáo gọi bạn tình trong Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài…

Trang 35

29

* Nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm truyện

Nhân vật là linh hồn của cả một tác phẩm Tác giả thông qua nhân vật đứa con tinh thần của mình mà truyền tải mọi thông điệp mong muốn đến với người đọc, người nghe Với dạng đề yêu cầu phân tích nhân vật thì nhiệm vụ của chúng ta là làm sáng tỏ những đặc điểm của nhân vật đó đồng thời thể hiện được

-“ý đồ” mà tác giả muốn gửi gắm khi xây dựng nhân vật ấy Dạng đề này khá quen thuộc với học sinh, tuy nhiên các em chưa có kĩ năng phân tích tốt Các luận điểm đưa ra còn chưa đầy đủ, chưa thuyết phục Dạng đề này có các đề bài như: Phân tích nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân; Vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân…

Như vậy, kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích có nhiều dạng bài phong phú, đòi hỏi giáo viên cần có những biện pháp phát triển các kĩ năng viết bài của học sinh để bài văn nghị luận trở nên chất lượng và hấp dẫn

1.2.2 Thực trạng dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 trong chương trình Ngữ văn THPT

1.2.2.1 Thực trạng dạy học của giáo viên từ góc nhìn phát triển kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích

a, Mục đích khảo sát thực trạng

Rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là nội dung cần thiết trong dạy học làm văn của chương trình giáo dục phổ thông mới Vì vậy, việc khảo sát đánh giá thực trạng dạy học hướng vào các mục đích cụ thể sau:

Thu thập chính xác những thông tin về mức độ đạt được mục tiêu dạy học phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 so với chuẩn chương trình và sách giáo khoa

b, Nội dung khảo sát

Trang 36

30

Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng rèn luyện kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11 thông qua khảo sát giáo án của giáo viên, giờ dạy của giáo viên

c, Địa bàn, số lượng và cách thức tiến hành khảo sát

* Địa điểm, số lượng khảo sát:

- Địa điểm khảo sát tại 2 trường THPT trên địa bàn thanh phố Tam Điệp gồm: THPT Nguyễn Huệ và THPT Ngô Thì Nhậm

- Số lượng khảo sát:

+ Giáo án: 6 giáo án/3 lớp/1 trường x 2 trường = 12 giáo án

+ Giờ dạy: 6 tiết/3 lớp/1 trường x 2 trường = 12 tiết dạy khảo sát

* Cách thức tiến hành:Khảo sát giáo án của giáo viên, tiết lớp 11 “Luyện tập thao tác lập luận so sánh” bằng cách nghiên cứu nội dung, hình thức tổ chức luyện tập kĩ năng cho học sinh dựa trên một số tiêu chí sau:

- Tiêu chí 1: HS có được trang bị đầy đủ lí thuyết làm cơ sở cho thực hành rèn luyện kĩ năng không?

- Tiêu chí 2: Bài tập thực hành có được tổ chức từ dễ (thực hành theo mẫu) đến khó (viết sáng tạo) không?

- Tiêu chí 3: Kĩ năng viết bài văn NLVH có được GV tổ chức thực hành theo quy trình hay chỉ chú trọng sản phẩm cuối cùng?

- Tiêu chí 4: Hoạt động thực hành viết bài văn nghị luận gồm nhiều kĩ năng, giáo án có thể hiện được kĩ năng trọng tâm cần rèn luyện cho học sinh không?

Khảo sát giờ dạy bằng cách dự giờ, ghi chép tiến trình tổ chức nội dung bài học của giáo viên, các hình thức rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11, tiêu chí khảo sát trong giờ dạy gồm:

- Tiêu chí 1: Bài tập được GV sử dụng có phong phú và có theo một trình

tự từ đơn giản đến phức tạp?

Trang 37

d, Nhận xét đánh giá thực trạng giờ dạy làm văn NLVH ở lớp 11 của giáo viên:

Muốn có một tiết dạy học tốt phải có giáo án tốt vì giáo án là bản thiết kế thể hiện rõ nhất, đầy đủ nhất hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong một bài học Với các tiêu chí đánh giá cụ thể chúng tôi tiến hành khảo sát

giáo án : Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận (Ngữ văn 11, tập hai)

Đa số giáo án của giáo viên còn sơ sài kĩ năng trọng tâm của bài học không được chú ý rèn luyện không có các biện pháp tổ chức rèn uyện cho học sinh một cách cụ thể hướng hoạt động thực hành luyện tập của học sinh đến việc hình thành kĩ năng viết bài văn nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích như kĩ năng viết đoạn văn, kĩ năng sử dụng các thao tác lập luận, kĩ năng sử dụng các phương thức biểu đạt

Giáo viên chưa chú ý đến các mức độ yêu cầu rèn luyện kĩ năng trong các bài tập trong sách giáo khoa vì vậy ở một số trường hợp giáo viên thường bỏ bớt bài tập phần thực hành hoặc giao cho học sinh làm một cách qua quýt không có định hướng về mục tiêu cần đạt ở mỗi yêu cầu, bài tập thực hành và hướng dẫn học sinh cách làm Đặc biệt, thiếu hẳn hoạt động đánh giá trong giờ thực hành luyện tập kĩ năng nên hầu như chưua thúc đẩy được tinh thần học tập nghiêm túc

ở học sinh

Quan sát giờ dạy của giáo viên ở trường phổ thông cho thấy, những tiết dạy thực hành phần lớn giáo viên còn chưa quan tâm chú ý trong quá trình tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập của học sinh Trong một bài học thực hành luyện tập giáo viên bao giờ cũng phải hướng học sinh vào một số công đoạn chính để đảm bảo kĩ năng trọng tâm của bài học học sinh cần đạt Giờ thực hành ở phổ thông hiện nay phần nhiều giáo viên chưa quan tâm và đầu tư cho

Trang 38

32

vấn đề này Cụ thể là các nội dung thực hành được tiến hành được tiến hành một cách dàn trải không có trọng tâm; thiếu hẳn những thao tác công đoạn cụ thể, cần thiết để hình thành và rèn luyện kĩ năng cho học sinh Các hình thức tổ chức luyện tập, thực hành rèn luyện kĩ năng cho học sinh của giáo viên còn khá đơn điệu, buồn tẻ, chủ yếu cho học sinh làm bài tập Sách giáo khoa hướng dẫn sơ sài, giáo viên thả nổi cho học sinh tự làm dẫn đến tình trạng học sinh mông lung,

mơ hồ, mất phương hướng trong các giờ thực hành luyện tập Đa số học sinh khi được hỏi đều trả lời giờ thực hành làm văn kém hứng thú, ít tác dụng

Trong các giờ thực hành luyện tập, đa số giáo viên dạy theo kinh nghiệm làm văn và tùy hứng, không bám sát nội dung dạy học trong sách giáo khoa Không chỉ vậy, khi luyện tập thực hành, nhiều giáo viên chỉ giao bài tập cho học sinh, không có sự hướng dẫn, hỗ trợ, đánh giá, bổ sung giúp học sinh kịp thời nhận ra ưu điểm, hạn chế, biết cách khắc phục hạn chế trong làm văn

1.2.2.2 Thực trạng kĩ năng viết kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11

a, Mục đích khảo sát thực trạng

Tìm đúng những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh

b, Nội dung khảo sát

Thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát bài văn nghị luận về về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11

c, Địa bàn, số lượng và cách thức tiến hành khảo sát

* Địa điểm, số lượng khảo sát:

- Địa điểm khảo sát tại 2 trường THPT trên địa bàn thanh phố Tam Điệp gồm: THPT Nguyễn Huệ và THPT Ngô Thì Nhậm

- Số lượng khảo sát:

+ Bài làm văn của học sinh: 35 bài/1 lớp x 2 lớp/ 1 trường x 2 trường = 140 bài

* Cách thức tiến hành

Trang 39

33

Khảo sát bài làm văn NLVH của học sinh lớp 11: Bài làm văn của học sinh là sản phẩm thể hiện chất lượng dạy học, là cơ sở để đánh giá năng lực tạo lập văn bản của học sinh Đề tài đã tiến hành khảo sát 140 bài làm văn NLVH của học sinh lớp 11 (bài kiểm tra thường xuyên) tại 02 trường THPT thuộc địa bàn thành phố Tam Điệp

Khi khảo sát bài làm văn NLVH của học sinh lớp 11, chúng tôi chú trọng đặc biệt tới kĩ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích Cụ thể chúng tôi dựa vào các tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Bàn bạc đầy đủ, đúng trọng tâm nội dung vấn đề được đặt ra trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

Tiêu chí 2: Kết cấu, khả năng biểu đạt, lập luận trong bài văn nghị luận chặt chẽ, logic, thuyết phục

Tiêu chí 3: Diễn đạt, trình bày những suy nghĩ, tình cảm, hiểu biết về vấn

đề được đặt ra trong bài văn nghị luận một cách sáng sủa, mạch lạc, có sức thuyết phục (từ diễn đạt đúng đến diễn đạt hay)

d, Nhận xét đánh giá thực trạng bài làm văn NLVH của học sinh lớp 11:

Qua khảo sát 140 bài làm văn nghị luận của học sinh lớp 11 cho thấy ưu điểm nổi bật là các bài văn đã đáp ứng được yêu cầu đúng với đặc trưng kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nội dung kiến thức khá đầy đủ, có trọng tâm Tuy nhiên, kĩ năng viết kiểu bai văn nghi luận này của nhiều học sinh còn hạn chế, bài viết chưa thật hấp dẫn, sáng tạo Các lỗi thường thấy như sau :

Trước hết là khả năng lập luận chưa chặt chẽ, các thao tác lập luận còn đơn điệu, chủ yếu sử dụng một vài thao tác như phân tích, bình luận, thiếu sự kết hợp nhiều thao tác lập luận để bài văn thuyết phục, sâu sắc, lôi cuốn

Bên cạnh đó, nhiều học sinh còn lúng túng trong việc nêu luận điểm Nhiều học sinh viết bài không có câu chủ đề ở mỗi đoạn văn, hoặc chủ đề chưa thể hiện đúng tư tưởng của toàn đoạn văn khiến việc trình bày ý kiến, quan điểm vấn đề chưa được trình bày mạch lạc

Trang 40

Có thể nói kĩ năng viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích của học sinh lớp 11 còn rất nhiều hạn chế Sự hạn chế về năng lực của học sinh trước hết có nguyên nhân từ nội dung dạy học trong sách giáo khoa còn

sơ sài nhất là tiết luyện tập chưa đủ để chuyển hóa thành kỹ năng, thành năng lực thực sự của học sinh Thêm nữa nhiều giáo viên lại chưa chú ý đầu tư, tìm hiểu để bổ sung, nâng cao kiến thức Do vậy, hầu hết các tiết học về nội dung này đều chỉ được tiến hành theo một quy trình: Tìm hiểu ví dụ, giáo viên chỉ chú

ý làm rõ vai trò, tác dụng của một kĩ năng mà chưa giúp học sinh sử dụng và năng cao kĩ năng đạt mức thuần thục, hiệu quả Phần luyện tập mới chỉ tập trung chủ yếu đến việc phân tích tác dụng mà chưa chú ý đúng mức tới bài tập tạo lập, bài tập rèn luyện kỹ năng và nhất là bài tập sửa lỗi cho học sinh

Ngoài ra, kĩ năng dụng viết bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích còn hạn chế là do xu hướng xem nhẹ việc học văn và làm văn Phần lớn học sinh làm văn không xuất phát từ nhu cầu tự thân của học sinh, làm văn theo kiểu đối phó, kém hứng thú Một số lượng không nhỏ bài văn của học sinh là sự cóp nhặt nội dung từ các nguồn tài liệu tham khảo khác nhau, không phải là kết quả của một quá trình suy nghĩ nghiêm túc, cũng không phải là tiếng nói hay thái độ, hành động của người viết

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (1997), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
2. Lê A (2001), Giáo trình Làm văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Làm văn
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Lê A (2008), Thực hành Làm văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Làm văn 11
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
4. Phạm Kiều Anh (2012), Rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận cho học sinh THPT, Luận án tiến sĩ, ĐH Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận cho học sinh THPT
Tác giả: Phạm Kiều Anh
Nhà XB: ĐH Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2012
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), SGK Ngữ văn 10, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), SGK Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), SGK Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Ngữ văn 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2016
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Phân phối chương trình THCS và THPT môn Ngữ văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối chương trình THCS và THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
9. Tạ Phong Châu, Đỗ Quang Lưu, Nguyễn Quốc Túy (1982), Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy Tập làm văn cấp 3 phổ thông, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo hướng dẫn giảng dạy Tập làm văn cấp 3 phổ thông
Tác giả: Tạ Phong Châu, Đỗ Quang Lưu, Nguyễn Quốc Túy
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1982
10. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2010
11. Trần Thanh Đạm, (1976), Giảng dạy văn theo loại thể, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy văn theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1976
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
13. Nguyễn Văn Hạnh (1999), Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục,1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
14. Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Minh Trí (2004), Yêu văn và học văn (Tập 2), NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu văn và học văn (Tập 2)
Tác giả: Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Minh Trí
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004
15. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn trung học cơ sở, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
16. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Hiểu văn dạy văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
17. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Đỗ Kim Hồi (1997), Nghĩ từ công việc dạy học văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ từ công việc dạy học văn
Tác giả: Đỗ Kim Hồi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2008), Dạy theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 12, NXB Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 12
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
20. Phan Trọng Luận, Phùng Văn Tử, Lê Trí Viễn (1995), Môn Văn và Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môn Văn và Tiếng Việt
Tác giả: Phan Trọng Luận, Phùng Văn Tử, Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thang phân loại mức độ nhận thức của Blooom - Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11
Bảng 1.1 Thang phân loại mức độ nhận thức của Blooom (Trang 29)
Bảng phụ - Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11
Bảng ph ụ (Trang 86)
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra đánh giá năng lực của - Phát triển kỹ năng viết kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho học sinh lớp 11
Bảng 3.1. Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra đánh giá năng lực của (Trang 92)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w