Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá mùi tàuEryngium foetidum ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học ti
Trang 1Cảm ơn trung tâm giáo dục và phát triển sắc ký Việt Nam (EDC Việt Nam)
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Trong quá trình thực hiện không thể tránh hết được mọi thiếu sót và hạn chế Rất mong các thầy cô giáo và các bạn có những ý kiến góp ý để em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Đặng Thị Hiền
Trang 2ii
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1.1.Giới thiệu thực vật họ Hoa tán ( Apiaceae ) 3
1.2 Giới thiệu thực vật cây Mùi tàu ( Eryngium foetidum ) 4
1.2.1 Vài nét về thực vật cây Mùi tàu 4
1.2.1.1 Mô tả cây 4
1.2.1.2 Phân bố, sơ lược về cây Mùi tàu 4
1.2.2 Thành phần hoá học cây Mùi tàu 5
1.2.3 Công dụng 5
1.3 Vài nét về tinh dầu 7
1.3.1 Phân loại tinh dầu 7
1.3.2 Trạng thái thiên nhiên và phân bố 7
1.3.3 Vai trò của tinh dầu đối với đời sống thực vật 9
1.3.4 Công dụng của tinh dầu 9
1.3.5 Tính chất vật lí của tinh dầu 10
1.3.6 Thành phần hóa học của tinh dầu 11
1.4 Tổng quan về tinh dầu lá Mùi tàu 12
1.4.1 Hàm lượng, đặc điểm tinh dầu 12
1.4.2 Công dụng trong thực phẩm, y dược 13
1.5 Tổng quan về các phương pháp thực nghiệm 15
1.5.1 Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 15
1.5.1.1 Nguyên tắc chung 15
1.5.1.2 Ưu điểm 16
1.5.1.3 Nhược điểm 16
1.5.2 Phương pháp sắc ký khí khối phổ liên hợp (GC - MS) 16
1.6 Xác định hàm lượng tinh dầu theo phương pháp dược điển Việt Nam 18
1.6.1 Phương pháp thu hái và bảo quản mẫu 18
Trang 3iii
1.6.2 Định lượng tinh dầu 19
CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM 21
2.1 Thu hái, xử lý mẫu 21
2.1.1 Địa điểm và điều kiện lấy mẫu 21
2.1.2 Cách bảo quản và chưng cất 21
2.2 Cách tiến hành 21
2.3 Chưng cất tinh dầu 22
2.4 Chiết và bảo quản tinh dầu 23
2.5 Xác định thành phần hóa học tinh dầu lá Mùi tàu 23
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Kết quả chưng cất tinh dầu lá Mùi tàu 25
3.1.1 Kết quả chưng cất tinh dầu lá Mùi tàu 25
3.1.1.1 Kết quả 25
3.1.1.2 Định lượng tinh dầu 25
3.1.2 Kết quả phân tích bằng sắc ký khí - khối phổ liên hợp (GC - MS) 25
3 Phân tích kết quả và thảo luận 26
3.1.3 So sánh thành phần hóa học tinh dầu la Mùi tàu với địa phương khác 26
3.2 Công thức và ứng dụng của một số hợp chất chính trong tinh dầu lá Mùi tàu 27
3.2.1 2E-Dodecenal 27
3.2.2 n-Tetradecanol 28
3.2.3 Acid n - Dodecanoic 28
PHẦN III KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Khí hậu Việt Nam thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây thuốc Cho tới nay có khoảng 12.000 loài thực vật được phát hiện, trong đó các loài được sử dụng làm thuốc chiếm khoảng 26-30% Từ các chất có hoạt tính sinh học có nguồn gốc thiên nhiên, các nhà khoa học đã tìm cách biến đổi cấu trúc hóa học của chúng thành các chất có hoạt tính sinh học mới cao hơn, ưu việt hơn những loại thuốc sản xuất hoàn toàn bằng con đường tổng hợp Vì vậy, việc nghiên cứu các hợp chất tự nhiên rất quan trọng trong đánh giá tài nguyên thiên nhiên nhằm sử dụng chúng một cách có hiệu quả
Cây mùi tàu (cây Ngò gai ) có tên khoa học là : Eryngium Foetidum, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae) Rau mùi tàu cho nhiều protid, glucid, cellulose, calcium, phosphor , sắt, vitamin B1 và vitamin C Không chỉ là một loại gia vị quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình (với vị cay hơi đắng, tính
ấm, có mùi thơm) mà nó còn được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh
Trên thế giới cây Mùi tàu đã được nghiên cứu từ lâu Ở nước ta, cây mùi tàu cũng đã được nghiên cứu nhưng các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu dược liệu để điều chế thuốc Tinh dầu mùi tàu cũng đã được nghiên cứu về thành phần hóa học Tuy nhiên ở Thanh Hóa chưa có tác giả nào nghiên
cứu về cây Mùi tàu Vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu lá mùi tàu(Eryngium foetidum) ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa" nhằm phân tích thành phần hóa học tinh dầu lá
Mùi tàu và so sánh thành phần hóa học tinh dầu trong lá cây Mùi tàu để góp phần vào việc nghiên cứu và khai thác có hiệu quả cây Mùi tàu phục vụ cho ngành công nghiệp dược phẩm, bảo vệ sức khỏe nhân dân
1.2 Mục đích nghiên cứu
+ Tách được tinh dầu từ lá Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
+ Nghiên cứu được thành phần hóa học của tinh dầulá Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
Trang 52
1.3 Nội dung nghiên cứu
+ Tổng quan tài liệu về cây Mùi tàu ( Eryngium foetidum ), thuộc họ Hoa tán ( Apiaceae )
+ Chưng cất lôi cuốn hơi nước để thu tinh dầu lá Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
ở huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
+ Xác định hàm lượng tinh dầu trong lá Mùi tàuđể có hướng khai thác và sử
dụng
+ Xác định thành phần hóa học của tinh dầu lá Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
để tìm ra hợp chất chính
+ Đề xuất khả năng ứng dụng của những thành phần chủ yếu trong tinh dầu lá
Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lá Mùi tàu ( Eryngium foetidum ) huyện Như Thanh,
Thanh Hóa
1.5 Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước để trích ly tinh dầu lá
Mùi tàu
+ Xác định thành phần hóa học của tinh dầu lá Mùi tàu bằng phương pháp sắc kí
khí - khối phổ liên hợp (GC - MS)
Trang 63
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1.Giới thiệu thực vật họ Hoa tán ( Apiaceae )
Hình I.1 Minh họa cho họ Hoa tán (Daucus carota)
Họ Hoa tán hay họ Cà rốt theo tiếng Latinh là Umbelliferae hay Apiaceae
là một họ của các loài thực vật thường có mùi thơm với các thân cây rỗng, bao gồm các cây như mùi tây, cà rốt, thì là, mùi tàu và các loài cây tương tự khác
Họ Hoa tán là một họ lớn với khoảng 430-440 chi và trên 3.700 loài đã biết Tên gọi ban đầu Umbelliferae có nguồn gốc từ sự nở hoa trong dạng “ tán” kép Các cây thuộc họ này có đời sống bán niên, hoặc nhất niên, chiều cao thay đổi từ vào
cm đến vài m, hầu hết được dùng làm hương liệu, sản xuất tinh dầu (monoterpen, sesquiterpen, hợp chất phenilpropen), dùng trong thực phẩm, hương liệu, dược phẩm
Họ này có một số loài có độc tính cao, chẳng hạn như cây độc cần, là loài cây đã được sử dụng để hành hình Socrates và cũng được sử dụng để tẩm độc các đầu mũi tên Nhưng họ này cũng chứa nhiều loại cây có ích lợi cao cho con người như cà rốt, mùi tây, ca rum và thì là Nhiều loài cây trong họ này, chẳng hạn cà rốt hoang có các tính chất của estrogen (hooc môn sinh dục nữ), và được
sử dụng trong y học truyền thống để kiểm soát sinh đẻ Nổi tiếng nhất trong số
Trang 74
loài cây dùng cho việc này là loài thì là khổng lồ đã tuyệt chủng,a
ngụy(chi Ferula hay cụ thể là loài Ferula tingitana)
1.2 Giới thiệu thực vật cây Mùi tàu ( Eryngium foetidum )
1.2.1 Vài nét về thực vật cây Mùi tàu
1.2.1.1 Mô tả cây
Hình I.2: Cây và lá mùi tàu ( ngò gai )
Mô tả: Ngò Gai thuộc loại cây thân thảo mọc thẳng đứng, lưỡng niên Rễ hình thoi, thân có khía, cao 20-40 cm, toàn thân có mùi khá hăng Lá mọc tại gốc, hình mũi mác thuôn dài, nhẵn, lớn cỡ 10-20 cm x2-3.5 cm Lá không có cuống, mép khía với nhiều răng cưa có gai Lá trên thân, càng lên càng nhỏ dần,
có nhiều răng cưa hơn và gai sắc hơn Hoa mọc thành từng cụm rẽ làm ba, rồi chia thành xim Hoa không cuốn, cánh hoa màu trắng xanh Trái nhỏ cỡ 2 mm, dẹt Khi trưởng thành, hạt rụng và phát tán
1.2.1.2 Phân bố, sơ lược về cây Mùi tàu
Ngò gai hay mùi gai, mùi tàu hoặc ngò tây (phương ngữ miền Nam) tên khoa học là Eryngium foetidum Linn, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae) Cây này có nguồn gốc từ châu Mỹ Tại Trung Hoa, rau có tên Thích nguyên tuy (Ci-yan-sui), Dương nguyên tuy (Yang- yan - sui) Tại Thái Lan, rau tên là Pak chee farang ( cây ngò ngoại quốc) Tại Hoa Kỳ, rau có khá nhiều tên, từ tên gốc tại Trumg Mỹ như Culantro, Stinkweed đến tên tượng hình nhất là Saw leaf herb
Trang 85
Tại Pháp, ngò gai có tên Chardon estoile (star thistle) hay Chardon estoile
fetide Tại Mexico, rau có tên Culantro de burro, Culantro de coyote
Phân bố: Cây mọc hoang dã khắp nơi, nhiều ở vùng ẩm mát, vùng đồi núi Còn được trồng phổ biến để làm cây gia vị
1.2.2 Thành phần hoá học cây Mùi tàu
Hoạt chất: Hoạt chất chính trong ngò gai là những tinh dầu dễ bay hơi (0,02 –
0,04%), trong đó có các pyranocoumadins, các monoterpenes glycosides loại cyclohexanol, các anđehit như 2,4,5 trimetyl benzanđehit, đecanal, furfural Ngoài ra còn có -pinene, p-cymene; các axit hữu cơ như axit benzoic, axit capric ; các flavonoids Nhóm hoạt chất thứ nhì mới được nghiên cứu trong phần trích bằng hexan là nhóm terpenic chứa -cholesterol, brassicasterol, campe sterol, stigmasterol, clerosterol, -sito sterol,-5-aveasterol
Trong rễ có các Saponins loại triterpene, các este của axit caffeic,…
1.2.3 Công dụng
Trong thực phẩm: Lá ngò gai có mùi thơm dễ chịu nên được sử dụng như
một loại rau mùi giúp làm tăng mùi vị của các món ăn như: phở, canh chua, sofrito (Mễ)…
Trong y học: Theo Đông y, ngò gai có vị cay, hơi đắng, tính ấm, có khả
năng trị được một số bệnh thông thường như: trị hôi miệng, trị cảm mạo, cảm cúm, sổ mũi, sốt nhẹ do nhiễm lạnh, chướng khí thở mệt, long đờm, đau bụng, tiêu chảy, ngực bụng đầy trướng đau ngực, ho, đầy hơi ăn không tiêu, kích thích tiêu hóa, ăn mất ngon, trẻ em lên sởi, bệnh đái tháo đường, hạ cholesterol trong máu, sưng đau té ngã, đái dầm ở trẻ nhỏ, nổi mụn, đỏ ngứa ở mặt, rong kinh, trĩ,
Trang 96
thoát giang, chống sưng viêm cấp tính và kinh niên, viêm kết mạc, mụn bọc, mụn trứng cá, giảm đau nhức …Rễ ngò gai có khả năng trị các chứng sưng bàng quang, sạn thận và sưng đường tiểu Lá ngò gai có tác dụng chống sưng viêm cấp tính và kinh niên Trà ngò gai trị tiêu chảy, cúm, sốt, ói mửa, tiểu đường, táo bón Trong y học truyền thống, ngò gai trị phỏng, đau tay, các bệnh sốt, huyết áp cao, táo bón, lên cơn, suyễn, những bệnh đau dạ dày, trùng giun, biến chứng vô sinh, vết rắn cắn, tiêu chảy sốt rét, động kinh
Công dụng chi tiết của các chất có trong thành phần tinh dầu lá cây ngò gai:
-Pinene : thuốc giãn phế quản rất sinh học đến 60% được phổi hấp thụ giúp
cho quá trình chuyển hóa các chất diễn ra nhanh chóng
Những andehit có trong ngò gai như: Decanal, Dodecanal, 2- Dodecanal
là những thành phần quan trọng có trong tinh dầu lá ngò gai và là lí do của việc ứng dụng trong kỹ nghệ dầu thơm nước hoa và hương vị
n-Dodecanoic acid: trong các thí nghiệm vitro cho rằng nó có tác dụng trong
việc điều trị mụn trứng cá, nhưng chưa có thí nghiệm lâm sàng nào thực hiện 1-Undecanol: nó có mùi cam, quýt, hương vị béo và được sử dụng trong như một hương liệu trong thực phẩm
Những nghiên cứu mới về ngò gai:
Rễ ngò gai có khả năng trị các chứng sưng bàng quang, sạn thận
và sưng đường tiểu Cách dùng: Rễ phơi khô, tán thành bột, làm thành trà; dùng
1 thìa cà phê bột rễ, trong 30-40 ml nước, đun sôi, uống mỗi ngày 2-3 lần Tác dụng này được xem là do những ester của caffeic acid như chlorogenic acid trong rễ
Tác dụng chống sưng viêm cấp tính và kinh niên: Nghiên cứu trên chuột tại Khoa Dược Đại học Universidad de Sevilla (Tây Ban Nha) ghi nhận khả năng chống sưng của phần trích bằng hexane từ lá ngò gai (tai chuột bị gây sưng phù bằng 12-0-tetradecanoylphorbol acetate (TPA)) Tác dụng chống sưng mạnh hơn stigmasterol và tương đối hiệu nghiệm trên các chứng sưng đỏ tại chỗ
Trang 107
1.3 Vài nét về tinh dầu
Tinh dầu còn gọi là Dầu thơm, Tinh du hay hương du là những hợp chất
có mùi thơm hay khó chịu, có một số tính chất lí học chung thường gặp trong cây hay trong động vật
Ví dụ: Tinh dầu bạc hà, tinh dầu khuynh diệp, tinh dầu quế, tinh dầu hoa hồng,
tinh dầu con hươu xạ…
Tinh dầu có vai trò quan trọng trong đời sống: ngành thực phẩm (làm gia
vị, chế biến rượu mùi…), công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm, công nghiệp sơn, công nghiệp chế biến hóa chất, y học (làm thuốc sát trùng, tiêu hóa…)…
1.3.1 Phân loại tinh dầu
Dựa vào thành phần của tinh dầu người ta chia tinh dầu thành những loại sau:
- Tinh dầu chứa cacbua như pinen (tinh dầu thông), limonen (tinh dầu chanh)…
- Tinh dầu chứa rượu như geraniol, xitronelol (tinh dầu hoa hồng, sả, hương diệp); chứa linalol (tinh dầu hoa cải, tinh dầu quả mùi); chứa metol (tinh dầu bạc hà)
- Tinh dầu chứa andehit như xitral (tinh dầu chanh, màng tang)
- Tinh dầu chứa xeton như xineol (tinh dầu bạch đàn, khuynh diệp), anetol (tinh dầu tiểu hồi, đại hồi)…
1.3.2 Trạng thái thiên nhiên và phân bố
Tinh dầu ở hai trạng thái: tự do và tiềm tàng
Tinh dầu ở trạng thái tự do trong cây có thể được tạo thành tập trung ở những tế bào trông giống như những tế bào khác của cây họ lớn hơn, nhưng thường tinh dầu tự do được tập trung ở cơ quan bài tiết của cây như: lông bài tiết của cây họ Hoa môi (Labiatae); họ Cúc (Compositae) ở dưới lớp cutin; túi bài tiết trong họ Xim (Myrtaceae)…
Tinh dầu ở trạng thái tiềm tàng vốn không phải là những thành phần bình thường của cây mà chỉ xuất hiện trong những điều kiện nhất định tương ứng với
sự chết của một số bộ phận Ví dụ: tinh dầu trong nhân hạt mơ, hạt đào, hạt cải
và củ tỏi Tinh dầu hạt mơ, hạt đào (Andehyt bezoic) xuất hiện do tác dụng của
Trang 118
men emulsin trên một heterozit gọi là amygdalin Tinh dầu hạt cải (bạch đới tử) xuất hiện do tác dụng của men myrosin trên một heterozit gọi là grozit Tinh dầu
củ tỏi xuất hiện do tác dụng của men alliinnaza trên một chất không phải eterozit
mà là một axit amin chứa sunfua là allinin cho một sunfoxyt gọi là allixin để cho chất đisunfua allyl
Về mặt phân bố, tinh dầu có trong toàn bộ giới thực vật nhưng đặc biệt nhiều trong một số như họ Thông (Coniferae), họ Cam (Rutace), họ Hoa tán (Umbelliferae), họ Xim (Myrtaceae)…
Điều đặc biệt là trong cùng một cây, thành phần tinh dầu của những bộ phận khác nhau có thể khác nhau và tuỳ theo điều kiện sinh sống, thu hái
Phân bố theo thực vật:
Tinh dầu được phân bố khá rộng, hiện diện trong gần 300 họ, trong đó có
87 họ có giá trị kinh tế
Sau đây là 3 họ có nhiều cây tinh dầu:
+ Họ cúc: (Asteraceae) bao gồm hơn 1.000 giống và 25.000 loài chủ yếu trong vùng bán khô cằn nhiệt đới, cận nhiệt đới,hầu hết trong vùng Địa Trung Hải, ôn đới
+ Họ Hoa môi: (Lamiaceae) có mặt khắp nơi trên thế giới, bao gồm khoảng 200 giống và từ 2.000 đến 5.000 loài
+ Họ Hoa tán, Ngò: (Umbelliferae, Apiaceae) bao gồm khoảng hơn 300 giống
và 3.000 loài, được phân bố khắp nơi, một số loài tập trung ở vùng ôn đới
Phân bố theo bộ phận:
Tất cả các bộ phận của cây, trên nguyên tắc, đều có thể chứa tinh dầu như: rễ, thân, cành, lá, hoa, trái, hạt
+ Lá: Khuynh diệp, bạc hà, tía tô, xả, tràm, hương nhu, kinh giới…
+ Thân: trầm hương, long não, quế…
+ Rễ: Gừng, nghệ, hành tỏi, xuyên khung, đương quy…
+ Quả: cam, chanh, bưởi, hồi, sa nhân…
+ Hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa cúc, hoa nhài, hoa quế…
Tinh dầu ở mỗi bộ phận trên cùng một cây có thể giống nhau hoặc khác nhau
Trang 129
rất nhiều về thành phần hóa học và hàm lượng tinh dầu Hàm lượng tinh dầu phụ thuộc vào giống, di truyền, đất đai, phân bón, thời tiết,ánh sáng, lượng mưa, thời điểm thu hoạch…
1.3.3 Vai trò của tinh dầu đối với đời sống thực vật
Vấn đề về vai trò của tinh dầu trong đời sống của cây đã được đề cập tới trong rất nhiều công trình nghiên cứu Theo quan niệm được trình bày trong các công trình khác nhau, vai trò của tinh dầu được quy tụ trong các nội dung sau đây (Ph X Tanaxienco, 1985):
- Bảo vệ cây khỏi các tác động của sâu bệnh
- Che phủ các vết thương ở cây gỗ
- Nhóm các tinh dầu có chức năng sinh lý được cây sử dụng trong quá trình sinh trưởng
- Nhóm các tinh dầu không có chức năng sinh lý, không được cây sử dụng, chúng đơn thuần chỉ là các chất tiết của cơ thể và được tích lũy trong các bể chứa tinh dầu
1.3.4 Công dụng của tinh dầu
Tinh dầu hiện nay là nguồn nguyên liệu không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực: Thực phẩm: Gia vị làm sẵn, thức ăn nhanh, nước ngọt, đồ hộp,kem lạnh, bánh kẹo, nước chấm…
Dược phẩm: Dùng làm thuốc chữa một số bệnh thông thường, hương vị liệu
pháp, át mùi thuốc, …
Mỹ phẩm: dầu thơm, kem dưỡng da, chất khử mùi,dầu gội đầu, son…
Tính chất đặc trưng của tinh dầu: Tinh dầu là hợp chất hữu cơ hòa tan lẫn nhau, có mùi đặc trưng, ở nhiệt độ thường hầu hết tinh dầu ở thể lỏng,
Trang 13Trong thành phần của tinh dầu, có thể gặp hàng loạt các chất khởi nguyên nói trên: các acid hữu cơ thường gặp gồm: acid acetic, acid valerianic, acid isovalerianic …, và các rượu tương ứng với chúng; ngoài ra còn thường gặp các aldehid, các ester, một số terpenoid như geraniol, linalool, pharnesol, nerolydol … Đó là những hợp chất liên quan tới nhiều kiểu cấu trúc hóa học khác nhau và tham gia vào các hệ thống đồng hóa khác nhau Trong thành phần tinh dầu còn thường thấy các hợp chất có nhân thơm như aneton, pheniletilnol, benzaldehid, vanilin, thậm chí cả các hợp chất có chứa nitơ và lưu huỳnh
Tinh dầu thường không màu hay có màu vàng, một số có màu nâu sẫm (như tinh dầu quế), đa số có mùi dễ chịu, một số có mùi hắc khó chịu, thường có
1.3.5 Tính chất vật lí của tinh dầu
Tinh dầu thường ở thể lỏng ở nhiệt độ thường, mùi thơm, ít khi có màu trừ tinh dầu chứa azulen có màu xanh
Tinh dầu có tỉ trọng thấp so với nước Chỉ số khúc xạ cao và có năng suất quay cực
Trang 1411
Tinh dầu bay hơi được và kéo được bằng hơn nước Tinh dầu ít tan trong nước nhưng làm cho nước có mùi thơm Tinh dầu tan trong cồn, ete, phần lớn dung môi hữu cơ và trong chất béo
Một số tinh dầu có phần đặc và một phần lỏng như tinh dầu bạc hà, tinh dầu long não…
Tinh dầu là hỗn hợp nên không có nhiệt độ sôi nhất định Khi đun nóng có thể lấy riêng được các thành phần khác nhau trong tinh dầu
Tinh dầu cháy với ngọn lửa nhiều khói
1.3.6 Thành phần hóa học của tinh dầu
Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều hoạt chất với tỉ lệ thay đổi; thành phần quan trọng nhất về phương diện thơm có khi lại chiếm tỉ lệ thấp
Thành phần trong tinh dầu bao gồm các hiđrocacbua, ancol tự do hay dưới dạng các este, hợp chất chứa N, hợp chất chứa S, hợp chất halogen…Các hiđrocacbon béo thường ít đại diện, phần nhiều là cacbua thơm hoặc nhóm cacbua tecpennic Trong các thành phần trên, thường este chiếm tỉ lệ cao nhất rồi đến các rượu và andehit
Sau đây là một số hợp phần chính hay gặp trong thành phần tinh dầu:
* Hiđrocacbua bao gồm:
- Cacbua tecpennic (chiếm nhiều nhất): limonen, pinen, camphen, caryophyllen, sylvestren
- Cacbua no: heptan, parafin
*Ancol: Ancol metylic, ancol etylic, ancol xinamic, xitronellol, geraniol, linalol,
bocneol, tecpineol, mentol, santalol, xineol
*Phenol và ete phenolic: anetol, eugenol, safrol, apiol, tymol
* Andehit: andehit benzoic, xinamic, salyxilic, xitral, xitronellal
* Xeton: menton, campho, thuyon
* Axit (dưới dạng este): axit axetic, butiric, valerianic, benzoic, namic, salyxilic,
fomic
Trang 1512
* Những hợp chất chứa sunfua, nitơ, halogen: các tinh dầu có sunfua trong
các cây thuộc họ chữ Thập (Cruciferae) có một kiến trúc đặc biệt gọi là senevol tức là este của axit isosunfoxianic
* Cumarin: becgapten, ombelliferon
1.4 Tổng quan về tinh dầu lá Mùi tàu
1.4.1 Hàm lượng, đặc điểm tinh dầu
Khi nghiên cứu thành phần các loài cây tinh dầu ở các khu vực khác nhau trên thế giới, các nhà nghiên cứu nhận định rằng khu vực có khí hậu nhiệt đới là nơi tập trung cây tinh dầu với số lượng lớn Bên cạnh đó, một số loài cây tinh dầu trong đai khí hậu này lại có sự đa dạng về thành phần hóa học
Phân bố cây tinh dầu trong mỗi hệ thực vật nói chung theo 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc phổ biến (hay còn gọi là nguyên tắc có tính quy luật) Theo
nguyên tắc này, ở một số taxon thực vật, sự có mặt tinh dầu trong cây và trong các bộ phận xác định là đặc tính phổ biến Giới hạn của quy luật này thường xác định ở các bậc họ (ngay trong 1 họ, có chi hầu như tất cả các loài đều chứa tinh dầu, trong khi đó ở các chi khác hoàn toàn không có loài nào được coi là có tinh dầu) Với những họ mà tích lũy tinh dầu là đặc tính chung của các loài trong cả
họ thì được gọi là họ cây tinh dầu
- Nguyên tắc ngẫu nhiên: Theo nguyên tắc này, sự có mặt của tinh dầu ở
các cá thể trong taxon là một đặc tính ngẫu nhiên Khi nghiên cứu phân bố cây tinh dầu ở các họ khác nhau, dễ nhận thấy rằng trong đa số họ thực vật, đặc tính tích lũy của tinh dầu chỉ là một số chi nhất định trong họ
Phân tích và tìm hiểu quy luật phân bố của cây tinh dầu ở các họ thực vật không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu tiến hóa sinh lý, sinh hóa mà còn có giá trị rất lớn đối với công tác điều tra, phát hiện Hiện nay, trong hệ thực vật Việt Nam có khoảng 657 loài thuộc 357 chi và 114 họ chứa tinh dầu Như vậy, nguồn tài nguyên cây tinh dầu nói riêng và tài nguyên thực vật Việt Nam rất là đa dạng
và phong phú
Lá mùi tàu chứa chừng 0,08% tinh dầu, carotin, vitamin C, luteolin và apigenin Rễ chứa apigenin
Trang 1613
1.4.2 Công dụng trong thực phẩm, y dược
Mùi tàu hay còn gọi là ngò gai được đánh giá là chứa nhiều chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ Các kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá và rễ ngò có hàm lượng tinh dầu rất cao
Trong hạt mùi tàu chứa nhiều monoterpenoids và sesquiterpenoids, giàu canxi, sắt, phospho, carotene và riboflavin, vitamin A, B1, B2 và C Không chỉ thế, mùi tàu cũng có đầy đủ chất dinh dưỡng gồm protein, chất béo và tinh bột
Theo Y học cổ truyền rau mùi tàu có vị cay hơi đắng, thơm, tính ấm, có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, kiệm tỳ, hành khí tiêu thũng, giảm đau Để làm thuốc có thể dùng toàn bộ cây rau mùi tàu (tươi hay phơi khô), thu hái quanh năm Dưới đây là một số công dụng chữa bệnh của mùi tàu
Chữa hôi miệng
Lấy 1 nắm rau mùi tàu, rửa sạch, sắc đặc, cho thêm vài hạt muối, khuấy tan, dùng để ngậm và súc miệng nhiều lần trong ngày Sau khoảng 5-6 ngày, miệng sẽ bớt mùi hôi
Chữa đầy hơi, không tiêu do ăn nhiều đạm
Rau mùi 50g, thái dài khoảng 3 - 4cm; gừng tươi 1 lát đập dập Tất cả rửa sạch sắc với 400ml nước, đến khi còn 200ml chia làm 2 lần, uống nóng, mỗi lần dùng cách nhau 3 tiếng Dùng liền 3 ngày
Chữa cảm cúm
Rau mùi tàu 40g, gừng tươi 10g, ngải cứu và cúc tần mỗi thứ 20g Rửa sạch, thái nhỏ, gừng đập dập Tất cả cho vào nồi sắc với 400ml nước, đến khi còn 100ml thì đổ ra, uống nóng, mỗi ngày 2 lần Sau khi uống, nằm trong chăn
ấm để cho ra mồ hôi, rồi lau khô người sẽ thấy dễ chịu hơn
Chữa cảm mạo
Mùi tàu khô 10g , cam thảo đất 6g Rửa sạch đổ vào nồi với 300ml nước, đun sôi trong khoảng 15 phút, rồi chia làm 3 lần, uống trong ngày
Trang 1714
Chữa đái dầm ở trẻ nhỏ
Lấy mùi tàu, rau ngổ, cỏ mần trầu, mỗi thứ 20g, cùng với 10g cỏ sữa lá nhỏ, thái nhỏ, phơi khô Cho tất cả vào nồi đổ 500ml nước sắc còn 150ml, uống sau bữa ăn tối Dùng khoảng 5-10 ngày Có thể nhắc lại liệu trình mới
Trị viêm kết mạc
Mùi tàu tươi, phơi trong mát cho khô, đem sắc lấy nước và rửa mắt trong trường hợp bị viêm kết mạc Bài thuốc này giúp làm mất cảm giác rát nóng, làm giảm đau và giảm sưng mắt
Hạ cholesterol trong máu
Thường xuyên uống nước mùi tàu sẽ giúp làm hạ cholesterol trong máu Đun 1 nhúm hạt mùi tàu khô trong nước sôi, lọc, để nguội và uống nhiều lần trong ngày còn giúp lợi tiểu vì kích thích sự bài tiết của thận
Trị đau bụng, tiêu chảy
20g lá mùi tàu, củ sả, lá tía tô, gừng sống mỗi thứ 12g, sắc với nước, uống trong ngày