Tác giả Nguyễn Xuân Khoa, trong tác phẩm Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo của cũng đã đề cập đầy đủ các mặt phát triển của ngôn ngữ, đồng thời tác giả cũng đưa ra được cá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
SINH VIÊN: LỤC KHÁNH LINH
MÃ SV: 1469010134
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA CÁC TRÒ CHƠI HỌC TẬP
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUAN HÓA
Ngành đào tạo: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn: TS Cao Xuân Hải
THANH HOÁ, THÁNG 5/2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các trò chơi học tập trên địa bàn huyện quan hóa ”, khóa luận của tôi nhận
được nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện từ phía thầy cô và các bạn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Ban giám hiệu nhà trường Đại học Hồng Đức, Ban chủ nhiệm khoa Giáo dục Mầm non cùng tất cả các thầy cô trong bộ môn Phát triển ngôn ngữ nói riêng, các thầy cô trong khoa nói chung đã dìu dắt tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy TS Cao Xuân Hải – người trực tiếp
hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện, hoàn thành khóa luận có kết quả tốt và đúng thời gian quy định
Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn nên đề tài này chưa thể bao quát hết tất cả các vấn đề cũng như không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô và các bạn để có chất lượng nghiên cứu tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Người thực hiện
Lục Khánh Linh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp mới của đề tài 4
7 Cấu trúc của đề tài 4
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1 Khái niệm về từ 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đơn vị cấu tạo từ 5
1.1.3 Phương thức cấu tạo từ 5
1.2 Vai trò từ đối với sự phát triển của trẻ 8
1.3 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4-5 tuổi 12
1.4 Trò chơi học tập 13
1.4.1 Khái niệm 13
1.4.2 Đặc điểm của trò chơi học tập 14
1.4.3 Vai trò của trò chơi học tập trong việc giáo dục trẻ 15
1.5 Giáo dục tích hợp cho trẻ mầm non 4-5 tuổi 17
1.5.1 Khái niệm về giáo dục tích hợp 17
1.5.2 Đặc trưng của giáo dục tích hợp 17
Trang 41.6 Tiểu kết chương 1 19
Chương 2: MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4-5 TUỔI 20
2.1 Trò chơi học tập bằng lời 20
2.1.1 Trò chơi: “Gọi đò” 20
2.1.2 Trò chơi: “Tai ai thính” 21
2.1.3 Trò chơi: “Tìm từ cho tranh” 22
2.1.4 Trò chơi: “Thi xem Đọc thơ” 23
2.1.5 Trò chơi “Tìm bạn” 24
2.1.6 Trò chơi: “đoán xem con gì” (cái gì) 24
2.1.7 Trò chơi: Cái gì ở đâu ? 25
2.2 Trò chơi học tập ứng dụng công nghệ thông tin 26
2.2.1 Trò chơi “Điền từ” 26
2.2.2 Trò chơi “Tìm từ” 26
2.2.3 Trò chơi “ghép tranh” 27
2.2.4 Trò chơi “nghe tiếng kêu con vật, tìm từ” 28
2.2.5 Trò chơi “miêu tả hoạt động” 28
2.3 Trò chơi học tập bằng vận động 29
2.3.1 Trò chơi “tìm vật” 29
2.3.2 Trò chơi “thi lấy bóng” 30
2.4 Tiểu kết chương 2 30
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 4-5 TUỔI 31
3.1 Thực trạng tổ chức các trò chơi học tập ở trường Mầm non cho trẻ 4 – 5 tuổi 31 3.1.1 Mục đích khảo sát 31
3.1.2 Nội dung khảo sát 31
3.1.3 Đối tượng khảo sát 31
3.1.4 Địa bàn khảo sát 31
3.1.5 Thời gian khảo sát 31
3.1.6 Phương pháp khảo sát 31
Trang 53.1.7 Kết quả khảo sát đối với trẻ 32
3.1.8 Kết quả khảo sát đối với giáo viên 34
3.2 Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua trò chơi học tập 35
3.2.1 Khái niệm biện pháp 35
3.2.2 Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 35
3.3 Một số đề xuất 42
3.4 Tiểu kết chương 3 42
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua một số trò chơi học tập 32Bảng 2: Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 20 trẻ trường Mầm non TT Quan Hóa – Quan Hóa – Thanh Hóa 33Bảng 3: Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 20 trẻ trường Mầm non xã Phú Nghiêm - Quan Hóa - Thanh Hóa 33Bảng 4: Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 20 trẻ trường Mầm non 33
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trẻ em lứa tuổi mầm non là một thế hệ tương lai của đất nước, do đó việc phát triển toàn diện cho trẻ là một yếu tố hàng đầu của xã hội Phát triển toàn diện cho trẻ là phát triển ở tất cả các mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ Trong đó lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục mầm non
Từ vựng là một yếu tố cực kì quan trọng trong sự phát triển của trẻ Khi trẻ có một vốn từ vựng phong phú thì trẻ sẽ nói tốt hơn và có khuynh hướng học tốt hơn so với những đứa trẻ cùng lứa có vốn từ hạn hẹp Và với vốn từ phong phú luôn có sẵn trong đầu, trẻ sẽ có thể tự bày tỏ cảm xúc, cảm nghĩ của bản thân với nhiều người một cách có hiệu quả, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp xã hội của trẻ Vì thế việc có được một vốn từ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất nhiều: giúp trẻ luôn luôn tự tin nắm bắt những gì mà trẻ nghe được từ mọi người xung quanh
Hiện nay ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi học tập vào dạy học rất phổ biến Tuy nhiên, thường thì các trò chơi sẽ được phục vụ cho các hoạt động học như hoạt động làm quen môi trường xung quanh, hoạt động làm quen với các biểu tượng toán, hoạt động tạo hình… Còn ở hoạt động phát triển ngôn ngữ nói chung, phát triển vốn từ cho trẻ còn rất hạn chế Vì những lí do
trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các trò chơi học tập để làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Tuy nhiên, mỗi tác giả sẽ nghiên cứu chuyên sâu ở một lĩnh vực khác nhau Khó có thể thống kê thật đầy đủ và chi tiết các công trình mà các nhà nghiên cứu đã công bố Nhưng có thể khẳng đinh rằng khi nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, các tác giả đều nghiên cứu đến đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, các hình thức phát triển ngôn ngữ và các phương pháp, biện pháp giúp ngôn ngữ phát triển
Trang 8Các nhà tâm lý học đã cho rằng, ngôn ngữ có quan hệ với các quá trình tâm lý của trẻ: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, quan trọng hơn hết, có thể nhắc đến là quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Nhà tâm lý học học L.X.Vưgôtxki cho rằng bản chất xã hội của các chức năng cao cấp của nguyên nhân phát triển lời nói và việc trẻ học ngôn ngữ là do sự tác động qua lại giữa
sự chín muồi bản thản với những kích thích trải nghiệm xã hội Quan điểm này nhấn mạnh đến sự trải nghiệm là yếu tố vô cùng quan trọng trong sự hình thành
và phát triển ngôn ngữ của trẻ
Các nhà triết học Mác - Lênin [2] cũng cho rằng ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc xác định hệ thống các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trẻ em mầm non lĩnh hội ngôn ngữ bằng cách bắt chước trong quá trình giao tiếp Nhưng để giao tiếp tốt, trước hết vốn từ của trẻ cần phải hoàn chỉnh
và mở rộng hơn nữa
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa, trong tác phẩm Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo của cũng đã đề cập đầy đủ các mặt phát triển của ngôn ngữ, đồng thời tác giả cũng đưa ra được các phương pháp và biện pháp hướng dẫn cụ thể: dạy trẻ nghe và phát âm đúng, phương pháp phát triển từ ngữ, phương pháp dạy trẻ đặt câu, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc, cho trẻ làm quen tác phẩm văn chương, chuẩn bị cho trẻ học đọc học, viết…
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga với tác phẩm Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non cũng đã đưa ra các mặt phát triển của ngôn ngữ như
của tác giả Nguyễn Xuân Khoa, nhưng được bổ sung nhiều tài liệu và hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực phát triển phát triển vốn từ cho trẻ Trong tài liệu nghiên cứu đã xác định các nhiệm vụ cần phát triển: dạy trẻ nghe và phát
âm đúng, phương pháp phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết… Ở lĩnh vực phát triển vốn
từ, tác giả đã đề cập đến nội dung phát triển vốn từ ở một khía cạnh khác với Nguyễn Xuân Khoa, tác giả đã dựa trên cách nghiên cứu của một tác giả người nước ngoài V.I.Lôginôva và tác giả đã đưa ra nguyên tắc khi dạy vốn từ cho trẻ: từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ việc dạy trẻ biết sử dụng từ đúng đến biết
Trang 9dùng từ mang tính biểu cảm
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án, đề tài khoa học, sáng kiến kinh nghiệm cũng đã đề cập đến nhiều những vấn đề khác nhau cho việc phát triển ngôn ngữ của trẻ Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đều đề cập đến những khía khác nhau của vấn đề Trong đề tài này, chúng tôi mạnh dạn tiến hành
nghiên một số biện pháp Phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ Hi vọng đề tài sẽ góp phần nhỏ vào
việc phát triển ngôn ngữ, đồng thời tạo điều kiện để trẻ có thể vừa chơi vừa học
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
thông qua hoạt động trò chơi ngôn ngữ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Các trò chơi nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi và thiết kế các trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này chúng tôi sử dụng để thu thập, đọc và tổng hợp các tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát, đàm thoại, lấy phiếu điều tra và thử nghiệm các mẫu trò chơi
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê các mẫu phiếu các số liệu về các mẫu trò chơi từ đó rút ra những kết luận từ những số liệu thống kê
được
Trang 106 Đóng góp mới của đề tài
- Đóng góp về mặt lý luận: Khái quát được những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Đóng góp về măt thực tiễn: Đánh giá thực trạng sử dụng trò chơi học tập
để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi; thiết kế một số trò chơi học tập
để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được triển khai trong ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Trong chương này chúng tôi đề cập tới những cơ sở lí luận về ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo, cụ thể là trẻ 4 – 5 tuổi, đặc biệt là trò chơi học tập
Chương 2: Một số trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
Ở chương này, chúng tôi đã xây dựng một số trò chơi học tập: trò chơi học tập bằng lời; trò chơi học tập ứng dụng công nghệ thông tin; trò chơi học tập bằng vận động đây là cơ sở để chúng tôi tiến hành thể nghiệm thực tế và
là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế và xây dựng một số biện pháp phát triển ngon ngữ nói chung và vốn từ nói riêng cho trẻ 4-5 tuổi
Chương 3: Thực trạng sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 4-5
ở chương này chúng tôi đã khảo sát thực trạng và phân tích kết quả về việc giáo viên sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
4 – 5 tuổi và thực trạng phát triển vốn từ của trẻ ở các trường hiện nay tuổi
Trang 111.1.2 Đơn vị cấu tạo từ
Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các hình vị (tiếng, âm tiết) Do
tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác nên các nhà nghiên cứu còn gọi tiếng trong tiếng Việt là đơn vị cấu tạo từ
và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết (morphemesyllable) - âm tiết có giá trị hình thái học
Với tư cách và giá trị tương đương với hình vị trong tiếng Việt vẫn có thể chứng minh được (mặc dù chưa thực sự có sức thuyết phục tuyệt đối cho tất cả mọi trường hợp) qua các hiện tượng tách rời, lặp, chen thành tố, rút gọn Ví dụ: Trong ứng xử ngôn ngữ, dường như người Việt luôn luôn có tâm lý chờ đợi ở mỗi tiếng (bất kể tiếng đó như thế nào) một phần nghĩa nào đấy; hoặc sẵn sàng cấp cho nó một nghĩa nào đấy
Ví dụ: Trong câu thơ "Trời đất khen sao khéo khéo phòm" của Hồ Xuân Hương nếu không chờ đợi ở mỗi tiếng một phần nghĩa nào đấy thì người ta có khó có thể chấp nhận được
1.1.3 Phương thức cấu tạo từ
Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng các dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó
Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng
Trang 12Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:
Từ ghép đẳng lập: Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ
bình đẳng với nhau về nghĩa Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng
Từ ghép chính phụ: Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc
vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà xấu bụng, tốt mã, lão hoá xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thằng tắp, sưng vù Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm)
Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn
có loại ba tiếng Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt
Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối) Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần Vì thế, nếu chỉ
có điệp mà không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau: Láy hoàn toàn Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai
thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu tố được gọi là yếu tố láy
Láy bộ phận: Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở
phần vần thì được gọi là láy bộ phận Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phận thành hai lớp
Trang 13Từ láy ba và bốn tiếng: được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai
tiếng Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, trơ trờ trờ đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng
Trên thực tế, số lượng từ láy 3 tiếng và 4 tiếng không nhiều Mặt khác, có thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn – nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp ) Nhiều khi ta gặp những
"cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt; trụi lủi – trụi thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt
Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên; hoặc từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một Chẳng hạn: bù lu bù loa; bông lông ba la hoặc bắng nhắng – bắng nha bắng nhắng; bắng nhắng bặng bặng nhặng
Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị, nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó về nghĩa Điều này cần được khảo sát riêng tỉ mỉ hơn
Từ các kiểu từ đã trình bày trên đây, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo (các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là các từ ngẫu hợp với ngụ ý: các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên Lớp từ này có thể bao gồm:
Bộ phận từ này trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do các mối quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ ngữ, nhất là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật
Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình Ở đây chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến
Trang 14động hoặc dạng "lời nói" của từ Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả mọi từ Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số
từ trong một số trường hợp sử dụng mà thôi Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và nhiều khi chỉ vì lý do tiết kiệm trong ngôn ngữ Không phải ngày nay tiếng Việt mới có hiện tượng rút gọn như vậy,
mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu
1.2 Vai trò từ đối với sự phát triển của trẻ
Ngôn ngữ nói chung, vốn từ nói riêng viết có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát nhân cách của trẻ MN nói riêng, trẻ 4-5 tuổi nói chung Lứa tuổi MN, đặc biệt là lứa tuổi 4-5 tuổi là lứa tuổi phát triển nhạy cảm nhất về ngôn ngữ Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội vốn từ và và các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ như đọc viết ban đầu của trẻ Ở giai đoạn này trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn sau không thể có được, trẻ học nghĩa và cấu trúc của từ, cách sử dụng từ ngữ để chuyển tải suy nghĩ và cảm xúc của bản thân, hiểu mục đích và cách thức con người sử dụng chữ viết…
Cùng với quá trình lĩnh hội vốn từ, trẻ lĩnh hội và phát triển các năng lực
tư duy như xây dựng và biểu đạt ý tưởng, chia sẻ thông tin với người khác và tiếp nhận, đáp lại ý tưởng, thông tin của người khác thông qua từ và câu Phát triển vốn từ có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ Bởi vì vốn từ vừa là là công cụ của tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhận thức, giải quyết vấn đề và chức năng tư duy ký hiệu tượng trưng ở trẻ
* Vốn từ là phương tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong đó vốn từ có vai trò rất quan trọng Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, vốn từ là phương tiện cơ
sở giúp trẻ giao lưu cảm xúc, bày tỏ nhận thức, đánh giá môi trường xung quanh với những người khác và hình thành những cảm xúc tích cực Vốn từ là cơ sở để
Trang 15trẻ dùng để diễn đạt, phát biểu để trình bày ý tưởng, nguyện vọng của mình cho người khác biết
Đặc biệt, ngôn ngữ nói chung vốn từ nói riềng đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc làm của trẻ Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua truyện kể, ca dao, đồng dao, nhất là trong các trò chơi học tập,… thông qua vốn từ trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống
Những từ ngữ trong những câu hát ru ngọt ngào, những cử chỉ âu yếm kèm theo tình cảm yêu mến thông qua vốn từ sẽ đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở Đặc biệt là qua từ ngữ của các lời ru, mẹ
đã dạy cho con nghệ thuật âm nhạc, thơ ca dân tộc để con biết yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu bà con làng xóm, truyền cho con những ý niệm cơ bản về thiện ác để hun đúc ở đứa con lòng nhân ái Ngay cả những lúc nựng con thì đây là cuộc trò chuyện đằm thắm nhất, đầy tình yêu thương và lòng tin cậy, trong đó người mẹ đã nói với con bằng cả tấm lòng và đứa con đã nghe mẹ với tất cả sự sung sướng và niềm say mê của mình Dù có
ý thức hay chưa có ý thức rõ ràng, nhiều người mẹ cũng đã dạy con học ăn, học nói, học gói, học mở - học làm người bằng những phương thức nghệ thuật đó khiến cho việc tiếp thu của đứa con vừa rất tự nhiên lại vừa có hiệu quả cao giúp cho trẻ tiếp cận đẽ dàng hơn với văn hoá của dân tộc Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các
từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình Người lớn như là chiếc gương để trẻ soi mình vào trong đó Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười, giúp trẻ có thể nhận ra được hành vi của mình là đúng hay là sai Bằng cách đó, ở trẻ dần dần hình thành những thói quen tốt và học được những cách ửng xử đúng đắn Người lớn có thể khen trẻ khi chúng làm đúng và tốt, cổ vũ, động viên kịp thời cho những hành vi đúng đắn hay có những ý tưởng hay của trẻ Khi trẻ làm sai hay nói sai, người lớn tỏ vẻ không bằng lòng
Trang 16bằng ánh mắt, nét mặt nghiêm nghị kèm theo lời nói với giọng điệu nghiêm túc thì trẻ sẽ nhận thức được cái sai của mình và sửa sai
Vốn từ của một ngôn ngữ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng của trẻ Nó tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống
xã hội, trong nghệ thuật Các sự vật, hiện tượng mà trẻ quan sát được trong môi trường sống được in hằn trong trí não của trẻ Nhưng để trẻ biết cái lá có màu xanh, bông hoa có màu đỏ, con cá vàng bơi trong nước, con chim bay trên bầu trời,… nó trở nên đẹp như thế nào thì thông qua ngôn ngữ trẻ sẽ nhận thức được cái hay, cái đẹp đó trong cuộc sống xung quanh mình Từ đó hình thành ở trẻ thái
độ tôn trọng cái đẹp và đồng thời kích thích sự sáng tạo ra cái đẹp ở trẻ
Những hình ảnh tưởng tượng vừa ngây thơ, đôi khi phi lý này không chỉ đem lại cho tuổi thơ niềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi người sau này lớn lên, dù đó là người lao động chân tay, nhà khoa học hay người nghệ sĩ,… phương tiện có hiệu quả nhất để nuôi dưỡng sự tưởng tượng đó là trò chơi Điều đó giúp trẻ có nhiều ấn tượng đẹp và tâm hồn trẻ sẽ càng thêm phong phú Từ đó, trẻ sẽ biết yêu quý và có ý thức giữ gìn những cái hay cái đẹp trong cuộc sống
Khi trẻ được tiếp xúc thường xuyên với từ ngữ trong các tác phẩm văn học như thơ, truyện, ca dao, đồng dao,… trẻ sẽ được chìm vào với thế giới đa dạng màu sắc Bao nhiêu loại người khác nhau, loại người tốt sao gần gũi, mến thương; loại người xấu sao vừa ghét lại vừa sợ… Những phong cảnh xa lạ từ những khu rừng rậm rạp bí hiểm, đến biển cả mênh mông, những lâu đài tráng
lệ, những con thú chưa hề thấy,… tất cả đã nhập vào tâm hồn của các em bé với những màu sắc lung linh kì ảo Tâm hồn các em được rộng mở, trí tưởng được kích thích mạnh mẽ, thôi thúc các em muốn khám phá những điều kì lạ
và lí thú trong các câu chuyện hết sức hấp dẫn Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài đồng dao ngộ nghĩnh có đoạn điệp khúc nhắc đi nhắc lại
dễ nhớ… khiến trẻ muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu Điều đó giúp trẻ phát triển
Trang 17trí tưởng tượng, nó giúp trẻ sáng tạo ra những cái mới, hình thành những ước mơ táo bạo, những hoài bão về cuộc sống tương lai
* Vốn từ của một ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng
và trở thành thành viên của cộng đồng
Những kinh nghiệm lịch sử xã hội đọng lại hay nói cách khác được chứa đựng trong các công cụ lao động, đối tượng lao động, trong các chuẩn mực hành vi các mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau,… nhưng hầu hết được ghi lại để truyền bá cho thế hệ sau nhờ vốn từ của một ngôn ngữ Ngay từ lúc mới đầu, đứa trẻ không thể nhận thức được những gì đang tồn tại xung quanh nó Để thỏa mãn sự hiểu biết đó mà nó thường đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và người xung quanh chúng Vì thế, người lớn trở thành chiếc cầu nối trẻ với cộng đồng, với thế giới thông qua vốn từ của một ngôn ngữ Người lớn đã dẫn dắt trẻ hình thành tình cảm, thái độ, nhận thức về con người, đồ vật gần gũi xung quanh Nhờ sự biết đi, biết nói mà trẻ ngày càng mở rộng phạm
vi tiếp xúc, phát triển vốn từ, phát triển nhận thức đối với thế giới xung quanh
và hình thành “ý thức bản ngã” Trẻ muốn tự lập hơn, thể hiện các hành vi theo
ý nghĩ riêng của mình trong các trò chơi Qua những lời chỉ dẫn của người lớn
mà trẻ dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng đều phải thực hiện Trước tiên, là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trường mầm non Sau đó, là những quy định ngoài xã hội, những gì trẻ được phép làm và không được phép làm
Mặt khác, để bày tỏ những những nhu cầu mong muốn của mình với những thành viên trong cộng đồng, trẻ sử dụng vốn từ để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân mình Điều đó giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi người xung quanh mình
* Ngôn ngữ nói chung vốn từ nói riêng có vai trò đối với việc giáo dục thể lực cho trẻ
Giáo dục thể lực đối với trẻ em là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể của trẻ, việc vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh và có chế độ sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng cường đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất
Trang 18Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, cô giáo và người lớn đã dùng chính vốn từ của ngôn ngữ mẹ đẻ để nhằm hướng dẫn, chỉ bảo trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình đề ra góp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển Đặc biệt, trong giờ thể dục, giáo viên đã tạo điều kiện giúp trẻ thực hiện chính xác các động tác làm cho cơ thể phát triển được cân đối bằng chính lời nói của mình
Ngoài chế độ sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần phải được ăn ngon, ăn đủ chất thì cơ thể của trẻ mới phát triển hoàn thiện được Để động viên, khích lệ trẻ ăn được thì người lớn đóng một vai trò rất quan trọng
1.3 Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4-5 tuổi
Phát triển vốn từ được hiểu là quá trình trẻ lĩnh hội cấu trúc, chức năng của từ đồng thời lĩnh hội các qui ước của xã hội trong việc sử dụng từ để bày
tỏ và tiếp nhận suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng
Việc lĩnh hội vốn từ của một ngôn ngữ bao gồm sự lĩnh hội 3 khía cạnh cơ bản sau: (1) nội dung (vốn từ và nghĩa của từ); (2) hình thái hay cấu trúc của
từ và (3) chức năng của từ trong cấu tạo câu cũng như trong giao tiếp
Giáo dục phát triển vốn từ được hiểu là nội dung giáo dục nhằm nâng cao
sự hiểu biết và khả năng sử dụng vốn từ nói riêng, ngôn ngữ nói chung, cũng như khả năng sưn rdungj từ trong giao tiếp sao cho có hiệu quả và những kỹ năng tiền đọc, tiền viết ban đầu của trẻ
Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự mở rộng giao lưu của trẻ đối với thế giới xung quanh, với con người, với đồ vật và thiên nhiên Việc mở rộng phạm vi tiếp xúc và các mối quan hệ xã hội giúp cho khả năng tri giác của trẻ nhanh nhạy hơn Khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn 4 – 5 tuổi này có những bước tiến mới đáng kể Ở thời kì này, trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần được định vị Trẻ phát âm tốt hơn, ít ê, a, ậm ừ hơn so với thời kì trước Đặc biệt, đã xuất hiện ở lời nói của trẻ những khái quát, kết luận đơn giản một cách mạch lạc, song một số trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm và âm cuối
Trẻ từ 4 – 5, tuổi khả năng nhận thức vốn từ tăng lên một cách đáng kể Theo nghiên cứu của yy Y pratuxevich: 4 tuổi trẻ có 1900 từ và 5 tuổi là 2.500
Trang 19từ Với sự nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành thì vốn từ của trẻ là: 4 tuổi từ 1900 từ đến 2000 từ và 5 tuổi trẻ có từ 2500 từ đến 2600 từ Trẻ học từ mới nhanh hơn, phát âm các từ tốt hơn so với các giai đoạn lứa tuổi trước Chính vì lẽ đó mà vốn từ của trẻ ở giai đoạn này phong phú, bao gồm nhiều từ loại Số lượng các từ loại: danh từ, tính từ, đại từ, trạng
từ được tăng lên một cách đáng kể, trẻ hiểu được ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau và biết sử dụng chúng để thể hiện mối liên hệ đa dạng giữa các sự vật và hiện tượng về thơi gian, định hướng không gian, số lượng, nguyên nhân và kết quả Trẻ có khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo
tự nhiên Trẻ ham học hỏi, thích tìm hiểu về xã hội và tự nhiên Trẻ chủ động giao tiếp ngôn ngữ với những người xung quanh và hay đặt các câu hỏi như: “Như thế nào?”; “Làm gì?”; “Bao giờ?”; “Tại sao?”…
Những câu hỏi, câu trả lời hay những câu nói của trẻ ngày càng được hoàn thiện hơn Số lượng các câu nói đúng ngữ pháp cũng được tăng lên một cách rõ rệt, các thành phần trong câu nói được phát triển Bởi trẻ biết lắng nghe các câu trả lời, câu nói của người khác
Đặc biệt, ở lứa tuổi này trẻ thích tham gia, hòa nhập với tập thể Trẻ hứng thú đặc biệt với việc rèn luyện những kĩ năng vận động mới học được và sử dụng những kĩ năng đó để hoạt động, di chuyển Trẻ biết sử dụng vốn ngôn ngữ của mình để tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè, cô giáo một cách say sưa, nhiệt tình và giao tiếp khéo léo hơn Trẻ có thể diễn tả những hành động phức tạp và hăng hái kể về những điều xảy ra với nó
Khả năng tiếp thu và sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hằng ngày của trẻ ngày càng tốt hơn Trẻ rất thích tưởng tượng, chúng đã biết yêu cái thiện, ghét cái ác Chính vì vậy, trẻ rất thích nghe những câu chuyện về động vật dễ thương, thiện ác phân minh, kết thúc có hậu Trẻ không những tự mình xây dựng cốt truyện mà còn có thể thuật lại những câu chuyện nó đã nghe người khác kể
1.4 Trò chơi học tập
1.4.1 Khái niệm
Có nhiều quan niệm khác nhau về TCHT Trong lí luận dạy học, tất cả
Trang 20những trò chơi có nội dung gắn với nội dung học tập, nó được sử dụng như một phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập cho học sinh, không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi đều gọi là TCHT Hay nói cách khác TCHT là dạng trò chơi có luật chặt chẽ mang tính định hướng đối với sự phát triển trí tuệ
TCHT thực hiện chức năng của hoạt động nhận thức, nó tạo điều kiện cần thiết để ứng dụng, củng cố và luyện tập kiến thức trong các tiết học
Mỗi dạng trò chơi đều có những đặc điểm và có tác dụng nhất định đối với sự hình thành và phát triển tâm lí - nhân cách của trẻ em Về phương diện phát triển trí tuệ, TCHT có thế mạnh hơn cả Nhiệm vụ giáo dục chủ yếu của TCHT là phát triển trí tuệ cho trẻ em
1.4.2 Đặc điểm của trò chơi học tập
TCHT là một dạng hoạt động vì vậy nó mang trong mình những đặc điểm chung của các loại hoạt động: có phương hướng, có mục đích, có ý thức và có dặc điểm chung của trò chơi Đặc điểm của trò chơi nói chung là mang lại cảm xúc chân thực, mạnh mẽ, đa dạng Trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ em niềm vui sướng, thoả mãn, bằng lòng Chơi mà không có niềm vui sướng thì không còn là chơi nữa Ngoài ra TCHT còn có những đặc điểm sau:
- TCHT có luật rõ ràng, do người lớn đặt ra nhằm đạt được mục đích giáo dục và dạy học
- TCHT bao giờ cũng có kết quả nhất định Kết quả đó phải được thực hiện trong việc giải quyết nhiệm vụ của TCHT, đồng thời phải mang lại niềm vui, sự thoả mãn cho những người tham gia TCHT Kết quả của TCHT thể hiện sự cố gắng trong suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo trong việc nắm kiến thức và trong tính hợp tác của nhóm trẻ
- TCHT có cấu trúc chặt chẽ, bao gồm các yếu tố: Mục đích của TCHT (Nhiệm vụ nhận thức); Hành động chơi; Luật chơi và tổ chức chơi
- Trong TCHT, vị trí của mọi thành viên tham gia trò chơi đều như nhau
và được xác định bằng luật chơi Việc thực hiện luật chơi là tiêu chuẩn khách quan để đánh giá khả năng của trẻ em
Trang 21- Trong TCHT, sự thống nhất giữa hành vi thật và hành vi chơi rõ ràng Trong quá trình chơi nếu trẻ không tuân thủ theo luật chơi thì sẽ không đạt được mục đích của trò chơi Vì thế trong TCHT, việc kiểm tra lẫn nhau dễ dàng hơn và có hiệu quả hơn vì luật chơi được quy định rõ ràng
1.4.3 Vai trò của trò chơi học tập trong việc giáo dục trẻ
Có thể nói rằng, trò chơi học tập là một hoạt động có tác động mạnh mẽ đến trẻ em, nó là phương tiện giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ em Trước hết, trò chơi học tập cung cấp cho trẻ những kiến thức xã hội cần thiết cho cuộc sống của trẻ: Trẻ tập đi mua bán, tập làm nhà cửa, tập cưỡi trâu, cưỡi ngựa trong tưởng tượng, trẻ tập làm quen với các nghề nghiệp trong xã hội… Trong khi chơi, trẻ tiếp thu được những điều hay lẽ phải, biết yêu cái đẹp và nhìn nhận cuộc sống một cách phong phú hơn, hơn nữa trẻ còn rèn luyện được những thói quen cần thiết cho cuộc sống hiện thực không chỉ ở hiện tại mà còn cần thiết cả trong tương lai
Khi trẻ hòa mình vào thế giới trò chơi, trẻ sẽ được trải nghiệm với các mối quan hệ Đặc biệt, trong trò chơi học tập, trẻ được giáo dục có thái độ đúng đắn trong các mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với thiên nhiên Nói cách khác, đó là thái độ với sinh thái thiên nhiên và đối với sinh thái
xã hội Vai trò giáo dục nhân cách văn hoá cho trẻ em của trò chơi học tập là rất có hiệu quả
Thật vậy, trò chơi học tập rất giàu yếu tố tưởng tượng Điều này cũng rất phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lí của các em Đối với trẻ em vốn có trí tưởng tượng phong phú nên mọi vật đều như có hồn Chúng có thể trò chuyện với cỏ cây, hoa lá, các loài vật, đồ vật xung quanh và hình dung rất hồn nhiên, chân thực rằng đó là những cuộc đối thoại hết sức thú vị như được trò chuyện với những người bạn thân thiết của mình Trong khi chơi, trẻ biết sử dụng vật này để thay thế cho vật kia, biết đóng các vai khác nhau khi thì vai người mẹ, khi thì vai người bác sĩ, học sinh, người bán hàng, có thể trẻ sẽ tưởng tượng ra các điều khác nhau mà đối với trẻ cũng trở nên thú vị hơn,… Với đầu óc giàu sức
Trang 22tưởng tượng, trẻ thấy được các sự vật hữu hình và vô hình và cả thế giới ý niệm của con người…
Hơn nữa, trò chơi học tập còn là phương tiện để phát triển ngôn ngữ mạch lạc, dùng từ chính xác và có hiệu quả Bởi khi tham gia vào trò chơi, trẻ được
ca hát, nhảy múa, đối đáp, hay phải sáng tạo từ ngữ,… Qua đó, vốn từ của trẻ trở nên phong phú, ngôn ngữ mạch lạc hơn
Trò chơi vui - khỏe - khéo léo là những trò chơi học tập tổng hợp vì mỗi trò chơi kết hợp nhiều kỹ năng vận động thể lực Trẻ trở nên nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo trong các hoạt động và phản xạ nhạy bén hơn khi tự mình nhập cuộc vào các trò chơi vận động Trò chơi học tập nhằm mục đích phát huy tính tích cực chủ động của trẻ, giúp trẻ mở rộng các mối quan hệ như: “Cướp cờ”,
“Kéo co”, hay “Hái quả”, “Chui vào hang bắt chuột đồng”, hoặc “Chuột túi nhảy qua rãnh nước - tới đích lấy cờ”
Trò chơi học tập còn có ý nghĩa luyện kĩ năng cho trẻ Quan sát kĩ ta thấy, trò chơi thường được lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi hàng chục lần mà trẻ vẫn không thấy chán Chơi hết cuộc, các em lại chơi lại và sự lặp đi lặp lại đó tạo kĩ năng thành thạo, trẻ sẽ ấn tượng về thực tiễn cuộc sống được củng cố vững chắc Trò chơi học tập có nhiều thể loại phù hợp với các sở thích, cá tính khác nhau của nhiều đối tượng người chơi như sôi nổi, điềm đạm hay trầm tĩnh Mỗi trò lại có một quy luật riêng, mang những sắc thái khác nhau khiến trẻ em chơi suốt ngày mà không thấy chán
Đối với trẻ em của chúng ta ngày nay, trò chơi học tập còn góp phần hình thành nên nhân cách văn hóa mang bản sắc dân tộc Việt Nam Trong thời buổi đất nước đang hội nhập, công nghệ ngày một hiện đại hơn cùng với những linh kiện điện tử máy móc công phu nhưng cũng không thể thiếu được các trò chơi học tập truyền thống Nó chính là sự nối tiếp các giá trị văn hóa dân tộc từ đó góp phần tạo dựng nên nhân cách văn hóa dân tộc cho trẻ em
Trò chơi học tập là một bộ phận khăng khít với đời sống của trẻ, nó có tác dụng góp phần hun đúc nên tâm hồn, phát triển thể chất cho trẻ tuổi mẫu giáo, lứa tuổi mà vui chơi là một hoạt động giữ vai trò cực kì quan trọng trong sự phát
Trang 23triển của chúng Tuổi thơ là một thời kì mà đứa trẻ có một tâm hồn nhạy cảm, khiếu thẩm mĩ đang nhen nhóm Đây chính là cơ hội quý giá để trẻ tiếp nhận những nét đặc sắc trong văn hoá dân tộc cũng như những nét đặc sắc cuare thế giới nói chung một cách tự nhiên và nhẹ nhàng, nhất là lại được trải nghiệm chính ngay trong hoạt động vui chơi, một hoạt động mà trẻ rất thích thú
1.5 Giáo dục tích hợp cho trẻ mầm non 4-5 tuổi
1.5.1 Khái niệm về giáo dục tích hợp
“Giáo dục tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở người học những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho người học nhằm phục vụ cho quá trình họp tập tương lai, hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động Như vậy, giáo dục tích hợp làm cho học tập có ý nghĩa” [GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC TÍCH HỢP Ở BẬC HỌC MẦM NON; tr 2,3]
Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó, giáo dục tích hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những động tác để lĩnh hội một cách toàn vẹn nhất Giáo dục tích hợp sàng lọc những thông tin có ích để hình thành năng lực và mục tiêu tích hợp
1.5.2 Đặc trưng của giáo dục tích hợp
Giáo dục tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa, hình thành cho người học những năng lực chung giúp họ có khả năng huy động một cách hiệu quả vốn kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một tình huống và có thể đối mặt với một tình huống khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Giáo dục tích hợp làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt, giúp người học phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn
Giáo dục tích hợp dạy cho người học biết sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa với họ và biết thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Chính sự đan cài, lồng ghép của nhiều môn học với nhau làm giảm bớt sự chồng chéo về nội dung học tập khiến người học cảm thấy hứng thú và cố gắng vượt qua các cản trở để chiếm lĩnh kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người
Trang 241.5.3 Quan điểm giáo dục tích hợp trong giáo dục mầm non
Quan điểm giáo dục tích hợp nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con người như một thể thống nhất, nó đối lập với cách nhìn nhận chia cắt rạch ròi các sự vật và hiện tượng Tích hợp không chỉ là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà là sự xâm nhập, đan xen, đan cài, lồng ghép các đối tượng hay các bộ phận của một đối tượng vào nhau, tạo thành một chỉnh thể Trong đó không những các giá trị của từng bộ phận được bảo tồn và phát triển mà đặc biệt là ý nghĩa thực tiễn của toàn bộ chỉnh thể đó được nhân lên
Trong xu hướng phát triển và yêu cầu đổi mới của ngành Giáo dục Mầm non có nhiều cách tiếp cận mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục trẻ Một trong những cách tiếp cận mới được đề cập và ứng dụng phổ biến trong thực tiễn giáo dục mầm non là tiếp cận tích hợp theo chủ đề Giáo dục tích hợp theo chủ đề dựa trên quan điểm tiến bộ lấy trẻ làm trung tâm, khai thác tiềm năng vốn có của trẻ Giáo dục cần dựa vào các đặc điểm cá nhân, phù hợp với hứng thú, nhu cầu, nguyện vọng và năng khiếu trên tinh thần tự do, tự nguyện, chủ động tích cực tham gia hoạt động của đứa trẻ Giáo dục tích hợp ở bậc học Mầm Non chính là quá trình tác động sư phạm một cách phù hợp với sự phát triển tình cảm, đạo đức và trí tuệ của trẻ, cho trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động theo chủ đề nhằm cung cấp cho trẻ
cơ hội được học tập và luyện tập để trở thành “nhà nghiên cứu”, trẻ tích cực, năng động trong việc tìm hiểu, khám phá, kích thích trẻ tư duy tích cực, vận được các kiến thức, kĩ năng, lựa chọn và đưa ra quyết định trong hoàn cảnh có
ý nghĩa đối với cuộc sống thực của chúng
Quan điểm tích hợp trong giáo dục Mầm non cần được hiểu và thể hiện trong quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ Xây dựng chương trình giáo dục mầm non không xuất phát từ lôgíc phân chia các bộ môn khoa học như ở phổ thông
mà phải xuất phát từ yêu cầu hình thành những năng lực chung nhằm hướng tới
Trang 25sự phát triển của trẻ, đặt nền tảng ban đầu của nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Triển khai chương trình giáo dục mầm non phải chú ý đến các nguyên tắc
cơ bản chỉ đạo trong giáo dục tích hợp là lấy trẻ làm trung tâm của quá trình giáo dục và phát huy tính tích cực, tính sáng tạo của trẻ trong các hoạt động của chúng (trường mầm non Tích hợp các hoạt động khác nhau của trẻ theo các chủ đề gần gũi thân thuộc xuất phát từ hànghứng thú, nhu cầu của trẻ Tăng cường cho trẻ được trải nghiệm và khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan, trên cơ sở để phát triển ngôn ngữ, tư duy và tưởng tượng cho trẻ
Tổ chức cho trẻ hoạt động một cách tự nhiên, hài hòa dưới nhiều hình thức khác nhau thiết thực và phù hợp với từng cá nhân nhằm hình thành cho trẻ những năng lực chung tạo điều kiện cho trẻ phát triển hài hòa về mọi mặt như thể chất, xã hội, tình cảm và trí tuệ
1.6 Tiểu kết chương 1
Chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến
đề tài Đó là các vấn đề: khái niệm về từ, vai trò từ đối với sự phát triển của trẻ; đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 4-5 tuổi; trò chơi học tập; giáo dục tích hợp cho trẻ mầm non 4-5 tuổi Đây là những vấn đề lí thuyết cơ bản để chúng tôi triển khai nội dung các chương 2 và 3