1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng vận dụng ttll phân tích cho hs lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

99 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kĩ năng vận dụng ttll phân tích cho hs lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện
Tác giả Nguyễn Thị Huê
Người hướng dẫn Tiến sĩ Phạm Thị Anh
Trường học Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 703,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN .... Lịch sử nghiên cứu về

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Nguyễn Thị Huê

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo trường Đại học Hồng Đức, các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những tri thức khoa học bổ ích cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi tới Tiến sĩ Phạm Thị Anh tình cảm biết ơn sâu sắc nhất- người đã hướng dẫn dạy bảo tôi rất tận tình, khoa học trong suốt quá trình làm luận văn

Xin cảm ơn Ban Giam hiệu và các thầy cô giáo tổ Văn trường THPT Trường Thi thành phố Thanh Hóa đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ khảo sát và thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ tấm lòng tri ân với các bạn đồng khoa, đồng khóa, anh chị em đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã

hỗ trợ động viên tôi hoàn thành khóa học và luận văn này

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huê

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

2.1 Lịch sử nghiên cứu về kĩ năng sử dụng các TTLL trong bài văn nghị luận 3

2.2 Lịch sử nghiên cứu về kĩ năng sử dụng TTLL phân tích 5

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu 6

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5.2 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 7

7 Đóng góp của đề tài 7

8 Kết cấu của đề tài 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Những vấn đề chung văn nghị luận 9

1.1.2 Quan niệm về lập luận 18

1.1.3 TTLL phân tích 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Khảo sát nội dung tổ chức rèn luyện TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong bài làm văn nghị luận về một tác phẩm truyện 31

Trang 4

1.2.2 Thực trạng của việc tổ chức rèn luyện 34

Chương 2 TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN 37

2.1 Tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh tri thức 37

2.1.1 Tri thức về văn nghị luận và tri thức về TTLL phân tích 37

2.1.2 Các hình thức, các thủ pháp và phương pháp để tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức 39

2.2 Tổ chức cho HS rèn luyện kỹ năng vận dụng TTLL phân tích qua hệ thống bài tập 41

2.2.1 Vai trò và nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 41

2.2.2 Xây dựng hệ thống bài tập 47

2.2.3 Tổ chức thực hiện hệ thống bài tập 50

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66

3.1 Mục đích thực nghiệm 66

3.2 Địa bàn thực nghiệm 66

3.3 Nội dung thực nghiệm 66

3.4 Phương pháp thực nghiệm 67

3.5 Kết quả thực nghiệm 69

3.5.1 Giáo án trong dạy học thực nghiệm và thực nghiệm đối chứng 69

3.5.2 Các tiêu chí đánh giá 78

3.5.3 Các phương tiện đánh giá 79

3.5.4 Kết quả đánh giá thực nghiệm 80

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 BGD &ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1: Kết quả thống kê dự giờ ở các trường THPT 33

Bảng 2: Kết quả khảo sát giáo án của một số GV 33

Bảng 3: Những nội dung cần thực nghiệm trong hai đợt thực nghiệm 67

Bảng 4: Kết quả thực nghiệm……… 84

Sơ đồ 1: Hệ thống bài tập rèn luyện TTLL Phân tích .50

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn nghị luận là một loại văn trong đó người nói (người viết) đưa ra

những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận

mà làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình

và hành động theo những điều mà mình đề xuất Đây cũng là một trong 6 kiểu văn bản được dạy học trong chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn phổ thông, bên cạnh các kiểu văn bản khác như: tự sự, mêu tả, biểu cảm, thuyết minh, điều hành Nếu các kiểu văn bản trên dùng hình tượng, hình ảnh, xúc cảm để tái hiện hiện thực thì nghị luận dùng lí lẽ, sự lô-gic, phán đoán…nhằm làm sáng tỏ một ý kiến, quan điểm, tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn của bài văn nghị luận chính là lý lẽ, là cách thức lập luận

Nói một cách khác, nghị luận là kiểu văn bản được con người sử dụng nhằm biện hộ cho mình, thuyết phục người tiếp nhận qua đó giải quyết các vấn đề về thế giới khách quan Để đạt được mục đích ấy, người viết phải thực hiện một quy trình nêu sự thực, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai, tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật, tức là phải thực hiện hành động lập luận nhằm tường minh nội dung được nghị bàn Cũng vì thế, lập luận là một trong những hành động cơ bản được người nghị luận sử dụng khi tạo lập văn bản nghị luận (VBNL) Nhờ có hành động này người nghị luận dẫn dắt người tiếp nhận đi đến những chân lí khách quan khoa học một cách chính xác, thuyết phục Cho nên lập luận là nhân tố quan trọng trong bài văn nghị luận Bởi lẽ nghị luận là bàn luận, là nói lí lẽ, là thuyết phục người đọc bằng logic chặt chẽ Và vì thế, TTLL (TTLL) cũng như sự phối hợp của các TTLL trong bài văn nghị luận luôn là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong dạy học văn nghị luận cho HS (HS) trong mọi cấp học

1.2 Mặc dù TTLL có ý nghĩa quan trọng, chi phối đến hiệu quả bài làm

văn nghị luận của HS nhưng kỹ năng sử dụng các TTLL và việc dạy học các TTLL trong làm văn nghị luận còn nhiều tồn tại, cần khắc phục

Trang 8

Trong thực tế, HS đã được trang bị một hệ thống kiến thức về lập luận nhưng đa số chủ thể học tập chưa biết vận dụng tri thức vào quá trình sáng tạo HS cũng chưa phân biệt được các TTLL thường sử dụng trong bài văn nghị luận, nhầm lẫn giữa TTLL phân tích với chứng mình hoặc, giữa phân tích với bác bỏ…

Bên cạnh đó là hạn chế dễ nhận thấy trong giờ dạy học lý thuyết, một bộ phận GV (GV) vẫn còn nhiều lúng túng Biểu hiện rõ nhất của thái độ trên là cách tổ chức hoạt động hình thành kiến thức, nhất là kiến thức về cách thực hiện các TTLL, sự lí giải kiến thức khái quát thành các bước thực hiện của GV chưa thỏa đáng GV chưa tạo được hứng thú cho HS trong quá trình học tập Mặt khác việc rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL cho các em cũng chưa được quan tâm, chú trọng Ngay trong các giờ viết bài, GV mới chỉ hướng dẫn HS cách lập dàn ý, tìm ý mà không chú trọng tới hoạt động hứng dẫn các em vận dụng và sử dụng các TTLL để tổ chức lập luận

Sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn từ trung học cơ sở (THCS) đến trung học phổ thông (THPT) đã đưa các TTLL thành từng nội dung cụ thể, nhằm giúp HS hiểu sâu bản chất các thao tác cụ thể, từ đó vận dụng tốt trong quá trình tạo lập văn bản Ở THCS, SGK đã cung cấp cho HS hai TTLL là thao tác chứng minh và thao tác giải thích Đến THPT cung cấp thêm 4 TTLL : Phân tích, So sánh, Bác bỏ, Bình luận Trong 4 TTLL ấy, phân tích là TTLL được dạy học ở CT, SGK Ngữ văn 11, giữ vai trò quan trọng, chi phối đến hiệu quả bài làm văn của HS

Trong đời sống, phân tích là hình thức lập luận cơ bản được dùng trong mọi lĩnh vực, nhằm để khám phá, lý giải tất cả các hiện tượng trong thực tế khách quan Phân tích cũng là phương pháp để tiếp cận, dạy học tiếng Việt nói riêng, ngôn ngữ nói chung; đồng thời cũng góp phần quan trong việc phát triển tư duy cho HS Đối với văn nghị luận, đặc biệt là bài văn nghị luận về một tác phẩm tự sự, TTLL phân tích càng có ý nghĩa quan trọng trong việc

Trang 9

tìm hiểu một khía cạnh nào đó trong tác phẩm, dù là nhân vật, tình huống, chi tiết hay ngôn ngữ trần thuật của nhà văn

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài Rèn luyện kĩ năng vận dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

Trong cuốn “Muốn viết được bài văn hay” của nhóm tác giả Nguyễn

Đăng Mạnh chủ biên (1993) đã đề cập đến các thao tác nghị luận chủ yếu Bao gồm: chứng minh, phân tích, giải thích, bình luận, bình giảng Tác giả cũng chỉ ra “Thao tác nghị luận không phải là thao tác đơn lọc Nó bao gồm một chuỗi động tác tư duy khác nhau nhằm đạt được mục đích nghị luận…Cố nhiên khi đã nói đến một kiểu bài nghị luận nào đó chủ yếu dùng thao tác nghị luận của kiểu bài đó thì có nghĩa là nó dùng các thao tác nghị luận khác

ở vị trí thứ yếu hay phụ thuộc” [19;tr 28]

Cuốn sổ tay “Tiếng Việt Phổ thông trung học” của Trọng Lạc, Lê Xuân Thại xuất bản 1994 cũng bàn đến lí thuyết lập luận nhưng lại quan tâm đến bản chất tu từ học của lập luận chưa bàn đến các thao tác lập luận

Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên 1992 - 1996 cho giáo viên cấp 2 phổ

thông một số vấn đề nghị luận ở cấp 2 của tác giả Nguyễn Thanh Hùng 1995

Trang 10

đã chỉ ra tầm quan trọng của việc kết hợp các thao tác lập luận trong văn nghị luận “Văn nghị luận sản sinh trên cơ sở hợp thành nhiều thao tác trí tuệ…một

số tác giả dựa vào thao tác nghị luận như chứng minh, phân tích, giải thích, bình giảng, bình luận để xác định kiểu bài nghị luận Tạm thời có thể dùng cách phân chía này nhưng cũng cần thấy rõ rằng kiểu bình luận không phải là thao tác nghị luận thuần khiết, vả lại các thao tác nghị luận chưa phản ánh đầy

đủ tính phong phú, phức tạp của các kiểu bài và dạng văn nghị luận…thực chất các thao tác tư duy, thao tác nghị luận, hình thức phô diễn tư tưởng và lí trí, tình cảm xuyên thấm, kết hợp với nhau tùy theo từng mức độ chính phụ, đậm nhạt, trước sau tùy thuộc vào đặc trưng của từng kiểu bài” [11; tr.45]

Cũng trong cuốn “Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông” của nhóm tác giả Nguyễn Quang Ninh (chủ biên), Nguyễn

Thị Ban, Trần Hữu Phong xuất bản năm 2000 đã biên soạn hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận, trong đó có nhóm bài tập luyện sửa chữa lỗi lập luận trong đoạn văn nghị luận Các TTLL phân tích và bình luận và sự kết hợp của chúng trong bài văn nghị luận văn học chưa được quan tâm nhiều ở

có hiệu quả để tạo nên sức thuyết phục cho văn bản” [6; tr 201]

Tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong “Giáo trình Làm văn” xuất bản năm

2001 cũng dành hẳn một chương sách để viết về văn nghị luận Trong đó các tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của lập luận trong văn nghị luận Đề bài văn đảm bảo tính có lí, cần thiết phải lập luận và đưa ra một số lưu ý khi viết bốn bào kiểu bài cụ thể: kiểu bài giải thích, kiểu bài chứng minh, kiểu bài phân tích và kiểu bài bình luận

Trang 11

Như vậy, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng sử dụng các TTLL trong BVNL Các tác giả đã thấy được vai trò của việc kết hợp các TTLL trong văn nghị luận Tuy nhiên, do quan niệm chung về cách phân chia kiểu bài nghị luận theo các thao tác tư duy đơn lẻ nên các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc lưu ý vai trò của sự kết hợp các TTLL phân tích

2.2 Lịch sử nghiên cứu về kĩ năng sử dụng TTLL phân tích

Đối với thể loại văn nghị luận, đặc biệt là những vấn đề về dạy học tạo lập văn bản nghị luận đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề rèn luyện

kĩ năng làm văn nghị luận có giá trị như Rèn kĩ năng làm văn nghị luận của tác giả Bảo Quyến (2002), Kĩ năng làm văn nghị luận của Nguyễn Quốc Siêu, Nâng cao kĩ năng làm văn (2005) của nhóm tác giả Hầu hết các công trình

này đều chú ý đến vấn đề rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho HS trong làm văn nghị luận mà cụ thể là vấn đề liên kết ngôn ngữ trong văn nghị luận được bàn đến khác kĩ lưỡng SGK và SGV Ngữ văn THPT cũng đã định hướng cho GV

và HS TTLL phân tích ở một số phương diện: định nghĩa, các bước tiến hành… Đây có thể xem là những định hướng bước đầu, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình làm bài văn nghị luận

Luận án Tiến sĩ “Rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông” của tác giả Phạm Kiều Anh cũng đã

nghiên cứu một cách khá cụ thể, sâu sắc về các TTLL, trong đó có TTLL phân tích Trên cơ sở khái quát những vấn đề chung nhất về TTLL này, tác giả khẳng định: “Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuần chỉ là tách nhỏ các mặt nội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để

có cơ sở khái quát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý Muốn nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổng hợp” [ 52;tr 15]

Nhìn chung, TTLL phân tích đã được nghiên cứu, xem xét ở nhiều góc

độ khác nhau, trong mối quan hệ với các TTLL khác Tuy nhiên, dựa vào sự phân chia thành các kiểu bài nghị luận như ở THCS (nghị luận về một đoạn

Trang 12

thơ, bài thơ; nghị luận về một tác phẩm truyện; nghị luận về một ý kiến bàn

về văn học) thì TTLL phân tích về một tác phẩm truyện, trong đó đặc biệt là lớp 11 vẫn là vấn đề mới Vấn đề này cần phải được xem xét kĩ lưỡng hơn, trên nhiều phương diện, cụ thể là: cách dạy học tri thức lý thuyết và việc vận dụng hệ thống bài tập như một phương diện cơ bản để rèn luyện TTLL phân tích cho HS lớp 11

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là:

Từ việc xác định cơ sở lý thuyết khoa học về TTLL trong VBNL để tổ chức rèn luyện vận dụng TTLL phân tích, nhằm nâng cao chất lượng diễn đạt cho HS lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là TTLL phân tích và quá trình rèn

luyện kỹ năng sử dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong bài làm văn nghị

luận về tác phẩm truyện

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu, phân tích các cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc dạy học TTLL phân tích

- Tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong BVNL về một tác phẩm truyện

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- TTLL phân tích và cách thức rèn luyện kỹ năng vận dụng TTLL phân tích trong bài làm văn nghị luận về một tác phẩm truyện TTLL phân tích; Luyện tập TTLL phân tích

- Quá trình thực nghiệm được tiến hành ở một số trường thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai một cách khoa học và hệ thống những nhiệm vụ đã nêu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Phương pháp này được sử dụng khi tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng TTLL phân tích trong dạy học văn nghị luận nói chung, dạy học nghị luận về một tác phẩm truyện nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :

+ Phương pháp điều tra và khảo sát

Sử dụng phương pháp này, luận văn nhằm tìm hiểu việc học tập và giảng dạy, rèn luyện kỹ năng phân tích trong văn nghị luận cho HS lớp 11, từ đó hiểu được thực trạng dạy học Làm văn ở trường THPT

+ Phương pháp thống kê

Đây là một trong những phương pháp của Toán học Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực nghiệm

Trang 14

- Về ý nghĩa xã hội:

Ngoài mục đích trang bị cho HS những kĩ năng cơ bản trong tổ chức tạo lập VBNL, hướng tới cho HS thái độ độc lập, sáng tạo, biết cách thể hiện suy nghĩ, thái độ quan điểm của bản thân một cách chính xác

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kĩ năng vận dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

Chương 2: Tổ chức rèn luyện kĩ năng vận dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẬN DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH CHO HỌC SINH LỚP 11 TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Những vấn đề chung văn nghị luận

1.1.1.1 Quan niệm về văn nghị luận và đặc trưng của văn nghị luận

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn nghị luận

- “Văn nghị luận là một loại văn trong đó người viết đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những ý kiến mà mình đề xuất” [2, tr.137]

- “Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái

độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục”

- Phạm vi, nội dung bàn luận: là những vấn đề liên quan đến văn học hoặc chính trị, đạo đức lối sống…

- Mục đích: thuyết phục người đọc, người nghe hiểu, tin, tán đồng và hành động theo mình

Trang 16

1.1.1.2 Các yêu cầu của bài văn nghị luận

Đặc điểm của bài văn nghị luận đã được nghiên cứu và trình bày tương đối đầy đủ trong các giáo trình Làm văn, SGK Ngữ văn THCS và THPT Vì vậy, trong mục này, chúng tôi chỉ khái quát những vấn đề chính về đặc điểm của bài văn nghị luận làm tiền đề để triển khai mục tiêu của đề tài

Nhìn một cách khái quát nhất, bài văn nghị luận cần phải đạt được một

số yêu cầu sau:

a Phải xây dựng được luận điểm, luận cứ, và lập luận

Vì là sản phẩm của tư duy logic và hướng tới mục đích thuyết phục người đọc, người nghe nên bài văn nghị luận phải xây dựng được luận điểm,

luận cứ và lập luận

* Luận điểm (còn gọi là ý lớn) là tư tưởng, quan điểm, chủ trương của

tác giả về một vấn đề nào đó Luận điểm là linh hồn của một bài văn, nó thống nhất các phần, các mục trong bài văn thành một khối

* Luận cứ là lý lẽ và dẫn chứng được đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Lý

lẽ là những đạo lý, lẽ phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sự vật, sự việc, số liệu, nhân chứng, bằng chứng… để chứng minh, xác nhận cho luận điểm Dẫn chứng phải tiêu biểu, xác thực, đáng tin cậy

Ví dụ:

Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh đã đưa ra những lý lẽ và dẫn

chứng tiêu biểu về tội ác của thực dân Pháp trên các phương diện của đời sống: về kinh tế, về chính trị Mỗi phương diện này đều có những dẫn chứng chứng minh cụ thể

* Lập luận là cách nêu luận điểm và vận dụng lý lẽ, dẫn chứng sao cho

luận điểm được nổi bật và thuyết phục.Lập luận là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn

bộ nội dung văn bản, là một trong những căn cứ để đánh giá giá trị của bài văn nghị luận

Trang 17

b Sử dụng các thao tác lập luận

Tư duy logic và tư duy hình tượng chính là hai hình thức giúp con người nhận thức thế giới xung quanh Văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, giúp cho việc phát triển tư duy và nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong đời sống Một bài văn nghị luận bao giờ cũng phải tập trung vào một vấn đề nào đó, có thể đó là vấn đề xã hội hoặc văn học Và để thuyết phục người đọc, người nghe hiểu, tin và hành động theo mình, người viết phải sử dụng thành công các thao tác lập luận

CT, SGK Ngữ văn phổ thông tập trung rèn luyện cho HS 4 thao tác lập luận chính: TTLL giải thích, TTLL chứng minh (lớp 7), TTLL tổng hợp (lớp 9), TTLL phân tích, TTLL so sánh, TTLL bình luận, TTLL bác bỏ (lớp 11)

1.1.1.3 Những đặc điểm, yêu cầu của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện

a Đặc điểm

Trong các kiểu bài nghị luận văn học, nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) được dạy học từ cấp THCS, trong đó chủ yếu hướng dẫn HS cách thức, các bước làm bài văn nghị luận về một nhân vật văn học Tuy nhiên, việc rèn luyện cách thức, thao tác làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hay đoạn trích) cần phải dựa trên những đặc điểm của tác phẩm truyện Nhìn chung, đặc điểm của một tác phẩm truyện được khái quát trên các phương diện sau: nhân vật, cốt truyện, lời kể Bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện được dựa trên những đặc điểm cơ bản của thể loại này, tức là hướng tới các vấn đề cơ bản liên quan đến nhân vật, cốt truyện, tình huống, sự việc hay ngôn ngữ kể chuyện

Vì thế, nhìn một cách chung nhất, nghị luận một tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể Những nhận xét đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát Các nhận xét, đánh giá về

Trang 18

tác phẩm truyện trong bài văn nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục

Bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện thường chú ý tới các phương diện nội dung sau:

* Hình tượng nhân vật

Trong tác phẩm truyện, nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu ân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược, sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từng lúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tác phẩm

Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm Cám, Thúy Vân, Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằng bán tơ, viên quan, mụ quản gia ) hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôi trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình- ta trong ca dao )

Nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống

và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật muốn thể hiện

Bài văn nghị luận về một nhân vật cần chú ý tới việc tìm hiểu các nhân vật ở những phương diện sau:

- Hoàn cảnh sống, lai lịch, tên gọi của nhân vật:

Đây là những thông tin ban đầu, có ý nghĩa quan trọng khi tìm hiểu về

nhân vật Chẳng hạn, khi phân tích nhân vật viên quản ngục (Chữ người tử tù

- Nguyễn Tuân), GV cần hướng dẫn để HS khái quát được những thông tin liên quan đến nhân vật Đó là một nhân vật không có tên riêng, chỉ được gọi

Trang 19

bằng chức danh, công việc Quản ngục là một chức danh nhỏ, có nhiệm vụ trông coi nhà giam, trông coi tù nhân Ông sống trong môi trường ngục tù, thường xuyên tiếp xúc với cái xấu, cái ác, với sự lọc lừa Vì thế, ông cũng tự nhận mình là “một tên tiểu lại giữ tù” Nhưng, chính hoàn cảnh sống, lai lịch

ấy lại là cơ sở quan trọng để nhà văn có điều kiện khắc họa tính cách nhân vật- tính cách đối lập với hoàn cảnh sống

- Ngoại hình nhân vật

Đó là những chi tiết liên quan đến khuôn mặt, dáng dấp, trang phục của nhân vật Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, cử chỉ, tác phong, diện mạo Ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện nội tâm Ðây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của nhân vật Vì vậy, khi tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân vật cũng thay đổi theo

- Nội tâm nhân vật

Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên trong của nhân vật Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm lí của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong cuộc đời Nội tâm nhân vật chính là một phần tính cách của nhân vật GV cần chú ý hướng dẫn HS cách phân tích nội tâm nhân vật qua các yếu

tố sau:

+ Ngôn ngữ nhân vật

Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác phẩm Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật

Trong các trào lưu văn học hiện thực, việc cá thể hóa nhân vật qua ngôn ngữ nhân vật được nhà văn đặc biệt quan tâm và được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, nhà văn có thể để cho nhân vật lặp đi lặp lại

Trang 20

nhiều lần một số từ hoặc một số câu mà nhân vật thích (Biết rồi, khổ lắm, nói

mãi của cụ cố Hồng trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng), có thể để nhân vật sử

dụng một số từ địa phương, từ nước ngoài, cách phát âm sai nhưng dù sử dụng cách nào, ngôn ngữ của nhân vật cũng phải có sự chọn lọc nhằm đạt đến

sự thống nhất giữa cá thể hóa và khái quát hóa, đồng thời cũng phải phù hợp với hoàn cảnh và tính cách của nhân vật

+ Hành động nhân vật

Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật Ðây là phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách,

lí tưởng, phẩm chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện

Ví dụ: hành động đợi tàu của chi em Liên, An nói lên lòng khao khát một cuộc sống tốt đẹp của những con người nghèo khổ; hành động giết chết Bá Kiến của Chí Phèo nói lên sự thức tỉnh trong giây phút đau đớn, đồng thời cũng là tỉnh táo nhất của Chí

+ Mối quan hệ giữa nhân vật với các nhân vật

Thông qua các mối quan hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật Chẳng hạn, qua sự tiếp xúc với nhân vật Huấn Cao, đặc biệt là hành động cho chữ của ông, viên quản ngục đã thực sự thay đổi Sự thay đổi ấy được thể hiện rõ qua chi tiết “khúm núm”, qua sự “cúi lạy”, qua

“dòng nước mắt” của ông Nói khác đi, chính Huấn Cao đã cảm hóa được viên quản ngục, đã làm thay đổi vị thể trong nhà giam tỉnh Sơn

* Cốt truyện, chi tiết

- Cốt truyện là hệ thống sự kiện ( biến cố) xảy ra trong đời sống của nhân vật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự và tác

Trang 21

phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm văn học

- Chi tiết là những biểu hiện cụ thể, lắm khi nhỏ nhặt, nhưng lại cho thấy tính cách nhân vật và diễn biến quan hệ của các nhân vật, đồng thời cũng thể hiện sự quan sát và nghệ thuật kể chuyện của tác giả Do đó, sự kiện và chi tiết rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sức hấp dẫn, thú vị vừa bộc lộ

ý nghĩa chung

* Lời văn (ngôn ngữ kể chuyện)

- Lời văn là mặt biểu hiện của hình thức trong tác phẩm văn học Chính

vì thế, lời văn luôn gắn bó và thể hiện nội dung tác phẩm Các phương tiện

tổ chức lời văn từ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, các biện pháp tu từ bao giờ cũng phải gắn liền với nội dung cụ thể của một tác phẩm, góp phần đắc lực trong việc biểu đạt nội dung Tuy nhiên, lời văn bao giờ cũng mang đậm dấu

ấn chủ quan của nhà văn, thể hiện cách nhìn cuộc sống và ý đồ sáng tác của tác giả

Trong tác phẩm truyện, lời văn bao gồm nhiều thành phần: lời kể người,

kể việc trong đó yếu tố miêu tả và thuyết minh đặc điểm, giữ vai trò quan

trọng trong việc tái hiện và phân tích sự vật, hiện tượng, chân dung, tâm

trạng Trong lời kể người, kể việc còn xuất hiện lời nhân vật, lời gián tiếp, lời trực tiếp

Như vậy, ở bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện, khi phân tích lời

văn, GV cần chú ý cho HS hiểu được các yếu tố (thành phần): lời giới thiệu, lời kể việc, lời miêu tả, lời đối thoại, lời độc thoại, lời bình luận Các thành

phần, các kiểu loại lời văn này vừa có tính độc lập, vừa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sử dụng đan xen nhau để hướng đến trình bày một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể

Trang 22

hiện một ý nghĩa, nhằm giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê

b Yêu cầu

Ở bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện, ngoài những yêu cầu chung của một bài làm văn nghị luận, cần chú ý tới các yêu cầu sau:

* Nắm được yêu cầu chung của một bài văn nghị luận

Yêu cầu chung của bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện được thể hiện ngay trong yêu cầu của đề bài Đó có thể là các yêu cầu nghị luận về nhân vật, về chi tiết, về ngôn ngữ kể chuyện… Việc nhận diện, nắm vững những yêu cầu chung này chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả bài văn của HS

* Bài làm cần đầy đủ các thành phần của một bài văn nghị luận

- Đặt vấn đề: giới thiệu tác phẩm và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình.Chẳng hạn, với đề bài: “Suy nghĩ của anh/ chị về nhân vật viên quản ngục trong “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân), phần mở bài có thể triển khai theo hướng giới thiệu về tác giả, tác phẩm, nhân vật theo hướng sau:

Nguyễn Tuân được mệnh danh là nhà văn suốt đời đi tìm cái Đẹp Nhân vật của ông, dù trước hay sau cách mạng, đều là những bậc tài hoa, tài tử

“Chữ người tử tù” là tác phẩm tiêu biểu nhất cho sự nghiệp sáng tác của ông trước cách mạng Qua cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa những con người ở những vị thế khác nhau trong chốn ngục tù, Nguyễn Tuân đã tập trung ca ngợi vẻ đẹp của Huấn Cao, của viên quản ngục, đồng thời khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng với cái thấp hèn; thể hiện khát vọng thoát khỏi cuộc sóng của xã hội đương thời Tác phẩm không nhiều nhân vật, trong đó nhân vật viên quản ngục được nhà văn xây dựng khá đặc biệt, được so sánh như

“một thanh âm trong trẻo còn sót lại giữa một bản đàn mà ở đó mọi nhạc luật đều hỗn độn, xô bồ”

- Giải quyết vấn đề: Bài làm phải nêu được các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ

Trang 23

tiêu biểu và xác thực Chẳng hạn, với đề bài trên, bài làm cần phải nêu và phân tích được các nội dung chính, làm rõ nhân vật viên quản ngục:

+ Lai lịch, tên gọi, hoàn cảnh sống

+ Ngoại hình

+ Tính cách: đam mê cái đẹp, say mê nhân cách và tài năng của Huấn Cao, dũng cảm, phục thiện - hướng thiện…

- Kết thúc vấn đề:

Người viết phải nêu được nhận xét, đánh giá chung về tác phẩm truyện

* Phải thể hiện được sự cảm thụ, sự đánh giá của người viết về tác phẩm Đây là yêu cầu không thể thiếu trong một bài làm văn nghị luận của HS Tuy nhiên, với bài làm văn nghị luận về một tác phẩm truyện, cần có sự cảm thụ, đánh giá của người viết về tác phẩm trên các phương diện đặc trưng của thể loại: đánh giá về nhân vật, về chi tiết, về sự việc, về tình huống, về ngôn ngữ kể chuyện…

Ví dụ, ở đề bài về nhân vật viên quản ngục, HS có thể đánh giá nhân vật này dựa trên các gợi ý sau:

- Nhân vật viên quản ngục có mối quan hệ như thế nào với nhân vật Huấn Cao?

- Thái độ “biệt đãi” Huấn Cao của viên quản ngục liệu có mâu thuẫn không với vị thế của ông?

- Có thể hiểu hành động “khúm núm” của viên quản ngục khi cất giữ những đồng tiễn kẽm đánh dấu ô chữ như thế nào?

- Tại sao viên quản ngục lại vái lạy Huấn Cao sau khi Huấn Cao cho chữ

và khuyên ông những lời khuyên chân thành? Hành động ấy có ý nghĩa gì?

* Giữa các đoạn, các phần trong bài văn phải có sự liên kết hợp lý, tự nhiên

Yêu cầu này buộc HS phải lựa chọn cách diễn đạt mạch lac, cách dùng

từ, viết câu, dựng đoạn phù hợp với luận điểm, luận cứ, luận chứng Bên cạnh

Trang 24

đó, bài viết cũng phải vận dụng các phương tiện liên kết câu và liên kết đoạn văn hợp lý, khoa học…Đây là yêu cầu liên quan trực tiếp đến việc sử dụng các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận

1.1.2 Quan niệm về lập luận

1.1.2.1 Những tên gọi khác nhau về lập luận

Lập luận cũng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu ngôn ngữ học Tìm hiểu lập luận với tư cách là đối tượng của ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những quan niệm khác nhau Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó Lập luận là một hoạt động bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” [18;tr 21] Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành động ngôn ngữ được con người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hay phán đoán nào đó nhằm tạo ra những tác động nhất định đối với người tiếp nhận Đó kết quả của một quá trình tư duy, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người Kết quả ấy được biểu thị qua các hình thức của ngôn ngữ Nói một cách khác, lập luận chính là sản phẩm của tư duy nhưng được thể hiện cụ thể bằng trật tự lôgic của ngôn từ

Còn nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng lập luận một hành động ngôn ngữ có cấu tạo chặt chẽ Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, thuật ngữ

“lập luận” được hiểu theo hai nghĩa: “thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành

vi lập luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức” [15;tr19]

Theo quan niệm trên, có thể khẳng định, về bản chất, lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiện qua cả phương diện nội dung và cấu trúc hình thức Bởi lẽ trong ngôn ngữ, lập luận là một chiến lược hội thoại được con người thực hiện nhằm dẫn dắt người tiếp nhận đi tới một nhận thức hoặc

Trang 25

một kết luận nào đó mà người tạo lập muốn đạt được Các nhà ngôn ngữ học từng khẳng định: “Lập luận là đưa ra một hoặc một số luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn diễn đạt tới” [16;tr 79] Hay cụ thể hơn, đó là cách con người “đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới" [15;tr 155]

Như vậy, hiểu một cách đơn giản: lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới Với tư cách là một hành động ngôn ngữ, lập luận là yếu tố giúp cho con người tạo thành phát ngôn cụ thể để hiện thực hóa nhận thức Nói một cách khác, lập luận là hành động lôgic ngôn từ có cấu trúc và gắn với một nội dung cụ thể Vì thế, khi xem xét lập luận, các nhà ngôn ngữ học thường tập trung tìm hiểu cấu trúc hình thức của lập luận, mối quan hệ giữa lập luận với thực tế khách quan, với dụng ý của người tạo lập luận và từ đó đánh giá biểu hiện của các hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi mượn lời, hành vi tạo lời ) Cho nên, khi tiếp cận lập luận, chúng ta cần xem xét nó trên các bình diện của hành động ngôn ngữ (như mục đích, nhận thức) và các hành vi ngôn ngữ được con người thực hiện khi giao tiếp Nhờ đó, chúng ta hiểu đúng về cấu trúc, ý nghĩa cũng như mục đích tạo lập văn bản - sản phẩm của hoạt động giao tiếp Bởi vậy, khi nghiên cứu văn bản, lý thuyết lập luận là một trong những cơ sở khoa học không thể thiếu

1.1.2.2 Các TTLL trong bài văn nghị luận

Lý thuyết Làm văn trong chương trình SGK Ngữ văn hiện hành đã đưa

ra một số TTLL cụ thể như: TTLL giải thích, TTLL chứng minh (lớp 7), TTLL tổng hợp (lớp 9), TTLL phân tích, TTLL so sánh, TTLL bình luận, TTLL bác bỏ (lớp 11) Các thao tác này được tách ra luyện tập riêng ở từng khối lớp theo nguyên tắc đồng tâm và nâng cao

Trang 26

Để thực hiện được các TTLL thì cần phải có kĩ năng lập luận, kĩ năng lập luận là kĩ năng vận dụng thành thạo các thao tác của tư duy logic như giải thích, chứng minh, phân tích, tỏng hợp, so sánh, bình luận, bác bỏ…theo những trật tự logic như quy nạp, diễn dịch, tổng - phân - hợp

Nghiên cứu VBNL, có thể nhận thấy người nói, người viết thường sử dụng các TTLL cơ bản sau: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, so sánh, bác bỏ, bình luận Tuy nhiên, gắn với phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung vào các TTLL phân tích và mối quan hệ giữa TTLL phân tích với chứng minh, giải thích, bình luận

1.1.3 TTLL phân tích

1.1.3.1 Khái niệm

TTLL phân tích là một thao tác của hoạt động tư duy nhằm giúp con người nhận thức hiện thực, tìm ra chân lí, và cũng là để trình bày nhận thức của con người về hiện thực đó TTLL phân tích bao giờ cũng gắn liền với thao tác tổng hợp Chúng như hai mặt của một tờ giấy

Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra

một định nghĩa về phân tích như sau: “Phân chia, thật sự hay bằng tưởng tượng, một đối tượng nhận thức ra thành các yếu tố, trái với tổng hợp” [30;tr 520] Như vậy, phân tích là sự phân chia trong tư tưởng đối tượng nào đó thành các bộ phận hợp thành nó Người ta có thể tách ra các dấu hiệu để nghiên cứu riêng rẽ từng dấu hiệu Như vậy định nghĩa của từ điển Tiếng Việt với khái niệm của lôgic học đều có quan điểm chung về phân tích là: sự phân chia đối tượng thành các yếu tố, bộ phận Và từ lâu, loài người đã nhận ra rằng bất cứ một đối tượng nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp thành Mỗi bộ phận lại có nhiều tính chất riêng, đặc trưng riêng để phân biệt nó với các bộ phận khác Bởi vậy, để hiểu biết sâu hơn bản chất của đối tượng, ta cần phải biết rõ ràng, cụ thể về từng bộ phận hợp thành ấy Để đạt được điều đó chúng

ta phải tiến hành phân tích

Trang 27

Trong giáo trình “Làm văn” của hai tác giả Đình Cao - Lê A cho rằng phân tích nghĩa là đi tìm hiểu các mặt nội dung bao hàm trong một ý kiến, một nhận định, một luận điểm nào đó, đồng thời chỉ ra mục đích chính xác và giá trị đạt được của chúng Các tác giả cũng khẳng định rằng phân tích phải gắn liền với tổng hợp Phân tích và tổng hợp là hai quá trình luôn luôn gắn chặt với nhau, hỗ trợ cho nhau trong việc nhận thức đối tượng Có phân tích phải có khái quát, tổng hợp thì đối tượng được phân tích mới có ý nghĩa Phân tích chính là một TTLL, một thao tác của tư duy Vậy mà trước đây, khi nghiên cứu về TTLL phân tích, các tác giả đã đồng nhất thao tác này với kiểu bài nghị luận Trong các SGK cũ vẫn coi phân tích như một kiểu bài trong văn nghị luận Hai tác giả Trần Thanh Đạm, Lương Duy Cán trong

SGK Làm văn 10 (sách chỉnh lí năm 2000) đã dựa vào các thao tác nghị luận

chủ yếu được sử dụng để chia văn nghị luận thành các kiểu bài: Phân tích, chứng minh, bình luận Những bài mà phối hợp nhiều thao tác nghị luận được coi là kiểu bài hỗn hợp Căn cứ vào nội dung nghị luận, phân tích văn học còn được chia ra thành phân tích một tình tiết nghệ thuật, phân tích nhân vật, phân tích một đoạn văn, đoạn thơ, phân tích một tác phẩm hoàn chỉnh, phân tích một giai đợn văn học, một trào lưu văn học

1.1.3.2 Vai trò của TTLL phân tích trong bài văn nghị luận về một tác phẩm truyện

Trong quá trình khám phá thế giới khách quan, con người nhận thấy rằng bất cứ một đối tượng, một sự vật nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận lại có những đặc trưng và tính chất riêng biệt của nó Bởi vậy, muốn hiểu đúng bản chất đối tượng, ta cần nắm vững đặc trưng của từng bộ phận Để làm được việc đó, chúng ta thực hiện phân tích Về bản chất, đó là hành động chia cắt, xẻ, tách nhỏ đối tượng nhằm tạo ra cơ sở để khảo sát, tìm hiểu, khám phá đối tượng Như vậy, phân tích là một thao tác của tư duy lôgic Nó là con đường giúp con người tiếp cận với các yếu tố và nhận thức thế giới khách quan

Trang 28

Khi tạo lập VBNL, để nội dung nghị luận được trình bày khoa học, khách quan, người viết phải thực hiện TTLL phân tích Như vậy, phân tích là TTLL được người viết sử dụng nhằm dẫn dắt người tiếp nhận hiểu hơn từng đặc điểm, từng biểu hiện, qua đó có cách nhìn chính xác, khách quan đối với của nội dung được bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập thể hiện cách thức tiếp cận đối tượng, rút ra những hiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếp nhận đi đến các phán đoán, kết luận khoa học, và nhận thức đúng nội dung nghị luận

Chẳng hạn, khi phân tích hình tâm trạng đợi tàu của các nhân vật trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), TTLL phân tích sẽ có ý nghĩa quan trọng nhằm khắc họa tâm trạng nhân vật Liên và ý nghĩa của tác phẩm:

Hình ảnh đoàn tàu trong Hai đứa trẻ là một hình ảnh đẹp và mang ý nghĩa biểu tượng An và Liên cố thức để đợi hình ảnh đoàn tàu Mặc dù đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng An vẫn dặn chị đánh thức dậy Lý do đợi tàu không phải để bán hàng mà vì muốn được nhìn chuyến tàu, hoạt động cuối cùng trong đêm Con tàu đến mang theo một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn với ngọn đèn chị Tí và ánh lửa ở gánh phở của bác Siêu Nhà văn

đã miêu tả một cách chi tiết , tỉ mỉ theo trình tự thời gian, qua tâm trạng mong chờ của Liên Dấu hiệu của đoàn tàu được hiện lên sự xuât hiện của người gác, ngọn lửa xanh biếc, tiếng còi xe lửa , tiếng xe rít mạnh vào ghi, kèm theo một làn khói bừng sáng trắng , tiếng hành khách ồn ào Tàu đến, các toa đèn sáng trưng Cuối cùng là hình ảnh đoàn tàu đi vào đêm tối để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt

Chuyến tàu là biểu tượng cho sự sống mạnh mẽ, sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng, đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn tăm tối, đồng thời gợi nhớ đến khái niệm về một cuộc sống ngày xưa sung sướng Phố huyện rầm rộ lên trong phút chốc rồi lại chìm sâu vào bóng đêm yên tĩnh

Qua tâm trạng đợi tàu của chị em Liên, Thạch Lam đã thể hiện sự trân trọng đối với những con người nhỏ bé, sông lay lắt, buồn chán nơi phố huyện

Trang 29

Dường như nhà văn muốn lay tỉnh những tâm hồn đang buồn chán, lam lũ, hãy

cố vươn ra ánh sáng Hình ảnh đoàn tàu chính là một thứ ánh sáng mà nhà văn muốn rọi chiếu vào tâm hồn nhân vật: niềm tin ở một cuộc sống tốt đẹp hơn

Như vậy, với TTLL phân tích, chúng ta đã tìm hiểu được cách miêu tả đoàn tàu, tâm trạng đợi tàu của chị em Liên An cũng như vẻ đẹp tâm hồn của

họ Đó là niềm ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp Điều đó cũng khiến cho tác phẩm mang một vẻ đẹp riêng - vẻ đẹp của màu sắc lãng mạn

Trong hành động lập luận, phân tích là thuộc kiểu hành vi ngôn ngữ ở lời TTLL này thường được người tạo lập thực hiện trong một đoạn văn, nhiều đoạn văn, thậm chí là tất cả các đoạn văn trong bài khi giữa chúng có mối quan hệ với nhau về ý nghĩa Vì vậy, khi thực hiện TTLL phân tích, người nói, người viết phải tuân theo những nguyên tắc sau:

- Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng nhất tổ chức của đối tượng

Để làm được điều này, chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộ phận của nội dung và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lý Việc phân chia phải dựa vào những căn cứ về nội dung, về ý nghĩa hay hình thức biểu hiện để các khía cạnh được phân tách có tính chính xác, khoa học Mặt khác, các yếu

tố, các bộ phận phải được phân chia theo cấp bậc Theo đó, khi sắp xếp, người viết dựa vào cấp bậc của các yếu tố để trình bày nội dung theo trật tự nhằm tạo mạch lạc trong diễn đạt

- Phải lựa chọn những dẫn chứng, lý lẽ phù hợp với từng bộ phận, từng khía cạnh Khi lập luận, chúng ta cần phải căn cứ vào mục đích để lựa chọn cách thức tổ chức lý lẽ và dẫn chứng cho thích hợp

Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuần chỉ là tách nhỏ các mặt nội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để có cơ sở khái quát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý Muốn nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổng hợp

Trang 30

1.1.3.3 Mối quan hệ TTLL phân tích với các TTLL khác

a Quan hệ với TTLL so sánh

Trong thực tế làm bài văn, hiếm có bài làm văn nào sử dụng một TTLL trọn vẹn Trong một bài văn thường có sự kết hợp các TTLL với nhau để bài văn sinh động TTLL phân tích thường kết hợp với TTLL so sánh khi làm sáng tỏ vấn đề nào đó bằng lập luận.Trong quá trình nhận thức của con người,

để tìm được sự giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng cần phải tiến hành phân tích đối tượng đó ra thành từng yếu tố, từng bộ phận rồi mới có thể đem chúng ra để so sánh, để đánh giá, nhận xét So sánh giúp cho sự phân tích thêm sáng rõ, dễ tiếp nhận hơn Phân tích đến lượt mình, lại khiến những nét chung và riêng của các đối tượng so sánh hiện lên rõ ràng, đầy đủ và rành mạch, nhờ đó bản chất và đặc điểm của đối tượng trở nên nổi bật hơn

Ví dụ:

Thiếu ông đốc tờ Xuân là thiếu tất cả, những ông thầy thuốc chính hiệu

đã thất bại hoàn toàn Về phần ông đốc tờ Trực Ngôn, thấy bạn đồng nghiệp Xuân của ông không chữa, cho đó là một bệnh nặng, nên cũng không dám nhận Đó là một bài học cho những kẻ nào dám bảo một người như Xuân là con nhà hạ lưu, ma cà bông, vô học, vô lại, nhặt ban quần, vân vân Người

ta lại đi mời cả cụ lang Tì lẫn cụ lang Phế, nhưng vì quá giận, hai cụ đã từ chối chạy chữa cũng như những vị danh y biết tự trọng Người ta đã nghĩ đến

cả thuốc thánh đền Bia vừa mới chữa cho một người ho lao và một người cảm thương hàn bằng bùn đen và cứt trâu, công hiệu đến nỗi họ mất mạng,

và quan trên lại điều tra ra rằng có một tụi cường hào tổ chức ra thánh, mà tụi cường hào ấy lại ăn cắp tiền quỹ nữa, nên tự nhiên cũng hết thiêng liêng Sáng hôm sau, đúng 7 giờ thì cất đám Hai viên cảnh sát thuộc bộ thứ

18 là Min Đơ và Min Toa đã được thuê giữ trật tự cho đám ma Giữa lúc không có ai đáng phạt mà phạt, đương buồn rầu như nhà buôn sắp vỡ nợ, mấy ông cảnh binh này được có đám thuê thì sung sướng cực điểm, đã trông nom rất hết lòng.[40, tr.123 - 125]

Trang 31

Đoạn trích trên đã sử dụng thành công sự kết hợp TTLL phân tích và

TTLL so sánh Tác giả đã có những so sánh bất ngờ ‘‘hai cụ đã từ chối chạy chữa cũng như những vị danh y biết tự trọng’’, buồn rầu như nhà buôn sắp

vỡ nợ Dưới con mắt của Vũ Trọng Phụng, lũ giả dối không chỉ bao gồm

những kẻ trong gia đình người quá cố mà là toàn xã hội Bắt đầu là hai nhà

đại diện cho bộ máy chính quyền Min Đỏ và Min Toa vì chẳng có việc gì

làm, nay được thuê đến trông coi, giữ gìn trật tự cho đám ma thì thật là sung sướng Thật trớ trêu khi người ta còn phải lo kìm bớt sự huyên náo trong một đám ma Phải chăng những kẻ đưa ma vô tư đến nỗi họ quên mất mình đang làm gì? Sự kết hợp này làm cho luận đ iểm trở nên sáng rõ, có sức thuyết phục hơn

b Quan hệ với TTLL chứng minh, giải thích

- Chứng minh là đưa ra những cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng

tỏ một lý lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề Để chứng minh chúng ta nên đưa lý lẽ trước khi chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận chứng minh thuyết phục hơn Đôi khi thuyết minh trước rồi dẫn chứng sau

- Giải thích là thao tác sử dụng lí lẽ phân tích để lí giải, giảng giải, cắt nghĩa cho người đọc, người nghe hiểu rõ về một vấn đề nào đó

Để chứng minh một vấn đề ta cần dùng đến lí lẽ và dẫn chứng để minh hoạ, xác nhận, khẳng định, bênh vực chắc chắn sự đúng đắn của một ý kiến, một nhận định, một vấn đề Tương tự, khi giải thích một vấn đề, người ta dùng lí lẽ là chủ yếu và dẫn chứng để cắt nghĩa, giảng giải, phân tích sâu, làm sinh động vấn đề, từ đó dễ nhận biết và hiểu vấn đề một cách sâu sắc hơn

Trang 32

Vẻ đẹp lãng mạn là vẻ đẹp được lí tưởng hóa, được thể hiện một cách khác thường trong một hoàn cảnh tưởng chừng như không thể xảy ra Vẻ đẹp của Huấn Cao trước hết được thể hiện ở tài hoa, nghệ sĩ của ông Huấn Cao là người có tài viết chữ đẹp Cái tài đó nổi tiếng cả một vùng tỉnh Sơn Ông viết

rất nhanh và đẹp, những nét chữ vuông lắm Những nét chữ ấy đẹp ấy đẹp không chỉ bởi tài hoa của người viết mà còn bởi chứa đựng trong đó hoài bão tung hoành của cả một đời người

Tất cả những tinh hoa, khí phách, tất cả tâm hồn, tình cảm và nhân cách của con người, cả những niềm mơ ước và ý chí khát vọng cũng đều được gửi gắm vào trong từng nét chữ không chỉ viết chữ đẹp mà Huấn Cao còn khiến người ta phải cảm phục bởi khí phách hiên ngang, bất khuất Ngay từ khi chưa xuất hiện, Nguyễn Tuân đã để cho tiếng tăm của nhân vật bay vào nhà tù làm cho bản thân viên quản cũng phải làm tò mò Đó là một nhà nho không chịu chấp nhận tình cảnh xã hội bất công mà đứng lên cầm đầu cuộc nổi loạn

để trở thành kẻ đại nghịch Bước vào trong tù, ông vẫn hiên ngang như chỗ không người, không hề bị quyền thế và địa vị làm cho run sợ Hành động dỗ gông không phải là một hành động thông thường, nó thể hiện khí phách hiên ngang thẳng thắn của Huấn Cao, dù bị xiềng xích nhưng ông hoàn toàn tự do

Trang 33

thể hiện tư tưởng - chủ đề tác phâm Nhân vật này có hoàn cảnh sống riêng,

có tính cách riêng, có sở thích riêng Nếu Huấn Cao được so sánh như ngôi viên quản ngục chính là một thanh âm trong trẻo còn sót lại giữa một bản đàn

mà ở đó mọi nhạc luật đều hỗn độn, xô bồ

d Quan hệ với TTLL bình luận

TTLL phân tích thường kết hợp với TTLL bình luận khi làm sáng tỏ một vấn đề nào đó bằng lập luận Trong quá trình nhận thức của con người để hiểu

rõ hơn về vấn đề đó cần tiến hành phân tích đối tượng đó ra thành nhiều yếu

tố, thành từng bộ phận rồi mới có thể đem chúng ra để bình luận, đánh giá hay nhận xét các khía cạnh khác nhau của vấn đề Bình luận giúp cho sự phân tích thêm tư duy, logic rõ ràng, sáng rõ và dễ tiếp nhận hơn

Một bài văn NLVH từ đầu đến cuối thường sử dụng phương thức biểu đạt và một TTLL Măc dù chương trình SGK Ngữ văn THPT và THCS tách tiêng các TTLL để rèn luyện cho HS theo từng khối lớp nhưng khi viết một bài văn nghị luận văn học bao giờ cũng yêu cầu HS sử dụng chúng một cách tổng hợp, linh hoạt, phù hợp mới mục đích, yêu cầu của đề bài

Ví dụ:

Đọc Hai đứa trẻ, thấy bận bịu vô hạn về một tấm lòng quê hương êm mát

và sâu kín” ( Nguyễn Tuân)

Là một thành viên trụ cột trong bút nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam khẳng định mình bằng một hướng đi riêng, đặc biệt là ở những tác phẩm viết

về người nông thôn và người dân nghèo Ông thường lặng lẽ thể hiện niềm cảm thông chân thành với người nghèo, với cuộc sống nông thôn Truyện

ngắn Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Thạch Lam

nằm trong mạch cảm xúc ấy Truyện để lại cho người đọc ấn tượng ở một cốt truyện đơn giản, vừa hiện thực vừa trữ tình với những chi tiết tưởng như vụn vặt, vô nghĩa nhưng kỳ thực đã được chọn lọc và sắp xếp một cách chặt chẽ

để diễn tả tâm trạng nhân vật

Trang 34

Hai đứa trẻ là một tác phẩm tự sự nhưng có cấu tứ thơ trữ tình ( Nguyễn

Đăng Mạnh) Truyện chủ yếu đi sâu vào nội tâm nhân vật, khơi dòng ý thức, tâm trạng con người trước mảng hiện thực đời sống Hơn thế, đó lại là những cảm xúc, khoảnh khắc của cảm xúc mong manh, mơ hồ, bâng khuâng, thoáng nhẹ được miêu tả qua một ngòi bút tinh tế không dễ tiếp thụ nếu không có một tâm hồn nhạy cảm Không chỉ thế, niềm xót thương, thái độ trân trọng và tình yêu thương của nhà văn đối với cuộc sống, đối với quê hương, đối với những kiếp người tàn tạ còn có thể cảm nhận được qua giọng văn nhẹ nhàng,

trầm tĩnh lắng sâu Đó là một tấm lòng êm mát và sâu kín nhẹ nhàng thấm vào

hồn người và để lại trong lòng người những ấn tượng sâu đậm, khiến người ta

thấy lòng mình bận bịu vô hạn Không quá ồn ào và mãnh liệt, nhưng những

nỗi niềm ấy cứ từ từ, thấm sâu, ngấm sâu vào hồn người trở thành những ấn

tượng không thể nào phai Nét độc đáo và sức hấp dẫn riêng của Hai đứa trẻ

nói riêng và của Thạch Lam nói chung là ở chỗ đó

Như vậy TTLL phân tích và TTLL bình luận luôn có một mối quan hệ khá chặt chẽ, gắn bó, bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau để tạo nên sự tường minh

và sức thuyết phục của bài văn NLVH

1.1.3.4 Các bước hình thành kĩ năng lập luận phân tích

a Xác định và nêu rõ luận điểm

Đây là bước định hướng cho việc chia nhỏ nội dung cần nghị luận Luận điểm là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra trong bài văn nghị luận Luận điểm thường được thể hiện bằng một phán đoán (câu văn) mang ý nghĩa khẳng định những tính chất, thuộc tính của vấn đề, những khía cạnh nội dung được triển khai để làm sáng tỏ cho luận đề Các luận điểm trong bài văn nghị luận được sắp xếp, trình bày theo một hệ thống hợp lí, đầy đủ và được triển khai bằng những lí lẽ, dẫn chứng (luận cứ) hợp lí để làm sáng tỏ vấn đề mà luận điểm đặt ra Các luận điểm nêu ra cần rõ ràng, sát hợp với đề bài, hơn nữ cần phải mới mẻ, sâu sắc

Trang 35

Để xác định luận điểm cho bài văn nghị luận, sau khi đã xác định các yêu cầu của đề bài, cần dựa vào những vấn đề trọng tâm và đặt ra các câu hỏi,

sử dụng hệ thống các từ ngữ để hỏi như: “là gì? Như thế nào? Tại sao? Có ý nghĩa gì? Phải làm gì? Ví dụ, với đề bài: “Chất trào phúng trong tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia ( Trich Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng” có thể đặt

ra các câu hỏi sau để triển khai luận điểm: Chất trào phúng là gì? Chất trào

phúng được thể hiện như thế nào trong tiêu đề Hạnh phúc của một tang gia

của Vũ Trọng Phụng? Ý nghĩa tiêu đề tác phẩm trong việc dự báo một màn kịch sắp diễn ra với nhiều cảnh nghịch lí, nhiều pha cười ra nước mắt

Khi đã tìm ra được các luận điểm, lớn cần tiếp tục chia tách thành các luận điểm bộ phận

- Các luận điểm lớn phải ngang nhau và cùng làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm

- Các luận điểm nhỏ phải nằm trong luận điểm lớn và làm sáng tỏ cho luận điểm lớn: Cần trình bày luận điểm theo một thứ tự tránh trùng lặp ý

- Có luận điểm phải bắt buộc trình bày trước rồi mới tiếp tục trình bày các luận điểm khác

- Cần xác định mức độ các luận điểm cho hợp lí Trong một bài văn, các luận điểm không phải bao giờ cũng đồng đều và được trình bày ngang nhau

Có luận điểm cần nêu kĩ, có luận điểm chỉ nói qua, nói vừa đủ

Trang 36

b Phân tích nhỏ luận điểm

Dùng phân tích chia nhỏ luận điểm thành các khía cạnh (dựa vào quan hệ

ý nghĩa của luận điểm) Để thực hiện được bước này, người tạo lập phải tiến hành các công việc cụ thể sau:

- Xác định các khía cạnh, các bộ phận của nội dung cần phân tích Đây là công việc có tính định hướng, giúp cho người viết có cơ sở tìm các luận cứ, luận chứng chính xác, phù hợp Việc xác định các khía cạnh, bộ phận được thực hiện dựa trên căn cứ là mối quan hệ (quan hệ nhân quả, quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích và đối tượng phân tích) Khi xác lập khía cạnh, người viết cần căn cứ vào mục đích nghị luận để lựa chọn mối quan hệ cho phù hợp

- Sắp xếp các khía cạnh, bộ phận theo trình tự hợp lý Đây là việc làm nhằm tạo ra tính hệ thống, tầng bậc cho nội dung được phân tích

- Trình bày từng khía cạnh, từng bộ phận theo trình tự đã sắp xếp Khi thực hiện công đoạn này, người viết cần chú ý tới cách tạo sự liên kết giữa các khía cạnh đã được xác định Người viết phải huy động các yếu tố ngôn ngữ để trình bày nội dung cụ thể, chính xác

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để hiểu rõ hơn về TTLL phân tích cũng như vận dụng sử dụng TTLL phân tích cho HS lớp 11 cần phải dựa trên những cơ sở thực tiễn cụ thể

Trang 37

1.2.1 Khảo sát nội dung tổ chức rèn luyện TTLL phân tích cho HS lớp

11 trong bài làm văn nghị luận về một tác phẩm truyện

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

TTLL phân tích là một trong những kiến thức mới được triển khai trong chương trình Ngữ văn hiện hành Cũng vì thế, để đánh giá thực trạng dạy học nội dung này, chúng tôi tiến hành các hoạt động điều tra, khảo sát thực tế Có thể nói, đây là hoạt động giúp chúng tôi thu được cơ sở thực tiễn nhất về trường PT, về tình hình tổ chức hoạt động dạy Ngữ văn nói chung, Làm văn nói riêng cũng như những biểu hiện về chất lượng nhận thức, hiệu quả giáo dục sau một thời gian đào tạo thông qua một nội dung đọc tập cụ thể

Nhờ có điều tra, khảo sát chúng tôi có thể hiểu được suy nghĩ, nhận thức, nắm được những khó khăn, tồn tại trong quá trình tổ chức hoạt động giảng dạy và học tập của GV, HS về hệ thống kiến thức TTLL phân tích Qua đó, đề tài cũng tìm ra những biện pháp khắc phục khi tổ chức rèn luyện các TTLL

phân tích cho HS THPT

1.2.1.2 Đối tượng khảo sát và cách thức khảo sát

Theo nội dung đề tài, chúng tôi xác định đối tượng được điều tra, khảo sát là đội ngũ GV và HS đang giảng dạy và học tập chương trình Ngữ văn lớp

11 - THPT

Riêng đối với HS, để có thể hiểu và đánh giá đúng năng lực nhận thức cũng như sự vận dụng của các em, chúng tôi còn mở rộng thăm dò ý kiến, khảo sát bài viết của một số HS lớp 12

Khi tiến hành điều tra khảo sát, chúng tôi tập trung vào những trường được lựa chọn thực nghiệm Tuy nhiên, chúng tôi còn mở rộng khảo sát một

số trường ngoài thực nghiệm ở những địa bàn khác nhau để có thể đánh giá khách quan hơn

Để tiến hành việc điều tra, khảo sát đạt kết quả, chúng tôi thực hiện qua một số phương pháp sau:

Trang 38

a Dự giờ

Một trong những hoạt động giúp chúng tôi hiểu rõ nhất thực trạng dạy học TTLL phân tích là giờ dạy của GV trên lớp Chúng tôi xác định những hoạt động trong giờ dạy bao gồm:

Tiêu chí 1: GV có quan tâm tới việc rèn luyện năng lực sử dụng TTLL

phân tích bằng các dạng BT hay không?

Tiêu chí 2: Những BT được GV sử dụng có phong phú, đa dạng không,

hay chỉ sử dụng những BT trong SGK?

Tiêu chí 3: GV sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại

khi hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức và thực hành rèn luyện năng lực sử dụng TTLL phân tích hay không?

b Khảo sát giáo án của GV

Giao án là phương tiện quan trọng nhất đối với hoạt động dạy học Khảo sát giáo án của GV được đánh giá dựa trên một số tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Trong giờ lý thuyết, GV có sử dụng hệ thống BT để hình

thành tri thức cho HS hay không?

Tiêu chí 2: Trong giờ thực hành, GV có sử dụng những BT ngoài SGK

để rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL cho HS không?

Tiêu chí 3: Trong giáo án, GV có sử dụng hết những dạng BT trong

SGK để bồi dưỡng và rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL phân tích cho HS?

c Phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của GV và HS

Để hiểu đúng hơn về suy nghĩ, nhận thức, thái độ của GV và HS khi tiếp cận với TTLL phân tích, chúng tôi sử dụng các phiếu điều tra thăm dò ý kiến

1.2.1.3 Nhận xét về kết quả khảo sát

Kết quả khảo sát giờ dự

Trang 39

Bảng 1: Khảo sát kết quả dự giờ ở các trường THPT

Tiêu chí

đánh giá

giờ dự

Trường THPT Hàm Rồng

Trường THPT Đào Duy Từ

Trường THPT Nguyễn Trãi

Trường THPT Trường Thi

Tiêu chí 1 33/48 = 68,75% 32/48 = 66,6% 57/72 = 79,1% 33/48 = 68,75% Tiêu chí 2 38/48 = 79,1% 43/48 = 89,6% 70/72 = 97,2% 46/48 = 95,8% Tiêu chí 3 44/48 = 91,6% 46/48 = 95,8% 68/ 72 = 94,4% 47/48 = 97,9%

Kết quả khảo sát giáo án của giáo viên

Bảng 2: Kết quả khảo sát giáo án của giáo viên

Tiêu chí khảo

sát giáo án

Trường THPT Hàm Rồng

Trường THPT Đào Duy Từ

Trường THPT Nguyễn Trãi

Trường THPT Trường Thi

Tiêu chí 1 14/20 = 70% 26/33 = 78,79% 34/40 = 85% 16/20 = 80% Tiêu chí 2 17/20 = 85% 27/33 =81,82% 38/40 = 95% 17/20 = 85% Tiêu chí 3 16/20 = 80% 24/33 = 72,7% 32/40 = 80% 16/20 = 80%

Có thể nhận thấy trong quá trình rèn luyện năng lực sử dụng các TTLL,

GV chưa chú trọng tới thay đổi và sáng tạo các nội dung dạy học Trong các giờ dạy, phần lớn các GV vẫn bám sát SGK và SGV để triển khai các hoạt động dạy học GV chưa quan tâm tới việc chọn BT vào các mục đích dạy học của bản thân Thậm chí, nhiều GV vẫn còn tổ chức dạy học theo lối truyền thống, một số khác thì dạy sơ lược theo hướng cung cấp kiến thức rồi cho HS luyện tập Không chỉ vậy, khi luyện tập thực hành, nhiều GV cho HS đọc bài rồi gợi ý và để cho các em tự làm bài vào vở, GV không kiểm tra lại kết quả bài làm của các em Hệ thống BT cũng chưa có sự sáng tạo, đó đều là những

BT trong SGK Vì thế, HS đều thể hiện thái độ không thích thú học tập phần Làm văn nói chung, TTLL nói riêng

Trang 40

1.2.2 Thực trạng của việc tổ chức rèn luyện

1.2.2.1 Cách rèn luyện kĩ năng TTLL phân tích của GV

sử dụng trong giờ dạy đều đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (khoa học,sư phạm, tích hợp) Các câu hỏi để phân tích ngữ liệu tương đối dạng, phù hợp với tri thức và kĩ năng cần hình thành cho HS

+ Việc tổ chức rèn luyện TTLL phân tích được tiến hành song song với các tiết dạy lý thuyết, chủ yếu qua các BTtrong SGK Các BTnày đều được giải quyết ở cuối mỗi tiết dạy lý thuyết nhưng chủ yếu là trong các giờ luyện tập Hệ thống BTphần lớn vẫn chiếm thời gian dài (thường là 1 tiết)

- Nhược điểm:

+ Phần lớn bản thiết kế của GV đều được thể hiện chưa rõ ràng Hệ thống BT trong giáo án đều trong SGK, còn đáp án được lựa chọn dựa vào SGV hoặc qua một số tài liệu tham khảo GV không chú trọng tới hệ thống

BT khi hình thành lý thuyết, chưa chú trọng xây dựng các BTrèn luyện các thao tác, các kĩ năng bộ phận

Ví dụ:

GV chỉ chú trọng tới các BT rèn luyện TTLL phân tích, trong đó thiếu

một số BTnhư: BT nhận diện TTLL phân tích; BT tạo lập theo quan hệ giữa

người đánh giá với đối tượng được phân tích Kiểu BT so sánh sự giống nhau, khác nhau giữa các TTLL hầu như không được chú trọng

Ngày đăng: 18/07/2023, 00:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w