1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3 4 tuổi ở một số trường mầm non huyện yên định, thanh hóa

62 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trường mầm non huyện Yên Định, Thanh Hóa
Tác giả Lê Thanh Xuân
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Ngọc Châu
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Giáo dục Mầm Non
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 569,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ giáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyên tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ

CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

HUYỆN YÊN ĐỊNH, THANH HÓA

HỌ VÀ TÊN: LÊ THANH XUÂN LỚP: K 17D

MÃ SINH VIÊN: 1469010210 NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ NGỌC CHÂU ĐƠN VỊ CÔNG TÁC: KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

THANH HÓA, THÁNG 5/ 2018

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện tại trường Đại Học Hồng Đức

Có được kết quả này, trước tiên em xin được tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Cô

giáo Nguyễn Thị Ngọc Châu, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn

thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4

tuổi ở một số trường mầm non huyện Yên Định, Thanh Hóa”

Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm

non, thư viện Trường Đại Học Hồng Đức đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn

thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp đỡ em

trong quá trình làm khóa luận của em

Trong khuôn khổ, thời gian cho phép và vốn kiến thức có hạn, chắc chắn

khóa luận của em không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được sự

góp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, tháng 4 năm 2018

Sinh viên

Lê Thanh Xuân

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6.Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪCHO TRẺ 3-4 TUỔI 4

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi 4

2 Cơ sở sinh lý học 5

3 Cơ sở tâm lý học 6

1.4 Cơ sở giáo dục học 10

1.5 Cơ sở ngôn ngữ học 11

1.5.1 Ngôn ngữ 11

1.5.2 Từ trong hệ thống ngôn ngữ: 14

1.5.3 Phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi 18

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪCHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 23

2.1 Định hướng chung cho hoạt động điều tra khảo sát 23

2.1.1 Mục đích điều tra: 23

2.1.2 Đối tượng điều tra: 23

2.1.3 Nội dung điều tra: 23

2.1.4 Phạm vi điều tra: 23

2.1.5 Phương pháp điều tra: 23

2.2 Các bài tập và cách tiến hành: 23

2.3 Phân tích kết quả điều tra 29

2.3.1 Đôi nét về trường điều tra 29

2.3.2 Kết quả điều tra khảo sát giáo viên: 29

2.3.3 Kết quả điều tra khảo sát trẻ 3-4 tuổi 41

Tiểu kết chương 2 44

Trang 4

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ

CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 45

3.1 Khái niệm về biện pháp 45

3.2 Những nguyên tắc cơ bản định hướng việc đề xuất các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở Trường Mầm non 45

3.2.1 Phát triển vốn từ cho trẻ phải đảm bảo mối quan hệ giữa từ với hiện thực khách quan (gắn từ với việc mở rộng hiểu biết cho trẻ qua việc làm quen với môi trường xung quanh và tác phẩm văn học) 46

3.2.2 Phát triển vốn từ cho trẻ phải xem xét từ trong hệ thống ngôn ngữ 46

3.2.3 Nguyên tắc chú ý tới trình độ tiếng Việt của trẻ 47

3.2.4 Nguyên tắc phát triển vốn từ cho trẻ phải đặt trong hoạt động sử dụng ngôn ngữ 47

3.3 Một số biện pháp sử dụng để phát triển cho trẻ 3-4 tuổi: 48

3.3.1 Biện pháp 1: Thường xuyên cho trẻ tiếp xúc với đồ vật, đồ chơi, hoa quả, tranh ảnh 48

3.3.2 Biện pháp 2: Cô và mẹ cùng những người xung quanh luôn trò chuyện cùng trẻ: 48

3.3.3 Biện pháp 3: Người lớn xung quanh trẻ luôn lắng nghe trẻ phát âm và uốn nắn từ ngữ cho trẻ 49

3.3.4 Biện pháp 4: Cho trẻ tiếp xúc với nhau, với cộng đồng một cách thường xuyên: qua tiết học dưới hình thức đi dạo, đi thăm 49

3.3.5 Biện pháp 5: Cô giáo sử dụng một số trò chơi trong hoạt động chung: làm quen với môi trường xung quanh để làm tăng vốn từ cho trẻ 49

Tiểu kết chương 3 53

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1.Kết luận 54

2 Kiến nghị sư phạm 54

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ - thành tựu lớn nhất của con người - là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong

xã hội loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh ngiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn và cùng nhau thực hiện những dự định tương lai

Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch

sử - xã hội của nền văn hoá loài người Ngôn ngữ giúp trẻ tích luỹ kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp được với mọi người xung quanh, là phương tiện giúp trẻ điều chỉnh, lĩnh hội những giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực Ngày nay trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ , chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục phát triển toàn vẹn nhân cách trẻ

Trường mầm non là nơi tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn vẹn nhân cách cho trẻ, trong đó vai trò của nhà giáo dục và hoạt động tích cực của từng cá nhân trẻ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ của từng trẻ nói riêng Song trên thực tế để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giáo viên mầm non đã làm gì để cung cấp cho trẻ vốn từ phong phú, dạy trẻ phát âm chuẩn? Hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ giáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyên tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình trong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ chưa ?

Trong công tác giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, việc giáo dục ngôn ngữ giữ một vai trò quan trọng Bởi ngôn ngữ giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, nó là phương tiện giúp trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh, làm phong phú đời sống tinh thần của đứa trẻ Ngôn ngữ còn là phương tiện điều khiển, điều chỉnh hành vi, là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực Vì vậy phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những việc làm cần thiết và phải bắt đầu từ lứa tuổi mầm non

Trang 6

Mặc dù ngôn ngữ đã được coi là một nội dung trọng yếu ở trường Mầm non, song ở lứa tuổi này ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế nhiều mặt về phát âm, vốn từ vựng, khả năng hiểu nghĩa của từ, khả năng diễn đạt lời nói mạch lạc… Ngoài ra do năng lực của từng cá nhân trẻ, môi trường và điều kiện sống cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Vì vậy, cần có các biện pháp tích cực nhằm tang cường, củng cố, phát triển từ cho trẻ mẫu giáo Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp còn máy móc, chủ quan, cảm tính, thiếu cơ

sở khoa học Giáo viên chưa chú trọng tới vốn từ, nắm nghĩa từ của trẻ Do đó, việc sử dụng từ còn hạn chế làm cản trở nhận thức, giao tiếp của trẻ

Xuất phát từ những lý do trên, em thấy rằng nghiên cứu đề tài „„Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trường Mầm non Huyện Yên Định, Thanh Hóa’’ là rất cần thiết nhằm góp phần đưa ra một loạt biện pháp phát triển

từ cho trẻ có cơ sơ khoa học

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

2.2 Tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp phát triển từ cho trẻ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của tác động sư phạm trong quá trình giáo dục, tạo cơ sở ban đầu để hình thành nhân cách phát triển toàn diện, chuẩn bị cho trẻ bước vào trường phổ thông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa các vấn dề lý luận có liên quan đến đề tài

3.2 Khảo sát thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm non

3.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học ở trường Mầm non

3.4 Kiến nghị, các giải pháp

Trang 7

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non

4.2 Khách thể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi ở 2 điều kiện phát triển khác nhau: nông thôn và thị trấn

+ Trường Mầm non thị trấn Quán Lào-Yên Định-Thanh Hóa

+ Trường Mầm non xã Định Tăng-Yên Định-Thanh Hóa

5.Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của khóa luận chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

5.1 Tìm hiểu thực trạng phát triển vốn từ của trẻ 3-4 tuổi

5.2 Nghiên cứu một số thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi và triển khai thực nghiệm tại 2 trường Mầm non của huyện Yên Định-Thanh Hóa với điều kiện thị trấn và nông thôn

6.Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Đọc, sử dụng và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài, chỉ ra được các biện pháp tích cực nhằm phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi

6.2 Phương pháp quan sát:

Quan sát và ghi chép thực trạng phát triển vốn từ của giáo viên và việc phát triển của trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học

6.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket

Nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức và sử dụng các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ của giáo viên Mầm non trong hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học, thực trạng hiệu quả của

sự phát triển từ ở trẻ dưới tác động của các biện pháp thực nghiệm

6.4 Phương pháp thống kê toán học:

Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý những số liệu thu thập

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VỐN TỪ

CHO TRẺ 3-4 TUỔI 1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi

Trẻ em ở lứa tuổi 0-6 tuổi là giai đoạn có những bước phát triển mạnh mẽ

về tư duy, nhận thức, ngôn ngữ Những tri thức đó có ý nghĩa quan trọng cho tiền đề để sự phát triển toàn diện về tri thức và nhân cách sau này của trẻ Bởi thế sự phát triển của trẻ, đặc biệt là phát triển về ngôn ngữ được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu

Nhiều tác giả nổi tiếng nước ngoài đã nghiên cứu về tâm lý học ngôn ngữ như: J.Piaget, L.X.Vuwgotxki, J.J.Rutxo

Xuất phát từ quan điểm về sự phát triển tâm lý, J.Piaget và L.X.Vuwgotxki nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga đã tập trung nghiên cứu tư duy và ngôn ngữ của trẻ Tuy nhiên nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hệ thống nhất phải nhắc tới bà E.I.Tikhêêva – nhà sư phạm nổi tiếng nước Nga, bà đã dành trọn cả đời mình vì sự phát triển của trẻ thơ

Ở Việt Nam vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ cũng đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu

Các công trình về ngôn ngữ trẻ em:

Giáo trình: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” của các tác giả: Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng

Giáo trình:”Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tác giả Nguyễn Xuân Khoa

Các luận văn, luận án của một số tác giả nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ

Trang 9

Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu thực trạng hiểu từ của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi” (1998) Nguyễn Thị Mai

Luận văn thạc sĩ: “Tìm hiểu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ em mẫu giáo

5 tuổi Hà Nội qua trắc nghiệm” Đỗ Thị Thanh Mai

Luận văn thạc sĩ: “Hiện trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo” (1989) Bùi Anh Tuấn

Luận văn thạc sĩ “Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi) thông qua hoạt động làm quen với thiên nhiên” (1999) Lê Thị Xoa Luận văn thạc sĩ “Mức độ lĩnh hội vốn từ Tiếng việt của trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc Thái” (1998) Nguyễn Thị Sáu

Luận án “Các quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trẻ em” (số liệu ngôn ngữ trẻ em 1-3 tuổi) TS-Nguyễn Huy Cẩn

Nhìn chung vấn đề ngôn ngữ trẻ em được quan tâm trên nhiều mặt, cũng có nhiều công trình nghiên cứ về phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở cả lý luận và thực tiễn Các công trình này rất phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau

Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến “Thực trạng phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi ở một số trường Mầm non Huyện Yên Định, Thanh Hóa’’

1.2 Cơ sở sinh lý học

Ngôn ngữ là một chức năng cao cấp của não người dựa trên cấu trúc của vỏ não, đặc biệt là vùng Broca(vùng tiếng nói), vùng Vecnich nằm ở thùy thái dương Đây là hai vùng có điều kiện lĩnh hội đầu tiên của ngôn ngữ Để đảm bảo cho hoạt động ngôn ngữ được thực hiện đòi hỏi phải có sự tham gia của các tế bào não từ các khối:

Khối năng lượng đảm bảo trương lực và độ tỉnh táo nhất định

Khối thông tin đảm bảo việc thu nhận và xử lý thông tin

Khối điều khiển đảm bảo việc chương trình hóa, điều chỉnh kiểm tra Các khối này liên kết chặt chẽ với nhau, cùng tham giao thực hiện hoạt động ngôn ngữ cũng như các hoạt động tâm lý khác của con người

Trang 10

Phát triển hài hòa ngôn ngữ đòi hỏi trước hết sự toàn vẹn về giải phẫu và chức năng của các cơ quan có tham gia vào việc thực hiện và tiếp thu ngôn ngữ Muốn nói được con người phải có bộ máy phát âm tốt và được rèn luyện đúng mức Muốn nói được thì phải nghe xem người khác nói thế nào Một trẻ bị điếc thì khó mà phản ứng nhanh khi nghe người khác nói Vì vậy, cần chú ý rèn luyện và bảo vệ thính giác cho trẻ, nhằm phát triển khả năng tinh nhạy Điều đó

có tác dụng nhất định đến viêc học nói của trẻ

Các nhà giải phẫu đã khẳng định: Trong ba năm đầu là kết thúc sự trưởng thành giải phẫu những vùng não chỉ huy ngôn ngữ Chính vì vậy, cần phát triển ngôn ngữ đúng lúc, kịp thời mới đạt kết quả tốt Đối với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 3-4 tuổi, để hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ phải tiến hàng luyện cho trẻ các cơ quan sinh lý để các cơ quan này được phát triển tốt

1.3 Cơ sở tâm lý học

Sự phát triển ngôn ngữ luôn gắn chặt với quá trình phát triển tâm lý, nhận thức, những cảm giác, tri giác ban đầu của trẻ Đầu tuổi mẫu giáo các bộ máy thu nhận kích thích bên ngoài đã được hình thành đầy đủ Nhưng điều đó không

có nghĩa là cảm giác ở trẻ không phát triển nữa ở lứa tuổi này cảm giác tiếp tục hoàn thiện mau chóng trước hết nhờ sự phát triển và sự phức tạp hóa hoạt động của bộ phận trung ương của máy phân tích Nhờ vậy độ nhạy cảm được nâng cao việc phân tích các thuộc tính của sự vật hiện tượng xung quanh tinh tế hơn

Hệ thống tín hiệu thứ hai ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình phân tích làm cho cảm giác trở nên chính xác hơn và đồng thời làm cho cảm giác có tính chất tự giác

Trẻ 3-4 tuổi đã làm chủ được tri giác của mình, dưới sự hướng dẫn bằng lời nói của người lớn, trẻ đã biết cách quan sát nhất là những đồ vật quenthuộc Trẻ

tự tổ chức được quá trình tri giác của mình, quá trình này sẽ được phát triển nếu trẻ được tiếp xúc với môi trường tự nhiên-xã hội một cách hợp lý(nhất là trong trường mầm non) Trong quan sát trẻ rất tò mò, ham hiểu biết hay đặt câu hỏi như: tại sao lợn lại có 4 chân? Tại sao mắt mèo màu xanh? Trong tri giác trẻ yếu tố khách quan đã tăng lên, trẻ đã có thể tiến hành tri giác lâu hơn Do đó, ở

Trang 11

lứa tuổi này trẻ phản ánh các sự vật, hiện tượng tri giác được một cách chính xác

và đầy đủ hơn lứa tuổi nhà trẻ Nhưng tri giác còn mang tính chất tự k, trẻ có thể khái quát đồ vật qua một dấu hiệu bên ngoài, qua một phần nào đó của đồ vật mà quy định cho cả đồ vật nhất là đối với đồ vật không quen thuộc, ví dụ: trẻ có thể gọi con ngan, con vịt… dưới tác động kích thích của ngôn ngữ sẽ giúp trẻ tri giác một cách tốt hơn, bằng chuyện kể miêu tả trẻ có thể hình dung ông tiên, bà bụt, nàng công chúa, chàng hoàng tử, mụ phù thủy… như đang hoạt động cùng trẻ (tri giác qua âm thanh – làm giàu trí tưởng tượng của trẻ) Vì vậy vai trò chỉ dẫn của cô giáo trong việc tổ chức tri giác cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Sự phát triển chú ý: Những phẩm chất chú ý ở độ tuổi này được hình thành

và phát triển mạnh do sự tiếp xúc với nhiều dạng đồ vật, những loại âm thanh, màu sắc, độ di động khác nhau, kích thích phản xạ định hướng của trẻ Ở lứa tuổi này chú ý mang tính không chủ định, thời gian tập trung chú ý ngắn và không bền vững, trẻ không thể tập trung chú ý vào đối tượng nhận biết trong thời gian dài hay cùng tập trung vào vài đối tượng Trẻ dễ bị phân tán sự chú ý của mình từ đối tượng này sang đối tượng khác Trẻ chưa làm chủ, điều khiến được sự chú ý của mình Vì thế nếu có người lớn dùng ngôn ngữ, hành động với

đồ vật minh họa để trẻ tri giác thì trẻ sẽ chú ý hơn vào ngôn ngữ và đồ vật được tri giác Lời nói của cô giáo đã tạo ra sức tập trung chú ý của trẻ để phát triển vốn từ cho trẻ ở lứa tuổi này là rất cần thiết

Sự phát triển trí nhớ: Trí nhớ giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, không có bất cứ hoạt động nào của con người mà không dựa vào trí nhớ Trí nhớ cũng là điều kiện để con người có và phát triển được các chức năng tâm

lý bậc cao, để con người tích lũy vốn kinh nghiệm sống của mình và sử dụng vốn kinh nghiệm đó ngày càng tốt hơn trong đời sống và trong hoạt động Trí nhớ càng đặc biệt với trẻ mầm non ở giai đoạn này, nhiệm vụ giáo dục quan trọng là Đức- Trí- Thể- Mỹ và lao động

Trí nhớ của trẻ ở lứa tuổi này phát triển rất nhanh ở tất cả các quá trình trí nhớ Trẻ không chỉ ghi nhớ những dấu hiệu bên ngoài phong phú đa dạng về hình dáng, đại lượng( to nhỏ, ngắn dài), thời gian( hôm qua, ngày mai, ngày kia,

Trang 12

sáng, trưa, chiều, tối) mà trẻ đi dần vào thuộc tính khuất trong trường tri giác như biết con gà có mấy chân….Nếu đồ vật hay sự kiện nào đó gây cảm xúc mạnh mẽ cho trẻ thì trẻ nhớ được rất lâu, trẻ bắt đầu nhớ được ý nghĩa đơn giản của đồ vật, sự kiện Tuy nhiên, trí nhớ của trẻ ở tuổi này thường ngắn, không bền vững, không chủ định, trẻ rất khó điều khiển được trí nhớ của mình, yếu tố cảm xúc đôi khi cũng ảnh hưởng tới trí nhớ của trẻ, ví như trẻ vui qua hoặc sợ quá cũng dễ làm trẻ nhớ không đúng Vì vậy trong quá trình phát triển trí nhớ cho trẻ cần có các biện pháp tác động để tăng khả năng ghi nhớ ở trẻ, điều đó góp phần tăng khả năng nhớ từ cho trẻ

Sự phát triển ngôn ngữ: Ngôn ngữ là sự sáng tạo kì diệu của con người Ngay từ khi hình thành, ngôn ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp cơ bản nhất, hữu hiệu nhất của con người

Đối với mọi người nói chung thì ngôn ngữ có vai trò quan trọng, nhờ có ngôn ngữ mà chúng ta có thể trao đổi thông tin với nhau một cách nhanh nhất, nhiều nhất, đầy đủ nhất

Đối với trẻ em nói riêng thì ngôn ngữ lại có vai trò đặc biệt quan trọng Khi trẻ mẫu giáo đã biết và nhớ tên gọi của sự vật, trẻ có thể khái quát những đặc điểm đặc trưng, phân loại chúng Nhờ đó trẻ ghi nhớ rất nhanh Trẻ ghi nhớ lại rất tốt những gì mà trẻ thích thú và gây cho trẻ những ấn tượng sâu sắc Ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này được xây dựng từ câu ngắn đến câu có nhiều âm tiết thể hiện giọng điệu mang màu sắc cảm xúc rõ nét Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ giúp cho sự phát triển tư duy, tưởng tượng tâm trí của trẻ

Tư duy của trẻ phát triển đi từ khái quát (phân tích, so sánh, tổng hợp….) trên cơ sở những dấu hiệu bên ngoài của đồ vật

Sự phát triển tư duy: Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của

sự vật, hiện tượng trong hiện thức khách quan mà trước đó ta chưa biết

Muốn giúp trẻ phát triển tư duy tốt thì giáo viên phải nắm được đặc điểm tư duy của từng độ tuổi để từ đó xây dựng mục đích, nội dung, biện pháp giáo dục phù hợp cho trẻ Tư duy của trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc, ở giai

Trang 13

đoạn này loại hình tư duy của trẻ chủ yếu là tư duy trực quan hành động, gắn liền với sự vật, đồ dùng

Tư duy của trẻ phát triển đi từ khái quát trên cơ sở những dấu hiệu bên ngoài của đồ vật, hoạt động cụ thể, ở trẻ đã xuất hiện một số dạng phán đoán, suy lý đơn giản gắn liền với các sự kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể Tư duy của trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc, ở giai đoạn này loại hình tư duy của trẻ chủ yếu là tư duy trực quan hành động, gắn liền với sự vật, đồ vật mà trẻ hàng ngày tiếp xúc trực tiếp bằng các hành động tháo lắp, vặn mở… đồng thời phát triển tư duy bằng hình ảnh, trực quan, mầm mống của tư duy từ ngữ-logic xuất hiện

Vì vậy chúng ta cần đặc biệt quan tâm tới sự phát triển tư duy của trẻ tuổi mẫu giáo, bởi nó là cơ sở, điều kiện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhỏ

Sự phát triển xúc cảm và tình cảm:

Sự phát triển xúc cảm và tình cảm: Ở giai đoạn này, trẻ đã phát triển tất cả các sắc thái xúc cảm, trẻ phản ứng với những người xung quanh, các sự kiện vui, buồn, hờn, giận…đặc biệt trẻ phản ứng xúc cảm qua lời nói, sự vận động và điệu bộ, hành vi của mọi người trẻ rất giàu tình cảm và xúc cảm Trẻ luôn có nhu cầu được trò chuyện, bày tỏ diễn đạt những điều trẻ quan sát được từ thế giới xung quanh và bộc lộ những tình cảm đó trong vui chơi và giao tiếp ở trẻ xuất hiện tâm lý mới “Khủng hoảng tuổi lên ba”

Sự phát triển tưởng tượng: 3-4 tuổi tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh mẽ

cả về dạng loại và các mức độ phong phú của hình ảnh tưởng tượng Hình ảnh tưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm tích lũy được của trẻ nhỏ ở độ tuổi này Ở trẻ đã bắt đầu xuất hiện tưởng tượng có chủ định và tưởng tượng sáng tạo Vai trò của ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển, trẻ có thể kể lại 1 chuyện cổ tích

và tưởng tượng như mình đang nói chuyện với ông bụt, bà tiên

Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giao và đặc điểm tâm lý trẻ 3-4 tuổi, cô giáo cần nắm vững những đặc điểm tâm lý trên để vận dụng các phương pháp, biện pháp nhằm phát triển vốn từ cho trẻ được tốt

Trang 14

1.4 Cơ sở giáo dục học

Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con người và hiện tượng sự vật xung quanh Con đường tự nhiên và con đường dạy học là 2 con đường mà trẻ em học tập lĩnh hội vốn từ Cuộc sống tự nhiên mang lại cho các em phần lớn từ ngữ, nhưng trẻ em lĩnh hội vốn từ bằng con đường đó thường không hệ thống Chính vì vậy, giáo dục trong nhà trường hay phát triển vốn từ cho trẻ qua con đường dạy học sẽ giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách có hệ thống và toàn diện hơn Để đạt được điều đó, giáo dục mầm non đã đưa ra mục tiêu phải hoàn thiện nhân cách trẻ

Giáo dục Mầm non với tiêu chí là là bậc tiểu học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, mà phát triển vốn từ cho trẻ là hết sức quan trọng, là một hoạt động tâm lý mà ở đó có một hoặc nhiều chủ thể cũng tham gia vào hoạt dộng Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một bộ phận của khoa học giáo dục Mầm non Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục trẻ

Phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học cần đảm bảo yêu cầu của phương pháp dạy học nói chung, đồng thời cần thể hiện được những đặc thù của phương pháp dạy học từ ngữ

Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động chung làm quen với môi trường xung quanh là hết sức thuận lợi Bằng vốn từ của mình trẻ có thể biểu đạt

sự hiểu biết của mình cho người lớn hiểu và hiểu được ý nghĩa của người lớn muốn nói gì từ đó giúp trẻ tích cực hoạt động giao tiếp với mọi người Đây là thời kỳ phát cảm về ngôn ngữ

Để giao tiếp có hiệu quả, trẻ em phải học cách tham gia vào các hoạt động giao tiếp, tiếp tục phát triển chủ đề giao tiếp thể hiện ý kiến, ý nghĩa của mình một cách rõ ràng Thêm vào đó trẻ phải biết diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ bằng giọng nói và vận dụng ngữ cảnh để giao tiếp Do đó, muốn dạy nói cho trẻ đạt kết quả, cô giáo phải đảm bảo các nguyên tắc giáo dục có tính khoa học, tính hệ thống, tính trực quan, nguyên tắc lý luận kết hợp với thực tiễn,

Trang 15

Tóm lại, phát triển vốn từ cho trẻ là nội dung quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ Nó là cơ sở để thành lập câu và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ em lứa tuổi Mầm non

1.5 Cơ sở ngôn ngữ học

1.5.1 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là thành tựu vĩ đại nhất của con người để đáp ứng nhu cầu trao đổi ý thức và suy nghĩ qua đó thuận tiện cho sự phát triển xã hội Ý thức về cách cảm nhận sự nhìn nhận đánh giá của người khác đối với mình Nói chung việc hình thành ý thức của con người chính là nhờ sự phát triển của tiếng nói và công

cụ lưu trữ ngôn ngữ của hàng mấy nghìn năm Con người biết được quá khứ, hiểu được hiện tại và đôi khi đoán trước được tương lai nhờ đó mà tiếp tục phát huy các thành rực rỡ của văn minh nhân loại

Nhìn từ góc độ sử học và suy luận lô rích, nhờ có lao động con người biết phát triển công cụ, cải thiện đời sống Con người ý thức được nguồn nuôi sống bản thân đến từ thiên nhiên để khai thác thiên nhiên thông qua quá trình cải tiến công cụ lao động Việc sử dụng đồ đá để làm công cụ dần tìm tới việc tạo ra lửa trở thành bước ngoặt to lớn trong qua trình tiến hóa mấy triệu năm và giúp con người tồn tại Hoặc có lao động con người bắt đầu hòa đồng với nhau, sống với nhau thành từng nhóm, biết được vai trò của mình trong nhóm và thông qua quá trình lao động đã dẫn tới quá trình phân cấp và phân hóa xã hội Tất cả đều thuộc vào ý thức của con người

Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thì cho rằng: ngôn ngữ là hệ thống các kí hiệu từ ngữ biểu hiện các sự vật và hiện tượng Nó là phương tiện của giao lưu và là công cụ của tư duy

Theo các nhà tâm lý học thì ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện ý thức của con người

Và hoàn toàn khác với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, các nhà tâm

lý học, các nhà sinh lý học lại coi ngôn ngữ là tín hiệu của hệ thống tín hiệu thứ hai, chính là hiện tượng ngôn ngữ tham gia vào việc tạo nên các đường “liên hệ

Trang 16

tạm thời”, là cơ sở cho tư duy trìu tượng Nhờ có hệ thống các đường “liên hệ tạm thời” này mà con người khác hẳn với động vật

*Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt:

Ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người Bên ngoài xã hội, ngôn ngữ không thể phát sinh Không thể có một xã hội loài người tồn tại

mà thiếu vắng ngôn ngữ, ngôn ngữ chỉ sinh ra và phát triển trong nhu cầu giao tiếp của con người

Ngôn ngữ không phải hiện tượng của cá nhân tôi hay cá nhân anh mà là của chúng ta Đối với mỗi cá nhân, ngôn ngữ như một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ gìn và phát triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cả cộng đồng

Hơn thế nữa, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt còn bởi lẽ: nó không giống với các hiện tượng xã hội khác Nó tồn tại trong mọi thành phần giai cấp khác nhau và luôn mang tính chất xã hội lịch sử

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp bao gồm các yếu tố đồng loại và không đồng loại, với số lượng không xác định Những hệ thống tín hiệu nhân tạo như hệ thống đèn giao thông, biển chỉ đường, quân hiệu, quân hàm v.v… chỉ bao gồm một số tương đối hạn chế các yếu tố đồng loại Chẳng hạn, hệ thống đèn giao thông chỉ gồm ba yếu tố là đèn đỏ, đèn xanh và đèn vàng và tính chất của chúng là hoàn toàn như nhau Ngôn ngữ có nhiều loại đơn vị khác nhau: âm vị khác với hình vị, hình vị khác với từ, từ khác với câu

Số lượng từ và câu trong một ngôn ngữ là vô số Không ai có thể biết tất cả các

từ của ngay tiếng mẹ đẻ của mình, bởi vì nó quá nhiều, lại thường xuyên được phát triển, bổ sung thêm

Tóm lại: Bản chất xã hội và bản chất tín hiệu của ngôn ngữ với tất cả những đặc trưng riêng biệt và phức tạp trong tổ chức hệ thống của mình đã đảm bảo nó trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người

*Ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp tư duy:

+Ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người:

Trang 17

Giao tiếp là hoat động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được mục đích nhất định Chúng ta không thể phủ định được, ngoài ngôn ngữ ra thì chúng ta còn có rất nhiều phương tiện khác để giao tiếp, ví dụ như sử dụng biểu cảm, nhưng không phải khi sử dụng phương thức này chúng

ta sẽ có 1 ý hiểu giống nhau Cụ thể hơn, cùng là lắc đầu nhưng người Việt Nam thì hiểu đó là không đồng ý nhưng với người Ấn Độ thì nó lại biểu đạt

sự đồng ý Ngoài ra, hội họa hay âm nhạc cũng có thể được xem là phương thức giao tiếp, nhưng như chúng ta đã biết, không phải ai cũng có khả năng thưởng thức hội họa hay âm nhạc, vậy nên không phải lúc nào ý tưởng của họa sĩ , nhạc sĩ và người xem, người nghe cũng trùng nhau khi thưởng thức 1 bức họa hay 1 bản nhạc

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng của con người vì: phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ ngay cả những bộ lạc bộ hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra cũng dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau Chính những ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình Có hiểu biết lẫn nhau thì con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội và cho hội ngày càng phát triển hơn

Trong khi đó bằng ngôn ngữ nói con người có thể giao tiếp, truyền đạt kinh nghiệm lịch sử xã hội từ đời này sang đời khác Các thế hệ sau tiếp thu các kinh nghiệm lịch sử xã hội từ thế hệ trước qua ngôn ngữ về mọi vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: kinh tế, khoa học, văn học, xã hội… Và con người cũng có thể bày tỏ nguyện vọng, trao đổi tình cảm, ước mơ….với tất

cả các sắc thái tinh vi, tế nhị nhất bằng ngôn ngữ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac hoàn toàn có lý khi cho rằng ngôn ngữ

là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Trẻ sinh ra không sống trong môi trường ngôn ngữ của con người thì không thể giao tiếp được, mà chỉ

có thể có những âm thanh trống rỗng mà thôi

+Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy:

Trang 18

Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là cái vỏ vật chất của tư duy Ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất nhưng không đồng nhất Thuật ngữ tư duy được hiểu theo 2 nghĩa:

Khả năng phản ánh thực tế dưới dạng khái niệm, phán đoán, kết luận Tức là tư duy đồng nhất với tư tưởng, là kết quả của quá trình suy nghĩ, quá trình tư duy

Bản thân quá trình phản ánh cuộc sống dưới dạng tư tưởng hay bản thân quá trình suy nghĩ, quá trình hình thành tư tưởng

Chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ được biểu hiện ở những vấn

đề sau:

+Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ nào, câu nào

mà không biểu hiện một ý nghĩa, một tư tưởng, một khái niệm Ngược lại, không có ý nghĩa, tư tưởng nào lại không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ

là biểu hiện thực tế của tư tưởng

+Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Mọi ý nghĩa, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu đạt bằng ngôn ngữ

Ngôn ngữ của chúng ta không chỉ tồn tại ở dạng thành tiếng mà còn tồn tại dưới dạng biểu tượng âm thanh trong óc, chữ viết trên giấy Chức năng của ngôn ngữ với tư duy không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn thể hiện cả khi con người suy nghĩa hoặc viết ra giấy Điều đó chứng tỏ khi con người tư duy, lời nói bên trong chính là phương tiện tư duy cơ bản Cho nên, con người không thể tư duy

mà không có ngôn ngữ và cũng không thể tư duy bằng ngôn ngữ khác của con người

Tóm lại: ngôn ngữ và tư duy luôn thống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Chức năng của ngôn ngữ là công cụ biểu đạt của tư duy và tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tư tưởng trong quá trình tư duy

Trang 19

Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu Hình vị cũng là đơn vị nhỏ nhất có âm, có nghĩa nhưng không được sử dụng độc lập để tạo câu, chúng chỉ là các đơn vị được dùng để cấu tạo nên từ

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ Từ vựng là tập hợp toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương: các thành ngữ, quán ngữ Thành ngữ, quán ngữ do các từ cấu tạo nên, do đó từ là đơn vị cơ bản của từ vựng Ðể tạo nên các câu nói, lời nói, người ta phải lựa chọn, kết hợp các đơn vị từ vựng, trong đó từ

là đơn vị cơ bản nên từ cũng là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ

Tóm lại, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ, là chỉnh thể gồm hai mặt (âm và nghĩa), có tính cố định, sẵn có, bắt buộc, là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có khả năng hoạt động tự do để tạo câu Trên đây mới chỉ là những nét phổ quát Ði vào từng ngôn ngữ cụ thể, quan niệm về từ cần phải được bổ sung những thuộc tính riêng, có vậy mới đạt được tính chính xác, đầy đủ

Từ có những chức năng sau:

Chức năng biểu danh(còn gọi là chức năng biểu vật) tức là chỉ rõ sự vật

được nói tới Từ là tên gọi của sự vật, hiện tượng(danh từ), là tên gọi của hành động, trạng thái của sự vật, hiện tượng(tính từ)

Phát triển vốn từ cho trẻ trước hết là phát triển từ biểu danh Vốn từ biểu danh là kết quả của quá trình nhận thức cảm tính, tri giác các sự vật, hiện tượng bằng các giác quan Vì vậy, phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành thống nhất với các quá trình nhận thức cảm tính Trong quá trình tri giác, tất cả

Trang 20

các sự vật, hiện tượng được nhận biết bằng các giác quan do đó phải đảm bảo nguyên tắc trực quan trong phát triển vốn từ cho trẻ Trẻ em học vốn từ biểu danh về các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh Vì vậy tiết học cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh và làm quen với tác phẩm văn học góp phần quan trọng trong việc phát triển từ cho trẻ

Chức năng biểu niệm: Vốn từ biểu niệm là kết quả của quá trình nhận thức

lý tính, là kết quả của quá trình thao tác tư duy bậc cao Muốn hình thành vốn từ biểu niệm một cách chăc chắn cho trẻ, ta phải phát triển các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tìm ra những điểm giống và khác nhau, tìm ra bản chất đặc trưng của nhóm sự vật, hiện tượng - tổng hợp, khái quát hóa Trên cơ sở đó, ta cung cấp các vốn từ biểu niệm, chỉ khi đó trẻ mới thực sự lĩnh hội nội dung, phạm trù, khái niệm - những đặc điểm đặc trưng của một nhóm sự vật và vỏ bọc của phạm trù này - từ ngữ khái niệm

Chức năng biểu cảm: Là mối quan hệ giữa từ và người sử dụng từ hay nói

cách khác chính là thái độ, xúc cảm, tình cảm của người nói

1.5.2.2 Vốn từ là gì?

Vốn từ hay từ vựng, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới) Vốn từ vựng thường xuyên tăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thu nhận kiến thức Người ta phân biệt hai loại kho vốn từ là chủ động và bị động Kho vốn từ chủ động bao gồm các từ được sử dụng trong văn nói và văn viết Kho vốn từ bị động bao gồm các từ mà một người có thể nhận ra lúc đọc hoặc lúc nghe, nhưng không sử dụng chúng trong văn nói hoặc viết Kho vốn từ bị động nhiều hơn kho vốn từ chủ động một vài lần

Đối với trẻ mẫu giáo vốn từ vựng tích cực là những từ trẻ nói được và nói đúng Còn những từ trẻ hiểu nhưng không nói ra được là những từ thụ động Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn nhiều so với vốn từ thụ động

1.5.2.3 Từ loại:

Theo xu hướng hiện nay của các nhà nghiên cứu Tiếng việt là dùng các đặc trưng cơ bản sau của tiếng Việt để làm tiêu chuẩn phân loại từ:

Trang 21

-Nghĩa khái quát của từ

từ nguyên mẫu

+Tính từ: là những biểu thị tính chất đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc vận động, quá trình, hoạt động Những đặc trưng đó có thể là: màu sắc, kích thước, hình dáng, số lượng, trọng lượng, phẩm chất…

+Số từ: là những biểu thị ý nghĩa số Số từ vừa có thể là thực từ(nhiều, ít) vừa có thể là hư từ (những, các)

+Đại từ: là lớp từ dùng để thay thế hay chỉ trỏ Đại từ có số lượng ít nhưng lại có tần số sử dụng cao và có vai trò rất cần thiết trong ngôn ngữ và giao tiếp

Có thể coi đại từ là lớp từ có tính chất trung gian giữa thực từ và hư từ

Các từ loại thuộc nhóm hai:

Phụ từ: bao gồm định từ và phó từ

Định từ: là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ Định từ thường đi kèm với danh từ

Trang 22

Phó từ: là hư từ thường đi kèm với động từ, tính từ Biểu thị quan hệ giữa quá trình và thực tại

Kết từ: Biểu thì ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm với đối tượng được phản ánh

+Tiểu từ: là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn và nội dung phản ánh

Từ là đơn vị cơ bản để tạo câu Không có từ thì không có ngôn ngữ Trẻ Mầm non được tiếp xúc thường xuyên với từ, trẻ sẽ có khái niệm về từ, sẽ hiểu nghĩa từ và tập sử dụng từ một cách chính xác

1.5.3 Phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi

1.5.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 4 tuổi:

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi) được phát triển trên

cơ sở những thành tựu của sự phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổi nhà trẻ (1-3 tuổi)

Sự mở rộng giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh bằng ngôn ngữ và những hoạt động tích cực, hứng thú trong hoạt động với đồ vật đã quyết định đến quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ lên ba và cuối tuổi trẻ lên ba đã biết nghe và hiểu được lời nói của người lớn

Trẻ 3-4 tuổi ngôn ngữ đã phát triển hơn so với tuổi nhà trẻ Vì thế trẻ đã có những tiến bộ đáng kinh ngạc về phát ẩm, vốn từ, cách sử dụng câu trong giao tiếp Song vẫn còn nhiều hạn chế, đó là do kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, tư duy còn nặng tính chất cụ thể trực quan, trình độ khái quát còn bị hạn chế, nên trẻ chỉ dựa vào đặc điểm bên ngoài hoặc dựa vào kinh nghiệm cụ thể bản thân

-Về ngữ âm: Do cơ quan phát âm và tai nghe ngôn ngữ đã tương đối hoàn thiện nên trẻ đã có khả năng phát âm đúng hết các âm đơn và thanh điệu Các phụ âm xuất hiện nhiều trong lời nói của trẻ: b, m, t, ch Song trẻ nói vẫn còn sai một số phụ âm:

VD: l-n: lên-nên

uống nước- uống lước

p- b: đèn pin- đèn bin

Trang 23

th- x: thịt lợn- xịt lợn

nh- n: màu xanh- màu xăn

-Về thanh điệu: Trẻ phát âm tương đối đúng thanh huyền và thanh không nhưng còn một số thanh khi phát âm vẫn còn mắc lỗi như: thành hỏi phát âm thành thanh nặng, thanh ngã phát âm thành thanh sắc

từ, động từ ở trẻ càng lớn Ngược lại, tuổi càng lớn thì tỷ lệ danh từ, động từ giảm đi và tỷ lệ các từ loại khác như tính từ, phó từ, trạng từ tăng lên Khả năng nhận thức của trẻ với thế giới xung quanh càng phát triển bao nhiêu đòi hỏi các hình thức biểu hiện bằng ngôn ngữ thông qua các từ loại cũng được tăng lên bấy nhiêu Sở dĩ có sự thay đổi đó là do đối với trẻ nhỏ thì sự nhận biết của trẻ chủ yếu là các đồ vật, hành động và những người gần gũi thân thiết nhất đối với trẻ

Do đó vốn từ của trẻ phần lớn là các danh từ, động từ là tên gọi của các đồ vật, hành động Dần dần lớn lên trẻ nhận thêm được các đặc điểm, tính chất, hình dáng, màu sắc, kích thước của các sự vật do đó tính từ xuất hiện và phát triển ngày càng nhiều Ở lứa tuổi này, sự tăng lên của các từ loại không còn phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng từ chung Có cháu số lượng từ không nhiều nhưng tỷ lệ các từ loại như tính từ, trạng từ, đại từ lại cao hơn những cháu có số lượng từ nhiều Điều này khác hẳn só với trẻ 3 tuổi

-Về cú pháp: Đây là thời kỳ trẻ có khả năng nắm cú pháp nhanh Trẻ đã nói được các câu tương đối đầy đủ thành phần và câu mở rộng thành phần như chủ ngữ- vị ngữ- các thành phần phụ: bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ Trẻ cũng đã biết

sử dụng các loại câu ghép đẳng lập, chính phụ Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng các thành phần trong từng loại câu đều được phát triển và mở

Trang 24

rộng Loại câu phức của trẻ được mở rộng, trẻ biết cấu tạo các loại câu hoàn chỉnh để kể, hoặc diễn tả lại sự hiểu, điều mong muốn của cá nhân So với tuổi nhà trẻ về số lượng từ loại, về khả năng sử dụng câu của trẻ 3-4 tuổi đã có những bước tiến khá xa, song vẫn còn những hạn chế: từ dùng trong câu nhiều khi không chính xác, khi thừa lại thiếu, vị trí các từ trong câu chưa đúng nên câu dài mà nghĩa lại tối

Tóm lại: Trẻ càng lớn thì nhu cầu nhận thức càng cao, càng rộng, nhu cầu giao tiếp càng nhiều vì thế các câu đơn giản dần được thay thế bằng các câu phức tạp hơn Điều đó giúp trẻ diễn đạt được sự hiểu biết và nguyện vọng của mình một cách đầy đủ nhất Việc phát triển vốn từ có ý nghĩa lớn trong việc tạo câu và xây dựng lời nói cho trẻ

1.5.3.2 Phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi:

Trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi là thời kỳ biểu lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ Vốn từ của trẻ tăng lên so với lứa tuổi của trẻ Trẻ đã biết dùng ngôn ngữ để giao lưu với mọi người xung quanh, sự tăng vốn từ của trẻ phụ thuộc vào điều kiện sống và điều kiện giáo dục Phát triển vốn từ của trẻ có các đặc điểm sau:

+ Giai đoạn 1: là sự chuyển thể từ trẻ giao tiếp bằng âm thanh có sự giúp

đỡ bằng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ sang giao tiếp bằng từ

+ Giai đoạn 2: số lượng vốn từ của trẻ chủ động sử dụng và sử dụng đúng trong hoạt động giao tiếp và trong hoạt động nhận thức tăng lên và cuối cùng là giai đoạn phát triển các từ loại

Trang 25

Thứ hai, củng cố vốn từ là giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và có khả năng

sử dụng được các từ này Như chúng ta đều biết số từ mà trẻ có nhiều hơn số từ

mà trẻ thường sử dụng Củng cố vốn từ là giúp cho số từ trẻ sử dụng được nâng lên nhanh chóng Tri giác được lặp đi, lặp lại nhiều lần cùng với sự hình thành thói quen sử dụng từ làm cho từ đã xuất hiện tồn tại bền vững đối với trẻ

Thứ ba, tích cực hóa vốn từ là giúp trẻ biết lựa chọn từ để sử dụng một cách chính xác, biểu cảm làm cho ngôn ngữ của trẻ mang sắc thái tu từ Có nhiều trẻ thường sử dụng được từ trong khi nói nhưng từ trẻ dùng thường do bắt chước mọi người xung quanh Chỉ khi hiểu được nghĩa của từ và được hướng dẫn sử dụng nhiều lần trong các tình huống khác nhau để trở thành thói quen thì trẻ mới có khả năng chủ động trong việc sử dụng từ

Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua hoạt động học tập làm quen với môi trường xung quanh và tác phẩm văn học là cách giáo viên giúp trẻ nắm bắt được nhiều từ mới, hiểu được nghĩa của từ, biết sử dụng đúng từ trong các tình huống giao tiếp

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Từ những cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ nói chung và sự phát triển cho trẻ nói riêng chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong nhận thức thế giới xung quanh Khi

đã có một vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ sử dụng ngôn ngữ như phương tiện biểu hiện nhận thức của mình Rõ ràng ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức được về thế giới xung quanh một cách sâu rộng, rõ ràng và chính xác Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động trí tuệ Chính vì vậy, trong công tác giáo dục thế

hệ măng non của đất nước, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ nhỏ Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành những con người phát triển toàn diện

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3-4 tuổi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ đóng vai trò rất quan trọng Vì thế, việc phát triển vốn từ cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục ngôn ngữ cho trẻ nói chung và trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ 3-4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 2.1 Định hướng chung cho hoạt động điều tra khảo sát

2.1.1 Mục đích điều tra:

Tiến hành tìm hiểu, điều tra nhằm đánh giá một số nét thực trạng về vốn từ của trẻ ở huyện Yên Định, qua đó đề xuất ý kiến vấn đề này

2.1.2 Đối tượng điều tra:

-Giáo viên đang dạy các lớp mẫu giáo 3-4 tuổi

-Trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi

Ở hai trường:

Trường Mầm non thị trấn Quán Lào- Yên Định- Thanh Hóa

Trường Mầm non xã Định Tường- Yên Định- Thanh Hóa

2.1.3 Nội dung điều tra:

- Điều tra về thực trạng về vốn từ của trẻ ở huyện Yên Định thông qua tổ chức thực hiện sinh hoạt hàng ngày của trẻ và thông qua hoạt động chung: “Làm quen với môi trường xung quanh” “Làm quen với tác phẩm văn học” trong trường Mầm non

2.1.4 Phạm vi điều tra:

- Trẻ trong độ tuổi 3-4 tuổi (mẫu giáo bé) ở các trường trên

- Tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất có liên quan tới phát triển từ

- Thông qua hoạt động:

+ Làm quen với môi trường xung quanh

+ Làm quen với tác phẩm văn học

2.1.5 Phương pháp điều tra:

- Dùng phiếu điều tra Anket

- Dùng phương pháp quan sát

- Dùng phương pháp nghiên cứu sản phẩm

2.2 Các bài tập và cách tiến hành:

Chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra phát cho giáo viên dạy lớp 3-4 tuổi ở

2 trường Mầm non, cụ thể như sau:

Trang 28

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN

Xin chị vui lòng trả lời các câu hỏi dưới đây:

I Thông tin cá nhân:

Họ và tên: Nam Nữ

Năm sinh: Dân tộc

Đơn vị công tác:

Trình độ văn hóa:

Trình độ đào tạo: Đại học Cao đẳng Trung cấp

Sơ cấp Chưa qua trường lớp đào tạo nào

Thâm niên công tác:

Số năm đã dạy lớp mẫu giáo bé (3-4 tuổi)

II Kiến thức chuyên môn:

A Chị hãy đánh dấu vào ô trống để trả lời các câu hỏi sau:

Câu 1: Phát triển vốn từ cho trẻ trong trường Mầm non có tác dụng tới sự phát

triển nào của trẻ?

Phát triển về ngôn ngữ

Phát triển về tư duy

Giúp trẻ giao tiếp

Phát triển thể lực

Câu 2: Công tác phát triển vốn từ cho trẻ trong trường Mầm non hiện đang có vị

trí nào?

Rất được coi trọng Coi trọng Bình thường

Câu 3: Phát triển vốn từ cho trẻ trong trường Mầm non đang được tiến hành

theo các cách nào sau đây:

Thành một nội dung độc lập

Tích hợp với các môn học khác

B Chị hãy ghi lại ý kiến theo các yêu cầu sau đây:

Câu 4: Liệt kê các nội dung phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi hiện đang được

thực hiện

………

Trang 29

Câu 5: Liệt kê các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 3-4 tuổi đang được chị sử

Trang 30

Câu 9: Đọc kĩ từ (1) sau đó đánh dấu (x) vào các cột bên (2.3) để phân loại từ

Từ (1)

Phân loại

Từ ghép (2)

Từ láy (3)

Trang 31

*Đối với trẻ chúng tôi xây dựng 2 bài tập Mỗi bài tập 10 từ, các từ này trẻ đã được học Chúng tôi khảo sát 40 trẻ ở 2 trường Mầm non trên Để khảo sát chúng tôi dựa trên 3 tiêu chí:

-Tiêu chí 1: Khả năng phát âm

-Tiêu chí 2: Khả năng hiểu nghĩa từ

-Tiêu chí 3: Khả năng sử dụng từ ngữ trong ngữ cảnh

Bài tập 1: Bài tập về phát âm

Mục đích: Xem lỗi phát âm của trẻ thường sai ở những lỗi nào?

+Đối với các từ không có đồ dùng trực quan như từ: Đuôi đỏ, lòng trắng, giữa hồ… Chúng tôi cho trẻ đọc thơ, đây là những bài trẻ đã được học, có trong

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (Chủ biên) (1995) , Giáo dục học mầm non, tập 1,2,3, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập 1,2,3
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1995
2. Lê Biên (1996), Từ loại tiếng Việt hiện đại, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1996
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục mầm non, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Nguyễn Huy Cẩn (Chủ biên) (1987), Một số vấn đề của việc nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em và việc dạy nói cho trẻ. (Tài liệu tổng thuật), Viện thông tin khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của việc nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em và việc dạy nói cho trẻ
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn
Nhà XB: Viện thông tin khoa học xã hội
Năm: 1987
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975) "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
6. Đỗ Hữu Châu, Giáo trình tự vựng học tiếng việt, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tự vựng học tiếng việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
7. Hồng Dân (1970) "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt
Tác giả: Hồng Dân
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1970
8. Đinh Văn Đức (1978) "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1978
9. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Thị Hòa (2009), Giáo dục học mầm non, NXB Đại học sư phạm 11. Ngô Công Hoàn (1995), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi từ lọt lòng đến 6 tuổi,tập 1,2, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non," NXB Đại học sư phạm 11. Ngô Công Hoàn (1995), "Tâm lý học trẻ em lứa tuổi từ lọt lòng đến 6 tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa (2009), Giáo dục học mầm non, NXB Đại học sư phạm 11. Ngô Công Hoàn
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm 11. Ngô Công Hoàn (1995)
Năm: 1995
12. A.V Daparogiet, (1987), Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo- tập 2, ND- Nguyễn Ánh Tuyết, hiệu đính- Đinh Hồng Thái, ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở giáo dục học mẫu giáo- tập 2
Tác giả: A.V Daparogiet, Nguyễn Ánh Tuyết, Đinh Hồng Thái
Nhà XB: ĐHSPHN
Năm: 1987
13. Phạm Minh Hạc (1998), Tâm lý học Vưgotxki, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Vưgotxki
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Nguyễn Xuân Khoa (1999), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm