1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa

131 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa Dạng Thành Phần Loài Trong Bộ Cá Vược (Perciformes) Ở Vùng Cửa Sông Mã, Tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Đào Thị Hồng
Người hướng dẫn PGS. TS. Hoàng Ngọc Thảo
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Động Vật Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Sinh Học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 14,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong bộ Cá vược Perciformes ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa...17 3.2.1.. Cho đến nay các nghiên cứu về đadạng cá nói chung cũng như bộ Cá vược P

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

ĐÀO THỊ HỒNG

ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI TRONG BỘ CÁ VƯỢC

(PERCIFORMES) Ở VÙNG CỬA SÔNG MÃ,

TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH: ĐỘNG VẬT HỌC

MÃ SỐ: 842 01 03

Người hướng dẫn: PGS TS Hoàng Ngọc Thảo

THANH HÓA, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Người cam đoan

Đào Thị Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm,giúp đỡ của rất nhiều người Đặc biệt xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thànhnhất đối với thầy giáo PGS TS Hoàng Ngọc Thảo - Trường ĐH Hồng Đức,người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thựchiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn BGH nhà trường, Phòng Đào tạo Sau đại học,Khoa Khoa học Tự nhiên - Trường Đại học Hồng Đức cùng quí thầy cô giáotrực tiếp giảng dạy chuyên ngành Động vật học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

để luận văn được hoàn thành Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thựchiện luận văn

Thanh Hóa, tháng 6 năm 2022

Tác giả

Đào Thị Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông 3

1.1.1 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông Việt Nam 3

1.1.2 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông tỉnh Thanh Hóa 5

1.2 Điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu 6

1.2.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 9

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.2 Phạm vi nghiên cứu 11

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

2.4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 11

2.4.1 Tư liệu 11

2.4.2 Phương pháp thu thập, xử lý mẫu 11

2.4.4 Phương pháp xác định các loài cá kinh tế, các loài quý, hiếm 13

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 13

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14

3.1 Thành phần các loài trong bộ Cá vược (Perciformes) ở vùng cửa sông

Trang 6

3.1.1 Danh lục các loài 14

3.1.2 Nhận xét về cấu trúc thành phần loài 16

3.2 Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong bộ Cá vược Perciformes ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa 17

3.2.1 Mô tả đặc điểm hình thái phân loại các loài 17

3.2.2 So sánh các giống và các loài trong cùng giống 70

3.2.3 Xây dựng khóa định loại 77

3.3 Các loài cá quý, hiếm, có giá trị kinh tế ở KVNC 79

3.3.1 Các loài cá quý, hiếm 79

3.3.2 Các loài có giá trị kinh tế 81

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Đề nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC PL1

Phụ lục 1 Kí hiệu mẫu các loài PL1 Phụ lục 2 Chỉ tiêu hình thái các loài PL4

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Thành phần loài trong bộ Cá vược Perciformes ở vùng cửa sông

Mã, tỉnh Thanh Hóa 14

Bảng 3.2 Cấu trúc thành phần loài trong bộ Cá vược Perciformes ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa 16

Bảng 3.3 So sánh đặc điểm hình thái loài Sillago sihama 20

Bảng 3.4 So sánh đặc điểm hình thái loài Lutjanus fulviflamma 23

Bảng 3.5 So sánh đặc điểm hình thái loài Lutjanus johnii 26

Bảng 3.6 So sánh đặc điểm hình thái loài Gerres longirostris 29

Bảng 3.7 So sánh đặc điểm hình thái loài Pomadasys argenteus 33

Bảng 3.8 So sánh đặc điểm hình thái loài Pomadasys maculatus 36

Bảng 3.9 So sánh đặc điểm hình thái loài Acanthopagrus berda 40

Bảng 3.10 So sánh đặc điểm hình thái loài Acanthopagrus latus 42

Bảng 3.11 So sánh đặc điểm hình thái loài Nemipterus bathybius 45

Bảng 3.12 So sánh đặc điểm hình thái loài Nemipterus marginatus 48

Bảng 3.13 So sánh đặc điểm hình thái loài Nemipterus virgatus 51

Bảng 3.14 So sánh đặc điểm hình thái loài Argyrosomus amoyensis 53

Bảng 3.15 So sánh đặc điểm hình thái loài Collichthys lucida 56

Bảng 3.16 So sánh đặc điểm hình thái loài Johnius borneensis 58

Bảng 3.17 So sánh đặc điểm hình thái loài Otolithes ruber 61

Bảng 3.18 So sánh đặc điểm hình thái loài Pennahia argentata 64

Bảng 3.19 So sánh đặc điểm hình thái loài Epinephelus bleekeri 67

Bảng 3.20 So sánh đặc điểm hình thái loài Platycephalus indicus 70

Bảng 3.21 So sánh các giống trong họ Sciaenidae 71

Bảng 3.22 So sánh đặc điểm giữa hai loài trong giống Lutjanus ở KVNC 72

Bảng 3.23 So sánh đặc điểm giữa ba loài trong giống Nemipterus ở KVNC 73 Bảng 3.24 So sánh đặc điểm giữa hai loài trong giống Pomadasys ở KVNC 75 Bảng 3.25 So sánh đặc điểm giữa hai loài trong giống Acanthopagrus 76

Bảng 3.26 Danh sách các loài cá quý, hiếm đã ghi nhận được ở KVNC 79

Bảng 3.27 Danh sách các loài cá có giá trị kinh tế ở KVNC 80

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Tran

Hình 1.1 Bản đồ địa lí cửa Lạch Trường 6

Hình 1.2 Bản đồ địa lí của Lạch Hới 7

Hình 2.1 Các chỉ số đo Cá (họ cá Vược) (theo W J Rainboth, 1996) 13

Hình 3.1 Cá đục Sillago sihama 19

Hình 3.2 Cá hồng ánh vàng Lutjanus fulviflamma 22

Hình 3.3 Cá hồng vảy ngang Lutjanus johnii 26

Hình 3.4 Cá móm gai khỏe Gerres longirostris 29

Hình 3.5 Cá sạo bạc Pomadasys argenteus 33

Hình 3.6 Cá sạo chấm Pomadasys maculatus 36

Hình 3.7 Cá tráp Acanthopagrus berda 39

Hình 3.8 Cá tráp Acanthopagrus latus 42

Hình 3.9 Cá lưỡng mỡ Nemipterus bathybius 45

Hình 3.10 Cá lưỡng ống Nemipterus marginatus 47

Hình 3.11 Cá lưỡng cờ Nemipterus virgatus 50

Hình 3.12 Cá đù ấn độ Argyrosomus amoyensis 53

Hình 3.13 Cá uốp Collichthys lucida 56

Hình 3.14 Cá đù nanh Johnius borneensis 58

Hình 3.15 Cá nạng bạc Otolithes ruber 61

Hình 3.16 Cá đù bạc Pennahia argentata 64

Hình 3.17 Cá mú bleeker Epinephelus bleekeri 67

Hình 3.18 Cá chai ấn độ Platycephalus indicus 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sông Mã, tiếng Việt – Mường cổ gọi là sông Mạ, có nghĩa sông mẹ, tổngchiều dài 512km Khởi nguồn từ Điện Biên, qua tỉnh Sơn La, chảy qua bắc Làorồi vào tỉnh Thanh Hoá, đổ ra Biển Đông qua cửa Hới và cửa Lạch Trường

Cửa Lạch Hới nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn,tỉnh Thanh Hóa Cửa Lạch Trường là cửa của sông Tào và đổ ra biển ởvùng giáp ranh huyện Hậu Lộc (xã Hải Lộc) và huyện Hoằng Hóa (xãHoằng Trường) Một nhánh khác đổ ra biển từ sông Lèn, là một nhánh củasông Mã, tách ra từ Hoằng Khánh (huyện Hoằng Hóa), đổ ra biển ở vùnggiáp ranh giữa huyện Hậu Lộc và huyện Nga Sơn Vùng cửa Lạch Hới vàLạch Trường có sự pha trộn giữa nước ngọt từ sông và nước mặn từ biển,tạo nên sự đa dạng và phong phú về thành phần loài cá cũng như mang lạinguồn lợi lớn về thủy sản

Bộ Cá vược (Perciformes) chiếm khoảng 40% các loài cá xương và là

bộ lớn nhất trong số các bộ của động vật có xương sống, với nhiều loài thuỷsản có giá trị kinh tế cao, được thị trường tiêu dùng ưa chuộng Tuy nhiên cácloài sinh vật biển nói chung và cũng như các loài cá ở khu vực các cửa sônghiện đang trong trình trạng bị đe dọa do ô nhiễm môi trường sống và các hoạtđộng khai thác, đánh bắt của con người Cho đến nay các nghiên cứu về đadạng cá nói chung cũng như bộ Cá vược (Perciformes) tại khu vực cửa sông

Mã, tỉnh Thanh Hóa thực hiện còn rất ít

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn tiến hành nghiên cứu đề tài

“Đa dạng thành phần loài trong bộ Cá vược (Perciformes) ở vùng cửa sông

Mã, tỉnh Thanh Hóa” nhằm đánh giá tính đa dạng nguồn lợi cá làm cơ sở

khoa học cho việc đề xuất các giải pháp quản lí, bảo vệ và khai thác hợp línguồn tài nguyên này ở khu vực nghiên cứu

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được sự đa dạng thành phần loài và giá trị nguồn lợi cá trong

bộ Cá vược (Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa.

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần loài và sự đa dạng các taxon trong bộ Cá vược(Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

- Phân tích đặc điểm hình thái phân loại của các loài trong bộ Cá vược(Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

- Xác định các loài quý, hiếm, có giá trị bảo tồn trong bộ Cá vược(Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài cung cấp dẫn liệu khoa học về thành phần loài và đặc điểmhình thái của các loài cá ở vùng cửa sông Mã, đóng góp thêm vào sự hiểu biếtcho bộ môn Ngư loại học

- Những hiểu biết về thành phần loài cá cũng như danh sách các loài

cá quý, hiếm, có giá trị bảo tồn ở KVNC là cơ sở khoa học cho việc đề xuấtcác biện pháp quản lý, khai thác và sử dụng bền vững nguồn tài nguyênnày ở địa phương

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông

1.1.1 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông Việt Nam

Cho đến nay có khá nhiều nghiên cứu về cá ở các vùng cửa sông, venbiển của Việt Nam đã được công bố Các nghiên cứu đã xác định tính đa dạng

về thành phần loài cá của hệ sinh thái này ở các vùng khác nhau trong cảnước Trong nội dung này, chúng tôi chủ yếu cập nhật các nghiên cứu vềthành phần loài cá ở các vùng cửa sông, ven biển được thực hiện trong thờigian gần đây

Năm 2008, Võ Văn Phú và Trần Thụy Cẩm Hà nghiên cứu ở hệ thốngsông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế; kết quả đã xác địnhđược 154 loài cá nằm trong 103 giống thuộc 51 họ của 14 bộ Số loài ưu thế

nhất thuộc về bộ Cá vược (Perciformes) với 64 loài [13].

Năm 2013, Nguyễn Xuân Huấn và cs nghiên cứu về thành phần loài cá

ở của sông Ba Lạt (Giai đoạn 2010-2011) Trong nghiên cứu này đã xác địnhđược 111 loài, thuộc 45 họ, trong 15 bộ, hầu hết là cá xương, còn lại chỉ có 2loài Cá sụn thuộc 2 họ và 2 bộ Bộ chiếm ưu thế nhất ở cửa Ba Lạt là bộ Cávược (Perciformes) với 58 loài (chiếm 52,3% tổng số loài) và nằm trong 21

họ (chiếm 46,7% tổng số họ) [3].

Năm 2013, Nguyễn Đình Tạo và Hoàng Thị Thanh Nhàn nghiên cứu về

đa dạng sinh học cá ở cửa sông Ba Lạt và vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnhNam Định Trong nghiên cứu đã xác định được số 122 loài cá thuộc 13 bộ, 46

họ cho VQG Xuân Thủy, trong đó có 82 loài cá được ghi nhận từ đợt khảosát Phân tích cấu trúc khu hệ cá ở vườn quốc gia Xuân Thủy cho thấy: Chiếm

số lượng nhiều nhất là bộ Cá vược (Perciformes), với 68 loài (chiếm 55,74%);tiếp đến là bộ Cá trích (Clupeiformes) với 17 loài (chiếm 13,93%), bộ Cá bao

áo (Aulopiformes) với 9 loài (chiếm 7,38%); bộ Cá kìm (Beloniformes) với 5loài chiếm (4,1%) Các bộ Cá chép (Cypriniformes), bộ Cá mối

Trang 13

(Mugiliformes) với 4 loài (chiếm 3,28%) Các bộ còn lại, mỗi bộ chỉ ghi nhận

6,53 giống và 8,47 loài Trung bình mỗi họ cá có 1,69 giống và 2,19 loài [5].

Theo Nguyễn Xuân Đồng năm 2015, bước đầu đánh giá những thay đổi

về thành phần loài cá ở hạ lưu sông Sài Gòn dưới tác động của việc xây dựng

hồ Dầu Tiếng Kết quả nghiên cứu đã xác định được 133 loài, 95 giống, 47 họcủa 15 bộ cá khác nhau ở hạ lưu sông Sài Gòn Xét về bậc họ, trong số 47 họ

cá thu được, đa dạng nhất là bộ Cá vược (Perciforms) với 22 họ, chiếm46,81% tổng số họ ghi nhận Xét về bậc giống, đa dạng nhất là bộ Cá vược(Perciformes) có 37 giống (chiếm 38,94% tổng số giống ghi nhận) Xét vềloài, đa dạng nhất là bộ Cá vược (Perciformes) có 53 loài (chiếm 39,85% tổng

số loài ghi nhận) [2].

Tại cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam, năm 2015, Nguyễn Thị Tường

Vi và cs bước đầu nghiên cứu khu hệ cá đã xác định được 139 loài thuộc 17 bộ,

63 họ và 109 giống Trong đó bộ Cá vược (Perciformes) phổ biến nhất 78 loài(chiếm 56,1% tổng số loài), tiếp đến là bộ Cá chép 12 loài (8,6%); bộ Cá bơn

(Pleuronectiformes) 9 loài (6,5%); các bộ khác có số lượng không nhiều [21].

Năm 2015, Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn đã xác định ở khu dự trữsinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh có 183 loài cátrong 60 họ thuộc 22 bộ, trong đó bộ Cá vược chiếm ưu thế nhất về thànhphần loài (84 loài), tiếp đến là bộ Cá trích (26 loài), bộ Cá bơn (14 loài), bộ

Cá nheo (10 loài), bộ Cá nhói (9 loài), bộ Cá chình (5 loài) Các bộ còn lại có

từ 1 đến 3 loài [10].

Theo Hoàng Ngọc Thảo và các cộng sự năm 2017, đã xác định được tạivùng cửa sông Lạch Cờn và Lạch Quèn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng

Trang 14

Mai 81 loài cá thuộc 60 giống, 39 họ, 11 bộ Trong số 11 bộ cá ở KVNC, bộ

Cá vược (Perciformes) đa dạng nhất với 24 họ, 38 giống, 55 loài, phù hợp với

cấu trúc thành phần loài cá ở vùng cửa sông [16].

Năm 2017, Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt đã thu thập và xác địnhđược 114 loài cá thuộc 54 họ 17 bộ ở sông Hàm Luông Trong đó, bộ Cávược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất với 42 loài, chiếm tỷ lệ 37%tổng số loài thu thập [20]

Theo Nguyễn Xuân Huấn và các cộng sự năm 2017 tại vùng biển cửasông Gianh, tỉnh Quảng Bình có 96 loài thuộc 52 họ, 11 bộ Trong đó, bộ Cávược (Perciformes) chiếm tỷ lệ cao nhất về số họ (53,85%) và số loài

(59,38%) [6].

1.1.2 Lược sử nghiên cứu cá ở cửa sông tỉnh Thanh Hóa

Ở khu vực Thanh Hóa đã có nhiều nghiên cứu về cá sông, biển và cá vùngven biển Tuy nhiên nghiên cứu về cá ở vùng cửa sông ít được quan tâm

Cho đến nay có nghiên cứu về đa dạng sinh học cá ở vùng ven bờ cửaHới của Nguyễn Xuân Huấn và các cộng sự năm 2014 Trong nghiên cứu này

đã xác định được 115 loài cá thuộc 38 họ, 13 bộ Bộ đa dạng nhất là bộ Cávược (Perciformes) với 65 loài trong 20 họ Đứng thứ 2 về số lượng loài là bộ

Cá trích (Clupeiformes) với 17 loài nhưng chỉ có 2 họ Tiếp đến là bộ Cá bơn(Peuronectiformes) với 11 loài trong 3 họ Các bộ còn lại có số loài ít hơn chỉ

có từ 1 đến 5 loài, thuộc 1 đến 2 họ, trong đó có đến 3 bộ chỉ có 1 loài [4]

Dương Quang Ngọc (2007) nghiên cứu thành phần loài cá ở lưu vựcsông Mã (Thanh Hóa), trong đó có vùng cửa sông đã thống kê được 263 loàithuộc 167 giống, 58 họ, 14 bộ Trong đó bộ Cá vược có 87 loài thuộc 64giống, 29 họ [11]

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu về các loài cá vùng ven biển được thựchiện như nghiên cứu của Lê Công Hưng (2018) về thành phần loài cá vùngbiển ven bờ huyện Tĩnh Gia [7]; Hà Như Quỳnh (2018) về hình thái và ditruyền các loài trong họ Cá mú Serranidae ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh

Trang 15

Gia [14]; Nguyễn Thị Lý (2021) về hình thái của một số loài trong họ Cálượng Nemipteridae ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa [9]; Lê Thị

Thu và cs (2021) về các loài trong giống Upeneus ở Thị xã Nghi Sơn, tỉnh

Thanh Hóa [19]

Như vậy, các nghiên cứu về cá vùng cửa sông ven biển ở Thanh Hóanói chung cũng như hạ lưu sông Mã chưa nhiều Nghiên cứu này sẽ đóng gópvào sự hiểu biết về đối tượng này ở khu vực nghiên cứu

1.2 Điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý (Nguồn: Cổng thông tin điện tử xã Hoằng Trường, huyện

Hoằng Hóa, và Quảng Tiến, Thành phố Sầm Sơn)

Hình 1.1 Vị trí địa lí Cửa Lạch Trường

Trang 16

Hình 1.2 Vị trí địa lí Cửa Lạch Hới

Khu vực cửa Lạch Hới và cửa Lạch Trường liên quan đến các huyện,thị xã chạy dọc ven bờ biển từ huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, SầmSơn, Quảng Xương

Cửa Lạch Hới nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thành phố Sầm Sơn, tỉnhThanh Hóa Một nhánh của sông Mã chảy theo hướng Bắc - Nam, gặp sôngChu ở ngã ba sông rồi rẽ theo hướng Đông chảy xuống Hàm Rồng, đổ ra cửabiển Hội Triều Cửa biển Hội Triều (còn có tên gọi khác là cửa Trào, cửaLạch Trào, cửa Hới) là ranh giới giữa huyện Hoằng Hóa ở phía Bắc và thànhphố Sầm Sơn ở phía Nam

Cửa Lạch Trường được nối liền với cả hai nhánh của sông Mã (nhánhchảy qua Hàm rồng và nhánh chảy qua Lèn) đổ ra biển Đông

Ở nhánh chảy qua Hàm Rồng, theo các tài liệu lịch sử, xưa kia sông Mã códòng chảy đến Tào Xuyên rồi đổ về Lạch Trường ra biển Nhưng đến thế kỷthứ XIV, do một biến cố bởi hàng chục bè gỗ lim bị cạn nằm chắn lòng sông

Trang 17

ở Tào Xuyên, làm cho sông Mã bị tắc dòng phải chảy qua Hàm Rồng đổ vềcửa Lạch Hới (tức Lạch Trào) để lại dòng chảy về Lạch Trường chỉ là sôngnhánh, có tên gọi là sông Tuần.

Cửa sông Lạch Trường là cửa của sông Tào (tách ra từ sông Mã ở Thịtrấn Tào Xuyên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) và đổ ra biển ở vùnggiáp ranh làng Vích tức Y Bích huyện Hậu Lộc (xã Hải Lộc) và huyện HoằngHóa (xã Hoằng Trường) Khu vực Cửa sông Lạch Trường, thuộc xã HoằngTrường, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa) có chiều dài hơn 1 km

Cửa Lạch Trường phía Hậu Lộc có sông Y Bích chảy vào nên còn gọi

là cửa Y Bích Cửa Y Bích rộng khoảng 300 m, làm ranh giới với Hậu Lộc.

Một nhánh khác của sông Mã là Sông Lèn, sông được tách ra từ sông

Mã tại địa phận xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, và xã Hà Sơn, huyện Hà Trungchảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Lạch Trường (Lạch Sung)nằm giữa xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc và xã Nga Thủy, huyện Nga Sơn

Lạch Trường là một trong 5 cửa lạch lớn đổ ra Biển Đông của tỉnh ThanhHóa Án ngữ cửa Lạch Trường là dãy núi Trường chạy từ đông sang tây, cóđiểm cao 210 m Sát cửa Lạch Trường có Hòn Bò, Hòn Hài ra xa khoảng7km có đảo Hòn Nẹ thuộc huyện Hậu Lộc

 Điều kiện khí hậu

- Chế độ nhiệt: Khu vực cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hoá chịu ảnh hưởng

khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng ven biển Bắc Trung Bộ “nóng ẩm mưanhiều” Khí hậu chia ra làm 2 mùa rõ rệt; mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóngbắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau, đặc điểm của mùa này là khô và lạnh

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ

ẩm giữa các mùa là không lớn Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng85%, phía Nam có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và

có sương mù

Trang 18

- Chế độ mưa: Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ

1.456,6 - 1.762,6 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần

từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IVnăm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% - 20% lượng mưa cả năm, khô hạnnhất là tháng I, lượng mưa chỉ đạt 4 - 5 mm/tháng Ngược lại mùa mưa (từtháng V đến tháng X) tập trung tới 80% - 85% lượng mưa cả năm, mưa nhiềunhất vào tháng VIII có 15 đến 19 ngày mưa với lượng mưa lên tới 440 - 677

mm Ngoài ra trong mùa này thường xuất hiện giông, bão kèm theo mưa lớntrên diện rộng gây úng lụt Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình từ 84 -86% và có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa Mùa mưa độ ẩm khôngkhí thường cao hơn mùa khô từ 10%- 18%

- Chế độ bão: Hàng năm từ tháng 5 - 10 vùng phải hứng chịu 5 - 6 cơn

bão, với sức gió có khi lên tới cấp 11; 12 và giật trên cấp 12

Tài nguyên biển và ven biển

Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài nguyên khá phong phú, đadạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên du lịch biển

1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Cửa Lạch Trường là nơi có điều kiện rất thuận lợi để xây dựng cáccảng cá và hình thành xây dựng khu đô thị nghề biển Trong những năm gầnđây kinh tế biển có nhiều chuyển biến rõ rệt và thu được kết quả quan trọng

cả trong khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề biển Phươngtiện khai thác phát triển theo hướng nâng cao công suất tàu thuyền để khaithác cả vùng lộng, vùng trung và vùng khơi xa

Xã Hoằng Trường huyện Hoàng Hóa, theo báo cáo tổng kết tình hìnhthực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020 có giá trịsản xuất thủy sản: 315.5 tỷ đồng = 114.7% KH = 118.5% CK

Về khai thác, thường xuyên được quan tâm vận động ngư dân nâng

cấp phương tiện, ngư lưới cụ, bám các ngư trường khai thác Tổng số

phương tiện khai thác thuỷ sản: 576 chiếc Trong đó: Tàu có công suất từ

Trang 19

240 CV – 829 CV = 98 chiếc; phương tiện te ủi, Bè mảng gắn máy côngsuất từ 24CV-125CV = 478 chiếc Sản lượng khai thác ước đạt: 9.027 tấn =100.3% KH = 137 % CK; Giá trị khai thác năm 2020 ước đạt: 284.9 tỷ đồng

= 120.8% KH = 118% CK Phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, giahạn hồ sơ tàu cá, giấy phép vùng khai thác chung theo quy định; lắp đặtmáy thông tin liên lạc tầm xa cho tàu cá; thực hiện tốt tháng hành động bảo

vệ nguồn lợi thủy sản ven biển

Công tác chăm sóc nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ môi trườngsinh thái được quan tâm; sản lượng nuôi trồng năm 2020 ước đạt: 235 tấn

=1 03,5 % KH; giá trị ước đạt: 30.6 tỷ đồng

Tuy nhiên nhiều loài hiện nay đang có nguy cơ giảm mạnh về số lượng,

do đánh bắt quá mức, đánh bắt bằng lưới cào mang tính hủy diệt Vì vậynguồn lợi hải sản ngày càng suy giảm, nguồn thu của ngư dân bị ảnh hưởng Mặt khác hiện tượng đổ thải rác trái phép đã tạo thành nhiều hố sâu ven bờ,rác thải từ thượng nguồn về cộng với rác thải sinh hoạt của người dân, gây ratình trạng ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng, ảnh hưởng tới hệ sinh tháivùng cửa sông Lạch Trường nói chung cũng như khu hệ cá nơi đây

Hiện tại, công viên văn hóa du lịch tâm linh Lạch Trường đang đượcđầu tư xây dựng, tạo điểm đến tham quan du lịch, tâm linh, kết nối với khu dulịch sinh thái biển Hải Tiến, các khu di tích lịch sử tại xã Hoằng Trường, tạothành chuỗi du lịch sinh thái, văn hóa, tâm linh, lịch sử của Hoằng Hóa, gópphần phát triển kinh tế địa phương

Tại vùng cửa Lạch Hới, cư dân Sầm Sơn chủ yếu làm dịch vụ du lịch,nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản Với việc Phát huy có hiệu quảtiềm năng thế mạnh đô thị du lịch biển, chú trọng phát triển 2 ngành kinh tế

có thế mạnh là: dịch vụ, du lịch và nghề cá đã tạo nên một diện mạo mới của

Đô thị Du lịch Biển Sầm Sơn

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài trong bộ Cá vược (Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2021 đến tháng 6/2022

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Nghiên cứu thực địa: Mẫu được thu thập ở hai địa điểm vùng cửa sông

Mã, tỉnh Thanh Hóa: cửa Lạch Trường và cửa Hới, tỉnh Thanh Hóa từ 10/8/2021đến 11/5/2022

Đợt 1: thu mẫu ngày 10/8/2021 tại Lạch Trường

Đợt 2: thu mẫu ngày 20/10/2021 tại Lạch Hới

Đợt 3: thu mẫu ngày 17/11/2021 tại Lạch Hới

Đợt 4: thu mẫu ngày 6/12/2021 tại Lạch Hới

Đợt 5: thu mẫu ngày 11/5/2022 tại Lạch Trường

+ Phân tích mẫu: tại phòng thí nghiệm Động vật học, khoa Khoa học

Tự nhiên, trường Đại học Hồng Đức từ 10/8/2021

2.4 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Tư liệu

Phân tích 61 mẫu thu được ở khu vực nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp thu thập, xử lý mẫu

- Phương pháp thu thập mẫu:

 Mẫu được thu trực tiếp tại các địa điểm ở khu vực nghiên cứu bằngcách theo ngư dân đánh bắt, thu tại các bến thuyền đánh bắt ở vùng cửa

Trang 21

Lạch Trường và cửa Hới với những thuyền nhỏ đánh bắt quanh khuvực cửa sông trong khoảng thời gian 4- 6 giờ sáng hay từ 1- 3 giờchiều.

- Xử lý và bảo quản mẫu:

+ Mẫu thu về được rửa sạch, dùng ghim cố định mẫu, định hình các vâytrên tấm xốp hoặc tấm cao su, định hình mẫu và các vây bằng dung dịchformon 7%

+ Bảo quản mẫu: sau khi định hình, mẫu thu được kí hiệu, chụp ảnh vàbảo quản trong dung dịch formon 5% tại Phòng thí nghiệm Động vật học,Trường Đại học Hồng Đức

2.4.3 Phương pháp phân tích hình thái

- Phân tích hình thái: đặc điểm hình thái các loài được phân tích theoRainboth (1996) [26]

+ Các số đo hình thái và kí hiệu:

Chiều dài toàn thân (L), chiều dài tiêu chuẩn (Lo), chiều dài đến chẻvây đuôi (Lc), dài trước vây lưng (daD), dài sau vây lưng (dpD), dài trướcvây ngực (daP), dài trước vây bụng (daV), dài trước vây hậu môn (daA), dàilưng đầu (T’), dài bên đầu (T), dài đầu sau mắt (Op), chiều dài mõm (Ot),đường kính mắt (O), khoảng cách hai mắt (OO), cao đầu ở chẩm (hT), rộngđầu ở chẩm (wT), chiều cao thân lớn nhất (H), dày thân (wH), khoảng cáchvây ngực-vây bụng (P-V), khoảng cách vây bụng-vây hậu môn (V-A), khoảngcách lỗ hậu môn-vây hậu môn (A-A’), chiều cao lớn nhất vây lưng (hD),chiều dài gốc vây lưng (lD), chiều rộng gốc vây ngực (wP), chiều dài vâyngực (lP), chiều rộng gốc vây bụng (wV), chiều dài vây bụng (lV), chiều cao

Trang 22

lớn nhất vây hậu môn (hA), chiều dài gốc vây hậu môn (lA), chiều cao cánđuôi (ccd), chiều dài cán đuôi (lcd).

Hình 2.1 Các chỉ số đo Cá (họ cá Vược) (theo W J Rainboth, 1996)

- Định tên khoa học các loài: Tên khoa học của các loài được định loạitheo tài liệu của các tác giả: Đỗ Thị Như Nhung (2007) [12], Nguyễn NhậtThi (1991) [17], Nguyễn Nhật Thi (2008) [18], FAO (Vol 5; 2001) [23],FAO (Vol 6; 2001) [24], FAO (1993) [26] Hệ thống phân loại và sắp xếpcác loài: Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes [25]

2.4.4 Phương pháp xác định các loài cá kinh tế, các loài quý, hiếm

- Các loài cá kinh tế được xác định bằng các phương pháp: Đối chiếuvới danh mục các loài cá kinh tế [9]

- Phương pháp xác định các loài quý, hiếm, các loài có giá trị bảo tồnnguồn gen và nguy cơ bị đe dọa: Theo các tài liệu Sách Đỏ Việt Nam (2007)[1] và Danh lục Đỏ IUCN năm 2022 [28]

2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu của các mẫu vật sau khi phân tích được xử lý bằng phươngpháp thống kê sinh học

Trang 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần các loài trong bộ Cá vược (Perciformes) ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

Bảng 3.1 Thành phần loài trong bộ Cá vược (Perciformes)

ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa.

TT Tên khoa học Tên phổ thông Cửa Hới Trường Lạch (2014) NXH sung Bổ Sillaginidae Họ Cá đục biển

Trang 24

TT Tên khoa học Tên phổ thông Cửa Hới Trường Lạch (2014) NXH sung Bổ

Trang 25

- Các loài bổ sung cho Thanh Hóa và khu vực nghiên cứu: đối chiếuvới các nghiên cứu trước đây đã thực hiện ở Thanh Hoá và sông Mã củaNguyễn Xuân Huấn và cs (2014) [4], Dương Quang Ngọc (2007) [11], kếtquả nghiên cứu này đã bổ sung cho khu vực nghiên cứu 09 loài:

1 Lutjanus fulviflamma - Cá hồng ánh vàng

2 Lutjanus johnii - Cá hồng vảy ngang

3 Gerres longirostris - Cá móm gai khỏe

4 Nemipterus bathybius - Cá lưỡng mỡ

5 Nemipterus marginatus - Cá lưỡng ống

6 Argyrosomus amoyensis - Cá đù ấn độ

7 Collichthys lucida - Cá uốp

8 Pennahia argentata - Cá đù bạc

9 Epinephelus bleekeri - Cá mú bleeker

3.1.2 Nhận xét về cấu trúc thành phần loài

Cấu trúc thành phần loài trong bộ Cá vược Perciformes ở vùng cửasông Mã, tỉnh Thanh Hóa được tổng hợp ở bảng 3.2

Bảng 3.2 Cấu trúc thành phần loài trong bộ Cá vược Perciformes

ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

TT Tên khoa học Số lượng Giống % Số lượng Loài %

Trang 26

TT Tên khoa học Số lượng Giống % Số lượng Loài %

Nemipterus với 3 loài chiếm tỉ lệ 16,67% Các họ đơn giống gồm: họ Cá hồng

Lutjanidae, họ Cá sạo Haemulidae, họ Cá tráp Sparidae, họ Cá lượng

Nemipteridae Các giống đơn loài gồm: Sillago, Gerres, Argyrosomus, Pennahia, Otolithes, Johnius và Collichthys

3.2 Đặc điểm hình thái phân loại các loài trong bộ Cá vược Perciformes

ở vùng cửa sông Mã, tỉnh Thanh Hóa

3.2.1 Mô tả đặc điểm hình thái phân loại các loài

Họ Cá đục biển Sillaginidae

3.2.1.1 Cá đục Sillago sihama (Forsskål, 1775)

- Tên khoa học: Sillago sihama (Forsskål, 1775)

- Tên phổ thông: Cá đục/ Cá đục bạc

- Tên đồng vật (Synonym):

Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes (2022) [25]: Sillago acuta,

Cuvier [G.] 1816 Sillago erythraea, Cuvier [G.] in Cuvier & Valenciennes

1829

Theo Fishbase (2022) [29]: Atherina sihama (Forsskål, 1775),

Platycephalus sihamus (Forsskål, 1775), Sillago ihama (Forsskål, 1775),

Trang 27

Sillago sehama (Forsskål, 1775), Sciaena malabarica Bloch & Schneider,

1801, Sillago malabarica (Bloch & Schneider, 1801); Sillago acuta Cuvier,

1816; Sillago erythraea Cuvier, 1829; Sillago vincenti (non McKay, 1980); Sillago lutea (non McKay, 1985).

- Số mẫu: 07

- Chỉ tiêu hình thái:

Lo = 5,78 (5,59-5,97)H = 3,63 (3,41-3,78)T = 2,88 (2,81-2,92)daD =

2,00 (1,87-2,43)dpD = 12,49 (11,69-13,57)lcd = 14,23 (12,74-15,32)ccd =8,45 (7,93-9,36)wH T= 2,43 (2,26-2,6)Ot = 4,49 (4,23-5,55)O = 2,75 (2,56 -3,09)Op = 4,53 (3,54-5,55) OO = 2,05 (1,95-2,13)hT = 2,25 (2,04-2,42)wT =0,28 (0,26-0,29)Lo = 1,59 (1,50-1,66) H OO = 1,1 (0,80-1,63)O; lcd = 1,14(1,09-1,26)ccd; H = 1,07 (0,96-1,36 )hD; PV = 0,26 (0,16-0,3)VA; Ot = 1,12(0,99-1,24 )Op; Ot = 2,00 (1,66-2,66)O

D1: XI; D2: I, 20 - 21; P: 16; V: I 5; A: II, 22; C: 16; L.l: 66 -70

- Mô tả:

Thân tròn và dài ở giữa to, nhỏ dần ra hai đầu trước và sau; chiều dài

thân bằng 5,78 lần chiều cao thân (Lo/H: 5,59-5,97), bằng 3,63 lần chiều dàiđầu (Lo/T: 3,41 - 3,78) Viền lưng cong, viền bụng thẳng

Đầu nhỏ, dài, đỉnh bằng, vảy tròn trên má; chiều dài đầu bằng 0,28 lầnchiều dài thân (T/Lo: 0,26-0,29), bằng 1,59 lần chiều cao thân (T/H: 1,5-1,66); dài đầu bằng 2,05 lần cao đầu (T/hT: 1,95 -2,13), gấp 2,43 lần chiều dàimõm (T/Ot: 2,26-2,6)

Mắt to, hình bầu dục, ở sát mặt lưng của phần đầu, đường kính mắt bằng0,21 lần so với chiều dài đầu (O/T: 0,16-0,24) Khoảng cách giữa 2 mắt bằng0,54 lần so với đường kính mắt, chiều dài mõm lớn hơn đường kính mắt (Ot/O: 1,66 -2,66)

Trang 28

Mõm dài và nhọn, miệng bé, ở phía trước, dưới thấp Hàm dưới hơingắn, xương hàm trước có thể co duỗi Lỗ mũi bé, nằm gần nhau và gần mắt.

Có 3 hàng vảy ở phía sau xương hàm trên đến trước xương nắp mang trước.Vây lưng trước và sau tách rời, khởi điểm vây lưng thứ nhất ở trên điểmgiữa của vây ngực, tương đối ngắn Khởi điểm vây bụng ngang dưới khởiđiểm vây ngực Mút vây ngực kéo dài đến giữa vây lưng 1, vây hậu môn dài

có 2 gai yếu và 22 tia mềm

Hàng vảy đường bên rõ, cong đều theo viền lưng, kéo dài đến hết cuốngđuôi Cuống đuôi dài, chiều dài cán đuôi bằng 1,88 chiều cao cán đuôi

có những sai khác nhất định:

Trang 29

Bảng 3.3 So sánh đặc điểm hình thái loài Sillago sihama

Dài đầu/ đường kính mắt 4,23-5,55 3,8-4,0

Về tỉ lệ dài đầu/dài mõm của các mẫu ở KVNC nằm trong giới hạn sovới tỉ lệ mô tả của loài theo Đỗ Thị Như Nhung [12] Tỉ lệ dài thân/dài đầucủa các mẫu ở KVNC là 3,41-3,78 cao hơn so với mô tả của Đỗ Thị NhưNhung là 3,1 -3,3 dài thân/cao thân của các mẫu ở KVNC là 5,59-5,97 caohơn so với tỉ lệ mô tả của loài theo Đỗ Thị Như Nhung [12] là 5,3-5,54 Tỉ lệdài đầu/đường kính mắt của các mẫu ở KVNC là 4,23-5,55 cao hơn so tỉ lệ

mô tả của loài theo Đỗ Thị Như Nhung [12] là 3,8-4,0

Họ Cá hồng Lutjanidae

3.2.1.2 Lutjanus fulviflamma (Forsskål, 1775)

- Tên khoa học: Lutjanus fulviflamma (Forsskål, 1775)

- Tên phổ thông: Cá hồng ánh vàng

- Tên đồng vật (Synonym):

Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes (2022) [25]: Mesoprion

aureovittatus, Macleay [W.] 1879 Mesoprion aurolineatus, Cuvier [G.] in Cuvier & Valenciennes 1829 Centropomus hober, Lacepède [B G E.] (ex Forsskål) 1802 Mesoprion terubuan, Montrouzier [X.] 1857 Lutjanus unimaculatus, Quoy [J R C.] & Gaimard [J P.] 1824.

Theo Fishbase (2022) [29]: Sciaena fulviflamma Forsskål, 1775;

Lutjanus fulviflammus (Forsskål, 1775); Centropomus hober Lacepède, 1802;

Trang 30

Cuvier, 1829; Mesoprion terubuan Montrouzier, 1857; Mesoprion aureovittatus Macleay, 1879.

Theo Nguyễn Nhật Thi (1991) [17]: Sciaena fulviflamma Forskal,

1775; Lutjanus fulviflamma Fowler, 1931; Lutjanus fulviflamma Day, 1878.

Số mẫu: 04

- Chỉ tiêu hình thái:

Lo = 2,73 (2,66-2,82)H = 2,77 (2,71-2,83)T = 2,30 (2,26-2,33)daD =1,16 (1,15-1,17)dpD = 8,20 (7,55-9,21)lcd = 7,35 (7,16-7,50)ccd = 5,66(5,44-5,80)wH T = 0,36 (0,35-0,37) Lo = 0,99 (0,95 -1,00)H = 3,14 (3,08 -3,20)Ot = 3,52 (3,41 - 3,63)O = 2,69 (2,57-2,77)Op = 5,34 (5,03 - 5,49)OO =1,39 (1,36-1,43)hT = 2,10 (2,07-2,12)wT OO = 0,66 (0,63-0,68)O; lcd = 0,9(0,81-0,97)ccd; H = 2,59 (2,41-2,79)hD; PV = 0,46 (0,43 - 0,48)VA; Ot =0,85 (0,83-0,89)Op; Ot = 1,12 (1,10-1,16)O

D: X, 14; P: I, 15; V: I,5; A: III, 8; C: 15 L.l: 49 - 50

- Mô tả:

Thân hình bầu dục, dẹp bên; chiều dài thân bằng 2,73 lần chiều caothân (Lo/H: 2,66-282), bằng 2,77 lần chiều dài đầu (Lo/T: 2,71-2,83) Viềnlưng và viền bụng cong đều Đầu hơi dài và nhọn; chiều dài đầu bằng 3,14chiều dài mõm (T/Ot: 3,08-3,20), bằng 3,52 lần đường kính mắt (T/O: 3,41-3,63), bằng 5,34 lần khoảng cách hai mắt, bằng 0,36 lần chiều dài thân (T/Lo:0,35-0,37), chiều dài đầu xấp xỉ bằng chiều cao thân, bằng 0,99 lần chiều caothân (T/H: 0,95-1,00); dài đầu bằng 1,39 lần cao đầu (T/hT: 1,36-1,43)

Mắt tương đối lớn có hình bầu dục, nằm ở 2 bên phần đầu, đường kínhmắt bằng 0,28 lần so với chiều dài đầu (O/T: 0,28-0,29) và bằng 0,76 lần sovới dài đầu sau mắt (O/Op: 0,75-0,79) Khoảng cách giữa 2 mắt bằng 0,66 lần

so với đường kính mắt Mõm dài và nhọn, chiều dài mõm lớn hơn đường kínhmắt 1,12 lần (Ot/O: 1,10-1,16) Mỗi bên có 2 lỗ mũi hình bầu dục, xa nhau, lỗsau ở gần mắt có bờ thấp, lỗ trước có van da cao

Trang 31

Miệng ở đầu mút, miệng tương đối rộng và chếch, hàm trên hơi dàihơn hàm dưới Có hàng vảy ở trên má và xương nắp mang Vây lưng dài liêntục, có 10 tia cứng, 14 tia mềm, chiều dài tia mềm dài hơn tia cứng.

Vây hậu môn dài có 3 gai cứng và 8 tia mềm Vây ngực có 1 gai cứng

và 5 tia mềm

Vảy đường bên 49-50, hàng vảy đường bên rõ, cong đều theo viền lưng, kéodài đến hết cuống đuôi Những hàng vảy ở trên đường bên đều xiên về phía lưng.Phía dưới đường bên vảy xếp thành hàng dọc thân Mặt lưng của đầu không có vảy.Cuống đuôi ngắn, chiều dài cán đuôi bằng 0.90 chiều cao cán đuôi

- Màu sắc:

Hình 3.2 Cá hồng ánh vàng Lutjanus fulviflamma

Màu sắc của lưng và mặt trên khi chưa ngâm fooc môn có màu xám,mặt dưới trắng với 1 đốm đen to nằm ở 2/3 phía trên đường bên, ngang trênvây hậu môn Con non có 5-7 vạch từ nâu - vàng hoặc cam khi còn sống,trong đó có 1 vạch ở sát gốc tia vây lưng

- So sánh với mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) [17]:

Kết quả so sánh đặc điểm hình thái giữa các mẫu thu được với NguyễnNhật Thi (1991) được thống kê ở bảng sau:

Bảng 3.4 So sánh đặc điểm hình thái loài Lutjanus fulviflamma

Trang 32

Đặc điểm Mẫu KVNC Nguyễn Nhật Thi [17]

Vây lưng các mẫu KVNC là 14 tia vây phân nhánh, còn theo mô tả củaNguyễn Nhật Thi (1991) vây đuôi có 13 tia vây phân nhánh

Về tỉ lệ các phần cơ thể, các tỉ lệ dài thân/dài đầu, dài thân/cao thân, dàiđầu/đường kính mắt của các mẫu ở KVNC xấp xỉ bằng tỉ lệ so với mô tả củaloài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) Tỉ lệ dài đầu/ đường kính mắt của các mẫu

ở KVNC là 3,52 thấp hơn so với mô tả của Nguyễn Nhật Thi (1991) là 4,0 Tỉ

lệ dài đầu/khoảng cách hai mắt của các mẫu ở KVNC trung bình là 5,34 caohơn so với tỉ lệ mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) là 4,2

Về màu sắc của các mẫu ở KVNC trùng với mô tả của Nguyễn NhậtThi (1991) Sai khác ở vị trí đốm đen khác so với mô tả của Nguyễn Nhật Thi(1991), các mẫu ở KVNC có 1 đốm đen to hình bầu dục nằm ở 2/3 phía trênđường bên, còn trong mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) đốm đen tohình bầu dục nằm ở 2/3 phía dưới đường bên

3.2.1.3 Lutjanus johnii (Bloch, 1972)

- Tên khoa học: Lutjanus johnii (Bloch, 1972)

- Tên phổ thông: Cá hồng vảy ngang

- Tên đồng vật (Synonym):

Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes (2022) [25]: Coius catus,

Trang 33

Hamilton [F.] 1822 Serranus pavoninus, Valenciennes [A.] in Cuvier & Valenciennes 1831 Sparus tranquebaricus, Shaw [G.] 1803 Mesoprion yapilli, Cuvier [G.] in Cuvier & Valenciennes 1828.

Theo Fishbase (2022) [29]: Anthias johnii Bloch, 1792; Sparus

tranquebaricus Shaw, 1803; Coius catus Hamilton, 1822; Mesoprion yapilli Cuvier, 1828; Diacope xanthozona Kuhl, 1828; Serranus pavoninus Valenciennes, 1831.

Theo Nguyễn Nhật Thi (1991) [17]: Anthias johnii Bloch, 1792;

Lutjannus johnii Fowler, 1931.

- Số mẫu: 01

- Chỉ tiêu hình thái:

Lo = 2,55H = 2,85T = 2,23daD = 1,18dpD = 6,96lcd = 8,10ccd =5,38wH T= 2,76Ot = 4,19O = 2,52Op = 4,59 OO = 1,23hT = 2,04wT =0,35Lo = 0,89 H OO = 0,91O; lcd = 1,16ccd; H = 2,20hD; PV = 0,50VA; Ot

Đầu hơi lớn, dẹp bên; chiều dài đầu bằng chiều dài đầu bằng 2,76 lầnchiều dài mõm, bằng 4,19 lần đường kính mắt (T/O:4,19), bằng 4,59 lầnkhoảng cách hai mắt, bằng 0,35 lần chiều dài thân (T/Lo: 0,35), bằng 0,89 lầnchiều cao thân (T/H: 0,89); dài đầu bằng 1,23 lần cao đầu (T/hT: 1,23)

Mắt tròn, lớn vừa vị trí cao gần sát mặt lưng của đầu Ở cá nhỏ,khoảng cách hai mắt nhỏ hơn đường kính mắt, bằng 0,91 lần so với đườngkính mắt; chiều dài mõm lớn hơn đường kính mắt (Ot/O: 1,52) Lỗ mũi nhỏ,mỗi bên có 2 lỗ, xa nhau, hình trứng, lỗ trước có bờ da thấp

Trang 34

Miệng ở đầu mút, rộng và chếch, hàm dưới hơi dài hơn hàm trên Môirộng và dày Có hàng vảy ở trên má và xương nắp mang Xương nắp mangtrước có khía lõm răng cưa, trên viền sau của nó có chỗ lõm sâu

Vây lưng dài liên tục, có 10 tia cứng, 13,5 tia mềm, chiều dài tia mềmngắn hơn tia cứng, chỗ giáp giữa gai và tia vây lõm, gai thứ tư dài nhất Vâyngực có 1 gai cứng và 5 tia mềm, rìa nắp mang răng cưa Vây bụng lớn; vâyhậu môn dài, có 3 gai cứng và 8 tia mềm Vây đuôi rộng, mép sau lõm

Thân có vảy lược lớn, sắp xếp hàng ngang Phía trước vây lưng có vảyphủ đến viền sau của mắt Gốc vây bụng có vảy bẹ nhỏ Vảy đường bên 48,hàng vảy đường bên rõ, cong đều theo viền lưng, kéo dài đến hết cuống đuôi.Những hàng vảy ở trên đường bên đều song song với đường bên Cuống đuôingắn, bắp đuôi khoẻ, chiều dài cán đuôi bằng 1,16 chiều cao cán đuôi Viềnbụng và viền lưng gẫy khúc từ bắp đuôi

- Màu sắc:

Hình 3.3 Cá hồng vảy ngang Lutjanus johnii

Mẫu ngâm trong dung dịch formol có màu nâu nhạt, mỗi vảy ở bênthân có một chấm đen nhỏ màu đen nâu Màu sắc của lưng và mặt trên nâu,mặt dưới trắng với 1 đốm đen hình bầu dục nằm 4/5 phía trên đường bên và1/5 phía dưới đường bên; vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn có màu đen gio

- So sánh với mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) [17]:

Kết quả so sánh đặc điểm hình thái giữa mẫu thu được với NguyễnNhật Thi (1991) được thống kê ở bảng sau:

Bảng 3.5 So sánh đặc điểm hình thái loài Lutjanus johnii

Trang 35

Đặc điểm Mẫu KVNC Nguyễn Nhật Thi [17]

Về tỉ lệ các phần cơ thể, tỉ lệ dài thân/cao thân của mẫu ở KVNC là2,55 nằm trong giới hạn tỉ lệ so với mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi(1991) là 2,5-2,7 Tỉ lệ dài thân/dài đầu của các mẫu ở KVNC là 2,85 cao hơn

so với mô tả của Nguyễn Nhật Thi (1991) là 2,5-2,6 Tỉ lệ dài đầu/dài mõmcủa các mẫu ở KVNC là 2,76 thấp hơn so với mô tả của Nguyễn Nhật Thi(1991) là 2,9-3,1 Tỉ lệ dài đầu/ khoảng cách 2 mắt của các mẫu ở KVNC là4,59 cũng thấp hơn so với tỉ lệ mô tả của loài theo Nguyễn Nhật Thi (1991) là5,2-6,8

Họ Cá móm Gerreidae

3.2.1.4 Gerres longirostris (Lacepède, 1801)

- Tên khoa học: Gerres longirostris (Lacepède, 1801)

- Tên phổ thông: Cá móm gai khỏe

- Tên đồng vật (Synonym)

Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes (2022) [25]: Gerres acinaces,

Bleeker [P.] 1854 Sparus britannus, Lacepède [B.G.E.] 1802 Sparus commersonii, Shaw [G.] 1803 Xystaema darnleyense, Ogilby [J.D.] 1913.

Trang 36

Labrus oyena gasa, var Fabricius [J C.] in Niebuhr (ex Forsskål) 1775 Gerres longicaudus, Alleyne [H G.] & Macleay [W.] 1877 Gerres poieti,

Cuvier [G.] 1829 Gerres rueppellii, Klunzinger [C B.] 1884.

Theo Fishbase (2022) [29]: Labrus longirostris Lacepède, 1801;

Sparus britannus Lacepède, 1802; Gerres poieti Cuvier, 1829; Diapterus poieti (Cuvier, 1829); Xystaema poieti (Cuvier, 1829); Gerres acinaces Bleeker, 1854 ; Gerres lineolatus Günther, 1867; Gerres longicaudus Alleyne & Macleay, 1877; Gerres rueppellii Klunzinger, 1884; Xystaema darnleyense Ogilby, 1913; Gerres darnleyense (Ogilby, 1913)

- Số mẫu: 05

- Chỉ tiêu hình thái

Lo = 2,42 (2,21 - 2,73)H = 3,36 (2,98 - 4,23)T = 2,27 (2,15 - 2,48)daD

= 1,18 (1,15 - 1,21)dpD = 8,07 (7,65 - 8,58)lcd = 7,56 (7,05 - 8,34)ccd =6,25(5,67 - 6,49)wH T= 2,96 (2,34 - 4,07)Ot = 2,82 (2,31 - 3,16)O = 2,88(2,43 - 3,14)Op = 3,19 (2,65 - 3,40) OO = 1,24 (0,85 - 1,48)hT = 1,97 (1,62 -2,18)wT = 0,73 (0,65 - 0,79)H OO = 0,88 (0,79 - 0,93)O; lcd = 0,94 (0,87-1,01)ccd; H = 2,24 (2,07 - 2,34)hD; PV = 0,51 (0,36 - 0,62)VA; Ot = 1,03(0,93 - 1,24)Op; Ot = 0,99 (0,62 - 1,18)O; lP = 1,12 (1,04 - 1,33)T

D: IX, 10; P: 15; V: I,5; A: III, 7; C: 17- 18; L.l: 41-43

- Mô tả:

Chiều dài tiêu chuẩn gấp 2,34 (Lo/H: 2,21-2,73) lần chiều cao thân;gấp 3,36 (Lo/T: 2,98-4,23) lần chiều dài đầu Chiều dài đầu gấp 2,82 (T/O:2,31-3,16) lần đường kính mắt; gấp 2,96 (T/Ot: 2,34-4,07) lần chiều dàimõm

Thân cao, dẹp bên, vảy tròn lớn Đầu nhọn, có vảy; mắt to, đường kínhmắt xấp xỉ bằng dài đầu sau mắt và bằng 1,03 lần (O/Op: 0,93 - 1,24); có 2 lỗmũi tròn nhỏ; miệng nhỏ nhô ra phía trước; hai hàm gần bằng nhau, xươnghàm trên quá viền trước mắt Tiền mang và xương nắp mang trơn, màngmang tách rời Đường bên liên tục từ góc trên mang tới vây đuôi, phần trước

Trang 37

cong ít.

Có 1 vây lưng, gai I rất ngắn, gai III dài nhất và ngắn hơn chiều dàimõm + đường kính mắt Vây ngực dài, mút sau vây ngực đạt đến gốc vây hậumôn, dài vây ngực lớn hơn dài đầu, bằng 1,12 lần dài đầu (lP/T: 1,04 - 1,33).Vây bụng lớn hơn đầu sau mắt + đường kính mắt Vây hậu môn có 3 gai và 7tia, trong đó gai II to và khoẻ, gai III dài nhất Vây đuôi lõm sâu chia hai thuỳnhọn, gốc có nhiều vảy nhỏ Cuống đuôi ngắn, chiều dài cán đuôi bằng 0.94chiều cao cán đuôi (lcd/ccd: 0,87 - 1,01)

- Màu sắc:

Hình 3.4 Cá móm gai khỏe Gerres longirostris

Lưng xám, phần dưới trắng ánh bạc Các vây xám nhạt, viền ngoài vâylưng gai đen Vây hậu môn có vảy màu bạc bẹ lá; phần xa của vây bụng giữacác tia mềm thứ 1 - 5 có màu trắng hoặc trắng đục trong khoảng 1/5 - 1/3chiều dài tia, các phần khác có màu trắng đục hoặc hơi vàng; vây ngực và vâyhậu môn màu trắng đục Vây đuôi sẫm màu, rìa sau sẫm màu hơn Thân có 4 -

6 vạch đen hơi xiên ở mẫu ngâm trong fooc môn

- So sánh đặc điểm hình thái của Cá móm gai khỏe Gerres longirostris với mô tả của Đỗ Thị Như Nhung (2007) [12] kết quả được

trình bày ở bảng sau:

Trang 38

Bảng 3.6 So sánh đặc điểm hình thái loài Gerres longirostris

Tỉ lệ dài thân/dài đầu của các mẫu ở KVNC là 2,98-4,23 cao hơn sovới mô tả của Đỗ Thị Như Nhung (2007) là 2,9-3,1 Tỉ lệ dài thân/cao thâncủa các mẫu ở KVNC là 2,21-2,73 cũng cao hơn so với tỉ lệ mô tả của loàitheo Đỗ Thị Như Nhung (2007) là 2,3-2,5 Các mẫu ở KVNC có tỉ lệ dài đầu/dài mõm là 2,34 - 4,07 cao hơn so với mô tả của Đỗ Thị Như Nhung (2007) là3,3-3,5; tỉ lệ dài đầu/đường kính mắt của các mẫu ở KVNC là 2,31-3,15 cũngcao hơn so với tỉ lệ mô tả của loài theo Đỗ Thị Như Nhung (2007) là 2,7-3,0

Họ Cá sạo Haemulidae

3.2.1.5 Pomadasys argenteus (Forsskål, 1775)

- Tên khoa học: Pomadasys argenteus (Forsskål, 1775)

- Tên phổ thông: Cá sạo bạc

- Tên đồng vật (Synonym):

Theo Eschmeyer's Catalog of Fishes (2022) [25]: Sciaena argentea,

Forsskål [P S.] in Niebuhr 1775 Pristipoma chrysobalion, Cuvier [G.] (ex Kuhl & van Hasselt) in Cuvier & Valenciennes 1830 Coius gudgutia, Hamilton [F.] 1822 Lutjanus hasta, Bloch [M E.] 1790 Anthias lineatus,

Trang 39

Bloch [M E.] 1793 Pristipoma manadense, Günther [A.] 1872 Pristipoma nageb, Rüppell [W P E S.] 1838 Sciaena nageb, Bonnaterre [J P.] 1788 Polotus nitidus, Blyth [E.] 1858 Lutjanus orientalis, Lacepède [B.G.E.] 1802 Sparus trilineatus, Shaw [G.] 1803

Theo Fishbase (2022) [29]: Sciaena argentea Forsskål, 1775;

Pristipoma argenteum (Forsskål, 1775); Pomadasys hasta (Bloch, 1790); Pristipoma hasta (Bloch, 1790); Lutjanus microstomus Lacepède, 1802; Coius gudgutia Hamilton, 1822; Pristipoma chrysobalion Cuvier, 1830; Pristipoma nageb Rüppell, 1838; Polotus nitidus Blyth, 1858; Pristipoma manadense Günther, 1872; Labrus commersonnii (non Lacepède, 1801); Pristipoma commersonnii (non Lacepède, 1801)

Theo Nguyễn Nhật Thi (1991) [17]: Sciaena argentea Forskal, 1775;

Pomadaysys argenteus Fowler, 1931.

- Số mẫu: 01

- Chỉ tiêu hình thái:

Lo = 2,98H = 3,27T = 2,68daD = 1,18dpD = 6,60lcd = 10,88ccd =6,81wH T= 2,92Ot = 3,36O = 2,76Op = 3,83OO = 1,51hT = 2,11wT =0,31Lo = 0,91 H OO = 0,88O; lcd = 1,65ccd; H = 1,66hD; PV = 0,34VA; Ot

Đầu hơi nhỏ, dẹp bên, mép sau xương nắp mang trước lõm và hìnhrăng cưa, góc dưới có gai lớn; chiều dài đầu bằng 0,31 lần chiều dài thân(T/Lo: 0,31), bằng 0,91 lần chiều cao thân (T/H: 0,91); dài đầu bằng 1,51 lần

Trang 40

cao đầu (T/hT: 1,51); dài đầu bằng 2,91 lần dài mõm (T/Ot: 2,91), bằng 3,36đường kính mắt (T/O: 3,36), bằng 3,83 lần khoảng cách hai mắt.

Mắt lớn và tròn ở vị trí nửa trước đầu Mỗi bên có 2 lỗ mũi hình bầudục lỗ mũi trước lớn và có van da rộng ở bờ sau, đường kính mắt bằng 0,30lần so với chiều dài đầu (O/T: 0,30) và bằng 0,87 lần so với chiều dài mõm(O/Ot: 0,87) Khoảng cách giữa 2 mắt bằng 0,88 lần so với đường kính mắt,chiều dài mõm lớn hơn đường kính mắt bằng 1,15 lần đường kính mắt (Ot/O:1,15)

Miệng hơi nhỏ, hàm dưới ngắn hơn hàm trên Môi dày và rộng, gấp lạitạo thành rãnh ở hai bên hàm, trong rãnh có nhiều nếp da dạng van hình sóng.Cằm có 2 lỗ nhỏ và 1 rãnh sâu ở giữa ngay sau chỗ hai hàm giáp nhau Không

có mang giả, màng nắp mang rộng phủ lên một phần gốc vây ngực

Vây lưng dài, có 12 tia cứng, các gai cứng to khoẻ, lõm sâu ở cuối phầngai, có 14 tia mềm, gai cứng sau cùng dài hơn gai trước nó Vây hậu môn dài

có 3 gai cứng và 7 tia mềm, gai thứ hai của vây hậu môn lớn nhất và dài nhất(dài hơn cả gai cứng lớn nhất của vây lưng) Vây ngực dài, mút vây tới hoặcquá phía trên vây hậu môn Vây bụng tương đối lớn, ở sau gốc vây ngực, có 1gai cứng dài và mảnh

Vảy đường bên 53, bắp đuôi dài và khoẻ, chiều dài cán đuôi bằng 1,65lần so với chiều cao cán đuôi Vây đuôi rộng, mép sau lõm sâu

- Màu sắc:

Toàn thân màu trắng bạc, nửa trên có nhiều vân đen nhỏ chạy dọc, hìnhdạng và cách sắp xếp các vân không đều nhau Mép phần gai lưng có màuđen, dọc vây có 4 hàng chấm đen, hàng dưới cùng sát gốc vây các chấm nhỏdần từ trước ra sau và từ trên xuống dưới Mép vây đuôi màu đen gio Cácvây khác không màu

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách Đỏ Việt Nam - Phần Động vật, NXB Khoa học và Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam - Phần Động vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học vàCông nghệ Việt Nam
Năm: 2007
2. Nguyễn Xuân Đồng (2015): Biến đổi thành phần loài cá ở hạ lưu sông Sài Gòn trước và sau khu xây dựng hồ Dầu Tiếng. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 6. Tr. 1342-1350 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi thành phần loài cá ở hạ lưu sôngSài Gòn trước và sau khu xây dựng hồ Dầu Tiếng
Tác giả: Nguyễn Xuân Đồng
Năm: 2015
3. Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Thị Mai Dung (2013): Thành phần loài cá ở của sông Ba Lạt (Giai đoạn 2010-2011).Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 5.Tr. 84-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài cá ở của sông Ba Lạt (Giai đoạn 2010-2011)
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Thị Mai Dung
Năm: 2013
4. Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Lê Đức Giang, Vũ Thị Thanh (2014): Đa dạng sinh học cá ở vùng ven biển cửa Hới, tỉnh Thanh Hóa.Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh học Biển và phát triển bền vững, lần thứ 2. Tr. 79-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học cá ở vùng ven biển cửa Hới, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Lê Đức Giang, Vũ Thị Thanh
Năm: 2014
5. Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thành Nam (2015): Đa dạng loài cá ở vùng cửa sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 6. Tr. 57-581 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đadạng loài cá ở vùng cửa sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thành Nam
Năm: 2015
6. Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Tạ Phương Đông (2017): Đa dạng loài cá ở vùng biển cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 7. Tr.206-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đadạng loài cá ở vùng biển cửa sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn, Nguyễn Thành Nam, Tạ Phương Đông
Năm: 2017
7. Lê Công Hưng (2018): Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cá ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cá ở vùngbiển ven bờ huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Lê Công Hưng
Năm: 2018
9. Nguyễn Thị Lý (2021): Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loài trong họ Cá lượng Nemipteridae ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái của một số loàitrong họ Cá lượng Nemipteridae ở vùng biển Thị xã Nghi Sơn, tỉnhThanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Lý
Năm: 2021
10. Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn (2015): Thành phần khu hệ cá khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 6.Tr. 685-688 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần khu hệ cá khu dựtrữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn
Năm: 2015
11. Dương Quang Ngọc (2007): Góp phần nghiên cứu cá lưu vực sông Mã thuộc địa phận Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Sinh học. Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu cá lưu vực sông Mãthuộc địa phận Việt Nam
Tác giả: Dương Quang Ngọc
Năm: 2007
12. Đỗ Thị Như Nhung (2007): Cá biển Việt Nam – Bộ cá vược Perciformer, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 391 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam – Bộ cá vượcPerciformer
Tác giả: Đỗ Thị Như Nhung
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
13. Võ Văn Phú, Trần Thụy Cẩm Hà (2008): Đa dạng thành phần loài cá ở hệ thống sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 49, 2008. Tr.111-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thành phần loài cá ởhệ thống sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Võ Văn Phú, Trần Thụy Cẩm Hà
Năm: 2008
14. Hà Như Quỳnh (2018): Đặc điểm hình thái và di truyền một số loài trong họ cá mú Serranidae ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Trường Đại học Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm hình thái và di truyền một số loàitrong họ cá mú Serranidae ở vùng biển ven bờ huyện Tĩnh Gia, tỉnhThanh Hóa
Tác giả: Hà Như Quỳnh
Năm: 2018
15. Nguyễn Đình Tạo (2013): Đa dạng sinh học cá vùng cửa sông Ba Lạt và vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 5. Tr. 678-681 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học cá vùng cửa sông Ba Lạt vàvườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Đình Tạo
Năm: 2013
16. Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Thị Yến, Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Kim Tiến (2017): Kết quả nghiên cứu về thành phần loài cá vùng cửa sông Mai Giang, huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai, Nghệ An. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 7. Tr. 382- 387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu về thành phần loài cá vùng cửa sông MaiGiang, huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai, Nghệ An
Tác giả: Hoàng Ngọc Thảo, Nguyễn Thị Yến, Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Kim Tiến
Năm: 2017
17. Nguyễn Nhật Thi (1991): Cá biển Việt Nam – Cá xương vịnh Bắc Bộ, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 459 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam – Cá xương vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Nhật Thi
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1991
18. Nguyễn Nhật Thi (2008): Cá biển Việt Nam – Cá xương vịnh Bắc Bộ, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 244 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam – Cá xương vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Nhật Thi
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
19. Lê Thị Thu, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Ngọc Thảo (2021):Dẫn liệu hình thái của ba loài trong giống Upeneus (Cuvier and Valenciennes, 1829) ở vùng biển ven bờ Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tạp chí khoa học Trường Đại học Vinh. Tập 50(1A): 54-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu hình thái của ba loài trong giống Upeneus (Cuvier andValenciennes, 1829) ở vùng biển ven bờ Thị xã Nghi Sơn, tỉnh ThanhHóa
Tác giả: Lê Thị Thu, Lê Thị Hà, Nguyễn Thị Lương, Hoàng Ngọc Thảo
Năm: 2021
20. Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt (2017): Dẫn liệu về khu hệ cá sông Hàm Luông ở vùng hạ lưu. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật lần thứ 7. Tr. 460-466 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn liệu về khu hệ cá sông HàmLuông ở vùng hạ lưu
Tác giả: Thái Ngọc Trí, Hoàng Đức Đạt
Năm: 2017
28. IUCN 2022. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2021-3.http://www.iucnredlist.org Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Vị trí địa lí Cửa Lạch Trường - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 1.1. Vị trí địa lí Cửa Lạch Trường (Trang 15)
Hình 1.2. Vị trí địa lí Cửa Lạch Hới - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 1.2. Vị trí địa lí Cửa Lạch Hới (Trang 16)
Hình 2.1. Các chỉ số đo Cá (họ cá Vược) (theo W. J. Rainboth, 1996) - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 2.1. Các chỉ số đo Cá (họ cá Vược) (theo W. J. Rainboth, 1996) (Trang 22)
Hình 3.1. Cá đục Sillago sihama - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.1. Cá đục Sillago sihama (Trang 28)
Bảng 3.3. So sánh đặc điểm hình thái loài Sillago sihama - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.3. So sánh đặc điểm hình thái loài Sillago sihama (Trang 29)
Hình 3.2. Cá hồng ánh vàng Lutjanus fulviflamma - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.2. Cá hồng ánh vàng Lutjanus fulviflamma (Trang 31)
Hình 3.3. Cá hồng vảy ngang Lutjanus johnii - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.3. Cá hồng vảy ngang Lutjanus johnii (Trang 34)
Hình 3.4. Cá móm gai khỏe Gerres longirostris - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.4. Cá móm gai khỏe Gerres longirostris (Trang 37)
Hình 3.5. Cá sạo bạc Pomadasys argenteus - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.5. Cá sạo bạc Pomadasys argenteus (Trang 41)
Bảng 3.7. So sánh đặc điểm hình thái loài Pomadasys argenteus - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.7. So sánh đặc điểm hình thái loài Pomadasys argenteus (Trang 41)
Hình 3.6. Cá sạo chấm Pomadasys maculatus - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.6. Cá sạo chấm Pomadasys maculatus (Trang 44)
Hình 3.7. Cá tráp Acanthopagrus berda - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.7. Cá tráp Acanthopagrus berda (Trang 47)
Hình 3.8. Cá tráp Acanthopagrus latus - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.8. Cá tráp Acanthopagrus latus (Trang 50)
Bảng 3.10. So sánh đặc điểm hình thái loài Acanthopagrus latus - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.10. So sánh đặc điểm hình thái loài Acanthopagrus latus (Trang 50)
Hình 3.9. Cá lưỡng mỡ Nemipterus bathybius - Đa dạng thành phần loài trong bộ cá vược (perciformes) ở vùng cửa sông mã, tỉnh thanh hóa
Hình 3.9. Cá lưỡng mỡ Nemipterus bathybius (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w