1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12

98 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tập trung đi sâu vào đề tài "Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm trích đoạn văn xuôi ở lớp 12".. Trong đó trìn

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đổi mới phương pháp dạy học là nhu cầu cấp thiết mà xã hội đặt

ra đối với ngành giáo dục

Nền kinh tế tri thức trong xã hội hiện đại đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ giỏi về khoa học kĩ thuật mà còn có năng lực tự học, năng lực tư duy khoa học, đáp ứng sự phát triển không ngừng của lực lượng sản suất Đó là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, là các chủ thể năng động, tích cực, sáng tạo trong công việc và nghiên cứu khoa học Thực tế giảng dạy ở các cấp học khác nhau đặt ra vấn đề cần phải dạy học như thế nào để tạo ra sản phẩm con người đáp ứng nhu cầu xã hội Một cuộc cách mạng lớn trong giáo dục đã đặt

ra và được tiến hành trong vài thập niên gần đây Trong đó, vấn đề then chốt nhất phải kể đến là đổi mới phương pháp dạy học

Thực tế dạy học trước đây cho thấy, hầu hết các nhà trường đều áp dụng phương pháp dạy học truyền thống, lấy giáo viên và hoạt động truyền thụ kiến thức của người thầy làm trung tâm Điều này đã gây ra tâm lí thụ động cho học sinh khi tiếp nhận kiến thức một chiều, vừa gây nên sự quá tải

về kiến thức vừa tạo nên sự nhàm chán cho người học Đối với nhóm môn khoa học xã hội thì hậu quả càng nghiêm trọng Hiện tượng các "bài văn lạ" xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng nhiều Học sinh lựa chọn các môn học xã hội ngày càng giảm và chỉ học mang tính chất đối phó, học vẹt, học tủ Lí giải cho thực trạng nêu trên có thể do tâm lí thực dụng của xã hội hiện đại nhưng nguyên nhân cơ bản là do phương pháp dạy học lạc hậu, trì trệ Từ đó đặt ra nhu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học để cải thiện chất lượng dạy học hiện nay

Nghị quyết 29 của Ban chấp hành TW8 khóa XI đã khẳng định nhiệm vụ: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lí luận luôn gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và

Trang 2

giáo dục xã hội" Nghị quyết đã chỉ ra giải pháp tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Nghị quyết cũng đã chỉ ra: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc"

Xuất phát từ định hướng đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục; trước hết cần phải thấy được khâu then chốt nhất là đổi mới phương pháp dạy học Người giáo viên cần phải thay đổi cách dạy, cách kiểm tra đánh giá thì mới tạo ra sự thay đổi cách học và kết quả học tập

1.2 Sử dụng bản đồ tư duy phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trong khoảng 14 năm trở lại đây, việc đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng đầu Dạy học hiện nay đã đề cập rất nhiều các phương pháp dạy học hiện đại như: dạy học tích cực, dạy học tích hợp nhằm phát huy vai trò tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức Các kĩ thuật dạy học hiện đại cũng được đưa ra thể nghiệm như: đặt câu hỏi, khăn phủ bàn, mảnh ghép, kĩ thuật KWL, học tập hợp tác Các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại này phù hợp với mục tiêu đổi mới của ngành giáo dục Trong số đó, sử dụng bản đồ tư duy phát huy cao độ khả năng

tự học, ghi nhớ và sáng tạo của học sinh Nó phù hợp với mục tiêu của phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt là phương pháp dạy học tích cực

Hiểu một cách khái quát nhất, bản đồ tư duy là một công cụ dạy học mà sản phẩm của nó chính là sự kết hợp một cách logic, hệ thống giữa các nhánh được triển khai từ một ý tưởng trung tâm Kết hợp giữa các phán đoán với hình ảnh, âm thanh, màu sắc để tạo nên một sản phẩm sáng tạo độc đáo của tư duy con người Xuất phát từ mục tiêu tạo ra những con người năng động, chủ động, tích cực, sáng tạo; bản đồ tư duy tỏ ra có nhiều ưu điểm vượt trội phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trang 3

Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học cho phép khai thác tối đa tiềm năng tư duy của não bộ; giúp học sinh linh hoạt, chủ động liên hệ hiểu biết và tiếp thu kiến thức mới Trong Nghị quyết 29 của Ban chấp hành TW8 khóa

XI có nêu ra mục tiêu: "Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực" Đây chính là vấn đề then chốt tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về đổi mới phương pháp dạy học Dạy học là phải dạy cho học sinh cách học, cách nghĩ, cách tiếp cận kiến thức Bản đồ tư duy sẽ giúp cho học sinh học được phương pháp học Từ bỏ cách tiếp cận thụ động; học sinh sẽ độc lập, chủ động phát triển tư duy của mình thông qua quy trình sử dụng bản đồ tư duy Học sinh học tập một cách tích cực, ghi nhớ có hiệu quả hơn Việc học sinh tự

vẽ bản đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo, thể hiện rõ cách hiểu và cách trình bày kiến thức của từng học sinh Như vậy, việc sử dụng bản

đồ tư duy trong quá trình dạy học là cần thiết và phù hợp với nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

1.3 Thực tiễn dạy học cho thấy sử dụng bản đồ tư duy hứa hẹn nhiều hiệu quả tốt đẹp

Từ những ưu điểm vượt trội, bản đồ tư duy đã được áp dụng vào thực tế dạy học trong nhiều năm nay Trên thế giới, bản đồ tư duy được biết đến từ những năm 60 của thế kỉ trước Ở Việt Nam, bản đồ tư duy được đưa vào dạy học trong khoảng 7 năm trở lại đây Những hiệu quả mà nó đem lại không thể phủ nhận được

Bản đồ tư duy được sử dụng trong các nhà trường phổ thông, phục vụ thiết thực cho việc lập kế hoạch của cán bộ quản lí, của giáo viên chủ nhiệm

và cho công tác dạy học Đó là một phương tiện hỗ trợ dạy học hiệu quả, vừa phát huy tính độc lập, chủ động và sáng tạo của học sinh vừa kích thích sự phát triển toàn diện của tư duy con người

Hiện nay có nhiều dự án phát triển giáo dục đã được triển khai trong các tỉnh (thành phố) về việc ứng dụng bản đồ tư duy vào trong các nhà trường

Trang 4

trung học cơ sở và trung học phổ thông Bản đồ tư duy đang được phổ biến rộng rãi và khẳng định điểm ưu việt của mình vào cuộc cách mạng phương pháp dạy học Dạy học sử dụng bản đồ tư duy là một cách dạy học hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp

Xuất phát từ tình hình thực tế và nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

đã nêu ra ở trên, việc áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học và trong công việc thực sự mang lại nhiều tiện ích Do vậy, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi tập trung đi sâu vào đề tài "Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12"

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

ở lớp 12 theo chương trình chuẩn

3.1 Những nghiên cứu về bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy được thế giới biết đến từ năm 1960 Tony Buzan được xem là ông tổ của bản đồ tư duy Ông là nhà nghiên cứu về não bộ và phương pháp tư duy của con người Tháng 12/2006 Tony Buzan chính thức giới thiệu

phần mềm Mind Map và cuốn sách Use your head Trong đó, ông trình bày

cách ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp Mind Map Ông

cũng viết nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu hướng dẫn như Mind Map book, Use your memory Ông chính là người đề xướng và phát triển ý

tưởng sử dụng bản đồ tư duy phục vụ trong công việc và trong dạy học Trong các công trình nghiên cứu của mình, Tony Buzan đã cho các thế hệ độc giả trên toàn thế giới biết đến một công cụ hỗ trợ hiệu quả cho tư duy con người

Trang 5

Bản đồ tư duy đã thực sự khẳng định ưu thế của mình trong việc sắp xếp kế hoạch và thực hiện công việc một cách hiệu quả Tuy nhiên, lĩnh vực chủ yếu

mà ông nghiên cứu lại tập trung ứng dụng trong công việc, còn trong lĩnh vực dạy học chưa được chuyên sâu nghiên cứu

Joyce Wycoff cũng có công trình nghiên cứu về Ứng dụng bản đồ tư duy (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội) Tác giả đi sâu nghiên cứu về việc sử

dụng bản đồ tư duy vào trong công việc và xây dựng kế hoạch cá nhân Cuốn sách đã giới thiệu với người đọc về kĩ thuật xây dựng bản đồ tư duy thông thường Qua đó trình bày khả năng ứng dụng rộng rãi bản đồ tư duy vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống như: xây dựng kế hoạch cá nhân, quản lí, thuyết trình, học tập Đặc biệt tác giả đi sâu khẳng định hiệu quả của bản đồ

tư duy đối với học tập, xem đó là một hình thức ghi chép hiệu quả cho quá trình ghi nhớ của con người Công trình nghiên cứu đã cung cấp cách thiết kế một bản đồ tư duy và vận dụng như thế nào trong lĩnh vực học tập Điều này giúp cho giáo viên dễ dàng sử dụng công cụ này vào lĩnh vực dạy học

Tác giả Stella Cottrell cũng chuyên sâu nghiên cứu về bản đồ tư duy

và tổng kết cách "ghi chép" hiệu quả trên bản đồ tư duy gồm: 1) Dùng từ khóa và ý chính; 2) Viết cụm từ, không viết thành câu; 3) Dùng các từ viết tắt; 4) Có tiêu đề; 5) Đánh số các ý; 6) Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên

số, màu sắc ; 7) Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng; 8) Sử dụng màu sắc để ghi

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của Kevin Paul (Học khôn ngoan mà không gian nan), Bobie Deporter (Phương pháp học tập siêu tốc), Daniel Pink (Một tư duy hoàn toàn mới) cũng nghiên cứu về bản đồ tư duy

Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả không đi sâu nghiên cứu lí thuyết về bản đồ tư duy mà tập trung vào cách ứng dụng vào trong quá trình học tập Đây được xem như những nghiên cứu ứng dụng hỗ trợ quá trình dạy học của giáo viên

Trang 6

Ở Việt Nam, tác giả Trần Đình Châu và Đặng Thu Thủy là hai người

đưa bản đồ tư duy vào ứng dụng sớm nhất Hai tác giả giới thiệu bộ sách Dạy tốt học tốt bằng bản đồ tư duy gồm 05 cuốn do Nhà xuất bản Giáo Dục ấn

hành Trong đó trình bày cụ thể về những tiện ích và cách sử dụng công cụ bản đồ tư duy vào dạy học các môn học Ngoài ra, hai tác giả còn có nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí như: "Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ

chức hoạt động học tập của học sinh", tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên

đề TBDH năm 2009 Tác giả Trần Đình Châu có bài viết "Sử dụng bản đồ tư

duy - một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn Toán", tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 9/2009 Những nghiên cứu của Trần Đình Châu và Đặng Thu

Thủy chính là những tiền đề cho việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học ở Việt Nam

Cùng với sự khẳng định tiện ích của bản đồ tư duy trong dạy học và trong công việc, ngày càng có nhiều nghiên cứu về công cụ này Các nhà giáo nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học thông qua các công trình viết sách nghiên cứu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các sáng kiến kinh nghiệm và các bài viết đăng trên các báo và tạp chí Các ngành khoa học khác nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy phục vụ cho việc lập kế hoạch công tác

và quản lí nhân sự Trong đó đáng kể là cuốn sách Bản đồ tư duy đổi mới dạy học (Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009) của

thầy giáo Hoàng Đức Huy Cuốn sách đã đề cập đến việc sử dụng bản đồ tư duy như chìa khóa đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Dự án Việt - Bỉ của Bộ GD & ĐT xuất bản cuốn sách "Dạy và học tích cực - một số phương pháp và kĩ thuật dạy học" (Nhà xuất bản Đại học sư

phạm), có đề cập đến việc sử dụng bản đồ tư duy như một phương pháp dạy học tích cực, khoa học, hiệu quả Cuốn sách là một công trình nghiên cứu tổng thể về phương pháp dạy học tích cực, từ khâu đổi mới phương pháp dạy học đến khâu đổi mới kiểm tra đánh giá Những cơ sở lí luận và cách ứng

Trang 7

dụng bản đồ tư duy vào dạy học mà cuốn sách đã nêu thực sự là những tiền đề cần thiết cho việc áp dụng bản đồ tư duy vào trong quá trình dạy học Văn

3.2 Những nghiên cứu về bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn

Từ những tiện ích và hiệu quả mà bản đồ tư duy mang lại trong công việc và học tập; khoảng 7 năm gần đây nhiều trường tiểu học, trung học cơ

sở, trung học phổ thông đã áp dụng bản đồ tư duy trong quản lí và dạy học

Từ thực tế dạy học đó, các công trình nghiên cứu về ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học càng trở nên phổ biến

Trong những năm qua, nhiều dự án phát triển giáo dục đã xây dựng và thực hiện ở nhiều địa phương trong cả nước Trong đó ưu tiên hàng đầu là sự đổi mới phương pháp dạy học có sự tham gia của công cụ bản đồ tư duy Tác

giả Trần Văn Nam có chuyên đề "Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS" (dự án phát triển giáo dục THCS II của bộ GD & ĐT) Sở GD &

ĐT tỉnh Bình Dương tổng kết chuyên đề "Thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy - học Ngữ văn 8" vào tháng 08/2012 Trong các chuyên

đề kể trên, bản đồ tư duy được xem như một công cụ học tập tích cực, cần thiết phổ biến rộng rãi trong ngành Giáo dục

Luận văn thạc sĩ "Sử dụng bản đồ tư duy - Dạy học sinh cách tự học trong môn Ngữ văn THCS" của tác giả Trần Thị Thu Hiền đã đề cập đến việc

áp dụng bản đồ tư duy để hướng dẫn học sinh cách tự học cả ba phân môn Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn Luận văn đã cung cấp cơ sở khoa học cần thiết cho việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học Văn Cụ thể, luận văn

đã chỉ ra các bước tiến hành áp dụng bản đồ tư duy vào quá trình tự học Văn của học sinh Những cơ sở khoa học của luận văn chính là tiền đề cho những nghiên cứu về bản đồ tư duy ở cấp trung học phổ thông

3.3 Những nghiên cứu về bản đồ tư duy trong dạy học Làm văn

Tuy các công trình nghiên cứu đã đề cập rất nhiều đến tiện ích của bản

đồ tư duy trong dạy học, song những nghiên cứu áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học Làm văn thì chưa nhiều Tác giả Lê Ngọc Hóa có viết chuyên đề

Trang 8

"Ứng dụng sơ đồ tư duy trong việc hướng dẫn học sinh lớp 5 lập dàn ý các bài văn thuộc thể loại văn miêu tả" đăng trên tạp chí khoa học trường Đại học

Cần Thơ vào tháng 03/2013 Trong chuyên đề, tác giả cũng trình bày về việc ứng dụng bản đồ tư duy vào trong quá trình dạy học Làm văn Chuyên đề đã

đề cập cụ thể đến cách thức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học thể loại văn miêu tả cho học sinh lớp 5 Tuy nhiên, chuyên đề mới chỉ nêu hết sức khái quát cơ sở lí luận và cách thức áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học làm văn miêu tả, mà chưa đi sâu vào những nghiên cứu khoa học làm tiền đề cho việc

áp dụng vào các dạng văn bản khác

Trong các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tìm hiểu, hiện chưa

có công trình, bài viết nào đề cập đến việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy

học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12

Trên đây là những công trình nghiên cứu liên quan đến việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi mạnh dạn

triển khai đề tài "Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12" Công trình sẽ cung cấp một cách nhìn,

một cách tiếp cận và ứng dụng bản đồ tư duy vào trong dạy học phần Làm văn ở nhà trường phổ thông Luận văn sẽ cung cấp một cách hệ thống cơ sở khoa học làm nền tảng cho việc tổ chức vận dụng bản đồ tư duy vào dạy học một bài học Làm văn cụ thể Trên cơ sở đó, vận dụng rộng rãi bản đồ tư duy vào dạy học Làm văn nói riêng, dạy học Ngữ văn nói chung

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn khoa học, luận văn đề xuất nội dung

và cách thức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bài

học này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

Để hoàn thành được mục đích của luận văn đã đề ra ở trên, chúng tôi phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những tiền đề lí thuyết và thực tiễn khoa học làm cơ sở cho việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề xuất nội dung và cách thức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài

Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

- Tiến hành thực nghiệm để đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của những đề xuất

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi dự kiến sử dụng cả hai nhóm phương pháp sau:

5.1 Nhóm nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng trong suốt quá trình triển khai luận văn Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng trong triển khai các vấn

đề lí thuyết, tổ chức vận dụng bản đồ tư duy vào bài học và đưa ra kết luận sau thực nghiệm

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới

về bản đồ tư duy Từ đó phân loại các công trình theo mục đích nghiên cứu của bản thân Phương pháp này còn được sử dụng ở chương 3 khi thống kê, phân loại các sản phẩm sau thực nghiệm, lấy đó làm cơ sở cho những kết luận quan trọng về đề tài

5.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn: Là phương pháp điều tra, lấy số liệu thực tế về việc vận dụng bản đồ tư duy ở các nhà trường phổ thông, làm cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu Phương pháp này còn được

sử dụng ở chương thực nghiệm sư phạm để điều tra tình hình học tập của học sinh trước và sau thực nghiệm

- Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chủ đạo được sử dụng ở chương thực nghiệm sư phạm Tổ chức thực nghiệm tại các đối

Trang 10

tượng thực nghiệm và đối chứng để chứng minh hiệu quả của phương pháp được áp dụng

6 Giả thuyết khoa học

Sử dụng bản đồ tư duy phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, với việc dạy học nói chung và dạy học Làm văn nói riêng Nếu đề xuất

được nội dung và cách thức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận

về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi phù hợp với lí thuyết và thực tiễn khoa

học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học kiểu bài này ở trường trung học phổ thông

7 Bố cục luận văn

Luận văn được cấu trúc thành ba phần:

Phần Mở đầu: Trình bày những nội dung cơ bản về lí do chọn đề tài, chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nêu lịch sử vấn đề nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đưa ra những giả thuyết khoa học về đề tài

Phần Nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương: Chương 1: Bản đồ tư duy và khả năng áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học Làm văn Ở chương 1, người viết trình bày khái quát về bản đồ tư duy và những cơ sở khoa học cho việc áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học Làm văn

Chương 2: Tổ chức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận

về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12 Ở chương này, luận văn tập trung triển khai mục tiêu và nội dung dạy học của bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12 Trên cơ sở đó, đưa ra nội dung và cách

thức áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài học trên các phương diện: áp dụng bản đồ tư duy vào khâu chuẩn bị bài, vào dạy học lí thuyết và thực hành

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm là khâu quan trọng, chứng minh tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu Trong luận văn, chúng tôi tổ chức thực nghiệm nội dung và cách thức áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học

bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở trường trung học phổ

Trang 11

thông Thường Xuân 2 (huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa) Những kết luận sau thực nghiệm sẽ khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đặt

ra ở đầu

Phần Kết luận và kiến nghị tóm lược lại kết quả, đóng góp chính cũng như những điểm còn hạn chế của luận văn, đồng thời nêu ra một số đề xuất nhằm tiếp tục triển khai đề tài nghiên cứu

Trang 12

Chương 1 BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BẢN ĐỒ

TƯ DUY VÀO DẠY HỌC LÀM VĂN 1.1 Bản đồ tư duy

1.1.1 Khái niệm về bản đồ tư duy

1.1.1.1 Định nghĩa về bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy (Mindmap) hay còn gọi cách khác là sơ đồ tư duy, lược

đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ dạy học tích cực, hiệu quả Thuật ngữ này đã xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX gắn với nhà khai sáng có tên gọi Tony Buzan Cùng với những hiệu quả vượt trội khi sử dụng, bản đồ tư duy ngày càng được khẳng định và lan rộng ra nhiều nước trên thế giới Ban đầu bản đồ tư duy được sử dụng để xây dựng các kế hoạch thực hiện công việc Sau đó người ta mở rộng áp dụng vào trong học tập, quản lí và nhiều ứng dụng khác trong cuộc sống Bản đồ tư duy không chỉ có hiệu quả vượt trội trong việc thực hiện các công việc mà đã trở thành một công cụ đắc lực cho tư duy con người Do vậy, ngày nay bản đồ tư duy được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống, nhất là trong lĩnh vực dạy học

Trong nhiều cuốn sách của mình, Tony Buzan đã nêu rõ: "Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép, sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý tưởng trung tâm" [8; tr 20 - 21] Ở cách định nghĩa này, tác giả đã đưa ra cách hiểu khái quát nhất về bản chất của bản đồ tư duy Đó là một cách ghi chép hiệu quả nhờ vào sự kết hợp các màu sắc, hình ảnh với ngôn ngữ để khai thác sâu một ý tưởng Tác giả còn chỉ ra cách thức để xây dựng một bản đồ tư duy thông thường Tuy nhiên, ông chưa thể hiện rõ trong khái niệm của mình mối quan hệ giữa công cụ bản đồ

tư duy với tư duy của con người

Công trình Dự án Việt - Bỉ "Dạy và học tích cực - một số phương pháp

và kĩ thuật dạy học" có đưa ra cách hiểu như sau:

Trang 13

"Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng" [7; tr 67] Về thực chất, đây là cách hiểu mô phỏng lại quan niệm của Tony Buzan Các tác giả còn đi sâu vào cách thức hoạt động của bản đồ tư duy trong mối quan hệ với não bộ của con người, xem đó là một công cụ tư duy và ghi nhớ hiệu quả

Như vậy, có thể hiểu bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy con người Xuất phát từ một ý tưởng trung tâm, nhờ sự kết hợp bởi ngôn ngữ, hình ảnh, màu sắc và các đường nét; bản đồ tư duy thể hiện mạng lưới liên kết các luận điểm được triển khai từ ý tưởng trung tâm Đó là một cách thể hiện tư duy đầy sáng tạo, cho phép mở rộng đến vô tận hiểu biết trong não

bộ con người

Theo đúng nghĩa của nó, bản đồ tư duy trước hết là một công cụ tư duy cho con người Tư duy bằng bản đồ khác tư duy truyền thống là ở chỗ cho phép sơ đồ hóa tư duy con người bằng các hình ảnh, các biểu tượng trực quan Tính chất trừu tượng, khó nắm bắt của tư duy đều được mô hình hóa, có thể tri giác và nhận thức được Đặc điểm của tư duy con người là tính chất trừu tượng, sử dụng các hình thức như định nghĩa, phán đoán, suy luận để biểu đạt các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Khi tư duy bằng bản đồ, con người có thể phát huy tối đa khả năng hoạt động của não bộ Đặc biệt là hoạt động của não phải - nơi giúp ta xử lí các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và tưởng tượng Bên cạnh công

cụ ngôn ngữ, có thể sử dụng kết hợp đường kẻ với hình ảnh và màu sắc để biểu đạt và để tư duy Như vậy, có thể dùng bản đồ để rèn luyện khả năng tư duy của con người, vận dụng tối đa hiệu quả hoạt động của não bộ, giúp rèn luyện đắc lực các phẩm chất và năng lực tư duy

Trong quá trình dạy học, bản đồ tư duy được xem là một phương tiện học tập tích cực Nó được xem là một kĩ thuật dạy học tích cực mà người giáo

Trang 14

viên có thể sử dụng nhằm phát triển tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp, giúp các em hiểu bài, nhớ lâu thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, học vẹt Bản đồ tư duy được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm mục đích phát huy khả năng tư duy chủ động, sáng tạo, tích cực của học sinh thông qua việc sơ đồ hóa, sắp xếp các liên hệ của tư duy theo một ý tưởng nào đó, có sự

hỗ trợ của chữ viết, hình ảnh, đường nét và các màu sắc Đó là một cách dạy thông minh, một cách học tích cực, hiệu quả, phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại

1.1.1.2 Đặc điểm và cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy

* Đặc điểm của bản đồ tư duy

Xét từ góc độ công cụ hỗ trợ học tập, bản đồ tư duy có hai đặc điểm cơ bản để phân biệt với các bản đồ thông thường và cách tư duy thông thường

Xét về mặt hình thức, bản đồ tư duy là một sản phẩm kết hợp đầy sáng tạo giữa ngôn ngữ (hình thức chữ viết) với các hình ảnh, màu sắc và đường nét Bản đồ tư duy tạo nên một bức tranh sống động, đa dạng của tư duy con người Tư duy thông thường được phân xuất theo tính chất hình tuyến của ngôn ngữ và được biểu thị bằng ngôn ngữ Bản đồ tư duy cho phép phối hợp ngôn ngữ với các đường nét, hình ảnh, màu sắc đầy sáng tạo Các hình ảnh và màu sắc đóng vai trò làm điểm nhấn, kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo điều kiện để vỏ não phân tích,

xử lí và xây dựng mô hình về đối tượng nghiên cứu Các đường nét trong bản

đồ tư duy đóng vai trò liên kết để phát triển các ý tưởng một cách đa dạng, độc đáo Bản đồ tư duy là một bức tranh mô phỏng mạng lưới tư duy trong não bộ con người

Xét về mặt bản chất, bản đồ tư duy chính là sự hiện thực hóa cơ chế tư duy của con người Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu của tư duy Song trên thực

tế tư duy con người hoạt động đồng bộ và vận dụng tối đa đồng thời cả hình thức tư duy hình tượng và tư duy trừu tượng Tức là bên cạnh ngôn ngữ, tư duy còn sử dụng các hình ảnh, màu sắc, đường nét để biểu đạt và liên hệ các ý

Trang 15

tưởng tư duy Khi tư duy, con người phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ và sử dụng chất liệu của não bộ để xây dựng các mô hình, phát triển các ý tưởng hay đi đến hình thành một biểu tượng nhất định

Với cơ chế hoạt động gần giống với tư duy con người, bản đồ tư duy giúp cho quá trình tư duy của con người được rành mạch, rõ ràng hơn Bởi có thể hiểu bản đồ tư duy là sự trực quan hóa, cấu trúc hóa của tư duy Là công

cụ phản ánh và rèn luyện tư duy, bản đồ tư duy phản ánh được bản chất của tư duy con người Đó là một bức tranh đa dạng, đầy màu sắc và sự liên kết logic giữa các ý tạo thành một mạng lưới sinh động phản ánh một nhận thức cụ thể nào đó Con người có khả năng tư duy vô tận bởi khả năng liên hệ tuyệt vời của bộ não Do vậy, bản đồ tư duy có tính chất mở Từ một ý tưởng trung tâm, sử dụng các đường nét và các hình ảnh để biểu đạt, bản đồ tư duy sẽ triển khai thành một mạng lưới với các nhánh có thể nối dài vô tận ý tưởng ban đầu Sự triển khai các mạng lưới này thực hiện được là nhờ khả năng tư duy logic, hệ thống của con người Và như vậy, bản đồ tư duy cho phép mở rộng

và hiện thực hóa tư duy của con người

* Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy

Xuất phát từ đặc điểm phản ánh cơ chế tư duy con người, bản đồ tư duy được sử dụng trong học tập và công việc theo cơ chế liên tưởng "ý này gọi ý kia" Thay vì ghi chép cả câu văn hoàn chỉnh, ý tưởng sẽ được cô đúc thành một số từ ngữ hoặc hình ảnh nằm ở vị trí trung tâm của bản đồ Ý tưởng trung tâm được nối với các nhánh chính cấp 1 theo nguyên tắc liên tưởng logic Từ các nhánh chính đó, tiếp tục có sự phân nhánh đến cấp 2 để phân tích, nghiên cứu sâu hơn vấn đề Cứ thế, sự phân nhánh tiếp diễn đến vô tận, tùy thuộc vào khả năng tư duy của con người Tại các nhánh, có thể sử dụng từ khóa hoặc hình ảnh, kết hợp với màu sắc để biểu đạt mối liên hệ giữa từ khóa trung tâm với các từ khóa triển khai Cơ chế ý này gọi ý kia tạo thành một giản đồ phân nhánh ý tưởng Bản đồ tư duy cho phép phân nhánh đến vô tận tư duy của con người về một nhận thức cụ thể nào đó

Trang 16

Đồng thời với quá trình phân nhánh, bản đồ tư duy còn hoạt động theo

cơ chế lan tỏa, tạo thành một mạng lưới liên kết logic, hệ thống giữa ngôn ngữ với hình ảnh, màu sắc và đường nét Từ một ý tưởng trung tâm, bản đồ tư duy phát triển mạng lưới các nhánh xung quanh Cơ chế lan tỏa sẽ tạo thành một bản đồ khái quát quá trình tư duy của con người Có thể hình dung cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy như sau:

Sự triển khai từ ý tưởng trung tâm đến các ý chính và các ý con được xây dựng theo cơ chế ý này gọi ý kia Bởi vì các ý chính là sự cụ thể hóa ý tưởng trung tâm Tương tự các ý con là sự cụ thể hóa các ý chính Cứ thế sự liên hệ logic chỉnh thể - bộ phận được kéo dài đến vô tận tạo thành các nhánh Chúng gọi nhau để nối dài và phát triển tư duy logic của con người Còn cơ chế lan tỏa lại thiết lập dựa trên mối quan hệ giữa các ý chính với nhau Xây dựng mối quan hệ giữa các ý chính triển khai với ý tưởng trung tâm tạo thành một mạng lưới liên kết nội tại, giúp phát triển tư duy hệ thống, chỉnh thể của con người Giúp quá trình tư duy được hoàn chỉnh, đưa lại một nhận thức đầy

đủ về sự vật, hiện tượng

Trang 17

Có thể nhìn nhận bản đồ tư duy là một công cụ đồ họa để nối kết các khái niệm, các hình ảnh có liên hệ với nhau Không chỉ có giá trị thẩm mĩ, kích thích tư duy con người, bản đồ tư duy thực sự là một công cụ đắc lực để

hỗ trợ tư duy sáng tạo cho con người Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy phù hợp với cơ chế hoạt động của não bộ Do vậy, việc áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học đem lại hiệu quả rất lớn Nó không chỉ giúp cho học sinh khả năng tổ chức việc học một cách khoa học mà còn hướng dẫn học sinh học cách học một cách hiệu quả Mỗi học sinh có thể trình diễn nhận thức của mình bằng bản đồ tư duy theo cách hiểu của bản thân Đó là một sản phẩm sáng tạo, độc đáo duy nhất của mỗi học sinh Bằng công cụ tư duy đó, các em có thể liên hệ những kiến thức liên quan, vận dụng để lí giải một tình huống cụ thể đặt ra Một khi được sơ đồ hóa, học sinh có thể nhận thấy được những khiếm khuyết cũng như ưu thế của mình Từ đó, có chiến lược học tập hiệu quả

1.1.2 Cách thiết kế bản đồ tư duy

1.1.2.1 Thiết kế bản đồ tư duy bằng tay

* Chuẩn bị: Tờ giấy A4 hoặc giấy loki các khổ tùy vào nội dung biểu diễn,

bút viết bao gồm nhiều màu, hộp tô màu và các hình ảnh dùng để cắt dán theo chủ đề

* Cách tiến hành:

Bước 1: Trình bày chủ đề trung tâm ở giữa trang giấy Biểu thị chủ đề

này thường là các từ khóa, sử dụng hình ảnh minh họa Hình ảnh có thể được dùng làm phông nền cho chủ đề trung tâm Tùy ý sử dụng thêm màu vẽ để tô đậm làm nổi bật ý tưởng trung tâm, tạo điểm nhấn cho tư duy phát triển

Bước 2: Vẽ các nhánh phát triển từ chủ đề trung tâm Các nhánh chính

là sự triển khai các phương diện của chủ đề trung tâm Tùy vào tư duy của mỗi người, số lượng các nhánh không cố định Tuy nhiên khi đặt tiêu đề các nhánh phải lưu ý tính chất đồng đẳng, không bao nhau giữa các nhánh Vẽ đường biểu thị nhánh có thể là đường thẳng hoặc các hình dạng khác tùy ý,

Trang 18

sao cho sự biểu thị tên nhánh được rõ ràng và dễ dàng nhận biết đường biên giữa các nhánh Ở mỗi nhánh, có thể sử dụng một loại bút viết và màu tô riêng để tạo ấn tượng cho mỗi nhánh

Bước 3: Phát triển các nhánh chính bằng các nhánh con và các ý con

tương tự theo cách vẽ các nhánh chính cho chủ đề trung tâm Khi phát triển các nhánh cần lưu ý viết chữ và tô màu phù hợp với vị trí thứ bậc của bản đồ Tránh hiện tượng chữ viết và đường bao nhánh con, ý con lại lớn hơn và nổi bật hơn ý tưởng trung tâm và nhánh chính Điều này dễ gây rối loạn tư duy trong quá trình triển khai ý và xây dựng mối quan hệ giữa chúng

Bước 4: Hoàn thiện bản đồ tư duy bằng cách quan sát tổng thể và bổ

sung các ghi chú, hình ảnh cần thiết tại những vị trí mà ý tưởng chưa rõ ràng hoặc nhằm mục đích gây ấn tượng sâu sắc về chủ đề Các chú thích có thể hỗ trợ cho việc minh họa bản đồ

* Một số lưu ý khi vẽ bản đồ tư duy bằng tay

- Bản đồ tư duy là sản phẩm của cá nhân hoặc nhóm xây dựng Tuy nhiên đối với hoạt động nhóm, cần tránh cách phân công mỗi thành viên phụ trách một nhánh triển khai Điều này làm mất tính cân đối và tính chỉnh thể của bản đồ tư duy Nhóm phải thống nhất cách trình bày và biểu thị ý tưởng Sau đó việc vẽ bản đồ sẽ giao cho từng thành viên thực hiện

- Các nhánh đồng cấp được biểu thị ghi chép và minh họa phải tuân thủ nguyên tắc "đồng hạng" và nguyên tắc "thứ bậc" Chủ đề trung tâm phải ở vị trí trung tâm, nổi bật nhất Các nhánh triển khai phải phụ thuộc và ghi chép phù hợp với chủ đề trung tâm Tránh viết chữ lớn hơn từ khóa trung tâm Các nhánh triển khai đồng cấp phải được quy ước cách viết và cách vẽ như nhau Điều này đảm bảo tính cân đối thẩm mĩ cho bản đồ tư duy và tính logic hệ thống trong tư duy con người

- Vị trí vẽ thứ tự các nhánh phải phù hợp với quy luật tư duy của con người Nó tương tự như việc tổ chức lập luận thứ tự các luận điểm trong bài văn nghị luận Các nhánh được xây dựng trong bản đồ tư duy phải dựa theo

Trang 19

nguyên tắc ý này gọi ý kia Tuyệt đối không được sắp xếp ngẫu nhiên vị trí các nhánh mà cần phải theo trình tự logic của tư duy

- Luôn sử dụng hình ảnh và màu sắc để hỗ trợ tư duy Phải có chiến lược sử dụng vào mục đích kích thích tư duy và phát huy trí tưởng tượng của

tư duy Các đường nét nối kết các nhánh phải theo quy định các nét càng gần

ý tưởng trung tâm phải được tô đậm nét hơn Các yếu tố này giúp phát huy hiệu quả làm việc của não phải hơn và giúp cho bản đồ tư duy thực sự là công

cụ đắc lực để tư duy một cách tích cực, sáng tạo

1.1.2.2 Thiết kế bản đồ tư duy bằng phần mềm

Bản đồ tư duy có thể được vẽ có hiệu quả bởi các phần mềm chuyên dụng Một số phần mềm tiêu biểu như: phần mềm Mind Mapping, phần mềm Buzan's imindmapTM, phần mềm Inspiration, phần mềm Visual Mind Xin giới thiệu phần mềm cài đặt miễn phí có thể sử dụng để thiết kế bản đồ tư duy, đó là imindmap 5 và imindmap 6

Sau khi khởi động phần mềm, xây dựng một bản đồ tư duy mới lần lượt theo các bước: xác định biểu tượng cho ý tưởng trung tâm, xây dựng các nhánh vào bản đồ và phát triển nhánh đến khi đảm bảo chi tiết đầy đủ của một quá trình tư duy Có thể chèn hình ảnh, ghi chú và sử dụng màu sắc để làm nổi bật ý tưởng Tùy chỉnh vị trí nhánh, cỡ chữ, màu sắc cho cân đối, hài hòa trước khi chiết xuất ra dưới dạng Word, Powerpoint, Image

Bản đồ tư duy là một phương tiện hỗ trợ học tập tích cực Tuy nhiên nó không phải là công cụ toàn năng Đối với môn Ngữ văn, bản đồ tư duy sử dụng phổ biến trong dạy học Tiếng Việt, Làm văn, các bài văn học sử, lí luận văn học Có thể sử dụng bản đồ tư duy trong việc khai triển vấn đề hoặc tổng kết vấn đề Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tự vẽ bản đồ tư duy ở nhà để ghi nhớ và luyện tập các nội dung của bài học

Trong quá trình xây dựng bản đồ tư duy, cần lưu ý tính chất logic, hệ thống giữa các nhánh được thiết kế Ý tưởng trung tâm phải được thể hiện rõ ràng nhất và tác động mạnh đến thị giác, đến tư duy con người Cần thiết phải

Trang 20

sử dụng đường nét, hình ảnh, màu sắc để mô tả mối liên hệ giữa ý tưởng và các nhánh Đây là mô hình đồ họa của tư duy, hạn chế sử dụng ngôn ngữ và đảm bảo tính điển hình, khái quát của ngôn ngữ Bản đồ tư duy cho phép tiếp tục triển khai khi có ý tưởng thì có thể bổ sung sau mà không bị ảnh hưởng đến sản phẩm

1.2 Khả năng áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học Làm văn

1.2.1 Cơ sở tâm lí học và cơ sở sinh lí thần kinh của việc áp dụng bản đồ tư duy

1.2.1.1 Cơ sở tâm lí học

Trong học thuyết phát triển nhận thức, Jean Piaget chia nhận thức của con người thành ba giai đoạn: giai đoạn tiền thao tác (từ 2 đến 7 tuổi), giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7 đến 11 tuổi) và giai đoạn thao tác chính thức (từ 12 tuổi đến trưởng thành) Trẻ từ 0 đến 2 tuổi là giai đoạn vận động cảm giác, chưa có nhận thức về sự vật trong thế giới Giai đoạn tâm lí học sinh trung học phổ thông thuộc giai đoạn thao tác chính thức Trong giai đoạn này, trẻ có khả năng khái quát hóa các ý tưởng và cấu trúc các điều trừu tượng Có khả năng đưa ra kết luận từ những giả thuyết hơn là dựa hoàn toàn vào quan sát thực tế Giai đoạn trẻ vị thành niên có thể chủ động thảo luận, viết, suy nghĩ

và sáng tạo ra những triết lí về cuộc đời và giải thích về vũ trụ Do vậy, các

em hoàn toàn tự sáng tạo ra cách khám phá thế giới, chủ động vạch ra cách tiếp cận và có thể đi tới bất cứ chỗ nào mà suy nghĩ dẫn dắt Khả năng tự lập

và sáng tạo này hoàn toàn phù hợp với cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy áp dụng trong dạy học Bằng công cụ này, học sinh có thể chủ động lựa chọn cho mình một cách học riêng, hoàn toàn sáng tạo và vận dụng tối đa những hiểu biết của bản thân để giải quyết một tình huống thực tế

Cũng ở giai đoạn này, trẻ phát triển và dần hoàn thiện về tâm lí và nhân cách Cả về sinh lí và tâm lí đều có những chấn động mạnh, những biến đổi đáng kể để trưởng thành Hệ thần kinh của con người cũng được hoàn thiện Não bộ và tâm lí con người hoạt động theo quy luật của hệ thần kinh cấp cao

Trang 21

Ở giai đoạn vị thành niên, quá trình tâm lí và tư duy diễn ra theo quy luật hoạt động theo hệ thống Phối hợp nhiều trung khu cùng hoạt động để tập hợp các kích thích riêng rẽ thành nhóm, thành bộ hoàn chỉnh Điều này giúp cho vỏ não đỡ tốn năng lượng và phản ứng với ngoại giới được linh hoạt và chính xác hơn Phối hợp đồng thời hiệu quả hoạt động của hai bán cầu não, thu nhận kích thích và tạo thành một nhận biết hoàn chỉnh về đối tượng

Bên cạnh đó, tâm lí người còn hoạt động theo quy luật lan tỏa và tập trung Nhờ sự hưng phấn lan tỏa mới có thể thành lập liên hệ thần kinh, có thể

từ sự việc này liên tưởng đến sự việc khác, từ vật này nhớ đến vật khác Hưng phấn tập trung giúp phân tích sâu, kĩ một mặt của sự vật hay về một sự vật hoàn chỉnh Các hưng phấn này giúp cho quá trình tư duy được sâu sắc, phát triển khả năng liên hệ, liên tưởng tạo nên một mạng lưới có tính hệ thống nhận thức của con người về một sự vật cụ thể Và các hình ảnh, màu sắc, biểu tượng có tác dụng kích thích mạnh mẽ đến khả năng hưng phấn của hệ thần kinh Nắm được ưu điểm này, bản đồ tư duy đòi hỏi sự phối hợp liên kết cao

độ giữa ngôn ngữ với các đường nét, hình ảnh và màu sắc Chính các hình ảnh, đường nét và màu sắc này có tác dụng kích thích mạnh mẽ đến hệ thống rìa của vỏ não, kích thích não phải hoạt động Sử dụng bản đồ tư duy là công

cụ tiện ích giúp tư duy một cách hệ thống, đồng bộ và kích thích tư duy làm việc có hiệu quả

Ở giai đoạn tâm lí học sinh trung học phổ thông, trực giác có vai trò vô cùng quan trọng trong sáng tạo Trực giác chính là quá trình tạo ra cho chúng

ta khả năng hiểu biết sự việc một cách trực tiếp mà không cần lập luận phân tích Cơ sở của trực giác chính là trí tưởng tượng khoa học Trong quá trình tiếp thu kiến thức, học sinh không chỉ tiếp nhận một chiều mà cần phải vận dụng trí tưởng tượng khoa học trong việc tiếp thu cái mới Để phát triển trực giác ở người học, trước hết giáo viên cần áp dụng các phương pháp kích thích trực quan và tư duy hình tượng của người học

Trang 22

Trí tưởng tượng khoa học giúp phát triển trực giác ở người học, là cơ

sở của sự sáng tạo.Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Đó là khả năng tạo hình ảnh phản ánh đối tượng cho trước ở trong trí óc Tưởng tượng chỉ xảy ra khi đứng trước những hoàn cảnh có vấn đề, nó được bắt đầu và thực hiện chủ yếu bằng hình ảnh, luôn gắn bó chặt chẽ với nhận thức cảm tính Do vậy các hình ảnh, màu sắc và tri giác thị giác thông qua giản đồ ý của bản đồ tư duy sẽ có tác động kích thích mạnh mẽ đến khả năng tưởng tượng của con người Kích thích con người hoạt động, tìm tòi, không ngừng hình dung kết quả cuối cùng của lao động, biến sản phẩm trong trí óc thành sản phẩm ngoài thực tế Việc sử dụng bản đồ tư duy có vai trò to lớn đến trí tưởng tượng của con người bởi sự đẹp mắt và kích thích các hình ảnh, màu sắc, bài trí đường nét đối với sự hưng phấn của hệ thần kinh

Trí tưởng tượng sáng tạo có vai trò quan trọng trong sáng tạo bởi con người có tưởng tượng cái mới trong trí óc thì mới có thể biến nó thành cái mới trong hiện thực Ban đầu, con người có những hiểu biết đơn lẻ về một vài thuộc tính của đối tượng Thông tin đó được tích lũy dần trong trí não Khi nảy sinh một tình huống thực tế, những thông tin đó được liên hệ với nhau Sử dụng trí tưởng tượng, con người bắt đầu xây dựng các sơ đồ, các mô hình và tiến hành giai đoạn thao tác liên kết thông tin Nhờ sự liên kết các thông tin đã tích lũy mà nảy sinh những thông tin mới về đối tượng Những thông tin mới này làm nảy sinh kích thích, khơi gợi trí não, giúp trí não hoạt động dễ dàng

và liên hệ thông tin, đưa ra các phán đoán và cái mới xuất hiện Các hình ảnh, màu sắc có vai trò kích thích trí não hoạt động và liên kết các ý tưởng để sáng tạo ra cái mới Do vậy, việc sử dụng bản đồ tư duy trong học tập có vai trò kích thích tư duy sáng tạo của con người Học sinh có thể sử dụng công cụ này để hỗ trợ tư duy trong quá trình nhận thức thế giới Giúp cho tư duy có

Trang 23

khả năng làm việc độc lập, chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Bản đồ tư duy là phương tiện hỗ trợ tư duy con người Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy có nhiều điểm tương đồng với cơ chế hoạt động của

tư duy Hay nói cách khác, bản đồ tư duy là hiện thực hóa của tư duy Giúp cho tư duy con người vốn mang tính trừu tượng khái quát có thể nhìn thấy được bằng sơ đồ, được trực quan hóa một cách toàn vẹn, hệ thống Có thể bổ sung những thiếu sót, phát triển thêm các ý tưởng mà nếu chỉ tư duy bằng ngôn ngữ không dễ dàng làm được Thông qua bản đồ tư duy, chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng đối tượng nhận thức và liên hệ các ý tưởng một cách logic, hệ thống Từ đó giúp ghi nhớ được sâu sắc và dễ dàng hơn Bản đồ tư duy còn giúp chúng ta lập các kế hoạch hoạt động một cách khoa học và hiệu quả Với sản phẩm của tư duy được thể hiện bằng bản đồ tư duy, học sinh có thể trình bày tự do ý tưởng sáng tạo cho riêng mình Sử dụng hiểu biết và sở trường của bản thân để thiết kế mô hình liên kết những tri thức, giải quyết các tình huống đặt ra trong thực tế Cùng với quá trình sáng tạo và trình diễn sản phẩm của nhận thức thì những kĩ năng tư duy của học sinh cũng được phát triển Thông qua việc rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy luận (các thao tác tư duy trừu tượng); liên tưởng, tưởng tượng (các thao tác tư duy hình tượng) để rèn luyện các phẩm chất tư duy cho học sinh như khả năng tư duy độc lập, chủ động, tích cực và sáng tạo

Tuy nhiên trong quá trình lập bản đồ tư duy, học sinh không chỉ thể hiện sự tiếp nhận của mình về thông tin mà còn phải suy nghĩ, giải thích nó theo cách hiểu của mình Bản đồ tư duy không phải là sản phẩm ghi nhớ máy móc kiến thức Nó là một quá trình tự tổ chức thông tin, xây dựng các ý tưởng

và liên kết chúng theo một trình tự logic Do vậy, bản thân học sinh phải là chủ thể của quá trình sáng tạo ra ý tưởng, trình bày và lí giải ý tưởng theo cách riêng của mình Có như vậy, bản đồ tư duy mới kích thích được trí tưởng

Trang 24

tượng và khả năng sáng tạo vô tận của tư duy con người Một khi đã chạm tới được quyền năng sáng tạo, bản đồ tư duy có thể giúp con người không ngừng sản sinh cái mới và cải tạo thực tế cuộc sống Đó chính là cơ sở của khoa học hiện đại Là nhu cầu mà xã hội hiện đại đặt ra cho con người nói chung, cho ngành Giáo dục nói riêng

1.2.1.2 Cơ sở sinh lí thần kinh

Những nghiên cứu khoa học mới nhất trong khoảng thời gian gần đây cho thấy bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, những nhánh thần kinh Thông qua những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cho thấy, bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con người Và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Tức là, quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau của bộ não

Bộ não con người gồm hai bán cầu: não phải và não trái Hai bán cầu não của con người có chức năng đa dạng và riêng biệt Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, danh sách, tư duy và phân tích đối tượng Có thể hình dung thông qua mô hình sau:

Trang 25

Mô phỏng chức năng của não với các công cụ sử dụng trong bản đồ tư duy

Trước kia, chúng ta thường chỉ ghi chép thông tin bằng các kí tự, con

số, đường kẻ theo một trật tự tuyến tính Tức là mới chỉ sử dụng một nửa - não trái của bộ não mà chưa sử dụng kĩ năng nào của não phải Điều này sẽ gây cản trở cho quá trình tư duy của con người Bởi tư duy là một quá trình tâm lí, phải sử dụng toàn bộ khả năng hoạt động của não bộ Đó là việc vận dụng kết hợp, phát huy tối đa vai trò hoạt động của hai bán cầu não

Tư duy kích thích hoạt động của hai bán cầu não, tạo nên thế cân bằng trong sự phát triển của não bộ Đây chính là một trong những nguyên tắc quan trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ Do vậy con người tìm cách kích thích não phải và khi hai bán cầu não có sự tương tác, kích thích lẫn nhau sẽ đem đến cho con người những khả năng to lớn Đó là khả năng sáng tạo và không ngừng cải tạo thế giới Dựa trên đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra bản đồ tư duy dựa theo nguyên tắc hoạt động của bộ não Bản đồ tư duy

đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ của chúng ta hoạt động, đó là sự

Trang 26

liên kết tất cả các bộ phận thành một mạng lưới Tất cả những thông tin được thu thập trong quá trình nhận thức thế giới không phải chỉ nằm yên trong bộ não mà luôn có sự liên kết với nhau Những thông tin mới được thu thập sau

sẽ được kết nối với những thông tin cũ đã tồn tại trước đó để hình thành những ý tưởng mới Tất cả những thông tin này không tồn tại rời rạc mà luôn

có mối quan hệ kết nối với nhau trong não bộ tạo thành một mạng liên kết, tư duy đồng thời chứ không phải kiểu tư duy tuyến tính Bản đồ tư duy giúp cho việc kết nối thông tin được dễ dàng và luôn tìm ra được mối liên hệ giữa chúng Hơn thế nữa, bản đồ tư duy cho phép sự thể hiện đồng thời tất cả các mối liên hệ của những thông tin liên quan mà không hề làm gián đoạn, bế tắc quá trình tư duy của con người

Mặt khác, bản đồ tư duy không những sử dụng từ ngữ, con số, dòng kẻ

để kích thích não trái phát triển mà còn có thể sử dụng cả màu sắc, hình ảnh

và âm thanh để kích thích não phải phát triển Não trái đóng vai trò phát triển

về mặt lí luận, tư duy logic, phục vụ cho các công việc bình thường Não phải đóng vai trò phát triển trí tưởng tượng và tư duy hình tượng, giúp phát triển tư duy sáng tạo cho con người Do vậy, bản đồ tư duy đã đóng vai trò liên kết hoạt động của hai bán cầu não, vừa giúp cho quá trình tư duy được hoàn thiện vừa phát triển khả năng sáng tạo vô tận của con người Điều này sẽ lí giải vì sao khi sử dụng bản đồ tư duy, chúng ta có thể phát huy toàn bộ khả năng tư duy và khám phá ra tiềm năng vô tận của bộ não

Ví dụ, khi học sinh đọc một bài thơ, não trái đóng vai trò tri giác từ ngữ (các câu thơ, khổ thơ) và phân tích nội dung biểu hiện của từng khổ thơ, đoạn thơ; sau đó liên kết logic chúng theo một ý tưởng nhằm thể hiện một tứ thơ hay một nội dung nhất định Còn não phải đóng vai trò liên tưởng, tưởng tượng, tái tạo các hình ảnh được nhắc đến trong bài thơ ở trong đầu Từ đó giúp liên hệ ý tưởng, cùng với sản phẩm hoạt động của não trái để chỉ ra cái hay, cái đẹp của thơ Khi sử dụng bản đồ tư duy có sự hỗ trợ của các hình ảnh, màu sắc minh họa sẽ có tác dụng kích thích mạnh lên hệ thống rìa của

Trang 27

não, tạo điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí thông tin, rút ra kết luận về mô hình nhận thức hoặc giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và sáng tạo hơn

Như vậy, xuất phát từ đặc điểm sinh lí thần kinh của con người, bản đồ

tư duy tỏ ra là một công cụ thông minh trong việc thích nghi với cơ chế hoạt động của bộ não Vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học là một công cụ hữu ích giúp cho giáo viên dễ dàng xây dựng bài giảng và đặc biệt là giúp cho học sinh một cách học hiệu quả Học sinh có thể tự tìm cho mình một cách học tập bằng bản đồ tư duy Có khả năng kích thích sự sáng tạo ý tưởng và dễ dàng tiếp nhận, ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc bởi đó chính là sản phẩm của các em

Dạy học tác phẩm văn chương không chỉ giúp các em phát triển tư duy hình tượng mà còn phát triển tư duy logic, trừu tượng Do vậy trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú trọng cả hai hình thức tư duy này Và sự phát triển cân bằng đảm bảo cho sự phát triển trí tuệ chính là cách sử dụng đồng thời tiềm năng hoạt động của hai bán cầu não Không chỉ giúp các em hình thành

tư duy logic về hệ thống kiến thức, xây dựng mô hình kiến thức, bản đồ tư duy còn giúp học sinh phát huy vai trò của tưởng tượng Đây mới là cơ sở của sáng tạo Bởi chỉ khi các em xây dựng được mô hình mới trong đầu thì mới có khả năng biến nó thành hiện thực

1.2.2 Những kết quả thực tiễn của việc áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học

1.2.2.1 Ưu điểm khi sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học

Bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ dạy học mang lại nhiều hiệu quả thiết thực Xuất phát từ cơ chế hoạt động, bản đồ tư duy thực sự là công cụ tiện ích, giúp tư duy phát triển toàn diện và tăng khả năng tư duy sáng tạo cho con người Đó là lí do tại sao trong sự phát triển của xã hội hiện đại ngày nay, bản đồ tư duy được sử dụng phổ biến không chỉ trong lĩnh vực dạy học mà còn sử dụng trong quản lí và xây dựng kế hoạch làm việc Trong quá trình dạy

Trang 28

học, giáo viên nên có được công cụ này để phát huy tối đa hiệu quả tiếp nhận của học sinh

Thứ nhất, bản đồ tư duy giúp tận dụng tối ưu khả năng hoạt động của não bộ, giúp phát huy tiềm năng ghi nhớ và vận dụng trí nhớ vô tận của tư duy con người Bằng việc phát huy sự liên kết, hoạt động đồng bộ của hai bán

cầu não, bản đồ tư duy thực sự là một công cụ hỗ trợ hiệu quả cho tư duy con người Quá trình tư duy là quá trình sử dụng đồng thời cả hai hình thức tư duy

là tư duy trừu tượng và tư duy hình tượng Bằng sự phối hợp từ ngữ với hình ảnh, màu sắc; bản đồ tư duy kích thích hiệu quả làm việc của hai hình thức tư duy, đem lại hiệu quả làm việc cao nhất cho con người Đặc biệt các đường nét, màu sắc và hình ảnh của bản đồ tư duy giúp cho quá trình ghi nhớ của não bộ trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn Việc ghi nhớ trình tự các đơn vị kiến thức trước đây khiến cho hoạt động của não đi vào một con đường mòn

và không thể phát huy được hiệu suất làm việc của não phải Bằng công cụ bản đồ tư duy, những kiến thức mới sẽ có tác động rất ấn tượng lên vỏ não, khiến cho não bị kích thích và do vậy quá trình ghi nhớ sẽ chủ động, để lại ấn tượng lâu bền trong trí nhớ

Với cơ chế hoạt động dựa trên mối liên kết vô tận, bản đồ tư duy giúp chúng ta có thể vận dụng trí nhớ vô tận của tư duy con người Nếu như cách ghi nhớ thông thường gây nhàm chán cho học sinh khi tiếp nhận kiến thức và

dễ gây ra hậu quả học thuộc lòng, học vẹt kiến thức thì bản đồ tư duy sẽ đem lại một cách ghi nhớ thực sự bổ ích Những thông tin được lưu trong trí nhớ không phải ở trạng thái ngủ yên mà có thể sử dụng bất cứ lúc nào Khi thực tế cuộc sống đặt ra một nhu cầu nhận thức, học sinh sẽ vận dụng mọi kiến thức

đã có để giải quyết vấn đề Sử dụng hệ thống mạng lưới liên kết giữa ý tưởng trung tâm với các ý chính, chúng ta có thể huy động mọi kiến thức liên quan

để giải quyết vấn đề Những kiến thức này không bị giới hạn hay bị gián đoạn Chúng có thể liên hệ với nhau đến vô tận những hiểu biết của con người Bằng cách này, bản đồ tư duy đánh thức mọi thông tin trong não bộ và

Trang 29

quan trọng hơn, tạo nên mối liên hệ giữa chúng để giải quyết những tình huống thực tế mà học sinh mắc phải Nhờ vậy việc ghi nhớ sẽ trở nên hiệu quả và thiết thực hơn trong cuộc sống chứ không phải chỉ là những kiến thức hàn lâm sách vở

Thứ hai, bản đồ tư duy giúp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của học sinh Cách dạy học truyền thống chú trọng truyền

thụ kiến thức một chiều cho học sinh Trong xã hội ngày nay, cách học đó đã gây nên tâm lí nhàm chán, ức chế trong học tập Việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại kết hợp trong quá trình dạy học trở nên cần thiết Xuất phát từ đặc điểm tâm lí học sinh trung học phổ thông là thích khám phá con đường tìm đến chân lí, bản đồ tư duy giúp cho học sinh dễ dàng lựa chọn một cách học hiệu quả Mục tiêu sử dụng bản đồ tư duy phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay Đó là vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động

và sáng tạo của học sinh trong học tập

Trong cách dạy học thông thường, các đơn vị kiến thức được khai thác theo trình tự trước sau tùy thuộc vào quy luật phát triển nhận thức Khi sử dụng bản đồ tư duy, đối tượng nhận thức được đặt ra dưới dạng luận đề, điều này thu hút sự chú ý của học sinh hơn là cách dạy học thông thường Khái niệm then chốt của bài học được đặt ra ở vị trí trung tâm của nhận thức Từ đó các em xây dựng mối liên hệ với các phần của bài học, tạo nên một giản đồ ý các đơn vị kiến thức trọng tâm Sử dụng cách dạy này, giáo viên dễ dàng kích thích sự chủ động, năng động của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Thay vì phải ghi nhớ máy móc, học sinh có thể tự do lựa chọn cách hiểu của mình thông qua cách trình bày trên bản đồ tư duy Sự liên hệ kiến thức không cố định, hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của từng học sinh Do vậy, học sinh sẽ tích cực và có hứng thú chiếm lĩnh kiến thức Hơn nữa, sử dụng bản đồ tư duy giúp phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh Không bị

Trang 30

giới hạn cách tiếp cận, học sinh hoàn toàn tạo ra cách tiếp cận kiến thức riêng cho mình, tùy thuộc vào trình độ nhận thức của bản thân

Trong giờ học, giáo viên có thể sử dụng bản đồ tư duy như một luận đề đặt ra trong quá trình tiếp thu kiến thức mới hoặc dùng để tổng hợp nội dung bài học Dù ở giai đoạn nào của tiết học, bản đồ tư duy sẽ giúp cho giờ học trở nên sinh động, thu hút được sự tập trung ở học sinh Hơn nữa, việc coi trọng

"quyền sáng tạo" trong con đường tiếp cận kiến thức của bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh tích cực, chủ động học tập Cùng một cơ chế hoạt động như nhau nhưng trong nhận thức của 40 học sinh sẽ cho ra 40 kết quả bản đồ tư duy hoàn toàn khác nhau Chính điều này đã đáp ứng nhu cầu được thể hiện của mỗi học sinh và kích thích động cơ học tập ở các em Học tập bằng bản

đồ tư duy giúp học sinh chủ động tích cực và sáng tạo kiến thức

Thứ ba, bản đồ tư duy giúp giờ học dễ dàng đạt mục tiêu dạy học và ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc Bằng cách khai triển kiến thức từ ý

tưởng trung tâm, bản đồ tư duy giúp cho giờ học trở nên sinh động, dễ dàng phát hiện các đơn vị kiến thức trọng tâm Sử dụng bản đồ tư duy, chúng ta

có thể xây dựng mối liên kết giữa các đơn vị kiến thức trong bài Dùng màu sắc, đường nét biểu thị, học sinh dễ dàng phát hiện vùng kiến thức trung tâm

và các đơn vị kiến thức triển khai Từ đó biết cách phân bố thời gian và tổ chức tư duy phù hợp với nội dung của bài Đi ngược lại lối truyền thụ một chiều, bản đồ tư duy giúp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Học sinh sẽ chủ động, tích cực trao đổi, tìm hiểu để chỉ ra mối liên quan giữa các đơn vị kiến thức Những kiến thức mà các em phát hiện ra bao giờ cũng có tác dụng tích cực đối với sự ghi nhớ hơn là sự ức chế khi nghe một chiều từ phía giáo viên Và như vậy, bản đồ tư duy giúp giáo viên xây dựng mô hình học tập, lựa chọn cách tối ưu nhất để tiếp cận kiến thức Học sinh tùy vào nhận thức của mình, có thể trình diễn và lí giải kiến thức theo cách riêng Điều này giúp cho giờ học dễ dàng đạt mục tiêu đề ra hơn so với sự truyền thụ kiến thức từ giáo viên

Trang 31

Hơn nữa, khi sử dụng bản đồ tư duy, học sinh có thể ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc Khi hoạt động, bản đồ tư duy phát huy hiệu quả làm việc của hai bán cầu não Đặc biệt các hình ảnh, màu sắc, đường nét có tác động mạnh đến hệ thống rìa của vỏ não; giúp cho quá trình ghi nhớ được lâu bền, sâu sắc Bản đồ tư duy chính là sản phẩm sáng tạo của học sinh Nó là thành quả của quá trình lao động trí óc Do vậy tâm lí thông thường là con người luôn ghi nhớ sâu sắc sản phẩm của mình làm ra Kiến thức các em tự khám phá ra bao giờ cũng có tác dụng ghi nhớ tốt hơn so với việc học từ người khác Khi học sinh biết cách sử dụng bản đồ tư duy để xây dựng kiến thức thành các mô hình, nó sẽ có hiệu quả trong việc ghi nhớ hoặc tổng hợp các đơn vị kiến thức Kiến thức được thể hiện bằng ngôn ngữ sẽ không có ấn tượng bằng việc mô hình hóa thành sơ đồ Bằng cách tự lập sơ đồ, học sinh có thể ôn tập kiến thức một cách bao quát hơn Qua đó các em có thể vừa tổng hợp kiến thức trọng tâm vừa rèn luyện các thao tác của tư duy

1.2.2.2 Sự phù hợp giữa bản đồ tư duy với quá trình dạy học Làm văn

Đặc trưng tiêu biểu nhất của bản đồ tư duy là sự liên kết các nhánh dưới dạng các luận điểm chính tạo nên một giản đồ khái quát về một đối tượng nhận thức cụ thể Nói cách khác, đó là một giản đồ ý các luận điểm được triển khai từ ý tưởng trung tâm Sử dụng màu sắc, đường nét và hình ảnh minh họa để vừa kích thích tư duy vừa làm nổi bật đối tượng nhận thức

Quá trình dạy học Làm văn là quá trình luyện tập thực hành các kiểu văn bản, từ đó giúp học sinh có được những kĩ năng cần thiết để tạo lập các văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp ngoài đời sống Bản chất của dạy học Làm văn trước hết là quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, tức là luyện tập cho các em kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp Cụ thể, đó là quá trình chuyển

ý thành lời Hay nói khác đi, dạy học Làm văn giúp rèn luyện tư duy và chiết xuất tư duy dưới dạng ngôn ngữ Các thông tin được lưu trữ trong não bộ được rèn luyện theo một cách thể hiện nhất định, biểu hiện ra bên ngoài bằng ngôn ngữ nhằm phục vụ cho một mục đích cụ thể nào đó Khi ý đã được

Trang 32

chuyển thành lời, sử dụng các thao tác và phương pháp lập luận để tạo lập các văn bản theo mục đích giao tiếp nhất định Để tạo ra sản phẩm giao tiếp cuối cùng, học sinh phải luyện tập cách xây dựng lập luận, đưa các thông tin trong não bộ ra bên ngoài Hay còn gọi là quá trình phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập thì bài văn là sản phẩm thể hiện sự kết tinh cao nhất trí tuệ và kĩ năng thực hành của học sinh

Do vậy để có được một bài văn phục vụ mục đích giao tiếp cụ thể thì học sinh cần làm tốt khâu phân tích đề và lập dàn ý cho bài văn Thực chất của quá trình phân tích đề và lập dàn ý là đi tìm ý tưởng triển khai cụ thể cho vấn đề được bàn luận tới Các ý triển khai được xây dựng thành một hệ thống luận điểm có trình tự, có logic để đi đến kết luận về vấn đề Xưa nay học sinh quen làm bước này bằng cách viết trình tự ra giấy các luận điểm Thay vì cách thể hiện có phần xưa cũ và nhàm chán này, bản đồ tư duy giúp thể hiện hệ thống dàn ý của bài văn một cách khoa học, rõ ràng, dễ dàng tư duy và có thể phát triển đến vô tận các luận điểm con và các luận cứ của bài văn Có thể hình dung việc cấu trúc hóa dàn ý của đề văn bằng bản đồ tư duy như sau:

Trang 33

Thông qua mô hình bản đồ tư duy ở trên, ta có thể dễ dàng thấy được tiện ích của bản đồ tư duy trong dạy học Làm văn Hệ thống các luận điểm được thể hiện bằng sơ đồ, giúp tư duy dễ dàng bao quát vấn đề và thấy được đâu là ý chính, đâu là ý triển khai Khi dàn ý được xây dựng bằng sơ đồ có thể trực quan thì học sinh dễ dàng tri giác thông tin và lựa chọn các thao tác lập luận, các phương pháp suy luận hợp lí để biểu đạt thành lời từng đơn vị kiến thức của bài văn Bài văn được lập luận theo cấu trúc của bản đồ tư duy sẽ đảm bảo tính chặt chẽ, logic, tránh hiện tượng sót ý Hơn nữa, nó còn giúp học sinh phát hiện nhanh chóng đâu là luận điểm trung tâm để đầu tư thời gian hợp lí Bản đồ tư duy không chỉ giúp cho tư duy của các em được rành mạch mà còn giúp xây dựng luận điểm và hệ thống lập luận trong bài văn một cách hiệu quả Nó thực sự phù hợp với quá trình dạy học Làm văn

1.2.2.3 Kết quả thực tiễn khi áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học

Sử dụng bản đồ tư duy giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học; giúp học sinh học tập chủ động, tích cực Đó là một phương pháp hiệu quả góp phần thực hiện nội dung "dạy học có hiệu quả" - một trong năm nội dung của phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực"

Sử dụng thành thạo, có hiệu quả bản đồ tư duy trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần cải thiện chất lượng giáo dục hiện nay Giáo viên sẽ linh hoạt trong bài giảng, thông qua bản đồ tư duy giúp học sinh dễ dàng nắm bắt kiến thức của bài học Học sinh sử dụng bản đồ tư duy sẽ học được một phương pháp học tập, ôn tập vừa chủ động, tích cực trong học tập vừa giúp rèn luyện, phát triển tư duy

Hiện nay, bản đồ tư duy được sử dụng phổ biến không chỉ trong các nhà trường Tiểu học, Trung học cơ sở mà còn lan rộng ra khắp các trường Trung học phổ thông Bản đồ tư duy không chỉ phục vụ cho học tập mà còn

sử dụng phổ biến trong xây dựng kế hoạch hoạt động của nhà trường Bản đồ

tư duy hoàn toàn phù hợp với mục tiêu dạy học hiện đại và sự phát triển tư duy con người Do vậy, bản đồ tư duy càng được nhiều người biết đến Giáo

Trang 34

viên sử dụng bản đồ tư duy như một công cụ để chuyển tải bài học một cách tích cực, linh hoạt Học sinh sử dụng bản đồ tư duy như một phương pháp học tập hiệu quả trong tiếp thu kiến thức mới và ôn tập những kiến thức đã học

Trường trung học cơ sở Tô Hoàng (Hà Nội) là một trong những nơi ứng dụng sớm nhất bản đồ tư duy vào học tập và xây dựng kế hoạch Bản đồ

tư duy được dùng để giới thiệu phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", các trò chơi của học sinh cũng được bản đồ tư duy hóa, trong các lớp học đều có bản đồ tư duy thể hiện kế hoạch năm học Và đặc biệt, sử dụng công cụ bản đồ tư duy phục vụ quá trình học tập của học sinh Tập thể sư phạm nhà trường rất vui khi áp dụng bản đồ tư duy giúp cải thiện kết quả học tập, giúp phát triển trí tuệ toàn diện của học sinh Đối với môn Ngữ văn, cô giáo Lê Thị Hằng cho biết: "Chúng tôi chọn sự kết hợp bản

đồ tư duy với lời bình giảng của giáo viên Và khi chúng tôi kết hợp tôi cũng muốn nó mang tính hình tượng thì nó sẽ tác động mạnh đến cảm xúc của các

em, nhất là các em đang còn nhỏ Trong khi đấy bài học còn đưa ra những triết lí rất sâu sắc Và như vậy thì bản đồ tư duy có một sự tác động mạnh mẽ đến nhận thức và cảm xúc của các em nhỏ"

Ở trường trung học cơ sở Lý Tự Trọng (Hà Nội), Nhà trường luôn quan tâm đến vai trò của bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là trong dạy học tích cực Tất cả giáo viên nhà trường đều được bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sử dụng bản đồ tư duy Sau một thời gian ứng dụng bản đồ tư duy vào đổi mới phương pháp dạy học đã có những kết quả khả quan Giáo viên đã nhận thức được vai trò tích cực của bản đồ tư duy trong đổi mới phương pháp dạy học Đa số giáo viên đã biết sử dụng bản đồ tư duy

để dạy bài mới, củng cố kiến thức bài học và tổng hợp kiến thức các chương, các phần học Bản đồ tư duy giúp học sinh hiểu bài nhanh hơn, ghi nhớ bài học hiệu quả hơn Những học sinh trung bình đã biết sử dụng bản đồ tư duy

để củng cố bài học Các em học sinh khá, giỏi biết dùng bản đồ tư duy để ghi chép và tổng hợp kiến thức của môn học

Trang 35

Trường trung học cơ sở Hương Sơn (Bắc Giang) nơi có đến 70% học sinh là người dân tộc thiểu số cũng ứng dụng thành công bản đồ tư duy vào quá trình dạy học Mặc dù khả năng tư duy của các em có phần bị hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất lại khó khăn nhưng việc áp dụng bản đồ tư duy cũng đem lại nhiều hiệu quả thiết thực Các em trở nên tích cực, chủ động tiếp cận bài học Ở mức độ cao hơn, các em còn biết vẽ bản đồ tư duy thể hiện nội dung bài học

Như vậy, không chỉ các nhà trường ở miền xuôi, nơi có điều kiện cơ sở vật chất phát triển mà ở nhiều trường dân tộc thiểu số việc áp dụng bản đồ tư duy cũng đem lại nhiều lợi ích Hiện nay, bản đồ tư duy được sử dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước, được sử dụng rộng rãi trong xây dựng kế hoạch và dạy học Bản đồ tư duy thực sự là một công cụ hỗ trợ dạy học hiệu quả, giúp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Bản đồ tư duy vừa giúp ghi nhớ bài học sâu sắc vừa giúp phát triển tư duy cho học sinh Tuy nhiên, không phải bài học nào cũng áp dụng bản đồ tư duy và bản đồ tư duy không phải là một công cụ toàn năng Do vậy, giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học thì mới đạt hiệu quả cao trong học tập Tùy vào đặc trưng mỗi bài học, giáo viên cần phải biết lựa chọn phương pháp tối ưu nhất và bản đồ tư duy phải sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học khác như thảo luận nhóm, trình bày một vấn đề, giảng bình, phân tích của giáo viên mới đem lại hiệu quả cao

Trang 36

Chương 2 TỔ CHỨC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM (TRÍCH ĐOẠN) VĂN XUÔI

Ở LỚP 12 2.1 Mục tiêu và nội dung dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12

2.1.1 Mục tiêu dạy học của bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Trong chương trình Ngữ văn 12, tập 2; học sinh được học bài Nghị luận

về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi Đây là bài học yêu cầu học sinh

ngoài những thao tác, kĩ năng được sử dụng trong văn nghị luận, đòi hỏi phải nắm được cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Vì vậy, khi dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi cần tập trung ba mục tiêu cơ bản sau:

Thứ nhất, cung cấp đầy đủ cho học sinh cách làm một bài văn nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi Giáo viên cần củng cố lại cho

học sinh các kĩ năng, các thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt thường được sử dụng trong bài văn nghị luận Trong bài học, cần cung cấp cho học sinh các bước tiến hành nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi từ cách tìm hiểu đề, lập dàn ý đến cách xây dựng hệ thống lập luận cho bài văn Thông qua bài học, học sinh có thể hiểu và biết cách làm bài văn nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Thứ hai, rèn luyện các kĩ năng cần thiết để học sinh có thể viết bài văn nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi Giáo viên nên tập trung các

kĩ năng cơ bản nhất như: kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý; kĩ năng dựng đoạn

và liên kết đoạn văn; kĩ năng trình bày văn bản; kĩ năng viết mở bài, kết bài Sau cùng, học sinh có thể tự viết được một bài văn nghị luận theo yêu cầu của giáo viên

Thứ ba, bài học góp phần rèn luyện khả năng tự học, thái độ mạnh dạn, cầu tiến trong học tập cho học sinh Bài học áp dụng các phương pháp, kĩ

Trang 37

thuật dạy học hiện đại Qua đó, giúp rèn luyện cho học sinh khả năng học tập theo nhóm, khả năng tự học, trình bày một vấn đề trước tập thể Thông qua các nhiệm vụ đặt ra trong bài học, học sinh sẽ mạnh dạn hơn trong việc học hỏi bạn bè, thể hiện khả năng hiểu biết của bản thân

Mỗi đề văn nghị luận đều có yêu cầu riêng về kĩ năng làm bài Do vậy, trong quá trình viết văn, học sinh cần phải linh hoạt nhận diện những yêu cầu riêng của từng dạng bài để có cách làm đúng đắn Giáo viên trong quá trình dạy học, cần luyện tập cho các em các dạng đề khác nhau, chú ý tới mục tiêu dạy học của từng dạng bài để có cách tiếp cận hiệu quả nhất Trong quá trình

đó, việc lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học có vai trò vô cùng quan trọng, giúp học sinh tiếp cận và rèn luyện được các kĩ năng làm văn cần thiết

2.1.2 Nội dung dạy học của bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Đối với bài học Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi, toàn

bộ nội dung dạy học đã được thể hiện trong Sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tập

2) Toàn bộ nội dung bài học được cụ thể hóa thành các mục như sau:

1 Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Sách giáo khoa đưa ra hai đề văn sau:

Đề 1: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

Đề 2: Hãy tìm hiểu sự khác nhau về từ ngữ, về giọng văn giữa hai văn bản Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ -

Vũ Trọng Phụng) Giải thích vì sao có sự khác nhau đó

Đối với mỗi đề văn, Sách giáo khoa đưa ra các gợi ý thảo luận cụ thể từ bước tìm hiểu đề đến lập dàn ý cho từng đề bài

2 Nhận xét

Từ các đề bài và gợi ý thảo luận ở trên, học sinh rút ra nhận xét về đối tượng và nội dung của bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi rất

đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung, có

Trang 38

thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm hoặc của các tác phẩm (trích đoạn) khác nhau

Bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi thường có các nội dung:

- Giới thiệu tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi cần nghị luận

- Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm (trích đoạn)

- Nêu đánh giá chung về tác phẩm (trích đoạn)

3 Luyện tập đề văn "Nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc"

Trong quá trình tiến hành bài học, giáo viên cần linh hoạt sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với đặc thù của từng hoạt động, từng thao tác và từng lớp học, từng học sinh Khuyến khích sự tham gia hoạt động của tất cả các em học sinh ở các mức độ phù hợp với trình độ học tập của các

em Sau khi học xong bài học, học sinh phải nắm được các bước tiến hành và viết được bài văn nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi Như vậy mới là một tiết học hiệu quả

2.2 Cách thức sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12

2.2.1 Những yêu cầu của việc áp dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

Bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ học tập hiệu quả, giúp rèn luyện cho học sinh cách tư duy kiến thức một cách logic, khoa học Bản đồ tư duy vừa giúp học sinh triển khai các đơn vị kiến thức theo một hệ thống logic vừa giúp phát triển tư duy sáng tạo cho người học Để phát huy được vai trò của bản đồ tư duy trong học tập, cần phải áp dụng công cụ này một cách khoa học, linh hoạt trong từng bài học cụ thể

Trong bài học Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi, khi áp

dụng bản đồ tư duy vào dạy học cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

Trang 39

Thứ nhất, giáo viên và học sinh phải được trang bị đầy đủ hiểu biết về bản đồ tư duy và sử dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học Bản đồ tư duy

không chỉ đơn thuần là một graph hay sơ đồ hóa kiến thức Nó cho phép người học sáng tạo cách thể hiện ý tưởng của mình, kích thích não bộ phát triển toàn diện Do đó, khi sử dụng công cụ này, giáo viên cần phải nắm rõ bản đồ tư duy không chỉ đơn giản là ghi chép kiến thức theo một trình tự logic

mà còn giúp phát triển các thao tác và các phẩm chất tư duy Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách sử dụng bản đồ tư duy để học tập một cách hiệu quả Bản đồ tư duy giúp các em sáng tạo trong cách tiếp nhận kiến thức Có thể sử dụng bản đồ tư duy trong việc tổng hợp kiến thức trọng tâm, xây dựng

mô hình giải quyết các tình huống đặt ra trong thực tiễn Trong bài học, học sinh có thể sử dụng bản đồ tư duy trong việc lập dàn ý các đề văn trong Sách giáo khoa hoặc dùng để tổng hợp khái quát kiến thức của bài về đối tượng và nội dung của bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi Giáo viên

có thể sử dụng bản đồ tư duy chuẩn bị các dàn ý cho đề văn trong bài học để học sinh tham khảo

Thứ hai, bản đồ tư duy được sử dụng kết hợp linh hoạt với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác Nếu lạm dụng, tuyệt đối hóa bản đồ tư duy trong

dạy học thì sẽ làm cho giờ dạy Văn trở nên xơ cứng, khó cảm thụ thẩm mĩ Nếu áp đặt bản đồ tư duy đối với học sinh thì nó sẽ biến thành công cụ phản

tư duy, các em lười suy nghĩ, lười hoạt động Trong quá trình dạy học, giáo viên cần linh hoạt vận dụng kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác Kết hợp với thảo luận nhóm, học sinh làm việc hiệu quả hơn với bản đồ

tư duy trong việc tổng hợp kiến thức hoặc giải quyết một tình huống học tập Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm chuẩn bị trước ở nhà các dàn ý bằng bản đồ tư duy cho hai đề văn ở mục Tìm hiểu đề và lập dàn ý Đối với việc tự học, bản đồ tư duy là sản phẩm sáng tạo của mỗi cá nhân học sinh Kết hợp với thuyết trình, học sinh có thể trình bày, lí giải nhận thức của mình về đối tượng Đối với đề văn ở phần Luyện tập, học sinh nên tự sáng tạo cho mình

Trang 40

một bản đồ tư duy và luyện tập quá trình chuyển ý từ bản đồ tư duy sang dạng văn bản hoàn chỉnh Trong giờ học ngoại khóa, các em có cơ hội thể hiện ý tưởng của mình và nhận được lời góp ý chân thành từ giáo viên và các bạn khác trong lớp Trong quá trình lên lớp, giáo viên cần sử dụng linh hoạt bản

đồ tư duy với thuyết trình, giảng bình để đem lại hiệu quả tiếp nhận cao cho giờ dạy Văn

Thứ ba, giáo viên cần rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho học sinh bằng bản đồ tư duy Thay vì cách lập dàn ý thông thường bằng ngôn ngữ có phần

nhàm chán, bản đồ tư duy giúp các em tích cực, chủ động hơn trong học tập Bởi các em được sáng tạo cách thể hiện ý tưởng của mình về đối tượng Lập dàn ý là một kĩ năng đòi hỏi học sinh không những biết cách giải quyết luận

đề bằng các luận điểm, luận cứ tương ứng mà còn phải xây dựng một hệ thống lập luận khoa học, có sức thuyết phục Dàn ý của một đề văn thể hiện cách tư duy của học sinh về đối tượng nhận thức Sử dụng bản đồ tư duy trong việc lập dàn ý giúp học sinh dễ dàng trực quan hóa tư duy của mình, kịp thời bổ sung những nội dung còn thiếu, còn ít trong dàn ý Các luận điểm, luận cứ được phân lập rõ ràng bằng bản đồ tư duy Qua đó, học sinh

có thể xác định được đâu là nội dung trọng tâm để viết bài văn đáp ứng yêu cầu đề ra

Như vậy, tùy thuộc vào đặc thù từng bài học, giáo viên cần linh hoạt sử dụng bản đồ tư duy và hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ này phục vụ quá trình học tập Bản đồ tư duy được dùng để chuẩn bị bài học trước khi đến lớp, dùng để tổng hợp kiến thức lí thuyết hoặc luyện tập lập dàn ý các đề văn cụ thể Học sinh phải biết sử dụng linh hoạt công cụ này để học cách học một cách hiệu quả

2.2.2 Áp dụng bản đồ tư duy vào chuẩn bị bài Nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi

2.2.2.1 Đối với giáo viên

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2006), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của HS trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
4. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (1985), Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1985
5. Vũ Thị Bình, Phạm Văn Nin (2005) Giáo trình kĩ năng dạy học, Trường ĐHSP Kĩ thuật Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kĩ năng dạy học
Tác giả: Vũ Thị Bình, Phạm Văn Nin
Nhà XB: Trường ĐHSP Kĩ thuật Hưng Yên
Năm: 2005
6. Bộ GD & ĐT, Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn, Dự án phát triển Giáo dục Trung học cơ sở II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Dự án phát triển Giáo dục Trung học cơ sở II
7. Bộ GD & ĐT (2010), Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, Dự án Việt - Bỉ, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực một số phương pháp và kĩ thuật dạy học
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2010
8. Tony Buzan, Bản đồ Tư duy trong công việc, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ Tư duy trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
9. Toni Buzan, How to mindmap, dịch giả Nguyễn Thế Anh (2011), NXB Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: How to mindmap
Tác giả: Toni Buzan, Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2011
10. Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
11. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
12. Trần Đình Châu, "Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn Toán", Tạp chí Giáo dục, kì 2 - tháng 9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn Toán
Tác giả: Trần Đình Châu
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2009
13. Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, "Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của HS", Tạp chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của HS
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy
Nhà XB: Tạp chí Khoa học giáo dục
Năm: 2009
14. Trần Đình Châu, Đặng Thu Thủy (2011), Dạy tốt - Học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tốt - Học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy
Tác giả: Trần Đình Châu, Đặng Thu Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
15. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
16. Nguyễn Thị Kim Dung (2011), Nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy trong hoạt động quản trị nhân lực của Công ty du lịch Newstar Tour, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ứng dụng bản đồ tư duy trong hoạt động quản trị nhân lực của Công ty du lịch Newstar Tour
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2011
17. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
18. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên, 2005), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
20. Đỗ Kim Hảo, Trần Hà Nam (2010), Bồi dưỡng Ngữ văn 12, NXB Đại học sư phạm, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng Ngữ văn 12
Tác giả: Đỗ Kim Hảo, Trần Hà Nam
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Hiên (2007), "Thiết kế câu hỏi dạy học làm văn theo định hướng giao tiếp", Tạp chí Giáo dục số 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế câu hỏi dạy học làm văn theo định hướng giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mẫu phiếu 6. Bảng kiểm quan sát học theo nhóm sử dụng trong tự đánh giá - Sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học bài nghị luận về một tác phẩm (trích đoạn) văn xuôi ở lớp 12
u phiếu 6. Bảng kiểm quan sát học theo nhóm sử dụng trong tự đánh giá (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w