Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào mang tính hệ thống về thành phần loài, các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của các nhóm lưỡng cư, trong đó có ếch cây ở khu vực này.. Chính vì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
QUÁCH THỊ KHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM SINH HỌC
THANH HÓA - 2018
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỌ GỪNG (ZINGIBERACEAE) Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA
Sinh viên thực hiện: Quách Thị Khương
Lớp: K17 – ĐHSP Sinh học
Giảng viên hướng dẫn: TS Đậu Bá Thìn
THANH HÓA - 2018
THANH HÓA, THÁNG 05 /2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM SINH HỌC
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
và kính trọng đến PGS TS Hoàng Ngọc Thảo đã hướng dẫn khoa học tận
tâm, chỉ bảo tôi từ khâu định hướng nghiên cứu đến phương pháp tiếp cận,
thực hiện đề tài và trang bị cho tôi những tri thức, kỹ năng cần thiết đế hoàn
thành tốt đề tài này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại
học Hồng đức, cùng quý thầy cô trong khoa Khoa học Tự nhiên, bộ môn
Động vật, phòng thí nghiệm của Trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến bạn bè, đặc biệt là gia đình thân
yêu đã luôn quan tâm, động viên và sát cánh bên chúng tôi trong những thời
điểm khó khăn nhất Đây chính là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp tôi
vượt qua mọi trở ngại để không ngừng vươn lên trong học tập và cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên
PGS.TS Hoàng Ngọc Thảo Đỗ Thị Hà
Trang 4
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về lưỡng cư 3
1.1.1 Nghiên cứu về lưỡng cư ở Việt Nam 3
1.1.2 Nghiên cứu về họ Ếch cây Rhacophoridae ở Việt Nam 5
1.1.3 Nghiên cứu về lưỡng cư ở Thanh Hóa và tại KBTTN Pù Luông 7
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 8
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
1.2.3 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng 10
CHƯƠNG II 12
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
2.3 Phương pháp nghiên cứu 12
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực địa 12
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 13
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 15
3.1.Thành phần loài lưỡng cư trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông 15 3.1.1 Danh sách thành phần loài 15
3.2 Đặc điểm hình thái của các loài 18
3.2.1 Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao & Nguyen, 2011 18
Trang 5iii
3.2.2 Kurixalus bisacculus (Boulenger, 1893) 19
3.2.3 Polypedates mutus (Smith, 1940) 21
3.2.4 Raorchestes gryllus (Smith, 1924) 23
3.2.5 Rhacophorus kio Ohler & Delorme, 2006 24
3.2.6 Rhacophorus orlovi Ziegler & Köhler, 2001 26
3.2.7 Theloderma albopunctatum (Liu and Hu, 1962) 27
3.2.8 Theloderma lateriticum Bain, Nguyen, and Doan, 2009 28
3.3 Giá trị bảo tồn các loài lưỡng cư trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông 30
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
1 Kết luận 31
2 Kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Đƣợc hiểu là
1 Cs cộng sự
2 KBTTN Khu Bảo tồn Thiên nhiên
3 KVNC Khu vực nghiên cứu
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Danh sách các loài trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông 15 Bảng 3.2: So sánh đa dạng loài trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông với một số KBT ở tỉnh Thanh Hóa và khu vực Bắc Trung Bộ 16 Bảng 3.3: Giá trị bảo tồn các loài lưỡng cư trong họ Rhacophoridae ở KBTTN
Pù Luông 30
Trang 8vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 So sánh đa dạng loài và giống trong họ Rhacophoridae ở KVNC với
các VQG, KBTTN khu vực phía Bắc của Bắc Trung Bộ 17
Hình 3.2 Gracixalus quangi 18
Hình 3.3 Kurixalus bisacculus 20
Hình 3.4 Polypedates mutus 21
Hình 3.5 Raorchestes gryllus 23
Hình 3.6 Rhacophorus kio 25
Hình 3.7 Rhacophorus orlovi 26
Hình 3.8: Theloderma albopunctatum 28
Hình 3.9: Theloderma lateriticum 29
Trang 9Lưỡng cư nói chung và ếch cây nói riêng là một mắt xích trong lưới thức ăn tự nhiên, là nhân tố quan trọng trong hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới Tuy nhiên chúng cũng là nhóm động vật có nguy cơ bị đe dọa lớn với khoảng
1/3 tổng số loài có nguy cơ tuyệt chủng Họ ếch cây (Rhacophoridae) là họ có
số loài nhiều nhất trong lớp lưỡng cư ở Việt Nam Chúng là những loài có nhiều màu sắc đẹp, chiếm lĩnh nhiều không gian phân bố trong lớp lưỡng cư ở Việt Nam Trong những năm gần đây, chúng còn là một loại sinh vật nuôi làm cảnh được nhiều người ưa thích
Mặt khác, do áp lực của đời sống dân sinh với các hoạt động như săn bắt, chặt gỗ, đốt rừng làm nương rẫy, việc xây dựng các nhà máy thủy điện,
mở các tuyến đường ở KBTTN Pù Luông ngày càng lớn, làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, thảm thực vật rừng bị suy giảm, môi trường sống của các loài ếch cây bị đe dọa nghiêm trọng Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào mang tính hệ thống về thành phần loài, các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của các nhóm lưỡng cư, trong đó có ếch cây ở khu vực này Chính vì vậy tôi
chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái của các loài trong họ Ếch cây
Rhacophoridae ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông"
Trang 102
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được tính đa dạng loài lưỡng cư trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông và hiện trạng các loài, trên cơ sở đó góp phần vào công tác quản lý nguồn tài nguyên này ở khu bảo tồn
3 Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng loài trong họ Ếch cây Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông
- Phân tích đặc điểm hình thái của các loài
- Đánh giá hiện trạng bảo tồn của các loài
4 Ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp dẫn liệu về hiện trạng của khu hệ LC của một khu vực còn
ít được quan tâm nghiên cứu, đó là KBTTN Pù Luông, ghi nhận bổ sung các loài LC cho tỉnh Thanh Hóa
- Bổ sung dẫn liệu về thành phần loài, đặc điểm hình thái của các loài thuộc họ ếch cây thu được mẫu vật ở KBTTN Pù Luông
- Đánh giá tầm quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học thông qua ghi nhận một số loài quý hiếm ở khu vực nghiên cứu
Trang 113
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về lưỡng cư
1.1.1 Nghiên cứu về lưỡng cư ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Cho đến nay số loài lưỡng cư hiện biết ở Việt Nam khoảng 264 loài (theo Frost, 2018)[32], chiếm 3,42% tổng số loài lưỡng cư của thế giới Nghiên cứu về lưỡng cư ở Việt Nam thường gắn liền với các nghiên cứu về bò sát, quá trình nghiên cứu có thể chia thành các thời kỳ gắn liền với các giai đoạn phát triển của khoa học động vật ở Việt Nam
a Thời kỳ trước năm 1954
Các nghiên cứu về LCBS trong thời kỳ này chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện Điển hình như các tác giả Morice, Bourret, Smith Trong đó, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu về lưỡng cư ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam) của Bourret từ năm 1934-1944 đã ghi nhận được 71 loài và phân loài ếch nhái (Bourret R., 1942)[52]
Nhìn chung, thời kỳ này những kết quả nghiên cứu về lưỡng cư mới dừng lại ở mức độ thu thập mẫu vật, thống kê, phân loại Phạm vi nghiên cứu còn hẹp, chủ yếu ở Nam Bộ, Bà Nà, Sapa, Ba Vì, Mẫu Sơn, Tam Đảo Kết quả thường công bố chung cho toàn vùng Đông Dương
b Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
Thời kỳ này các nghiên cứu chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện Từ năm 1956 - 1975, Trần Kiên và cs đã tiến hành điều tra ở một số địa phương của miền Bắc[11]
Bên cạnh điều tra thành phần loài, hướng nghiên cứu cũng mở rộng như nghiên cứu về sinh thái học Cá cóc tam đảo của Đào Văn Tiến (1965), Ếch đồng của Lê Vũ Khôi (1965)[20]
Trang 124
Tổng kết thời kỳ này, các nhà khoa học đã thống kê được 69 loài và phân loài lưỡng cư (Trần Kiên và cs, 1981) [11]
c Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Từ sau năm 1975, các nghiên cứu về lưỡng cư nói riêng cũng như LCBS nói chung được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
Năm 1977, Đào Văn Tiến đã tổng hợp và xây dựng khóa định loại cho
87 loài lưỡng cư ở Việt Nam [21]
Đến năm 1996, từ những kết quả nghiên cứu trước đây, kết quả nghiên cứu đã có sự thay đổi, các nhà khoa học đã cập nhật lại và xác định một số loài không có ở Việt Nam Trong công bố về danh lục LCBS ở Việt Nam năm
1996, số loài LC được xác định là 82 loài thuộc 9 họ, 3 bộ ( Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc,1996) [16]
Từ 1996 đến 2005, ngoài việc tăng cường công tác điều tra cơ bản, các nhà khoa học Việt Nam còn ứng dụng những thành tựu của sinh học phân tử vào việc định loại, hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài Vì vậy số lượng các loài lưỡng cư được phát hiện không ngừng tăng lên, nhiều loài mới cho khoa học được mô tả, nhiều loài được ghi nhận bổ sung cho khu hệ lưỡng cư Việt Nam Một số nghiên cứu điển hình như Đinh Thị Phương Anh và Nguyễn Mạnh Tùng nghiên cứu về khu hệ LCBS ở Sơn Trà (2000) [3]; Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang (2000) ở VQG Bến En [18]; Phạm Văn Hòa nghiên cứu ở vùng núi Bà Đen, Tây Ninh (2005) [9]
Năm 2005, Nguyễn Văn Sáng và cs đã thống kê ở Việt Nam có 162 loài LC [17] Chỉ sau đó 4 năm, số loài được ghi nhận là 177 (Nguyen et al, 2009) [39]
Sau thời gian này, các nghiên cứu về khu hệ LCBS vẫn đươc tiếp tục ở các vùng khác nhau trong cả nước Số loài bổ sung cho Việt Nam và loài mới
Trang 135
được phát hiện trong khoảng 10 năm gần đây là 87 loài, nâng tổng số loài LC hiện biết lên 264 loài thuộc 10 họ, 3 bộ (Frost, 2018)[32]
1.1.2 Nghiên cứu về họ Ếch cây Rhacophoridae ở Việt Nam
Nghiên cứu về họ Ếch cây Rhacophoridae chủ yếu được công bố chung trong các nghiên cứu về LCBS ở Việt Nam
Năm 1999, Inger và cs đã thống kê ở Việt Nam có 19 loài ếch cây thuộc 6 giống (Inger R.F, Orlov N., Darevsky I.,1999)[37] Đến năm 2002, số loài được ghi nhận là 42 loài thuộc 6 giống (Orlov N L., Murphy R M., Ananjeva N B., Ryabov S A., Ho Thu Cuc, 2002)[41]
Năm 2008 , Hendrix và cs nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư ở Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình đã ghi nhận 13 loài ếch cây thuộc 6 giống [34]
Đến năm 2010, Ziegler đã bổ sung cho họ ếch cây ở Việt Nam 1 loài
mới thuộc giống Theloderma [50]
Năm 2011, Lê Nguyên Ngật và cs nghiên cứu lưỡng cư ở vùng Tây bắc Việt Nam đã ghi nhận 15 loài thuộc 6 giống trong họ Rhacophoridae [14]
Năm 2013, một số nghiên cứu khu hệ lưỡng nói chung và nghiên cứu
họ Rhacophoridae được thực hiện: Lê Thị Hồng Lam và cs nghiên cứu họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Hoạt đã ghi nhận được 15 loài thuộc 6 giống [28]
Năm 2014, Lưu Quang Vinh và cs nghiên cứu khu hệ lưỡng cư ở xã Thượng Tín, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã ghi nhận được 4 loài thuộc 3 giống trong họ Ếch cây Rhacophoridae [38]
Năm 2015, nhiều nghiên cứu tại các tỉnh của Việt Nam được thực hiện, trong đó có các kết quả nghiên cứu về họ Rhacophoridae: Nghiên cứu tại Bắc Cạn, Phạm Thị Kim Dung và cs đã điều tra và thống kê có 4 loài thuộc 3 giống (Phạm Thị Kim Dung và cs.2015)[7] Nguyễn Quảng Trường và cs đã ghi nhận ở tỉnh Điện Biên có 12 loài thuộc 7 giống [19] Ở tỉnh Hòa Bình, Phạm Thế Cường và cs ghi nhận 12 loài thuộc 6 giống [6] Ở Nghệ An và Hà
Trang 14Năm 2018, Phạm Văn Anh và Nguyễn Quảng Trường có nghiên cứu về
Ếch cây sần ở tỉnh Sơn La và đã ghi nhận 4 loài thuộc giống Theloderm [2]
Năm 2018 đã có 70 loài ếch cây thuộc 9 giống được ghi nhận ở Việt Nam
Bên cạnh các nghiên cứu về cá thể trưởng thành, các nghiên cứu về nòng nọc của lưỡng cư trong họ Rhacophoridae cũng được thực hiện:
Năm 2002, Ziegler và Vences đã nghiên cứu về đặc điểm hình thái các
giai đoạn phát triển, đĩa miệng của nòng nọc loài Rhacophorus verucosus tại
thái mặt lưng, mặt bên và đĩa miệng của nòng nọc loài Rhacophorus maximus
tại Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang [48]
Năm 2012, Gawor và cs đã nghiên cứu và mô tả hình thái, màu sắc của 2
loài thuộc giống Theloderma dựa trên mẫu Theloderma bicolor trưởng thành được thu ở Sa pa – Lào Cai và dựa trên mẫu Theloderma corticale được thu ở
Tam Đảo [33]
Trang 157
Năm 2012, Đoàn Thị Ngọc Linh và cs nghiên cứu đặc điểm hình thái
của các giai đoạn phát triển của 2 loài nòng nọc thuộc giống Ếch cây sần Theloderma là Theloderma asperum và Theloderma stellatum [12]
Năm 2014, Hoàng Ngọc Thảo và cs đã mô tả các giai đoạn phát triển
và hình thái nòng nọc của loài Ếch cây ki-ô Rhacophorus kio dựa trên mẫu
thu được tại KBTTN Pù Huống, tỉnh Nghệ An [23]
Năm 2015, Lê Thị Quý và cs đã nghiên cứu và phân tích các giai đoạn
và quá trình biến thái của nòng nọc Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis dựa trên mẫu thu được ở VQG Bạch Mã [15]
Năm 2016, Vassilieva và cs sử dụng phương pháp phân tích DNA để
xác định và phân tích đặc điểm hình thái nòng nọc của loài Rhacophorus helenae thu được ở Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng [47]
Năm 2016, Hoàng Ngọc Thảo và cs có mô tả đầu tiên về nòng nọc loài
Rhacophorus exechopygus dựa trên mẫu thu được tại VQG Bạch Mã [45]
Ngoài ra còn nghiên cứu về âm thanh của một số loài trong họ Ếch cây Rhacophoridae:
Năm 2012, Trần Thị Ngân và cs đã nghiên cứu và phân tích về âm
thanh của loài Polypedates leucomystax( Trần Thị Ngân, Trần Đình Quang,
Đậu Quang Vinh,2012) [13] Cũng trong năm này, Đậu Quang Vinh và cs lần đầu tiên ghi nhận tiếng kêu thông báo của loài Ếch cây chân đỏ
Rhacophorus rhodopus [27]
1.1.3 Nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở Thanh Hóa và tại KBTTN Pù Luông
Nghiên cứu lưỡng cư ở Thanh Hóa chưa nhiều, mới chỉ có công bố nhỏ
lẻ trên cơ sở các nghiên cứu tiền khả thi cho việc xây dựng các khu rừng đặc dụng Trong công bố của Nguyen et al, 2009 đã thống kê ở Thanh Hóa có 32 loài lưỡng cư Năm 2011, Nguyễn Kim Tiến và cs ghi nhận ở KBTTN Pù Hu
có 34 loài [12]; Pham et al., 2016 đã ghi nhận ở KBTTN Xuân Liên có 50 loài lưỡng cư [42] Riêng KBTTN Pù Luông cho đến nay ít được quan tâm nghiên
Trang 161.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
KBTTN Pù Luông có tọa độ 20021’ đến 20034’ vĩ độ Bắc, 105002’ đến
105020’ kinh độ Đông, thuộc hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá KBTTN Pù Luông bao gồm các phần đất thuộc 5 xã huyện Quan Hoá bao gồm xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm và 4 xã huyện Bá Thước bao gồm xã Thành Sơn, Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình; phía Bắc giáp huyện Mai Châu và Tân Lạc tỉnh Hoà Bình; phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân; Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm
- Địa hình
Theo Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng
KBTTN Pù Luông đến năm 2020 cho thấy địa hình của KBTTN Pù Luông
bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được ngăn cách với nhau bởi một thung lũng ở giữa Địa hình của Khu bảo tồn cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1.000m Cao nhất là đỉnh
Pù Luông có độ cao 1.700m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60
m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình quân 300, nhiều nơi độ dốc trên 450
- Địa chất – thổ nhƣỡng
Trang 179
Theo Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng
KBTTN Pù Luông đến năm 2020 cho thấy đặc điểm địa chất, địa mạo khá đa
dạng nên lớp đất phủ ở KBTTN Pù Luông phong phú Theo các bảng phân loại của FAO, UNESCO, WRB và của Việt Nam, lớp đất phủ trong vùng hình thành từ các loại đá nêu trên có thể chia thành các kiểu loại chính sau: (1) Đất Renzit mầu nâu vàng, mầu đen, phát triển trên đá vôi; (2) Đất Luvisol mầu vàng xám, phát triển trên đá vôi; (3) Đất Leptosol mầu vàng xám, phát triển trên các sườn đá vôi; (4) Đất Cabisol mầu xám đen, mầu vàng xám, phát triển trên đá macma; (5) Đất Acrisol mầu xám nâu, phát triển trên đá macma; (6) Đất Acrisol mầu vàng xám, xám nâu, phát triển trên đá lục nguyên và (7) Đất Fluvisol và Gleysol mầu vàng xẫm đến nâu xẫm, phát triển dọc các thung lũng
- Khí hậu
Khí hậu huyện Bá Thước bị ảnh hưởng bởi quá trình chuyển đổi khí hậu nhiệt đới gió mùa giữa núi cao phía Đông Bắc và Tây Bắc, mỗi năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa, nóng, d ịu mát, mưa từ (tháng 4-10) mùa, khô, lạnh, ít mưa kéo dài từ (tháng 11 năm ngoái đến tháng 3 năm tiếp theo), đây là khí hậu đặc trưng của miền Bắc Việt Nam Nhiệt độ trung bình hàng năm 23°C- 25°C, nhiệt độ cao nhất vào tháng Bảy (27.7°C) còn khi nhiệt độ bất thường lên đến 41o
C Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới (-3)°C đến (-5)°C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm Lượng mưa bình quân năm biến động từ 1.500
mm đến 1.600 mm
- Sông ngòi
Tất cả các dòng suối, thác nước và hồ chảy từ khu vực đỉnh núi xuống chung quanh và đều chảy vào sông Mã, suối thường có dòng chảy và nước chảy vào mùa hè, mùa đông nước rất nông Khả năng giữ nước của các suối nhỏ rất kém, thường cạn kiệt vào mùa khô
Trang 1810
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Căn cứ Quyết định số 3114/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá, phạm vi quy hoạch KBTTN Pù Luông nằm trong địa giới hành chính của 9 xã thuộc 2 huyện Bá Thước và Quan Hóa
Dân số có 18.309 người, 4.201 hộ Mật độ trung bình là: 69,33 người/km2, mật độ cao nhất tại xã Thành Lâm, huyện Bá Thước (120 người/km2) và thấp nhất tại xã Thanh Xuân, huyện Quan Hóa (42 người/km2
)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn khu vực là 0,98%
Dân cư thuộc KBTTN Pù Luông phân bố, tập trung sinh sống thành các thôn bản Trong tổng 9 xã trên, qua điều tra cho thấy trên địa bàn giáp ranh với KBTTN có 48 thôn/bản thuộc vùng đệm với tổng số 4.201 hộ và 18.309 khẩu trong đó có 10.067 khẩu trong độ tuổi lao động Huyện Bá Thước có 39 thôn/bản thuộc 4 xã gồm: 3.385 hộ, 14.650 khẩu và 8.010 khẩu trong độ tuổi lao động; huyện Quan Hóa có 10 thôn/bản, 816 hộ, 3.659 khẩu và 2.057 khẩu trong độ tuổi lao động
1.2.3 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
Theo Báo cáo Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng
KBTTN Pù Luông đến năm 2020 cho thấy hiện trạng sử dụng đất và tài
nguyên rừng KBTTN Pù Luông như sau:
Trang 19Hệ sinh thái núi đá vôi thuộc liên khu sinh cảnh đá vôi Pù Luông - Cúc Phương có diện tích rộng lớn và có giá trị đa dạng sinh học cao còn lại duy nhất trên vùng đất thấp miền Bắc Việt Nam, có tính đa dạng cao về hệ động, thực vật, là nơi lưu trữ nguồn gen của các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo vệ
Trang 2012
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Các loài lưỡng cư trong họ Ếch cây Rhacophoridae
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 08/2016 đến tháng 05/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực địa
a Phương pháp thu thập mẫu vật
Mẫu vật thu thập bằng tay Cố định bằng formalin 10% trong 24 giờ trên thực địa, 1 tuần trong phòng thí nghiệm, sau đó chuyển sang bảo quản ở cồn 70% Các mẫu được đánh số theo thứ tự thu mẫu và mẫu thu được ghi nhật kí, chụp ảnh, gồm các thông tin:
- Số thứ tự của mẫu
- Tên phổ thông, tên địa phương (nếu có)
- Địa điểm thu mẫu (ngày, giờ, thu mẫu)
- Vị trí thu mẫu, mô tả vị trí cụ thể thu mẫu của loài
- Người thu mẫu
b Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh thái
- Quan sát, mô tả đặc điểm môi trường sống
Tiến hành nghiên cứu từ 18h00 đến 24h00 trùng với thời gian hoạt động chủ yếu của lưỡng cư Thu thập các thông tin trên phiếu thực địa gồm:
- Loài bắt gặp
- Thời gian bắt gặp
- Số cá thể của loài
- Nhiệt độ, độ ẩm môi trường
- Vị trí bắt gặp, vị trí nhìn thấy loài đầu tiên
Trang 2113
- Đặc điểm môi trường sống của loài
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a Phân tích đặc điểm hình thái các loài
- Các chỉ tiêu hình thái được đo với độ chính xác đến 0,1 mm
Sơ đồ đo ếch nhái không đuôi (theo Hoàng Xuân Quang và cs, 2012)
1 Lỗ mũi; 2 Mắt; 3 Màng nhĩ; 4 Dải mũi; 5 Mí mắt trên; 6 Rộng mí mắt trên; 7 Gian mí mắt; 8 Gian mũi; 9 Khoảng cách giữa 2 dải mũi; 10 Khoảng cách từ mõm đến mũi; 11 Dài mõm; 12 Đường kính mắt; 13 Dài màng nhĩ; 14 Dài thân; 15 Rộng đầu; 16 Lỗ huyệt; 17 Dài đùi; 18 Dài ống chân; 19 Đùi; 20 Ống chân; 21 Cổ chân; 22 Dài củ bàn trong; 23
Dài bàn chân; 24 Rộng đĩa ngón chân
Kí hiệu và phương pháp đo các chỉ tiêu hình thái:
Dài thân (SVL): từ mút mõm đến huyệt
Dài đầu (HL): từ mút mõm đến xương góc hàm
Rộng đầu (HW): bề rộng lớn nhất của đầu, thường là khoảng cách hai góc sau của hàm
Khoảng cách mõm mắt (ESL): khoảng cách từ trước mắt đến mút mõm Đường kính mắt (ED): chiều dài lớn nhất của ổ mắt
Dài màng nhĩ (TD): chiều dài lớn nhất của màng nhĩ
Trang 2214
Gian ổ mắt (IOD): khoảng cách nhỏ nhất giữa 2 ổ mắt
Khoảng cách tai mắt (TED): Khoảng cách từ sau mắt đến màng nhĩ Dài đùi (FL): lỗ huyệt đến khớp gối
Dài ống chân (TL): Khớp gối đến cuối khớp ống-cổ
Dài bàn chân (FOT): mép củ bàn trong đến mút ngón 4
b Định tên khoa học các loài
Định tên khoa học các loài Ếch cây bằng các tài liệu sau: Bourret
(1942)[52], Đào Văn Tiến (1977)[21], Ziegler et al (2001)[51], Ohler et al (2006)[40], Bain et al (2009)[30], Rowley et al (2001)[44]
Tên khoa học, tên phổ thông theo Nguyen et al (2009)[39], Frost
(2018)[32] và tham khảo các tài liệu có liên quan
- Bảng tổng hợp các chỉ tiêu hình thái và tỉ lệ của loài
d Phương pháp xác định hiện trạng bảo tồn các loài
Xác định hiện trạng bảo tồn các loài trong họ Rhacophoridae theo Sách
Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2018)[36]
d, Phương pháp xử lí số liệu
- Xử lý các số liệu về các chỉ tiêu hình thái bằng phần mềm Microsoft Excel 2010
Trang 2315
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1.Thành phần loài lưỡng cư trong họ Rhacophoridae ở KBTTN Pù Luông
3.1.1 Danh sách thành phần loài
Dựa vào kết quả phân tích mẫu vật thu được, kết hợp với điều tra phỏng vấn và tổng hợp tài liệu đã công bố trước đây, tôi đã xác định được ở KBTTN Pù Luông có 9 loài thuộc họ Rhacophoridae, thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh sách các loài trong họ Rhacophoridae
ở KBTTN Pù Luông
STT Tên khoa học Tên Việt Nam Số mẫu
Nguyen, Cao, and Nguyen, 2011
1893)
Nhái cây tí hon 0 (TL)
4
Nguyen, and Doan, 2009 *
Ghi chú: * Loài bổ sung cho KBTTN Pù Luông TL: Theo Đậu Quang Vinh
và cs (2016)