1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong hồng đức quốc âm thi tập và thơ nôm hồ xuân hương

122 10 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập và Thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Tác giả Phạm Thị Hiền
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Dũng
Trường học Trường Đại Học Hồng Đức
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thi nhân Hồng Đức và nữ sĩ Hồ Xuân Hương đều là những người nghệ sĩ của nghệ thuật ngôn ngữ đầy bản lĩnh và sáng tạo, trong đó có việc sử dụng và sáng tạo từ láy, đem lại cho dòng th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

PHẠM THỊ HIỀN

GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG CỦA HỆ THỐNG TỪ LÁY

TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP

VÀ THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

PHẠM THỊ HIỀN

GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG CỦA HỆ THỐNG TỪ LÁY

TRONG HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP

VÀ THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822.01.21

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Quang Dũng

THANH HÓA, NĂM 2019

Trang 3

Theo Quyết định số 1257/QĐ-ĐHHĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019

của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức:

Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan Công tác Chức danh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố

Thanh Hóa, tháng 8 năm 2019

Người cam đoan

Phạm Thị Hiền

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc nghiêm túc, đề tài đã được hoàn thành Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến

thầy giáo - TS Trần Quang Dũng - Trưởng bộ môn văn học Việt Nam -

Giảng viên Khoa Khoa học xã hội, Trường Đại học Hồng Đức đã không quản nhọc nhằn, vất vả, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này luận văn này

Tôi xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong những năm học qua

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm Khoa Khoa học xã hội, Bộ môn Văn học Việt Nam, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, Phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ - Trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ bộ môn Trường tiểu học Đông Tân đã tạo điều kiện thuận lợi trong công tác để tôi học tập và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Mặc dù rất nỗ lực khi nghiên cứu và thực hiện đề tài, song chúng tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý và chỉ bảo của các quý Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ luận văn để chúng tôi có điều kiện học hỏi, mở mang kiến thức khoa học

Thanh Hóa, tháng 8 năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hiền

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VI T TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI 11

1.1 Khái niệm và các quan niệm xung quanh về từ láy 11

1.2 Giá trị văn chương của từ láy trong văn học và chức năng của từ láy trong thơ Nôm Đường luật 13

1.2.1 Từ láy trong văn học 13

1.2.2 Chức năng của từ láy trong thơ Nôm Đường luật 16

1.3 Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương 22

1.3.1 Tiêu chí thống kê, phân loại 22

1.3.2 Kết quả phân loại 23

1.3.3 Hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương 30

Tiểu kết chương 1 40

Chương 2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ LÁY TRONG “HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP” VÀ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG 41

Trang 7

2.1 Giá trị biểu đạt âm thanh 41

2.1.1 Giá trị biểu đạt âm thanh của từ láy trong Hồng Đức quốc âm thi tập 42

2.1.2 Giá trị biểu đạt âm thanh của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương 45

2.2 Giá trị tạo hình 48

2.2.1 Giá trị tạo hình của từ láy trong Hồng Đức quốc âm thi tập 48

2.2.2 Giá trị tạo hình của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương 56

2.3 Giá trị biểu ý 61

2.3.1 Giá trị biểu ý của từ láy trong Hồng Đức quốc âm thi tập 61

2.3.2 Giá trị biểu ý của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương 69

Tiểu kết chương 2 74

Chương 3 GIÁ TRỊ BIỂU CẢM, GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY TRONG “HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP” VÀ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG 75

3.1 Giá trị biểu cảm 75

3.1.1 Giá trị biểu cảm của từ láy trong Hồng Đức quốc âm thi tập 75

3.1.2 Giá trị biểu cảm của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương 84

3.2 Giá trị thẩm mỹ 92

3.2.1.Giá trị thẩm mỹ của từ láy trong Hồng Đức quốc âm thi tập 93

3.2.2.Giá trị thẩm mỹ của từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương 99

Tiểu kết chương 3 106

K T LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VI T TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sự xuất hiện của văn học chữ Nôm nói chung và thơ Nôm Đường luật (TNĐL) nói riêng khiến cho diện mạo nền văn học chữ viết dân tộc thời trung đại phong phú, đa dạng, không còn sự “độc tôn” của văn học chữ Hán

Từ đây (tạm tính từ thế kỷ XV) dòng TNĐL tồn tại và phát triển song hành với dòng thơ Đường luật Hán cho đến hết thế kỷ XIX, gắn liền với thành tựu nghệ thuật đặc sắc, với những tác gia, tác phẩm tiêu biểu, trong đó có “Hồng

Đức quốc âm thi tập” (HĐQÂTT) và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.2 Xuất hiện vào thời kỳ đầu tiến trình TNĐL, HĐQÂTT đã có một

vị trí đặc biệt trên cả phương diện nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện theo xu hướng dân tộc hóa thể loại, là cơ sở, tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo của dòng thơ tiếng Việt trong đó có thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Sự xuất hiện thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã khiến cho dòng thơ tiếng Việt chuyển từ thơ nói “chí” sang thơ nói “tình”, từ các phạm trù, quan niệm Nho giáo chuyển sang tái hiện trực tiếp cuộc sống – con người Đặc biệt đề tài, chủ đề thơ Nôm Hồ Xuân Hương hướng vào số phận của người phụ nữ phong kiến với những uẩn ức, khát vọng về quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc và tình yêu trên tinh thần dân tộc và dân chủ Vì thế, giá trị nhân văn truyền thống của TNĐL đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã được thể hiện một cách sâu sắc nhất, tập trung nhất

1.3 Xét trên phương diện ngôn ngữ nghệ thuật của HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, trong đó có hệ thống từ láy, vừa có điểm tương đồng

và khác biệt Các thi nhân Hồng Đức và nữ sĩ Hồ Xuân Hương đều là những người nghệ sĩ của nghệ thuật ngôn ngữ đầy bản lĩnh và sáng tạo, trong đó có việc sử dụng và sáng tạo từ láy, đem lại cho dòng thơ tiếng Việt những giá trị văn chương (giá trị biểu đạt, giá trị biểu cảm, giá trị thẩm mỹ và phong cách)

Trang 10

đầy thú vị, bất ngờ Đây chính là lý do để chúng tôi lựa chọn vấn đề “Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương” là đề tài nghiên cứu cho luận văn

Cũng cần lưu ý điểm này: Sẽ thuận lợi hơn nếu chúng tôi lựa chọn tìm hiểu giá trị văn chương của từ láy trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương với các tác giả như Tú Xương, Nguyễn Khuyến vì tính “đồng dạng” trên nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật sử dụng ngôn từ Có thể

sẽ có những bất cập khi đặt thơ Nôm của Hồ Xuân Hương trong tương quan với HĐQÂTT – một tác phẩm tiêu biểu cho sáng tác cung đình trong dòng thơ tiếng Việt Nhưng cũng cần thấy: trong tiến trình TNĐL, HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương là hai đỉnh cao trong việc sử dụng và sáng tạo từ láy, đem lại cho Đường luật Nôm tính dân tộc đậm đà, và tạo tiền đề cho bước phát triển mới của TNĐL trên phương diện sử dụng có hiệu quả nghệ thuật và thẩm mỹ ngôn ngữ dân tộc ở các giai đoạn sau của dòng thơ tiếng Việt

1.4 Thơ Nôm Đường luật nói chung, HĐQÂTT và Hồ Xuân Hương nói riêng đã và đang được nghiên cứu và giảng dạy ở các bậc đại học, sau đại học chuyên ngành cũng như các cấp học phổ thông Vì thế, nghiên cứu “Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương” còn góp phần tích cực cho việc dạy-học tác gia, tác phẩm văn học dưới góc độ thể loại và so sánh

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập”

Ở nội dung này, chúng tôi lựa chọn những công trình nghiên cứu tiêu

biểu sau đây: Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên (1982), Hồng Đức quốc

âm thi tập, NXB Văn học, Hà Nội Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Ma Cao

Chương (1998), Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, NXB Giáo Dục, Hà Nội Lã Nhâm Thìn (1997), Thơ Nôm Đường luật, NXB Giáo

Trang 11

Dục, Hà Nội Mai Xuân Hải (1998), Lê Thánh Tông- Thơ văn và cuộc đời, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Trần Quang Dũng (2005), Hồng Đức quốc âm thi

tập trong tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm,

Hà Nội Nguyễn Phạm Hùng (1998), “Mấy nhận xét về nghệ thuật thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập”, In trong: Hoàng đế Lê Thánh Tông: Nhà chính

trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

Nhiều tác giả (1998), Lê Thánh Tông: Nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi

lạc, nhà văn lớn”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Vương Lộc (1998), “Một

vài nhận xét về ngôn ngữ trong Hồng Đức quốc âm thi tập” In trong: Hoàng

đế Lê Thánh Tông: nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội v.v

Đây là những tài liệu đã có những ý kiến, nhận xét về phương diện ngôn ngữ trong HĐQÂTT và hệ thống từ láy nói riêng

Đơn cử, tác giả Lã Nhâm Thìn trong cuốn “Thơ Nôm Đường luật” đã nêu bật những đóng góp về nghệ thuật tập thơ, nhất là nghệ thuật sử dụng từ lấp láy:

"Trong Hồng Đức quốc âm thi tập có những bài sáng tác chủ yếu bằng

từ láy Không chỉ nhiều về số lượng, các tác gia thời Hồng Đức còn có đóng góp rất lớn trong việc sáng tạo từ láy" [51; tr 160-161]

Các tác giả Đinh Gia Khánh – Ma Cao Chương - Bùi Duy Tân trong cuốn: “Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII” đã nhận xét:

"Hồng Đức quốc âm thi tập sử dụng từ ngữ khá điêu luyện Một biểu

hiện đáng chú ý của nghệ thuật ngôn ngữ trong tập thơ là việc vận dụng vốn

từ lấp láy, một đặc sắc riêng của ngôn ngữ Việt" [24; tr 283]

Tác giả Trần Quang Dũng trong cuốn “Hồng Đức quốc âm thi tập trong

tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam” cũng đã khẳng định: “Trong lớp từ

Việt của HĐQÂTT, từ láy có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một sáng tạo đầy độc đáo, đa dạng mà dường như không một tác phẩm Đường luật

Trang 12

Nôm nào sánh kịp, góp phần đưa ngôn ngữ thơ Nôm dần trở về với ngôn ngữ thuần dân tộc Bởi, trong các lớp từ Việt thì từ láy tạo ra "chất Việt" nhất cho hình tượng thơ, tình thơ và cho phép nhà thơ diễn tả được đầy đủ vẻ đẹp tươi nguyên của cảnh vật, cái vi diệu trong cảm xúc trước diễn biến của thời khắc, tạo vật Do đó, tính chất cung đình, điển nhã của thi tập phần nào bị mờ hóa, còn lại là sự vật gần gũi trong cảm hứng, phong phú trong cảm nhận và đa dạng trong phản ánh hiện thực” [12 ; tr 122]

Tuy mới là những thành tựu bước đầu nhưng nó là tiền đề cho việc sáng tạo và sử dụng thành công lớp từ láy của TNĐL sau này, nhất là thơ Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến

Tác giả Vương Lộc trong “Hoàng Đế Lê Thánh Tông: Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn” cũng đã đưa nhận xét về hệ thống từ láy trong HĐQÂTT trên phương diện từ vựng:

Theo thống kê chưa đầy đủ, trong HĐQÂTT có khoảng 375 đơn vị từ láy, từ láy toàn bộ chiếm khoảng 100, còn lại là từ láy bộ phận Một số ít đơn

vị không còn gặp trong tiếng Việt hiện đại như: cày cạy, chấp chảnh, dặng

dặng, dắng dỏi, đầm hâm, khắn khắn, lam am, lom om, liền liên, lởm thởm, năm nắm, tha la, xun xoăn, than thán, lêng lang, sảng lảng, lạt mạt, thon bon, lay lỏ, dồn dọi, đèo heo, rầng rậng, tưới tười tươi, v.v Tồn tại một số dạng

từ láy mà tiếng Việt hiện đại không chấp nhận là từ láy, chỉ là hiện tượng lặp

từ (chủ yếu là lặp danh từ hoặc động từ): chắm chắm, nảy nảy, vần vần, câu

câu, chữ chữ, ngột ngột, tỏ tỏ, thả thả, chăn chăn, nép nép, cành cành, tất tất, niệm niệm, gốc gốc, chốn chốn, gió gió, mưa mưa, rêu rêu, bụi bụi, v.v [33 ;

tr 509]

Tác giả Nguyễn Phạm Hùng cũng đã viết:

Ấn tượng mạnh nhất về ngôn ngữ trong HĐQÂTT là việc sử dụng rộng rãi các từ lấp láy Như ta đã biết, trong thơ Nôm Việt Nam, từ lấp láy phần lớn là từ thuần Việt Tỷ lệ từ láy trong HĐQÂTT vượt trội hơn hẳn “Quốc âm

Trang 13

thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” Trong HĐQÂTT có khoảng 550 từ láy, phần lớn là từ láy đôi Cũng bắt đầu xuất hiện từ láy ba, mà hầu như

“Quốc âm thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” không có Ví dụ: “tưới tười tươi”, “tính tình tinh” Trong một bài thơ, ở “Quốc âm thi tập” nhiều nhất chỉ có từ 4 đến 5 từ láy Song ở HĐQÂTT tỷ lệ từ láy vượt trội hẳn Có bài, trong 56 chữ, thì có tới 33 chữ láy (16 từ) Thí dụ bài 29 “Vịnh trăng”, Mục “Thiên địa môn” [21; tr 535]

v.v

Như vậy, sử dụng với một tỷ lệ cao lớp từ lấp láy trong HĐQÂTT, Lê Thánh Tông và các thi nhân thời Hồng Đức đã có những đóng góp to lớn trong việc phát triển và giữ gìn bản sắc ngôn ngữ dân tộc, làm cho hình ảnh thơ, cảm xúc thơ trở về với vẻ đẹp bình dân, mộc mạc vốn có của thơ ca dân tộc, phá vỡ dần tính quy phạm của thể Đường luật, tạo ra nét khu biệt giữa Đường luật Nôm với Đường luật Hán

2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về hệ thống từ láy trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Ở nội dung này, chúng tôi lựa chọn những công trình nghiên cứu tiêu

biểu sau đây: Đỗ Đức Hiểu (1990), "Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương", Văn

học, (5), tr 40 Hồ Xuân Hương (1982), Thơ NXB Văn học Hà Nội Lê Hoài

Nam, “Hồ Xuân Hương”, in trong cuốn “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương”, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1998 Đỗ Lai Thúy “Đi tìm phong cách Hồ Xuân Hương”,

in trong cuốn “Hồ Xuân Hương”, NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1997

Nguyễn Lộc, Thơ Hồ Xuân Hương, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997 Nguyễn Lộc, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo

dục, Hà Nội 1999 Nguyễn Đăng Na (1991), “Thơ Hồ Xuân Hương với văn

học dân gian”, Văn học, (2), tr.36 Lã Nhâm Thìn, Thơ Nôm Đường luật, NXB Giáo Dục, Hà Nội.1997 Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam

dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo Dục VN, Hà Nội 2009 v.v

Trang 14

Đơn cử:

Khi nói về nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tác giả Đỗ Đức Hiểu trong bài "Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương"

đã cho rằng:

“ Nghệ thuật ngôn từ là một cơ thể sống phức tạp, vận động, nhiều

âm thanh, nhiều màu sắc: mỗi tiếng là một “con kỳ nhông”, đứng chỗ này thì màu xanh , đứng chỗ khác thì màu nâu, hoặc vàng úa Thơ là một thể loại thật

kỳ ảo Nhà thơ nói một sự việc, bài thơ mang một ý nghĩa khác đó là những điệp trùng của tiếng của câu, của các hệ thống đồng nghĩa, phản nghĩa, ẩn dụ nhằm diễn đạt ý tưởng (tình cảm, suy tư ) dưới nhiều dạng, ngày càng cao, càng sâu ” [19; tr 389]

Cũng nhận xét về ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương, Tác giả Lê Hoài Nam trong cuốn: “Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương” đã viết: “Xuân Hương có vốn ngôn ngữ rất phong phú, rất chính xác, nhưng đồng thời cũng rất độc đáo Điều đó không phải chỉ chứng tỏ Xuân Hương nắm vững ngôn ngữ dân tộc

mà còn biểu hiện cá tính mạnh mẽ của Xuân Hương” [35 ; tr 172]

Tác giả Đỗ Lai Thúy có nhận xét tương tự: “Thơ Hồ Xuân Hương có một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn ngữ khác lạ Đọc thơ bà hoặc bằng

sự mẫn cảm, hoặc bằng phương pháp thống kê, có thể chia ra những nét đặc biệt trong cách sử dụng ngôn từ” [53 ; tr 90]

Trong cuốn “Thơ Nôm Đường luật”, khi nhận xét về tỷ lệ xuất hiện của

từ thuần Việt nói chung và từ láy nói riêng trong tiến trình TNĐL, tác giả Lã Nhâm Thìn đã viết:

“Nếu biểu diễn trên đồ thị, chúng ta có thể thấy từ thuần Việt nói chung, về đại thể có tỉ lệ thuận với với quá trình phát triển của thể loại, trong

đó đồ thị từ láy âm là một hình sin không đều, ở đó nổi lên hai đỉnh cao nhất

là “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Hồ Xuân Hương (HĐQÂTT: 4,4 câu thơ / 1 từ láy; thơ Hồ Xuân Hương: 3,4 câu thơ / 1 từ láy)” [51; tr 160] Và

Trang 15

cũng giống như HĐQÂTT, trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng đã xuất hiện

từ láy 3 như: “hỏm hòm hom” (2 lần), “tẻo tèo teo”

Khi so sánh Hồ Xuân Hương với các tác gia Hồng Đức không việc sử dụng các từ láy có khuôn vần hóc hiểm, tác giả Lã Nhâm Thìn nhấn mạnh thêm: “Có lẽ do tính chất xướng họa, thi tài của Hội Tao đàn mà thơ “Hồng Đức quốc âm thi tập” có nhiều từ láy hóc hiểm đến thế chăng? Có lẽ để chứng minh tài “dạy làm thơ” cho những người đã dốt lại hay khoe chữ mà Hồ Xuân Hương đã sử dụng những từ láy vần còn hóc hiểm hơn nhiều so với hội viên Tao đàn? ” [51; tr 161]

Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX” khi nhận xét về kho từ ngữ của Hồ Xuân Hương cũng đưa ra nhận xét: “Kho từ ngữ của Xuân Hương thường chứa đựng nhiều

từ ngữ động, nhiều hình thức lấp láy có tác dụng khêu gợi cảm giác mạnh Với Xuân Hương, màu sắc phải là “trắng phau phau”, “trong leo lẻo”, “tối om om”, “chín mõm mòm”, “đỏ lòm lòm” cử động phải là “khua lắc cắc”, “vỗ bong bong”, “năng năng nhắc”, “thích thích mau” “ [32; tr 292]

So với HĐQÂTT, nhận xét về việc sử dụng từ láy trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở các nhà nghiên cứu ít hơn nhiều, chủ yếu thiên về đánh giá những thành tựu chung trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc của “Bà chúa thơ Nôm” Tuy nhiên, từ những dẫn trích trên đây sẽ là những định hướng giúp chúng tôi tìm hiểu một cách hệ thống về giá trị biểu đạt văn chương của thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Nhìn chung lại, phần lớn các công trình nghiên cứu trên đã khẳng định: Trong tiến trình TNĐL, HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương sử dụng từ láy có tỉ lệ cao nhất Không chỉ nhiều về số lượng, các tác giả thời Hồng Đức và

Bà chúa thơ Nôm còn là những người đóng góp rất lớn trong việc sáng tạo từ láy, đặc biệt là những từ láy với khuôn vần hóc hiểm, đem lại cho Đường luật Nôm tính dân tộc đậm đà, tạo sự khắc biệt với Đường luật Hán

Trang 16

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã có về hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ hướng tới tìm hiểu đặc điểm, chức năng biểu đạt của hệ thống từ láy trong hai thi phẩm trên,

từ đó làm rõ giá trị văn chương của nó trong việc thể hiện tư tưởng-chủ đề thi phẩm cũng như tài năng, bản lĩnh nghệ thuật của các nhà thơ

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Lưu ý: Luận văn chỉ đặt vấn đề nghiên cứu hệ thống từ láy “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương ở phương diện văn chương, không nghiên cứu nó ở góc độ từ vựng thuộc phạm vi của ngôn ngữ học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

+ Khái niệm về từ láy

+ Vai trò của từ láy trong sáng tác văn học

+ Đặc điểm và giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT

và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trang 17

chương (Giá trị biểu đạt, giá trị biểu cảm, giá trị thẩm mỹ và phong cách) của

hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương Từ đó thấy rõ hơn khả năng sáng tạo, bản lĩnh nghệ thuật của các tác giả thơ Nôm thời Hồng Đức và Hồ Xuân Hương ở phương diện sử dụng nghệ thuật ngôn từ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài “Giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong thơ Nôm Hồng Đức và thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Luận văn sử dụng phương pháp này để tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại số lượng từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, từ đó đưa ra những nghiên cứu tiếp theo về khả năng biểu đạt giá trị nội dung, giá trị thẩm mỹ của chúng

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Luận văn sử dụng phương pháp này để so sánh giá trị biểu đạt văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá

Luận văn sử dụng phương pháp này với mục đích phân tích, đánh giá

để làm sáng rõ hơn giá trị biểu ý, biểu cảm, giá trị thẩm mỹ của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

5.4 Phương pháp khái quát, tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung nghiên cứu

ở các chương, mục luận văn thành các luận điểm để làm sáng tỏ đối tượng và

mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn

6 Đóng góp của luận văn

+ Làm rõ khái niệm về từ láy; thấy được giá trị văn chương của từ láy

trong sáng tác văn học, đặc biệt là trong TNĐL

Trang 18

+ Chỉ ra được một cách cụ thể và hệ thống về giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

+ Qua việc tìm hiểu giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương còn góp phần làm sáng rõ phong cách thời đại và tài năng, bản lĩnh nghệ thuật của các tác giả Tao đàn và “Bà chúa thơ Nôm”

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

luận văn có 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Giá trị biểu đạt của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ

Nôm Hồ Xuân Hương

Chương 3: Giá trị biểu cảm và thẩm mỹ của hệ thống từ láy trong

HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trang 19

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN Đ N ĐỀ TÀI

Ở chương này, luận văn hướng tới giải quyết các vấn đề: Khái niệm về

từ láy; giá trị văn chương của từ láy trong văn học; diễn tiến của hệ thống từ láy trong TNĐL và Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.1 Khái niệm và các quan niệm về từ láy

Như đã giới hạn ở mục “Đối tượng nghiên cứu”, luận văn không đặt vấn đề nghiên cứu hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ ngôn ngữ Nhưng để có cơ sở cho việc thống kê, phân loại từ láy cũng như tìm hiểu giá trị văn chương từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi đưa ra một số định nghĩa, quan niệm về từ

láy của các nhà ngôn ngữ học

Như chúng ta đã biết, láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của

tiếng Việt Nói đến từ láy là nói đến một lớp từ có giá trị đặc biệt bởi khả năng gợi tả, gợi cảm, tạo âm thanh hình ảnh cao của nó Trong ngôn ngữ học

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đồng thời cũng có nhiều cách lý giải khác nhau về hiện tượng láy và từ láy Ngay trong khái niệm về từ láy cũng

đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: Từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu, 1962); Từ

lấp láy (Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); Từ láy (Đào Thản, Hoàng Văn Hành

1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn, 1975); Từ lấp láy (Hồ Lê, 1975); Từ láy

âm (Nguyễn Văn Tu, 1976); từ năm 1978 đến 1989 được gọi là Từ láy

(Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban)

Có thể nêu ra một vài định nghĩa tiêu biểu cho các tên gọi trên

Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo

theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình

Trang 20

thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay một đơn vị có nghĩa [ 7 ; tr 153]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ

được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay sự lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có Đặc trưng nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả

(biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)

Tác giả Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan

hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và

về nghĩa, có giá trị biểu trưng hóa” [50 ; Tr 121]

Tác giả Hồ Lê nêu: “Từ lấp láy là một từ khá đặc biệt, xét về cấu tạo

Nó có tính chất của từ đơn Nó được tạo ra theo phương thức lắp láy Nhưng không ít trường hợp, quan hệ lắp láy về mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [26 ; tr 187]

Với tác giả Nguyễn Nguyên Trứ: “Từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại

là một loại từ đơn, trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vần trong kết cấu âm tiết của hai yếu tố tạo thành Giữa hai âm tiết thường có mối quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định ” [54 ; tr 153]

Như vậy, tuy cách diễn giải ở các nhà nghiên cứu có khác nhau những

có thể thấy được những thống nhất chung trong quan niệm về từ láy là:

Là từ được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó có sự lặp lại toàn bộ hoặc một bộ phận của âm tiết, có sự biến đổi ngữ âm giữa hai âm tiết theo những quy luật nhất định Đặc trưng nổi bật của từ láy là giá trị gợi tả (biểu

cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)

Trang 21

Tùy theo từ nội dung nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sẽ linh hoạt sử dụng các khái niệm, quan niệm này về từ láy trong thống kê, phân loại cũng như tìm hiểu giá trị biểu đạt văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT

và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.2 Giá trị văn chương của từ láy trong văn học và chức năng của

từ láy trong thơ Nôm Đường luật

1.2.1 Từ láy trong văn học

Từ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật, bởi nó là đơn vị chất liệu cơ bản của ngôn ngữ dùng để tạo ra các thông điệp Khi sáng tác các nhà văn, nhà thơ đều hết sức chú trọng đến việc lựa chọn, thậm chí đắn đo cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định dùng một từ nào đó Lịch sử văn học đã chứng minh một tác phẩm văn học có tồn tại với thời gian hay không là tuỳ thuộc vào những giá trị mà tác phẩm đó

mang lại, trong đó có khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả nói chung và từ

láy nói riêng

1.2.1.1 Từ láy đóng vai trò như một sự sáng tạo kỳ thú của ngôn ngữ văn học

Xét về lịch sử ngôn ngữ văn học, từ láy không ra đời cùng lúc với ngôn ngữ mà bắt đầu xuất hiện ở thế kỷ XII, ngay sau khi hệ thống thanh điệu được hình thành (Theo ý kiến của Đái Xuân Ninh trong cuốn “Hoạt động của từ láy trong tiếng Việt”, NXB Khoa học xã hội, 1978) Như vậy, sự ra đời của từ láy gắn bó chặt chẽ với quá trình hoàn chỉnh ngữ âm, thanh điệu tiếng Việt Đó là một quá trình biến đổi lâu dài và phức tạp của sự biến âm tạo từ Trong quá trình đó, từ láy vừa là phương pháp phát triển từ vừa là kết quả của phương pháp đó Ở đây chúng tôi không làm công việc tìm hiểu lịch

sử ngữ âm tiếng Việt mà chỉ sử dụng kết quả của các nhà nghiên cứu như một cứ liệu để khẳng định từ láy trong tiếng Việt là ngôn ngữ văn chương ở dạng phát triển ổn định

Trang 22

Từ sự nhận thức đó chúng ta có thể nhận thấy: Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú Mấy thập kỷ qua, từ láy tiếng Việt luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bởi tính đa diện, phức tạp nhưng cũng đầy lý thú của nó Đối với các sáng tác văn chương thì sự tồn tại của từ láy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Từ phía tác giả, từ láy với giá trị tự thân của nó là giá trị tạo thanh, tạo hình, giá trị gợi ý cho tác giả khả năng lựa chọn phương thức biểu hiện một cách sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất Đúng như tác giả Đỗ Hữu Châu đã viết: “Mỗi từ láy là một nốt nhạc về âm thanh chứa đựng trong mình một bức tranh cụ thể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác làm theo những ấn tượng chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng đủ sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ ” [9; tr 54] Đặc biệt từ láy góp phần làm cho tính hình tượng – đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ văn học – được rõ nét

và phong phú hơn rất nhiều Hình tượng văn học qua từ láy có khả năng biểu đạt tư tưởng, tình cảm rất lớn và mang phong cách, cá tính tác giả Cái nhìn chủ quan cũng như thái độ đánh giá của chủ thể sáng tác bộc lộ rõ nét với khả năng sử dụng và sáng tạo từ láy Từ phía độc giả, từ láy tác động trực tiếp, mạnh hơn vào các giác quan bạn đọc và khơi dậy khả năng xúc cảm tinh nhạy hơn Chính điều này làm nên khả năng đồng sáng tạo từ độc giả Độc giả vừa đón nhận hình dung hiện thực mà tác giả phản ánh trong tác phẩm vừa từ những liên tưởng và kinh nghiệm cá nhân mà sáng tạo ra một hiện thực của riêng mình, góp phần định giá tác phẩm

1.2.1.2 Từ láy được sử dụng như một phương tiện phản ánh giàu giá trị thẩm mỹ

Nhà văn chiếm lĩnh thực tế bằng ấn tượng chủ quan của mình và sáng tạo nên tác phẩm Ngôn từ vừa là phương tiện, vừa là cầu nối để tác giả vừa

Trang 23

phản ánh vừa liên hệ với hiện thực Trong quá trình sử dụng “uy lực” ngôn từ của nhà văn, có thể nói từ láy đóng một vai trò khá đặc biệt Bằng khả năng đặc tả sự vật ở mức độ tinh tế, từ láy góp phần làm cho chất lượng phản ánh hiện thực trong tác phẩm của nhà văn đạt mức cao hơn, nhiều tầng bậc hơn so với ngôn ngữ thông thường Ta có thể minh họa cho điều này bằng câu thơ của Nguyễn Trãi trong “Quốc âm thi tập” – tập thơ Nôm đầu tiên – trong tiến trình dòng thơ tiếng Việt:

Vừa sáu mươi dư tám chín thu

Lưng gầy da xỉ, tướng lù khù (Ngôn chí Bài 14)

Ở đây có một từ láy được sử dụng rất đắc địa: từ “lù khù” Với từ láy này Nguyễn Trãi vừa đặc tả được hình dáng, tâm thế của mình vừa thể hiện được cái hóm hỉnh trong phong cách tự trào của ông Có thể thay từ “lù khù” bằng một từ khác, không phải từ láy thì câu thơ vẫn diễn tả được hình dáng của một ông già như: “chậm”, “yếu”, “kém tinh anh” nhưng chất lượng phản ánh rõ ràng không hàm súc và giàu sức biểu đạt bằng tà láy “lù khù” Không những thế, với từ láy hình tượng trong tác phẩm còn mang tính độc lập tương đối so với hiện thực và thể hiện đậm nét cá tính tác giả, mô tả được hiện thực chủ quan của chủ thể trữ tình Từ đó buộc độc giả không chỉ đọc tác phẩm ngay trên văn bản mà còn phải đọc bằng kinh nghiệm, bằng tiểu sử văn học mới hiểu được một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh giá trị hình tượng Ở câu thơ trên, ngoài việc hình dung trên câu chữ ta phải hiểu được con người, cốt cách Nguyễn Trãi và hoàn cảnh khi ông làm bài thơ này, đó là thời gian ông phải lui về ở ẩn Côn Sơn sau những bất đồng với triều chính, ta mới thấy được “tướng lù khù” kia chỉ là cách nói tự trào của con người ẩn dật, tự vượt thoát thế tình, tìm cho mình một thế thảnh thơi trong tấm lòng luôn “Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung” vì non nước

Trang 24

Đó là về chất lượng phản ánh, còn về mặt hiệu quả thẩm mỹ rõ ràng từ láy có khả năng diễn đạt nội dung một cách chính xác và tạo ra những xúc động thẩm mỹ cao hơn so với những từ ngữ bình thường Hiệu quả thẩm mỹ ở đây cũng xét từ hai phía, phía tác giả và phía bạn đọc Từ phía tác giả, từ láy thể hiện sự rung động và xúc cảm của chính anh ta ở mức độ cao nhất Từ sự rung động đó, để tạo dựng nên tác phẩm, xây dựng nên hình tượng, tác giả sẽ lựa chọn cách biểu đạt có khả năng đặc tả được cao nhất ấn tượng về hiện thực của mình Chính khả năng tạo hình, tạo thanh, gợi ý vốn có của từ láy là trợ lực đắc lực cho tác giả “làm xiếc” ngôn từ, bộc lộ tài năng Khi Nguyễn

Khuyến viết: “Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” (Thu vịnh) thì chỉ với hai từ láy

“lơ phơ” và “hắt hiu” mà cả không gian trời thu của làng quê Việt Nam đầy tĩnh lặng, yên ả, cao rộng hiện ra thật rõ nét Phải là con người của làng quê, cảm nhận rất sâu cái tĩnh, cái rộng của trời thu đồng bằng Bắc Bộ, tác giả mới đặc tả được cái thần của nó vừa tinh xác vừa giàu sức gợi đến thế Từ phía bạn đọc, từ láy có tác động sâu đậm gợi sự liên tưởng và khả năng cộng hưởng cảm xúc thẩm mỹ với tác giả, hoàn chỉnh hình tượng văn học

Nhìn chung lại, có thể nói từ láy là một công cụ đặc biệt của các nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác Trong nền văn học viết Việt Nam đã có nhiều tác phẩm lớn được tìm hiểu về giá trị của lớp từ láy như: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi; “Truyện Kiều” của Nguyễn Du; một số khúc ngâm thế

kỷ XVIII; các tác phẩm thơ Nôm Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương, v.v Và đây cũng là những tiền đề để chúng tôi lựa chọn đề tài tìm hiểu về giá trị văn chương của hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.2.2 Chức năng của từ láy trong thơ Nôm Đường luật

1.2.2.1 Từ láy có chức năng hạn chế tính công thức, ước lệ của TNĐL

Tiến trình TNĐL được tạm tính từ thế kỷ XV khi xuất hiện “Quốc âm thi tập” (QÂTT) của Nguyễn Trãi (có thể đã xuất hiện từ thế kỷ XIII nhưng phần lớn còn văn bản lưu lại) và kéo dài đến hết thời trung đại với các đại

Trang 25

biểu cuối cùng là Tú Xương, Nguyễn Khuyến Xét trên phương diện ngôn ngữ TNĐL, qua khảo sát một số thi phẩm TNĐL tiêu biểu chúng ta nhận thấy: từ láy bắt đầu xuất hiện nhiều từ QÂTT và ngày càng phát triển trong suốt các tập thơ Nôm qua các giai đoạn cho đến khi chữ Nôm kết thúc sứ mệnh lịch sử của nó trong văn học, trong đó có hai đỉnh cao của việc sử dụng

từ láy là HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Đã là thơ Đường luật, dù viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm cũng đều bị chi phối bởi tính quy phạm của văn chương cổ, của thơ trung đại mà biểu hiện

rõ nhất là tính khuôn sáo, ước lệ trên cả phương diện nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện Nhưng chính nhờ sự xuất hiện với tỷ lệ vượt trội của bộ phận ngôn ngữ dân tộc (từ Việt, ngôn ngữ văn học dân gian, ngôn ngữ đời sống), đặc biệt là sự có mặt của lớp từ lấp láy – một trong những lớp từ

“thuần Việt nhất – đã hạn chế đi rất nhiều tính công thức, ước lệ của Đường luật Nôm trong tương quan với Đường luật Hán Đơn cử các câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Trước đến tay không nào thốt hỏi, Sao vào gánh nặng lại vui cười

Anh anh, chú chú, mừng hơ hải, Rượu rượu, chè chè, thết tả tơi

(Thơ chữ Nôm Bài 80)

Chính nhờ sự xuất hiện của từ thuần Việt, đặc biệt là các từ láy ở hai câu thơ sau mà tính công thức, ước lệ trong các câu thơ trên đã bị mờ hóa (xét trên phương diện nội dung phản ánh), và thay thế bằng một hiện thực rất cụ thể, chân thật về mối quan hệ giữa người với người ở thế kỷ XVI, khi mà những quan hệ xã hội cũ đang bị phá vỡ, những quan hệ xã hội mới phát sinh, của cải thay cho tình nghĩa, sự tráo trở, quay quắt thay cho lòng tin, danh dự,

và một thế xuất hiện: đồng tiền Thái độ dửng dưng lạnh nhạt, dáng hơ hải vồ vập của con người trước đồng tiền đã được đặc tả chuẩn xác qua các từ láy để

Trang 26

tạo dựng một “không gian chợ búa” qua sự tái hiện của tác giả Đề tài về cuộc sống, xã hội và con người trong thơ Nôm nói chung và trong thơ Nôm của Bạch Vân cư sĩ nói riêng, vì thế rất giàu chất hiện thực, phá vỡ dần đi tính ước lệ, quy phạm của Đường thi theo xu hướng dân tộc hóa thể loại

1.2.2.2 Từ láy làm cho câu thơ trở nên nôm na, bình dị hơn, hạn chế bớt vẻ “quý tộc”, “bác học” vốn có của Đường luật

Tính sang nhã, điển phạm với vẻ đẹp “quý tộc”, “bác học” vốn là thuộc tính của thơ luật Tính chất này sẽ được tăng cường khi các tác giả Đường luật

sử dụng với tỷ lệ cao từ Hán Việt và thi liệu Hán học Ngược lại nó sẽ bị hạn chế khi xuất hiện khi xuất hiện bộ phận ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là lớp từ lấp láy, đưa câu thơ trở nên nôm na hơn, dân dã, bình dị hơn và chuyển thơ nói “chí” sang thơ nói “tình” Có thể dẫn ra bất kỳ tập thơ Nôm nào cũng có thể chứng minh cho điều này Ở đây chúng tôi dẫn ra mấy câu thơ của Nguyễn Khuyến:

Quyên đã gọi hè quang quốc quốc,

Gà từng gáy sáng tẻ tè te

Lại còn giục giã về hay ở,

Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe (Chim chích chòe)

Nhờ các từ láy tượng thanh ở hai câu đầu “quang quốc quốc”, “tẻ tè te”, nhà thơ đã tả rất đúng cái không khí, cảnh vật và âm thanh một buổi sáng đầu

hè ở miền quê nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, và vì thế tính chất “bác học”, “quý tộc” của thơ luật bị mờ đi Đặc biệt nhờ sự kết hợp hài hòa của các

từ láy tượng thanh ấy mà dẫn đến câu thơ thứ tư, một sự kết hợp ngôn ngữ có

vẻ vô lý nhưng trong câu thơ lại vẫn có lý: “Đôi gót phong trần vẫn khỏe

khoe ” “Khỏe khoe” không phải là “khoe khỏe” mà là nhẹ nhàng, là lâng

lâng Ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến nói chung và lớp từ láy nói riêng, vì thế không những phong phú trong cách nói nôm na, dân dã mà còn rất mỹ lệ, gợi cảm

Trang 27

1.2.2.3 Từ láy đem đến cho Đường luật Nôm một sắc thái dân tộc đậm đà

Cơ sở của từ láy là ngữ âm Vì vậy từ láy là lớp từ thể hiện rõ nét nhất đặc tính dân tộc của ngôn ngữ Sử dụng nhiều từ láy có nghĩa làm cho chất dân tộc được tăng cường Ngay cả thơ Nôm của Bà huyện Thanh Quan – một gương mặt hoài cổ rất Đường thi – nhưng không phải thơ Tàu Bởi bà đã sử dụng rất thành công từ láy Đơn cử:

Lơ thơ dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (Qua Đèo Ngang)

Cái hồn của cảnh – tình, tâm – vật trong các câu thơ trên rất giàu sắc thái dân tộc chính là nhờ sự phát huy giá trị biểu đạt của các từ láy

Hay như trong bài thơ “Xuân”, Tú Xương đã dùng từ láy rất thần tình, đưa “mùa xuân” – một thi đề quen thuộc trong thơ cổ - sang mảnh đất hiện thực dân dã:

Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột Lòe loẹt trên vách bức tranh gà Chí cha chí chát khua giày dép Đen thủi đen thui cũng lượt là

“Các từ láy “đì đẹt”, “lòe loẹt” đã góp phần thể hiện rất đúng cái không khí Tết cổ truyền dân dã nhưng nghèo, nên có âm thanh, có màu sắc mà vẫn rời rạc và có phần ảm đạm Từ láy bốn “Chí cha chí chát” nói rất đúng cái âm thanh chát chúa của sự học đòi, khoe sang, khoe giàu trong xã hội nửa tây nửa

ta, nửa nông thôn, nửa thành thị” [51; tr 163]

Trang 28

1.2.2.4 Từ láy trong thơ Nôm Đường luật góp phần thể hiện phong cách thời đại, phong cách tác giả

Trước Hồ Xuân Hương, TNĐL dường như chỉ mới thể hiện phong cách thời đại, phong cách tác giả còn khá mờ nhạt Tuy nhiên từ láy có thể góp một

“hệ quy chiếu” giúp chúng ta phần nào phân biệt được sáng tác của họ Ở giai đoạn đầu của TNĐL, trong QÂTT và HĐQÂTT, từ láy mang tính chất mộc mạc, chất phác, hồn nhiên, tạo nên một vẻ đẹp ngẫu hứng đáng yêu

định một số bài thơ chưa rõ của Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm”, (TC

Khoa học số 3, năm 1989, ĐH Tổng hợp Hà Nội) và đi đến kết luận: việc

Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng một lượng từ láy ghép nghĩa gấp ba lần Nguyễn Trãi góp phần tạo nên ở người đọc ấn tượng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm duy lý, nặng màu sắc khái quát hơn Nguyễn Trãi Chẳng hạn:

Trang 29

Khát uống chè mai hơi ngọt ngọt, Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu

(Thơ chữ Nôm Bài 3)

Anh anh, chú chú mừng hơ hải Rượu rượu, chè chè thết tả tơi

(Thơ Nôm Bài 80)

So với Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ láy trong thơ Hồ Xuân Hương lại được xây dựng trên cơ sở ngược lại: 70% từ láy trong thơ nữ thi sĩ là từ láy tạo thanh, tạo hình Thơ Hồ Xuân Hương là thơ hành động, thơ của thị giác, của thính giác, thơ của nhịp điệu cơ thể và cuộc sống con người, của cái hàng ngày, cái xác định, khác với thơ tâm trạng, thơ suy lý (Về phần này chúng tôi

sẽ nói kỹ hơn ở các chương sau luận văn)

Đến Tú Xương, Nguyễn Khuyến, từ láy dưới ngòi bút các thi nhân là

cả một dụng công nghệ thuật Với Nguyễn Khuyến, từ láy trong thơ ông rất giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu Có khi ông láy lại nhiều lần một phụ âm đầu như láy lại nhiều lần phụ âm “l” trong câu:

Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

(Thu ẩm)

Hoặc láy lại nhiều lần một vần “eo” trong câu:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

(Thu điếu)

Và nhiều khi chúng ta bắt gặp cách sáng tạo từ láy đến bất ngờ:

Ghềnh đá long lay ngấn chửa mòn (Vịnh núi An Lão)

Chom chỏm trên sông đá một hòn

(Chơi núi Non Nước)

Trang 30

Với Tú Xương cũng thế Đơn cử:

- Công nợ bớp bơ hình chúa chổm (Bợm già)

- Ăn nói nhể nhàng khác giọng ngô (Nhà nho dả danh)

- Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông (Đêm hè)

Như vậy, trong tiến trình TNĐL, bộ phận ngôn ngữ dân tộc nói chung

và lớp từ lấp láy nói riêng dần dần được hoàn thiện và được các thi nhân sử dụng, sáng tạo ngày có hiệu quả nghệ thuật qua các giai đoạn phát triển, góp phần khu biệt phong cách thời đại và phong cách tác giả

Từ cái nhìn tổng quát và sơ lược về từ láy trong văn học, giá trị và chức năng biểu đạt của trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, luận văn sẽ

đi vào tìm hiểu một cách cụ thể và hệ thống giá trị văn chương của hệ thống

từ láy trong hai thi phẩm trên

1.3 Thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.3.1 Tiêu chí thống kê, phân loại

- Khái niệm và quan niệm về từ láy

- Các phương thức láy

(Láy hoàn toàn, láy hoàn toàn biến thanh, láy bộ phận (phụ âm đầu và vần), từ láy cổ hoặc ít phổ biến)

- Các phương tiện sử dụng của từ láy

(Tượng thanh, tượng hình, biểu ý )

Trang 31

1.3.2 Kết quả phân loại

Bảng 1.1 Thống kê số lượng từ láy trong HĐQÂTT và thơ Hồ

Xuân Hương

Tên tác phẩm

Tổng

số bài thơ

Tổng

số câu thơ

Tổng

số từ láy

Tỷ lệ câu thơ / từ láy %

Hồng Đức quốc âm thi

- Về tài liệu dùng để thống kê, phân loại:

Chúng tôi sử dụng cuốn “Hồng Đức quốc âm thi tập”, Nxb Văn học 1982

do Phạm Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên (phiên âm – chú giải – giới thiệu)

Cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương”, Nxb Văn học 1982 do Nguyễn Lộc (tuyển chọn và giới thiệu)

Chúng tôi có tham khảo thêm cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” Nxb Văn học 1987 do Nguyễn Lộc (tuyển chọn và giới thiệu)

- Về số lượng bài thơ

+ Trong cuốn “Hồng Đức quốc âm thi tập” có 328 bài thơ (kể cả chuyện thơ Vương Tường (Chiên Quân cống Hồ) 45 bài, mà có nhà nghiên cho rằng được chép thêm vào sau này)

+ Trong cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương”, Nxb Văn học 1982 có 40 bài và 9 bài được một số nhà nghiên cứu cho là thơ của Hồ Xuân Hương, tổng là 49 bài

Trang 32

+ “Thơ Hồ Xuân Hương” Nxb Văn học 1987 cũng có tổng số bài thơ là

49 bài Chúng tôi đồng thời sử dụng cả hai cuốn này làm văn bản chính thức cho đối tượng nghiên cứu của luận văn

- Về số lượng từ láy:

+ Trong 328 bài thơ với tổng số là 2580 câu thơ của HĐQÂTT có 558

từ láy, tính trung bình: 4,6 câu thơ / 1 từ láy

+ Trong 49 bài thơ với tổng số là 330 câu thơ của “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương” có 125 từ láy, tính trung bình: 2,6 câu thơ / 1 từ láy

Trong HĐQÂTT có 02 bài có số lượng từ láy nhiều nhất: “Ngư giang hiểu vọng” và “Họa vần bài vịnh trăng 10” đều có số lượng là 32 chữ (16 từ)

là từ láy / 54 chữ của toàn bài Trong “Thơ Nôm Hồ Xuân Hương”, bài có

“Tát nước” có số lượng là 14 chữ (7 từ) là từ láy /56 chữ của toàn bài; các bài

có 6 từ láy là “Giếng nước”, “Hang Cắc Cứ ”, vv

Như vậy, trong tiến trình TNĐL, Hồ Xuân Hương là người sử dụng từ láy có tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là các tác gia Hồng Đức Theo kết quả của một

số nhà nghiên cứu cho biết thêm: tỷ lệ sử dụng từ láy trong thơ Nôm của Bà Huyện Thanh Quan là 5,3 câu thơ / 1 từ láy, tỉ lệ này ở thơ Nôm Nguyễn Khuyến là 6,2 câu thơ / 1 từ láy, thơ Nôm Tú Xương là 9,2 câu thơ / 1 từ láy [51; tr 151]

Sử dụng với tỷ lệ cao lớp từ lấp láy trong thơ Nôm cũng có nghĩa tính dân tộc được tăng cường, góp phần làm mờ hóa tính chất “quý tộc”, “bác học” của thể Đường luật, từng bước đưa TNĐL tiếp cận cụ thể và đa dạng hiện thực cuộc sống đời thường, dân dã

Trang 33

Bảng 1.2 Phân loại từ láy theo phương thức láy

Láy hoàn toàn

Láy hoàn toàn biến thanh

Láy phụ

âm đầu

Láy phần vần

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

mà để từ đó thấy được vị trí và vai trò của từ láy trong các tập thơ Việc thống

kê theo phương thức láy là nhằm đánh giá được trình độ sử dụng từ láy và tính chất văn học của nó trong sáng tạo ngôn ngữ của các nhà thơ Hồng Đức

và Hồ Xuân Hương

Qua số liệu thống kê, phân loại chúng ta nhận thấy:

- Tỷ lệ từ láy hoàn toàn trong HĐQÂTT có tỷ lệ cao gần gấp 3 lần thơ

Hồ Xuân Hương Điều này chứng tỏ, ở giai đoạn đầu của dòng thơ tiếng Việt chưa có sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống từ láy Bởi, hiện tượng láy hoàn toàn trong HĐQÂTT có rất nhiều từ mà tiếng Việt hiện đại xem đó chỉ

là hiện tượng lặp từ như “đêm đêm”, “câu câu”, “chữ chữ”, “vần vần” Tuy vậy chúng tôi vẫn xếp chúng vào từ láy bởi xét trong hoàn cảnh sử dụng thì

Trang 34

chúng được dùng như từ láy và cũng giàu sắc thái biểu cảm, biểu ý Hơn nữa trong quá trình biến âm về sau chúng cũng có thể được gọi là từ láy., chẳng hạn như: “dặc dặc” – dằng dặc, chắm chắm – chăm chắm, thoắt thoắt – thoăn thoắt Ngoại trừ những từ lặp danh từ thì không có sự biến âm nhưng cũng được một số nhà ngôn ngữ chấp nhận là từ láy Chẳng hạn: “đêm đêm”: diễn

tả đêm nào cũng thế, “chốn chốn”: nơi nào cũng thế

Thật ra, từ tiếng Việt ban đầu chủ yếu là từ đơn tiết, cách dùng lặp từ (từ lặp) để tạo ra từ láy song tiết (láy không chân chính) cũng là một cố gắng lớn của các nhà thơ Hồng Đức Đến thơ Nôm Hồ Xuân Hương, dòng thơ tiếng Việt đã có thêm ba thế kỷ hoàn thiện ngôn ngữ trong sáng tác, và hiện tượng ít dùng từ lặp như giai đoạn đầu cũng là điều hiển nhiên, hợp quy luật phá triển của ngôn ngữ Tương tự thế, lớp từ láy cổ, ít dùng giảm dần trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương so với HĐQÂTT cũng là điều dễ hiểu Qua khảo sát chúng ta cũng dễ nhận thấy rất nhiều từ láy cổ trong HĐQÂTT không thấy được dùng trong thơ Nôm Xuân Hương nữa

- Cũng từ bảng thống kê, phân loại chúng ta nhận thấy: ở từ láy bộ phận thì từ láy phụ âm đầu trong thơ Hồ Xuân Hương cũng có tỷ lệ cao gần gấp đôi

so với từ lấy phụ âm đầu trong HĐQÂTT Thường thì từ láy vần chỉ có một

âm tiết mang nghĩa, hoặc cả hai âm tiết hợp lại mới tạo nghĩa, còn ở từ láy phụ âm đầu, trong nhiều trường hợp cả hai âm tiết nếu tách độc lập đều có nghĩa như: “xuân xanh”, “nước non”, “nghiêng ngửa”, “nỗi niềm”, “san sẻ” (trong thơ Hồ Xuân Hương) – Điều này chứng tỏ, từ láy trong TNĐL đến thế

kỷ XVIII đã mang trường nghĩa rộng hơn, với giá trị biểu ý, biểu cảm khá cao

so với thế kỷ XV

- Ở cả hai tập thơ có một số lượng nhỏ từ láy ít phổ biến hoặc từ láy cổ (chiếm 8% trong HĐQÂTT và 7% trong thơ Hồ Xuân Hương ) gây ảnh hưởng đến cảm nhận của người đọc Có những từ chúng tôi chỉ dựa vào phỏng đoán khi đặt trong văn cảnh để xếp vào từ láy và hiểu một cách nôm na

Trang 35

chứ không tra được trong các Từ điển Chẳng hạn như “cày cạy” (Cày cạy nàng nào khéo hữu tình), “lam am” (Lam am nghìn dặm nhuộm da trời),

“thon bon” (Phò vạc Hán thuở thon bon) trong HĐQÂTT và “hi ha” (Giọng

hì, giọng hỉ, giọng hi ha”, “lam nham” (Lách khe nước rỉ mó lam nham),

“khơi vơi” (Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi) trong thơ Hồ Xuân Hương Xét về ngữ cảnh chúng vẫn được xem là từ láy nhưng thực tế giá trị văn học không cao, tinh gợi cảm không nhiều

So với từ láy phụ âm đầu, từ láy vần trong cả hai tập thơ có tỷ lệ ít hơn nhưng đây là bộ phận từ láy rất giàu giá trị biểu ý, biểu cảm và khả năng biểu đạt âm thanh, giàu tạo hình, tạo ra được những xúc cảm lớn ở người đọc như: bâng khuâng, bịn dịn, lao xao, lếch thếch, bơ vơ, long đong, đìu hiu Phần lớn các từ láy vần trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương đến nay vẫn dùng trong tiếng Việt hiện đại

Bảng 1.3 Phân loại từ láy theo phương tiện sử dụng

Tên tác

phẩm

Tổng

số từ láy

Từ láy tượng thanh

Từ láy tượng hình

Từ láy vừa tượng hình vừa tượng thanh

Từ láy biểu ý

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Số lượng

Tỷ lệ%

Trang 36

* Mô tả, nhận xét:

- Việc phân chia từ láy theo các phương tiện sử dụng trong hai tập thơ, chúng tôi dựa vào ngữ cảnh sử dụng từ láy trong câu thơ, bài thơ chứ không dựa vào nghĩa độc lập của nó Bởi, thứ nhất ở đây có rất nhiều từ được sử dụng theo kiểu chuyển đổi giác quan Chẳng hạn, từ “nhân nhẩn” trong câu

“Nhân nhẩn xoay nên thuở nhị dương” (HĐQÂTT) và câu “Nhân nhẩn triều lên nước rẫy non” (HĐQÂTT) thì rõ ràng là được sử dụng theo kiểu chuyển

đổi giác quan Từ “nhân nhẩn” theo Từ điển từ láy nghĩa là “hơi đắng” –

thuộc về vị giác – còn ở đây được sử dụng theo thị giác Thứ hai, có một số từ láy được sử dụng lặp lại nhiều lần nhưng mỗi lần sử dụng lại theo một kiểu riêng, không nguyên nghĩa Chẳng hạn từ “hây hây” được dùng tới 4 lần (trong HĐQÂTT) nhưng trong bốn bài thơ khác nhau, có tới hai cách dùng theo nghĩa gợi ý và nghĩa tượng hình, như ở câu “Thành Thái hây hây chí lập công” (là theo nghĩa gợi ý) Thứ ba, có một số từ láy vì lí do âm tiết Việt cổ

và cả cách sáng tạo của các tác giả chúng tôi không tìm được nghĩa trong Từ điển cho nên chưa xác định được nghĩa cụ thể mà phỏng đoán và sắp xếp vào các mục

Theo thống kê, khảo sát, trong HĐQÂTT có 70 từ láy tượng thanh /

558 từ láy toàn tập, chiếm tỷ lệ 13%; tương tự, từ láy tượng hình là 253 từ/

558 từ, chiếm tỷ lệ 45%; từ láy vừa tượng hình vừa tượng thanh là 43 từ / 558

từ, chiếm tỷ lệ 8%; từ láy biểu ý là 192 từ / 558 từ, chiếm tỷ lệ 34%

Tỷ lệ này ở thơ Hồ Xuân Hương là: Từ láy tượng thanh: 12 từ / 125 từ, chiếm 9%; từ láy tượng hình: 57 từ / 125 từ, chiếm 45%; từ láy vừa tượng hình vừa tượng thanh là 9 từ / 125 từ, chiếm 7%; từ láy biểu ý là 47 từ / 125

từ, chiếm 38%

Đưa ra những số liệu thống kê như vậy, chúng tôi không có chủ định làm công việc của những nhà ngôn ngữ học là đi tìm đáp số từ vựng, mà từ đó chúng tôi muốn đưa ra những nhận xét, đánh giá từ góc độ văn học

Trang 37

Thứ nhất, có thể thấy: số lượng từ láy tượng hình xuất hiện với tỷ lệ cao trong cả hai tập thơ (đều chiếm 45%) Con số này rất có ý nghĩa Trước hết nó cho ta thấy tính chất đặc trưng của thơ cổ là “thi trung hữu họa” của Đường thi Là thơ Nôm, sử dụng ngôn ngữ Việt nhưng các nhà thơ vẫn sử dụng các thể thơ Đường để sáng tác, vì thế mới có thuật ngữ thơ Nôm Đường luật

Hơn nữa, thơ Đường thường mang tư duy hướng ngoại, mỗi bài thơ dường như đều có khả năng “vẽ ra” một bức tranh, gợi sự liên tưởng đến những bức tranh thủy mặc giàu giá trị gợi tả của các nho sĩ Trung Hoa xưa Ở đây cũng vậy, với việc sử dụng nhiều từ láy gợi hình vừa cho ta thấy được tính chất kế thừa khuôn phép Đường thi vừa nói lên tính chất hướng ngoại của các tập thơ

Thứ hai, số lượng từ láy gợi ý cũng xuất hiện khá nhiều trong hai tập thơ (HĐQÂTT: 34%; thơ Hồ Xuân Hương: 38%) Điều này cũng cho thấy rằng: thơ xưa lấy ý làm trọng, cho nên mới nảy sinh “Ý tại ngôn ngoại” (Ý ngoài lời), làm nên tính hàm sức của thơ cổ HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng không phải là một ngoại lệ Đáng chú ý là tính gợi ý của từ láy trong các tập thơ không chỉ tập trung vào thể hiện khí cốt, ngôn chí của các tác giả (có nhiều ở HĐQÂTT) mà còn thể hiện các trạng thái, cung bậc tình cảm và có một số từ đã đi vào đặc tả cảm xúc và chiều sâu của đời sống nội tâm con người (nhất là trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương) Về mặt này chúng tôi sẽ phân tích và có dẫn chứng ở các chương sau, ở đây chỉ nhận xét sơ bộ Cũng cần phải ghi nhận rằng, chính từ láy đã làm cho tính chất “trọng ý” của của tập gần với cái “tình”, mô tả được trực tiếp sắc thái tâm trạng, cảm xúc của con người ở những hoàn cảnh khác nhau, đặc tả được sự vật ở những góc

độ tinh tế nhất

Thứ ba, từ láy tượng thanh tuy xuất hiện còn ít (HĐQÂTT: 13%; thơ

Hồ Xuân Hương: 9%) nhưng đã làm nên sắc thái mới cho các tập thơ Hầu hết các từ láy tượng thanh ở đây đều mô phỏng âm thanh cuộc sống dân dã, bình

Trang 38

dị (trong HĐQÂTT) và khát vọng nữ quyền, nhu cầu ân ái của người phụ nữ (trong thơ Hồ Xuân Hương) Nếu như với HĐQÂTT, không khí chung của cả tập thơ là tính chất cung đình, ca ngợi nhà vua và triều đình thì lớp từ láy tượng thanh chính là âm vang của cuộc sống bình dân đã len lỏi vào tập thơ, làm giảm nhẹ hình thức cầu kỳ và tính chất quan phường của nó Với thơ Nôm Hồ Xuân Hương, từ láy tượng thanh còn góp phần tạo ra cảm hứng trào lộng gần với tiếng cười trong thơ ca dân gian theo xu hướng dân tộc hóa, dân chủ hóa thể loại Đường luật (phì phạch, phập phòm, hi ha, lắc cắc, rúc rích,

hu hơ )

Tuy nhiên, với HĐQÂTT, qua lớp từ láy tượng thanh, dù cho âm thanh cuộc sống đã bắt đầu âm vang thì cũng chỉ mới là những rung động nhẹ nhàng, và phần lớn chỉ mới là sự mô phỏng âm thanh chứ chưa phải là sự ngân vang đa dạng của những âm thanh cuộc sống, nó chưa át được cái tĩnh, cái lặng của tính chất gợi hình, gợi ý của thi pháp thơ Đường

Cuối cùng, ở cả hai tập thơ, chúng ta cũng đã bắt gặp được cách sử dụng từ láy khá tinh tế và nghệ thuật của các nhà thơ, đó là sự xuất hiện một

số từ láy vừa gợi âm thanh vừa gợi hình ảnh, có tác dụng thẩm mỹ rất lớn trong việc tạo dựng hình tượng Sử dụng được loại từ láy này, các nhà thơ Hồng Đức đã thể hiện một bước phát triển mới của ngôn ngữ thơ Nôm ngay

từ giai đoạn đầu khai mở, tạo tiền đề cho việc sử dụng từ láy đạt đến độ tinh xảo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

1.3.3 Hệ thống từ láy trong “Hồng Đức quốc âm thi tập” và thơ Nôm

Hồ Xuân Hương

Để tiện cho việc tra cứu và kiểm chứng của người đọc về việc thống kê, phân loại hệ thống từ láy trong HĐQÂTT và thơ Nôm Hồ Xuân Hương, chúng tôi đã tiến hành khảo sát văn bản và liệt kê các lớp từ láy trong hai tác phẩm theo phương thức láy và phương tiện sử dụng với kết quả như sau:

Trang 39

* Hồng Đức quốc âm thi tập

Bảng 1.4: Từ láy phân loại theo phương thức láy

LÁY ÍT PHỔ

BI N HOẶC

TỪ LÁY CỔ

Từ

Số lần xuất hiện

Từ

Số lần xuất hiện

Từ

Số lần xuất hiện

Từ

Số lần xuất hiện

Từ

Số lần xuất hiện

Vò võ Phơi phới Văng vẳng Hây hẩy Nhân nhẩn Cuồn cuộn

Lồ lộ Lành lạnh

Sù sụ Tang tảng Nhè nhẹ Chànhchạnh

Da diết Lạnh lẽo Thắc thỏm Vằng vặc Dãi dầm Lừng lẫy Phất phơ

Bỡ ngỡ Lẩn thẩn Bát ngát Lao xao Lòng tròng

Mơ màng Nóng nảy

Lẻ tẻ Chờn vờn Lún phún Lăm tăm

Êu ếu Dồn dọi

Trang 40

Xê xế

Ra rả Tưới tười tươi Lẳng lặng Mòn mọn Hơn hớn

Eo éo Hởi hơi Vẻn vẹn Dòi dõi

Rỡ ràng Náo nức Nghêungao San sát Lay lắt Lạnh lùng Dùng dằng Dìu dặt Nôn nao Khô khao Hớn hở

Lạ lùng Thảnh thơi Man mác Lai láng Lênh lang Tanh tao Lóng lánh Xênh xang Ngùn ngụt Thong thả

Cò kè Nhấp nhô Dập dìu Ngấp nghé Khủng khỉnh Dập dềnh Mạnh mẽ Đắn đo Thơm tho Rườm rà Nhọc nhằn Nhốn nháo

Lơ thơ Tơi bời Khéo léo Thung dung Dìu hiu Thình lình Lanh chanh Lạt mạt Láo nháo Lẽo đẽo

U ám

Bơ vơ Khúm núm Long đong Lao đao Lãng đãng

Tha la*

Thon bon* Đèo heo

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.J.A. Gure vich (1998), Các phạm trù văn hóa trung cổ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: A.J.A. Gure vich
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Đào Duy Anh (1975), Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn tiến, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn tiến
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
3. Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
4. M. Bakhtin (1974), Loại hình học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại phương Đông và phương Tây, Nxb Khoa học, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại phương Đông và phương Tây
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1974
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ láy âm, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy âm
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1975
6. Nguyễn Tài Cẩn (1985), Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chữ Nôm
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
7. Đỗ Hữu Châu (1962), Từ phản điệp, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ phản điệp
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1962
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
10. Phạm Tú Châu (1997), "Nhà Đông phương học B.L. Riptin và văn học cổ điển Việt Nam", Văn học, (6), tr. 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà Đông phương học B.L. Riptin và văn học cổ điển Việt Nam
Tác giả: Phạm Tú Châu
Nhà XB: Văn học
Năm: 1997
11. Nguyễn Huệ Chi (1983), Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
12. Trần Quang Dũng (2005), Hồng Đức quốc âm thi tập trong tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồng Đức quốc âm thi tập trong tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Dũng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
13. Biện Minh Điền (2015), Loại hình văn học trung đại Việt Nam, NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Biện Minh Điền
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2015
14. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, (Tái bản theo đúng bản in lần đầu), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
16. Nguyễn Văn Hanh (1936), Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài, Nhà in Aspar, Sài Gòn xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài
Tác giả: Nguyễn Văn Hanh
Nhà XB: Nhà in Aspar
Năm: 1936
17. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1985
18. Hoàng Văn Hành (1995), Từ điển từ láy tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ láy tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
19. Đỗ Đức Hiểu (1990), "Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương", Văn học, (5), tr. 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Văn học
Năm: 1990
20. Nguyễn Văn Hoàn (1964), "Mười năm sưu tầm và nghiên cứu văn học cổ đại - cận đại Việt Nam", Văn học, (1), tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm sưu tầm và nghiên cứu văn học cổ đại - cận đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Nhà XB: Văn học
Năm: 1964

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w