TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1.Tổng quan vấn đề
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA
THANH HOÁ, THÁNG 6/2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn giúp đơc quý báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới thầy giáo
Hồ Sỹ Hùng, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường ĐH Hồng Đức, các thầy cô giáo khoa GDMN đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường mầm non Thanh Sơn- Tĩnh Gia, trường Mầm non Ngọc Lĩnh- Tĩnh Gia, trường Mầm non Hoằng Lý- Hoằng Hóa, cùng các giáo viên và tất cả em học sinh đã hợp tác giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận này Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đã luôn nhiệt tình giúp đỡ động viên quan tâm, tiếp thêm động lực cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, Tháng 06 năm 2020
Người thực hiện
Lê Thị Oanh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APD: rối loạn xử lí thính giác
KNGT: kĩ năng giao tiếp
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiêncứu 3
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu tại một số trường Mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những dự kiến đóng góp mới của đề tài 5
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦAVIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 5
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1.Trên thế giới 7
1.1.2.Ở Việt Nam 9
1.2 Một số lí luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi 10
1.2.1 Một số vấn đề về trẻ rối loạn phổ tự kỷ 10
1.2.2 Lí luận về phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 14
1.3 Một số vấn đề về hoạt động nhóm của trẻ rối loạn phổ tự kỉ 21
1.3.1 Khái niệm hoạt động nhóm 21
Trang 61.3.2 Đặc điểm hoạt động nhóm 22
1.4 Một số vấn đề về giáo dục hòa nhập 23
1.4.1 Khái niệm giáo dục hòa nhập 23
1.5 Phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 25
1.5.1 Ý nghĩa phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 25
1.5.2 Mục tiêu phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 26
1.5.3 Nội dung phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi 27
1.5.4 Biện pháp phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 27
1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 28
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KỈ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 31
2.1 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 31
2.1.1 Mục đích khảo sát 31
2.1.2 Nội dung khảo sát 31
2.1.3 Quy mô và địa bàn khảo sát 31
2.1.4 Phương pháp khảo sát 32
2.1.5 Phương pháp khảo sát 32
2.1.6 Tiêu chí đánh giá Bảng đáng giá kĩ năng giao tiếp cho TRLPTK gồm 5 tiêu chí sau: 32
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng phát triển KNGT cho trẻ RLPTK thông qua hoạt động nhóm 35
Trang 72.2.1 Thực trạng phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động
nhóm 35
2.2.2 Thực trạng kĩ năng giao tiếp của trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi học hòa nhập ở trường MN 41
2.2.3 Nhận xét chung về thực trạng phát triển KNGT cho trẻ RLPK 5 - 6 tuổi thông qua HĐN 42
Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON 43
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm 44
3.1.1 Đảm bảo tính khoa học và môi trường giáo dục hòa nhập trẻ RLPTK 44
3.1.2 Đảm bảo mục tiêu giáo dục hòa nhập 44
3.1.3 Đảm bảo tính phát triển 45
3.1.4 Đảm bảo tính cá biệt 45
3.2 Đề xuất một số biện pháp phát triển KNGT cho TRLPTK 5-6 tuồi thông qua hoạt động nhóm 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 66
Trang 8gây ra những hậu quả không tốt ở trẻ chính là hội chứng rối loạn phổ tự kỉ
Rối loạn phổ tự kỉ (RLPTK) được viết tắt làASD (Autism Spectrum Disorders)
là một khuyết tật phát triển gây ra bởi những khác biệt trong bộ não bộ RLPTK nó xuất hiện ở bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế-xã hội Đặc điểm của những trẻ này là khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, có hành vi sở thích mang tính hạn hẹp.Những rối loạn này làm cho trẻ không có khả năng hòa nhập cộng đồng.Điều này cho thấy mức độ ảnh hưởng của hội chứng này tới trẻ về mặt thể chất và tinh thần là rất đáng ngại Trong đó, khó khăn trong giao tiếp là vấn đề đầu tiên ta cần quan tâm tới Giao tiếp là hoạt động mang tính xã hội, là phương tiện giúp con người tương tác với mọi người xung quanh và thiết lập các mối quan hệ xã hội Giao tiếp là cơ
sở đầu tiên, là viên gạch nền tảng cho mọi nhận thức và đinh hướng cho việc hình thành nhân cách trẻ em Các em giao tiếp và tìm hiểu về thế giới xung quanh, thể hiện yêu cầu, đòi hỏi, tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi
Đối với trẻ RLPTK giao tiếp chính là chìa khóa để trẻ hòa nhập với cuộc sống
và tham gia vào các hoạt động với các bạn đồng trang lứa Tuy nhiên với trẻ RLPTK, các em thường gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng các phương tiện khi tương tác với mọi người xung quanh.Nhiều trẻ RLPTK tỏ ra nhút nhát và ngại giao tiếp, chính điều này làm trẻ khó hòa nhập với cộng đồng Do đó, phát triển KNGT cho trẻ có RLPTK là một trong những mục tiêu ưu tiên trong công tác GDHN cho trẻ ở trường MN hiện nay
Trang 9Hoạt động nhóm là một hoạt động vô cùng thiết thực để giúp trẻ RLPTK có thể hòa nhập với cộng đồng Trẻ RLPTK các em có khó khăn trong việc hiểu lời nói của người khác, trong việc diễn đạt các câu nói một cách mạch lạc, đôi khi chưa rõ ý,nếu có diễn đạt được thì giọng nói của em không có âmđiệu, không có nhấn giọng Đặc biệt là các em khó khăn trong việc giao tiếp bằng mắt, cử chỉ, điệu bộ hay kém khả năng biểu cảm ngôn ngữ cơ thể làm cho những trẻ này không cảm nhận đươc người khác đang nghĩ gì về mình, hài lòng hay không hài lòng và người khác cũng khó hiểu với chúng Những khó khăn đó đã gây trở ngại rất lớn trong việc kết bạn, tham gia vào các hoạt độn vui chơi, các quan hệ xã hội Thêm vào đó, những người xung quanh không hiểu những khó khăn đó, không cảm thông với trẻ, kì thị, xa lánh, khiến cho trẻ ngày càng mặc cảm, kì thị, thiếu niềm tin vào người khác Tuy nhiên nếu chúng ta hiểu được những khó khăn đó tạo ra được môi trường giao tiếp thân thiện nhất là tổ chức cho trẻ RLPTK tham gia vào các hoạt động nhóm Thông qua hoạt động nhóm trẻ RLPTK được hoạt động chung với trẻ bình thường tạo cho trẻ môi trường hoạt động, vui chơi, học tập và giao tiếp hòa nhập, trẻ RLPTK sẽ không còn cảm giác bị kì thị, xa lánh Từ đó mà trẻ trở nên tích cực hoạt động và khả năng giao tiếp của trẻ trở nên tốt hơn
Ở Việt Nam hiện nay tỷ lệ trẻ bị RLTK là rất nhiều, về giao tiếp trẻ thường gặp phải rất nhiều khó khăn, phổ biến như: trẻ khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ, trẻ dùng từ không có nghĩa và nói năng đơn điệu, hầu hết trẻ RLPTK biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình tránh giao tiếp với các bạn Trẻ tránh giao tiếp bằng ánh mắt, khả năng gắn bó với người thân là rất kém Trẻ không có phẩn ứng khi được gọi tên, trẻ không quan tâm và làm theo hướng dẫn của người khác.Hiện nay ở các cấp học các giáo viên cũng rất quan tâm đến trẻ bị RLPTK Tuy nhiên đại
đa số các lớp học số lượng trẻ khá đông, trẻ RLPTK phải sống với nhiều trẻ khác nên giáo viên không có đủ thời gian chăm sóc và giáo dục trẻ Quan tâm tới vấn đề này đã có một số tác giả như Nguyễn Nữ Tâm An, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Nguyễn Thị Thanh
Trang 10Hiện nay tại tỉnh Thanh Hóa đã và đang quan tâm đến những trẻ RLPTK Đã
có nhiều chính sách, biện pháp chăm sóc, giáo dục được đưa ra nhằm giúp ích và việc can thiệp đến sức khỏe và trí tuệ cho những trẻ này.Trong đó giáo dục nói chung và giáo dục Mầm non nói riêng là ngành học, bậc học được quan tâm nhiề và giúp ích cho việc can thiệp trẻ RLPTK Đối với giáo dục Mầm non ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay đã và đang phổ biến công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, trẻ RLPTK nói riêng theo môi trường giáo dục hòa nhập Trẻ RLPTK được học chung với những trẻ bình thường đang được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả Các trường Mầm Non công lập trên địa bàn Tỉnh đã tiếp nhận những trẻ RLPTK và đã có nhiều trường
tư thục trên địa bàn tỉnh cũng đã thực hiện mô hình giáo dục hòa nhập như: Trường Mầm non Nobel, trường Mầm non Red sun, mầm non Búp Sen Xanh,…đa số trẻ RLPTK được quan tâm và phát triển về mọi mặt đặc biệt là kĩ năng giao tiếp
Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển kỹ năng
giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi học thông qua hoạt động nhóm ở trường Mầm non” Với mong muốn sẽ giúp trẻ RLPTK có kỹ năng giao tiếp tốt với những
người xung quanh
2 Mục đích nghiêncứu
Trên cở sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
ở trường MN
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm ở trường Mầmnon
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Phát triển kỹ năng giao tiếp là một trong những mục tiêu quan trọng trong quá trình can thiệp và trị liệu cho trẻ RLPTK Hiện nay, việc phát triển KNGT cho trẻ
Trang 11RLPTK cũng đã có được một số kết quả nhất định, song vẫn chưa đáp ứng được với mục tiêu giáo dục hòa nhập cho trẻ RLPTK.Chính vì vậy, nếu đề xuất được một số biện pháp phù hợp với trẻ và môi trường hoạt động nhóm ở trường Mầm non thì sẽ phát triển được KNGT cho trẻ RLPTK học hòa nhập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổithông qua tổ chức hoạt động nhóm
- Thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm
- Đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm
6 Phạm vi nghiên cứu tại một số trường Mầm non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
6.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
12 trẻ RLPTK độ tuổi 5-6 tuổi tại trường Mầm Non trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
-Trường Mầm non Hoằng Lý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Trường Mầm non Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
- Trường Mầm non Thanh Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài để thu thập, tổng hợp và khái quát hóa thông tin Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 127.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng bảng hỏi để điều tra thực trạng phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi, các biện pháp phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường Mầm non hiện nay
Quan sát các hoạt động của trẻ ở lớp để thuthập các biểu hiện KNGT của trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi, đánh giá mức độ KNGT của trẻ, các biện pháp giáo viên đã sử dụng để phát triển KNGT cho trẻ thông qua tổ chức hoạt động nhóm
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Sử dụng phiếu để phỏng vấn giáo viên về thực trạng phát triển KNGT cho trẻ RLPTK, mức độ bộc lộ các KNGT và các biện pháp phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm mà giáo viên đã áp dụng Ngoài
ra phỏng vấn giáo viên để biết được những thuận lợi và khó khăn mà giáo viên đang gặp phải trong quá trình phát triểnKNGT cho trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu sâu 12 trường hợp trẻ RLPTK 5 - 6 tuổi để biết được mức độ bộc
lộ KNGT của trẻ, áp dụng và kiểm nghiệm tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp giáo dục KNGT cho trẻ thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường Mầm non
8 Những dự kiến đóng góp mới của đề tài
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ phổ tự
kỉ 5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường Mầm non
Chương 2: Thực trạng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường Mầm non
Chương 3: Biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
5-6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động nhóm ở trường Mầm non
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN
PHỔ TỰ KỈ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1.Trên thế giới
Từ thời cổ hy lạp, vấn đề giao tiếp được con người chú ý nghiên cứu như Xôcrat (470-399 TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói: Đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người Tuy nhiên trước thế kỷ XIX giao tiếp chưa được nghiên cứu như một môn chuyên nghành tâm lý học Từ thế kỷ XIX ,giao tiếp đã được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành và phát triển bản chất xã hội con người.Trong tâm lý học Xô Viết, L.X.Vugotxki đã đề cập từ những năm 30 trong chương trình : “Sự phát triển của những chức năng tâm lý bậc cao”.Đặc biệt là từ những năm 70 đến nay, giao tiếp đã trở thành vấn đề rất quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học quan tâm như: A.Nleochiev; DB.Enconin; A.V.Daprogiet.M.Lisana với cuốn “Nguồn gốc của sự hình thành giao tiếp trẻ em ”-1978; A.V.Daproget và M.Llisana “ Sự phát triển giao tiếp ở trẻ mẫu giáo”-1974; A.Uxova với “ Vai trò của trò chơi trong giáo dục trẻ em”-1976,… Với các công trình: “Vấn đề giao tiếp,những đặc trưng của nó trong công việc của con người” của A.A.Bodalivo (1972) “Tâm lý học giao tiếp” của A.A.Leeonchiep(1974)…và tiếp sau đó có hàng loạt những công trình nghiên cứu khác về giao tiếp Và các công trình nghiên cứu đó chủ yếu đi theo hai hướng chủ đạo sau:hướng thứ nhất-Nhấn mạnh các khía cạnh thông tin trong giao tiếp; hướng thứ hai – Nhìn nhận lại bản chất giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lý học
Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu kể trên đều đi sâu vào những vấn đề cơ bản của giao tiếp đó là: Khẳng định vị thế, vai trò, ý nghĩa mang tính chất quyết định của giao tiếp trong sự hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ; Tìm ra
Trang 15được các chức năng quan trọng đặc biệt của giao tiếp đó là:thông báo và tiếp nhận thông tin, giúp trẻ tiếp thu và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của loài người từ đó giúp trẻ tìm hiểu khám phá thế giới xung quanh mình, thể hiện cảm xúc của mình với người xung quanh, và hỗ trợ trong quá trình phối hợp hoạt động cùng nhau ; Kể ra được các dạng giao tiếp của trẻ em ; Những con đường giao tiếp của trẻ Cách thức tổ chức hoạt động giao tiếp cho trẻ.; Phương pháp nâng cao chất lượng hoạt động giao tiếp
RLPTK đề cập đến một loạt các rối nhiễu trong kỹ năng xã hội, giao tiếp bằng lời, hành vi lặp đi lặp lại Có khoảng 1% dân số thế giơi có rối loạn phổ tự kỉ (Theo trung tâm phòng chống bệnh dịch Mỹ (CDC), 2014) Ở nhiều nước trên thế giới, RLPTK trở nên phổ biến và trở thành một vấn đề mang tính xã hội Tại các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Úc, RLPTK đã được xã hội hóa và hầu như mọi công dân đều có những hiểu biết nhất định về rối loạn này
Tỷ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỉ thay đổi nhanh chóng trong những năm gần đây Theo ước tính của Mạng lưới theo dõi Người khuyết tật Tự kỉ và theo dõi Người khuyết tật của CDC tại Mỹ tỉ lệ này vào năm 2000 là 1/150 trẻ, năm 2010 là 1/68 tăng 11,9% và phổ biến ở trẻ trai với tỉ lệ 4,5 lần so với trẻ gái (1/41 và 1/189) (CDC,2014)
Trên thế giới, RLPTK đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm cuối thế kỉ XIX, nhưng mãi đến năm 1943, nhà tâm thần học người Mỹ, Leo Kanner mới đưa ra lập luận rõ ràng về tự kỉ - là một rối loạn tâm thần học ở lứa tuổi nhỏ Khái niệm tự kỉ đã có sự thay đổi so với ban đầu Chúng ta có thể thấy thay đổi
rõ nét về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chuẩn đoán tự kỉ trong lịch sử phát triển của hai hệ thống phân loại quốc tế Đó là, Bảng thống kê, phân loại quốc tế về các bệnh
và vấn đề có liên quan đến sức khỏe (Internatinal Statiscal Classification of Diseases and Related Health Problem- ICD) của tổ chức y tế thế giới (WHO) và sổ tay chuẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tinh thần của Hội tâm thần Mỹ (American Psychiatric Association)
Trang 16Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỉ bắt đầu được xem xét từ những năm 70 -80 của thế kỉ XX Theo quan điểm hiện đại này, tự kỉ theo cách gọi của Kanner được xếp vào phạp trù rộng hơn là rối loạn phổ tự kỉ (ASD) Rối loạn phổ tự kỉ bao gồm: rối loạn tự kỉ (Autistic Disorder), hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ, hội chứng Rett,
Rối loạn phổ tự kỉ đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, hàng trăm cuốn sách ở các thể loại khác nhau đã được xuất bản Nhiều nhà khoa học đã dành nhiều năm để nghiên cứu và trở thành tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đầu sách Tiêu biểu là các tác giả như Leo Kanner, Eric Schopler, Ivan Lovass, Carol Grey, Lorna Wing, Bryna Seigel, đặc biệt là Temple Gradin-một phụ nữ bị mắc rối loạn tự kỉ, bà là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng như Emergence, Labelled Autistic,Thinking in Picture, The way I see it, Các nhà nghiên cứu đã giúp công chúng ngày càng hiểu thêm nhưng bí ẩn của rối loạn này
Trang 17xã hội”[2] Bên cạnh đó, vấn đề khái niệm giao tiếp, hình thành nhu cầu và kỹ năng giao tiếp của trẻ được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Ngô Công Hoàn, Lê Xuân Hồng Các tác giả đã cho thấy giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của đứa trẻ Đồng thời, các tác giả đã nói lên được nhu cầu giao tiếp của trẻ như thế nào, đặc điểm về giao tiếp của trẻ qua từng độ tuổi là khác nhau thông qua các tác phẩm cuả mình… Như vậy, các tác giả đều đã khẳng định được vị trí của giao tiếp trong quá trình giáo dục trẻ.Từ đó đề ra nhiều biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng giao tiếp cho trẻ.Ở Việt Nam RLPTK chỉ thực sự biết đến ở những năm đầu thế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ được tiến hành trong hơn khoảng 20 năm trở lại đây Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành trên các đối tượng trẻ Mầm non, một số ít trên trẻ tiểu học Việc sử dụng các chương trình và các phương pháp can thiệp cũng đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu, như Phương pháp can thiệp tâm vận độngvà ngữ âm trị liệu, dạy trẻ hiểu cảm xúc, cách thức quản lí hành vi của trẻ và ứng dụng các phương pháp: Phân tích hành vi ứng dụng (ABA); trị liệu và giáo dục cho trẻ RLPTK có khó khăn về giao tiếp (TEACCH), trong can thiệp cho trẻ RLPTK
1.2 Một số lí luận về phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự
kỉ 5-6 tuổi
1.2.1 Một số vấn đề về trẻ rối loạn phổ tự kỷ
1.2.1.1 Khái niệm rối loạn phổ tự kỉ
RLPTK được coi là một rối loạn phát triển não bộ có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và thiết lập các mối quan hệ xã hội cá nhân Theo Wing (1996) thì hiện nay
có nhiều ý kiến còn chưa thống nhất về định nghĩa tự kỉ cũng như mối quan hệ của
nó với những khuyết tật thời thơ ấu của trẻ, bao gồm tất cả khó khăn trong học tập cũng như ngôn ngữ Có rất nhiều những quan điểm, luận thuyết đã đựợc đưa ra về bản chất của tự kỷ Năm 1911, bác sĩ tâm thần ngừời Thụy Sỹ, Engen Bleuler đã cho rằng tự kỷ có thể là hậu quả thứ phát của bệnh tâm thần Hội chứng tự kỷ thực sự
được công nhận vào năm 1943, trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance
Trang 18of Effective Contract”, hội chứng này được bác sĩ tâm thần người Hoa Kỳ là Leo
Kanner mô tả một cách rõ ràng và khoa học Ông đã mô tả: TTK thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính tỉ mỉ và kỳ dị; không có hoặc thể hiện sự bất thừờng rõ rệt;rất thích xoay tròn các đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát không gian
và trí nhớ “như con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau; vẻ bề
ngoài những trẻ này xinh đẹp, nhanh nhẹn, thông minh; thích độc thoại trong thế giới tự kỷ; thất bại trong việc hiểu HV giả vờ và HV đoán trứớc; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói; thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại đơn điệu; giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát Ông cho rằng tự kỷ là một chứng rối loạn tâm thần hiếm gặp
ở trẻ em, thường xuất hiện sau hai tuổi rưỡi và coi đó là đối tựợng điều trị của y học Tiếp sau đó, Hans Asperger (1944), bác sĩ nhi khoa ngừời Áo cũng mô tả các triệu
chứng tương tự gọi là “ tâm bệnh tự kỷ” mà về sau gọi là hội chứng Asperger Cuối
những năm 50 của thế kỷ XX, quan niệm về hội chứng này có sự thay đổi.Bender (1959) mô tả tự kỷ không phải là khiếm khuyết lúc sơ sinh của hệ thống thần kinh trung ương, mà là một phản ứng bảo vệ, một rối loạn mà cơ thể không có khả năng bảo vệ từ những lo lắng quá mức Bernard Rimland (1964) cho rằng nguyên nhân của tự kỷ là do những thay đổi của cấu trúc lứới trong bán cầu não trái Trong suốt hai thập kỷ 60 đến 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu tập trung vào giải thích bản chất tự kỷ, các lý thuyết tập trung vào những rối loạn sinh hóa hay chuyển hóa ở đối tựợng này Quan niệm được nhiều chuyên gia y tế chấp nhận trong một thời gian dài
đó là một bệnh lý thần kinh kèm theo tổn thương chức năng của não
Theo Từ điển bách khoa Columbia (1996): Tự kỷ là một khuyết tật phát triển
có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của não bộ Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận.Trẻ nam nhiều gấp 4 lần nữ giới mắc
tự kỷ.Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến 30 tháng tuổi sau đó gặp phải một
số rối nhiễu trong phổ tự kỷ
Trang 19Năm 1999,tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ, các chuyên gia cho rằng nên xếp tự kỷ vào nhóm các rối loạn lan tỏa và đã thống nhất đưa ra định nghĩa cuối cùng
về tựkỷ như sau: Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa,
ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội
Hiện nay, khái niệm tương đối đầy đủ và đựợc sử dụng phổ biến nhất là khái niệm của tổ chức Liên hiệp quốc, đưa ra vào năm 2008, trong đó tự kỷ đựợc định
nghĩa một cách đầy đủ như sau: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt
đời, thườngđược thể hiện ra ngoài trong 3 năm đầu đời Tự kỷ là do một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ở nhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong tương tác
xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói, có các HV, sở thích, hoạt động lặp đi lặp lại và hạn hẹp”
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm trong Sổ tay Chẩn đoán và thống kê các loại rối nhiễu tâm thần của Hiệp hội Tâm thần Hoa kỳ, tái bản lần thứ
5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM – V))
Rối loạn phổ tự kỷ (Autism Sectrum Disorders) là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời Tự kỉ là do rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ Tự kỉ có thể xuất hiện ở bất cứ cá nhân nào, không phân biệt giới tính, quốc tịch hoặc điều kiện kinh
tế xã hội
Theo Sổ tay Chẩn đoán và thống kê các loại rối nhiễu tâm thần của Hiệp hội
Tâm thần Hoa kỳ, tái bản lần thứ 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders (DSM – V)) RLPTK được xác định có 03 dạng khó khăn cơ bản sau:
- Khó khăn trong giao tiếp và tương tác với người khác
- Hạn chế sở thích và có hạnh vi rập khuôn
- Các triệu chứng làm tổn thương/ giảm khả năng thực hiện các chức năng thông thường trong cuộc sống ở trường học, nơi làm việc và các lĩnh vực khác
Trang 20Trẻ RLPTK thường có hành vi rập khuôn, cứng nhắc, không tìm thấy niềm vui trong hoạt động chơi (cùng với người khác), chỉ tập trung vào đồ vật, rất hạn chế trong tương tác với người khác, có nhiều hành vi lặp đi lặp lại, thướng có các vấn đề
về giác quan
1.2.1.2 Đặc điểm nhận thức trẻ rối loạn phổ
Hầu hết các nghiên cứu đều đều xem xét các khía cạnh phát triển của trẻ RLPTK theo mô hình lý thuyết: Trẻ RLPTK đều trải qua các giai đoạn phát triển tương tự như trẻ bình thường, chỉ khác ở chỗ là những giai đoạn phát triển của trẻ RLPTK kéo dài hơn và toàn bộ sự phát triển của trẻ sẽ chấm dứt sớm hơn Do vậy, trẻ RLPTK cũng đều trải qua các giai đoạn phát triển nhận thức và tâm lí như mọi học sinh mầm non khác, tuy nhiên có những đặc điểm nhận thức khác biệt như sau:Thứ nhất, vềt cảm giác: Ngưỡng cảm giác của trẻ RLPTK không bình thường Có một số trẻ có cảm giác dưới ngưỡng (đánh, cấu, đập đầu vào tường không biết đau; trà xát lên da không thấy dát), một số trẻ có cảm giác trên ngưỡng (không muốn ai chạm vào cơ thể, chạm vào da của trẻ là trẻ sởn gai ốc, không dám đi chân đất, đi trên thảm gai) Một số trẻ quá nhạy cảm với sự kích thích có thể phản ứng mạnh mẽ với kết cấu, âm thanh to ồn, hoặc với vị và mùi khác lạ….Do đó trong trị liệu RLPTK người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay còn gọi là điều hòa cảm giác
Thứ hai, về tư duy, tưởng tượng: Trẻ RLPTKcũng gặp khó khăn nhất định trong tưởng tượng Theo Võ Nguyễn Tinh Văn (2006)[3], trẻ RLPTK có một số vấn đề về nhận thức như: trẻ không nhận biết được những tình huống vui đùa, giả vờ, chơi tưởng tượng, chơi đóng vai, trẻ gặp khó khăn khi thực hiện vai chơi trong các trò chơi tưởng tượng Trẻ RLPTK rất khó nhìn nhận được ý nghĩa của các sự việc đã trải nghiệm hoặc ít có khả năng “ rút kinh nghiệm”, do đó khả năng học tập của trẻ gặp rất nhiều khó khăn; phần lớn trẻ có trí nhớ “vẹt” khá tốt và khả năng tri giác không gian vượt trội mà không cần nhờ vào khả năng suy luận và biện giải Trong cuộc sống hằng ngày trẻ gặp khó khăn trong kết hợp các hoạt động thông tin từ những sự kiện nhớ lại và từ những sự kiện hiện tại, không có khả năng hiểu được ý nghĩ của những điều đã trải nghiệm để dự đoán những điều sẽ xảy ra và dự đoán kế
Trang 21hoạch thực hiện.Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu về RLPTK, trí nhớ của trẻ RLPTK rất tốt và sâu sắc, nhưng độ liên kết giữa các kí ức trong trí nhớ lại rất rời rạc, không bền vững Do đó trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát đẻ đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm Thứ ba,về chú ý: sự tập trung chú ý của trẻ RLPTK kém, phân tán chú ý nhanh Khi thực hiện nhiệm vụ trẻ chỉ tập trung chú ý được trong một thời gian ngắn, trẻ khó tập trung cao vào các chi tiết, kém bền vững, luôn bị phân tán bởi những tác động bên ngoài Trẻ khó khăn trong việc tuân thủ theo các chỉ dẫn của người lớn đưa ra đặc biệt khi tham gia các trò chơi lần lượt và luân phiên trẻ khó kiên nhẫn đợi đến lượt mình và khó kiềm chế phản ứng Trẻ RLPTK thường tập trung vào một tính năng của một đối tượng và bỏ qua “ bức tranh tổng thể” Tính tập trung kém này để lại một kết quả không tốt là khi trẻ thực hiện một nhiệm vụ kết quả không cao.Ngược lại đối với những gì mà trẻ thích thì trẻ tập trung chú ý rất tốt.Trẻ có thể ngồi hằng giờ để lắp những mảnh ghép, bóc tem gián trên các sản phẩm, chơi đồ chơi xếp hình thành hàng dài Bên cạnh đó trẻ có hành vi gây chú ý người khác tập trung vào mình hoặc chiếm lĩnh sự quan tâm của người khác đối với bản thân mình bằng những hành động bất thường như: khóc, hét, hờn, ăn vạ, đập đầu vào tường, tự hành hạ bản thân mình, nhằm thỏa mãn tính ích kỉ ở trẻ để mọi người đáp ứng nhu cầu của trẻ hoặc chú ý vào trẻ
1.2.2 Lí luận về phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
1.2.2.1 Khái niệm về phát triển
Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một
sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ
Khái niệm phát triển trong phép biện chứng duy vật, khái niệm phát triển chỉ dùng để chỉ quá trình vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật hiện tượng: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn Ví dụ: quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức cách thức tổ chức xã
Trang 22hội loài người: từ hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thủy lên các hình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc…; quá trình thay thế lẫn nhau của các thế hệ kỹ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn…
Trong đề tài này tôi chọn khái niệm phát triển: là sự thay đổi có tiến bộ về mặt tâm lí và nhận thức của trẻ nói chung và về KNGT của trẻ RLPTK nói riêng Từ những trẻ có KNGT kém , rụt rè trở thành những trẻ có KNGT tốt hơn và tự tin giao tiếp với mọi người xung quanh
1.2.2.2 Khái niệm về kỹ năng
Cho đến nay trên thế giới và ở nước ta có nhiều quan niệm về kĩ năng và nó được nhìn dưới những các góc độ khác nhau Khi nhìn nhận về kĩ năng các nhà tâm
lí học xem xét kĩ năng theo 2 khhuynh hướng chính
Khuynh hướng thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành
động, theo các tác giả chỉ cần nắm vững cách thức của hành động là có kỹ năng Đại diện cho nhóm này là V.X.Cudin, A.G.Covaliop, Trần Trọng Thủy….Chẳng hạn, theo V.A Krutetxki kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững và chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người có kĩ năng
Khuynh hướng thứ hai, xem xét kĩ năng nghiêng về năng lực của con người
trong quá trình giao tiếp Đại diện cho nhóm này là N.D.Levitop, K.K.Platonop, G.G.Coluvep,…
Các nhà giáo dục Việt Nam quan niệm kĩ năng là khả năng của con người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Một số tác giả khác lại quan niệm, Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một
số thao tác hay một loạt các thao tác phức hợp của hành động bằng cách lựa chọn và vận dụng tri thức vào quy trình đúng đắn
Theo Lê Văn Hồng, kĩ năng là “ khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể” hay tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2) cho
Trang 23rằng “ kĩ năng là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo quy trình”
Từ những khái niệm của những nhà nghiên cứu trên cho thấy những điểm chung trong quan niệm về kĩ năng:
+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động;
+ Kỹ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân; + Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra
Từ sự phân tích trên chúng tôi hiểu kĩ năng như sau: kĩ năng là khả năng của con người được thực hiện thuần thục trên kinh nghiệm của bản thân thông qua quá trình rèn luyện, luyện tập nhằm tạo ra kết quả mong đợi
1.2.2.3 Khái niệm về giao tiếp
Giao tiếp là một hiện tượng tâm lý xã hội.Bất cứ người nào cũng có nhu cầu giao tiếp để tồn tại và phát triển trong xã hội Giao tiếp là một trong những điều kiện kiên quyết để hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp la một dạng của hoạt động, hoặc có thể
là phương tiện, điều kiện của hoạt động Đại diện cho quan điểm này là A.Q.Leonchiev [4]
- Quan điểm thứ hai lại cho rằng, hoạt động và giao tiếp được xem xét như hai mặt tương đối độc lập của quá trình thống nhất trong cuộc sống con người, có thể coi đó là hai phạm trù độc lập với nhau Phạm trù hoạt động phản ánh quan hệ “ chủ thể- khách thể” Đại diện cho quan điểm này là Lomov [4]
- Quan điểm thứ ba cho rằng có một phạm trù hoạt động chung đó là phương thức tồn tại và phát triển của con người Theo nhà tâm lí học Mác Xít, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới
tự nhiên, xã hội và bản thân Hoạt động với tư cách là một phạm trù chung nhất bao
Trang 24hàm hai hoạt động chủ yếu là hoạt động đối tượng và hoạt động giao tiếp( hay gọi
là giao tiếp), phản ánh hai loại quan hẹ của con người đối với thực hiện khách quan: Hoạt động đói tượng phản ánh quan hệ “ chủ thể- khách thể”, còn giao tiếp phản ánh quan hệ “ chủ thể- chủ thể”
A.A.Leonchiev quan niệm: Giao tiếp là hệ thống những quá trình mục đích và
có động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này và người khác.Trong hoạt đọng
thực tiễn các quan hệ xã hội, nhân cách của quan hệ tâm lý và sử dụng các phương pháp đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ Ông cho rằng giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động [4] Giao tiếp nào cũng có động cơ quy định sự hình thành và phát triển của nó cũng được tạo ra bởi các hành động và thao tác.Ông cho rằng giao tiếp cũng mang đặc tính của hoạt động, tức là có cụ thể, nhằm vào một đối tượng nào đó
để tạo ra một sản phẩm nào đó
L.X.Vugotxki là người đầu tiên đề cập đến giao tiếp trong quá trình tiếp thu
lịch sử xã hội Thông qua giao tiếp, mối quan hệ giữa người với người được thiết
lập và tạo nên bản chất người [5].Theo ông, giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa
người và người, là quá trình trao đổi thông tin, quan điểm và cảm xúc
C.Mác và Ph.Anghen [6] hiểu giao tiếp là “ một quá trình thống nhất, hợp tác,
tác động qua lại giữa người với người” Như vậy.khái niệm giao tiếp được khai thác
dưới góc độ là một quá trình hợp tác giữa con người với con người Tuy nhiên, trong cuộc sống không phải có hợp tác là có giao tiếp, đôi khi giao tiếp không có sự hợp tác mà là xung đột
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa tâm lí, giữa người
và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau”[7] Phạm trù giao tiếp đã được
đẩy mạnh là sự vận hành mối quan hệ người- người, hiện thực hóa các mối quan hệ
xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác
Trong thực tế, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận về giao tiếp và có những định nghĩa khác nhau về giao tiếp Mỗi tác giả khai thác khái niệm giao tiếp dưới góc độ
Trang 25khác nhau Tuy nhiện thông qua những định nghĩa, các tác giả đều đã nêu ra những dấu hiệu cơ bản của giao tiếp Những dấu hiệu cơ bản đó là:
Giao tiếp là một hiện tượng đặc thù của con người, chỉ có ở con người, chỉ được diễn ra trong xã hội loài người
Giao tiếp dựa trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau giữa con nhười với con người Giao tiếp thể hiện thông qua sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết,rung cảm và ảnh hưởng lẫn nhau
Giao tiếp chứa đựng nội dung của xã hội, được thực hiện rong một hoàn cảnh
xã hội cụ thể và chịu sự quy định của cac yếu tố văn hóa, xã hội
Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, giao tiếp được tiến hành bằng nhiều hình thức có ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ, khả năng giao tiếp của con người phụ thuộc vào kỹ năng giao tiếp và vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống của họ
Từ những dấu hiệu chung của giao tiếp, chúng tôi coi khái niệm sau đây về
giao tiếp làm khái niệm công cụ trong nghiên cứu: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí
giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm,…tạo nên các quan
hệ xã hội và mang bản chất xã hội lịch sử
Trong nghiên cứu đề tài này chúng tôi hiểu: Giao tiếp là sự truyền đạt, tiếp
nhận, trao đổi thông tin qua việc hiểu ngô ngữ và diễn đạt ngôn ngữ bằng lời nói, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ Thông qua giao tiếp nhân cách được hình thnhf và phát triển
bộ, hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa
Trang 26*V.P Dakharop đã lựa chọn vào các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm kĩ năng sau [9];
- kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp
- Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp
- Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng giao tiếp
- Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi
- Kỹ năng nhạy cảm xong giao tiếp
- Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc
- Kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp
-Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp
- Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp
- Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp
*A.T.Kurbawa và Ph.M.Rakhmatinlira cũng theo quan điểm này cho rằng một quá trình giao tiếp gồm ba nhóm kỹ năng[8]:
- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ là sự chủ động chào khi gặp mặt và nói lời tạm biệt khi chia tay; trẻ biết dùng ngôn ngữ để yêu cầu về đồ vật, về thông tin, đồng thời trẻ biết dùng ngôn ngữ để từ chối sự giúp đỡ, từ chối thông tin từ chối đồ vật khi những điều ấy không đáp ứng nhu cầu của trẻ; trẻ biết chia sẻ thông tin, cung cấp thông tin,đề nghị giúp đỡ bạn trong khi chơi… thông qua hoạt động hằng ngày giúp trẻ biết thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp với một cách chủ động và tự tin hơn
- Kỹ năng diễn đạt nghĩa trong câu bao gồm trẻ biết miêu tả sự vật, hiện tượng đang ở trong tình huống hiện tại, trẻ biết diễn tả đúng những điều mình mong muốn cho bạn hiểu; trẻ biết dùng câu để diễn tả sự phủ định, sự từ chối của trẻ, sự biến mất hay sự ngừng lại của một sự vật hiện tượng; trẻ biết nói về vị trí, thuộc tính của sự vật, hiện tượng; trong câu nói của trẻ thể hiện sự sở hữu sự vật, hiện tượng, trẻ có thể đặt ra về nơi chốn, cái gì, tại sao, ai và về những câu hỏi có, không
- Kỹ năng diễn đạt các đặc điểm văn phạm trong câu: ở kỹ năng này xem xét xem trẻ có sử dụng giới từ để nói về vị trí hay trạng thái của các sự vật hiện tượng
Trang 27hay không? trẻ có biết sử dụng ngôn ngữ để miêu tả về đặc điểm đơ giản của đồ vật, trẻ biết sử dụng từ “ đang” để nói về hoạt động xảy ra ở hiện tại; về các đại từ sở hữu, đại từ nhân xưng, mà trẻ sử dụng, về các câu mà trẻ muốn nó về thời tương lai
và thời quá khứ …Mặc dù, đây là một trong những mục tiêu đặt ra để xây dựng những biện pháp giúp trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt hơn nhhuwngx đây là mục tiêu thứ trong các mục tiêu ưu tiên ở trên
* Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh cho rằng phát triển KNGT cho trẻ RLPTK bao gồm các kỹ năng giao tiếp như: Kĩ năng qun sát, lắng nghe, bắt chước , luân phiên, vui chơi, nghe hiểu ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ…Đó là những kĩ năng tiền đề, quan trọng để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp[10]
- Kỹ năng quan sát đó là dạy cho trẻ quan sát đến mọi người xug quanh, khi giao tiếp nhìn vào mắt đối tượng giao tiếp Vì khi giao tiếp trẻ RLPTK không thích nhìn vào mắt người khác.Thông thường trẻ chỉ nhìn qua rồi quay đi.Nếu bắt buộc thì trẻ chỉ nhìn được vài tíc tắc
- Kỹ năng tập trung là rèn luyện cho trẻ khả năng tập trung chú ý hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của cha mẹ, thầy cô, tạo tiền đề để trẻ có thể tham gia học các tiết học ở trường mầm non, hòa nhập với các bạn bình thường Bởi vì, TRLPTK
ít có khả năng tập trung để làm một việc với người khác.Hoạt động chính của trẻ là chạy nhẩy hằng ngày không có mục đích
- Kĩ năng lần lượt và bắt chước là dạy cho TRLPTK biết bắt chước cử chỉ , hành động , lời nói của đối tượng giao tiếp và thực hiện quy tắc lần lượt, luân phiên khi thực hiện nhiệm vụ Bởi vì, khả năng chờ đợi của TRLPTK kém, trẻ ít quan tâm đến mọi người xung quanh, không thích nhìn và bắt chước hành động của người khác
- Kỹ năng chơi là dạy cho TRLPTK biết cách chơi cũng như chia sẻ đồ chơi với bạn, mọi người xung quanh Bởi vì, TRLPTK chỉ thích chơi một mình, trẻ cuốn hút vào những đồ chơi hình quay tròn, trẻ chỉ chơi khi trẻ thích chơi
KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cae năng lực thể hiện cảm xúc, thái độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm
Trang 28với đối tượng giao tiếp Nói một cách khác, KNGT là toàn bộ những thao tác cử chỉ , thái độ, ngôn ngữ được phối hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân hay với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp
Trong nghiên cứu đề tài này tác giả khóa luận sử dụng khái niệm KNGT sau
làm công cụ nghiên cứu: Kĩ năng giao tiếp là khả năng sử dung hợp lý các phương
tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp Đối với TRLPTK tập trung tác động dạy cho trẻ một
số KNGT chính như: kỹ năng tập trung chú ý, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ làm nèn tảng để phát triển KNGT
1.2.2.5 Biện phápphát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 -6 tuổi
Trong cuốn “ Từ điển tiếng Việt tường giải và liên tưởng”, tác giả Nguyễn Văn Đạm cho rằng: “ Biện pháp là cách làm, cách hành động, đối phó để đi tới một mục
đích nhất định”[11]
Như vậy, nghĩa chung nhất của biện pháp là cách làm để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra; biện pháp là cách thức, cách làm, cách hành động để đi tới một mục đích nhất định hay là cách giải quyết vấn đề cụ thể Trước những vấn đề khó khăn của thực tiễn với đối tượng cụ thể đã được xác định, cần đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện tình hình thực tiễn, giúp giải quyết được vấn đề hiện tại được tốt hơn, hiệu quả hơn
Trong nghiên cứu đề tài này tác giả khóa luận chọn khái niệm biện pháp phát
triển KNGT sau làm công cụ nghiên cứu:Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho
TRLPTK là những cách thức thực hiện các tác động giáo dục nhằm giúp TRLPTK
có kĩ năng trong quá trình giao tiếp như kĩ năng tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe hiểu ngôn ngữ và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý hiểu của mình cho người khác hiểu nội dụng giao tiếp
1.3 Một số vấn đề về hoạt động nhóm của trẻ rối loạn phổ tự kỉ
1.3.1 Khái niệm hoạt động nhóm
Nhóm là một tập hợp gồm nhiều người từ 2 đến 3 người trở lên với trình độ, chuyên môn, năng lực,… khác nhau hợp tác hỗ trợ nhau vì mục tiêu chung nào đó
Trang 29Bổ trợ nhau, phụ thuộc thông tin, công việc của nhau để thực hiện phần việc của
mình
Hoạt động nhóm là hoạt động được diễn ra giữa nhiều người có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung Họ làm việc với nhau, có sự tương tác qua lại thường xuyên, có sự phân công công việc, nhiệm vụ rõ ràng, là tập hợp nhiều người có chung mục tiêu, thường xuyên tương tác với nhau, mỗi thành viên có một vai trò nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung chi phối lẫn nhau Mấu chốt của hoạt động nhóm chính là sự tương tác, phân công công việc rõ ràng
Trong đề tài này, tôi chọn khái niệm hoạt động nhóm là các trẻ trong cùng một
nhóm cùng thực hiện một hoạt động.Các trẻ trong nhóm sẽ giúp đỡ tương tác với nhau để cùng nhau hoàn thành một công việc mà cô đã giao như: xây một khu vườn,
tổ chức một bữa tiệc sinh nhật,…
- Có số lượng từ 2 người trở lên
- Tất cả mọi người tham gia đều cùng nhau giải quyết một vấn đề
- Không phân biệt trình độ
-Mọi người trong nhóm có thái độ làm việc tích cực và giúp đỡ nhau
Trong đề tài này hoạt động nhóm là hoạt động gồm các nhóm trẻ từ 6-7 trẻ trong cùng một nhóm.Trong đó có một hoặc một số nhóm có 1 TRLPTK tham gia chơi cùng.Vì vậy mà các thành viên trong nhóm phải là những trẻ có sự giúp đỡ lẫn nhau Có sự phối kết hợp với mọi người xung quanh, trong nhómlà những trẻ đặc biệt của lớp, trẻ tốt hay giúp đỡ bạn bè Các trẻ trong nhóm cùng tham gia hoạt động chung một vấn đề mà giáo viên đã giao cho Những trẻ bình thường phải luôn quan tâm giúp đỡ và phân công việc phù hợp với TRLPTK không đối xử phân biệt với
Trang 30TRLPTK Giáo viên cũng phải thường xuyên quan tâm và quan sát nhiều tới những nhóm trẻ này vì trong nhóm có 1 TRLPTK, Và phân công nhiệm vụ của từng bạn trong nhóm phù hợp để các bạn có thể giao tiếp nhiều với nhau
Ví dụ: như trong hoạt động nhóm (trong nhóm này gồm có 7 trẻ và 1 TRLPTK), thì giáo viên có thể phân nhóm này hoạt động ở góc phân vai; nấu cơm và bán hàng
Cô giao nhiệm vụ cho các trẻ phải đi chợ nấu ăn cho các bác thợ hồ Trong nhóm các trẻ tự phân vai chơi với nhau: trẻ đi chợ, trẻ nấu cơm, trẻ làm bếp phụ,… và giáo viên sẽ lại và khảo sát việc phân vài chơi Giáo viên góp ý để TRLPK được tham gia vào công việc giao tiếp nhiều.Ví dụ làm bếp phó, được bếp trưởng giao nhiệm vụ đi mua đồ.Và khi đi mua thì có thêm một bạn phụ đi bên để giúp đỡ TRLPTK khi trẻ không biết hoặc lúng túng
Như vậy, theo đề tài này tôi chọn khái niệm hoạt động nhóm là sự tương tác giữa các trẻ với nhau cùng hoàn thành một công việc: trẻ tốt sẽ giúp đỡ trẻ yếu, trẻ bình thường giúp đỡ trẻ khuyết tật (TRLPTK) Nhằm mục đích rèn luyện ở trẻ tính
tự tin, thái độ luôn giúp đỡ bạn bè và tinh thần đoàn kết Và tạo cho TRLPTK một không gian hoạt động an toàn, tự tin trong giao tiếp, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
1.4 Một số vấn đề về giáo dục hòa nhập
1.4.1 Khái niệm giáo dục hòa nhập
Giáo dục hòa nhập (GDHN) là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong trường phổ thông hay tại nơi sinh sống Giáo dục hòa nhập nhìn nhận trẻ khuyết tật dựa trên quan điểm xã hội, khi cho rằng khiếm khuyết không phải chỉ do khuyeesm khuyết của bản thân cá thể mà còn là khhieems khuyết của xã hội Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhất định, do đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục
GDHN có bản chất riêng so với các phương thức giáo dục khác như: Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ Đây là tư tưởng chủ đạo, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN.Trong GDHN không có sự tách biệt giữa trẻ khuyết tật với trẻ không khuyết tật.Mọi trẻ đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau
Trang 31Trong GDHN trẻ được học cùng một chương trình giáo dục phổ thông.Điều này vừa thể hiện sự bình đẳng trong giáo dục, vừa thể hiện sự tôn trọng.Điều chỉnh chương trình, đổi mói phương pháp dạy học và thay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi để GDHN đạt hiệu quả cao nhất.GDHN không đánh đồng mọi trẻ em.Mỗi trẻ là một cá nhân, một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ không như nhau.Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là cần thiết
Trong GDHN gia đình, nhà trường, xã hội và cộng đồng cần tạo ra sự hợp tác
và giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động.Trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục, được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi công việc của nhà trường, gia đình, xã hội và của cộng đồng
GDHN là một xu thế, là một sự tất yếu của thời đạ.Xu hướng giáo dục này đáp ứng mục tieey giáo dục trẻ khuyết tật mà UNESCO đã đưa ra là tiến tới giáo dục trẻ khuyết tật phải đạt trình độ phổ cập Mô hình giáo dục này đảm bảo giáo dục đa trình độ,đa phương pháp và phát huy được tính độc lâp , khuyến khích được sự tham gia tích cực của mọi trẻ Được giáo dục trong môi trường hòa nhập trẻ đều có tiến bộ hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát triển
GDHN ở trường mầm non được tổ chức tùy theo điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp để phù hợp với trẻ khuyết tật, các hoạt động trong lớp cần chú ý quan tâm tới khả năng và nhu cầu của trẻ khuyết tật
Số lượng trẻ khuyết tật học ở mỗi lớp hòa nhập trong trường mầm non có thể lad 1 hoặc 2 trẻ khuyết tật/ lớp học, trẻ tham gia học hòa nhập với các bạn bình thường ở tất cả các hoạt động hằng ngày
Ở một số trường học mầm non có phòng học cá nhân gianhf cho trẻ khuyết tật Bên cạnh các tiết học hòa nhập chung với các bạn, trẻ khuyết tật ssuowjc can thiệp
cá nhân ngay tại trong trường Có một số trường thì nhà trường kết hợp với hụ huynh
tổ chức có một giáo viên Giáo dục đặc biệt kèm, hỗ trợ trẻ khuyết tậ ngay tại lớp học hòa nhập từ sáng đến chiều
Trang 32Đối với những trẻ khuyết tật học hòa nhập ở trường mầm non, mà vẫn còn một
số kĩ năng mà ở trường không có phòng học các nhân hoạc giáo viên giáo dục đặc biệt thì phụ huynh phải cho trẻ đi học thêm các tiết học can thiệp ở các trung tâm can thiệp sớm bên ngoài trường
Trong nghiên cứu đề tài này tác giả khóa luận chọn khái niệm Giáo dục hòa nhập sau làm công cụ nghiên cứu: Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong
đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ bình thường, trong truoengf phổ thông có sự điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức,… cho phù họp với năng lực và nhu cầu của trẻ
1.5 Phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
1.5.1 Ý nghĩa phát triển KNGT cho trẻ RLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
Phát triển KNGT giúp cho trẻ có cơ hội gia nhập vào các mối quan hệ xã hội
để hình thành “tổng hòa các mối quan hệ”tạo nên bản chất tâm lí con người Giúp
trẻ có thể tồn tại và phát triển nhân cách Thông qua giao tiếp trẻ tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa tinh thần trong nền văn hóa xã hội, các chuẩn mực đạo đức xã hội
để hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức nhân cách,hành vi, thói quen Vì thế kĩ năng giao tiếp được xem là một kĩ năng nền tảng và có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ
Ở giai đoạn đầu của thời kì phát triển TRLPTK bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp đồng thời với khả năng bộc lộ cảm xúc thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ, qua ánh mắt với những nét mặt và các dấu hiệu của cơ thể, nếu được đáp ứng đầy
đủ sẽ giúp cho trẻ RLPTK hình thành sự tự tin vào bản thân cũng như xây dựng những mối tương giao với mọi người xung quạnh, tạo tiền đề cho việc hình thành và phát triển KNGT ở trẻ Đây là một việc làm cần thiết giúp trẻ mở rộng mối quan hệ trong gia đình cho đến ngoài nhà trường và xã hội
Mặt khác, phát triển KNGT cho trẻ RLPTK còn có ý nghĩa đối với giáo viên, người chăm sóc trẻ.Thông qua giao tiếp giáo viên có thể biết được đặc điểm tâm lí,
Trang 33nhu cầu, nguyện vọng,và những khó khăn của trẻ và gia đình trẻ Trên cơ sơ đó giáo viên có thể trao đổi, phối hợp giữa nhà trường và gia đình, giữa giáo viên và trẻ, giữa các giáo viên với nhau để đưa ra nội dung, phương pháp giáo dục, can thiệp phù hợp
và có hiệu quả cho trẻ
1.5.2 Mục tiêu phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
TRLPTK dù ở thể nặng hay nhẹ KNGT của trẻ cũng đều rất kém Trẻ ngay từ khi sinh ra đã chịu nhiều thiệt thòi hơn mọi người, trẻ thường biết nói muộn và cảm giác rụt rè khi nói chuyện với người khác, không thích những đám đông người tụ tập
TRLPTK khả năng tập trung của trẻ là rất ít, trẻ nhanh bị chán với các hoạt động diễn ra dài và đòi hỏi sự tập trung.Khi học thì trẻ ngồi hay ghẹo các bạn xung quanh, khi tham gia hoạt động nhóm thì hay chanh đồ, phá đồ của các bạn Khi được giáo viên chỉ dẫn thì trẻ không ghi nhớ, không để ý nhiều hay có biểu hiện tránh mặt
cô
Do khả năng tập trung chú ý của trẻ kém Nên khả năng bắt chước của trẻ cũng kém Khi giáo viên hướng dẫn trẻ không chú ý và đến khi thực hiện lại đối với trẻ là không thể thực hiện được nếu như không có sự giúp đỡ của giáo viên bên cạnh Trẻ RLPTK thường giao tiếp một mình (độc thoại), nên khi giao tiếp với người khác thì kĩ năng luân phiên của trẻ cũng không được thực hiện.Trẻ không đợi được người khác trả lời mình, trẻ luôn hỏi những điều liên tục.Nên khi người khác hỏi trẻ, trẻ thường không hiểu người khác nói gì, trẻ thường hay nói những từ quen thuộc để trẻ lời cho nhiều câu hỏi “ Dạ” khi muốn trẻ trả lời đúng mục đích của mình thì giáo viên phải hỏi nhiều lần và phải hướng trẻ đúng vào trọng tâm của câu hỏi.Câu trả lời của trẻ là những câu không đầy đủ và trẻ không bao giờ sử dụng cử chỉ/ hành động khi giao tiếp với mọi người Thay vào đó trẻ hay nói nhỏ, nói thiếu nội dung
Vì vậy mà mục tiêu phát triển KNGT cho TRLPTK là giúp trẻ hiểu và sử dụng được các kĩ năng giao tiếp vào giải quyết các tình huống hằng ngày như: tập trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe và thực hiện các yêu cầu bằng lời, sử dụng cử
Trang 34chỉ/ lời nói/ hành động để giao tiếp với mọi người xung quanh, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách, phát triển kĩ năng sống, hòa nhập vào cuộc sống
xã hội
1.5.3 Nội dung phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi
thông qua hoạt động nhómVới mục đích phát triển KNGT của TRLPTK là nhằm hình thành ở trẻ các kĩ năng như: quan sát, chờ đợi, bắt chước, tập trung chú
ý, lần lượt, sử dụng ngôn ngữ,….Phát triển mỗi kĩ năng giao tiếp cho trẻ đều có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển các kĩ năng khác
Khi xem xét các nội dung phát triển KNGT cho trẻ cần xem xét tất cả các yếu
tố, từ đặc điểm giao tiếp của trẻ em mầm non 5-6 tuổi đến đặc điểm giao tiếp riêng của TRLPTK, nội dung của từng KNGT đều được phát triển dần theo thời gian, không một kĩ năng nào phát triển độc lập Sự tiến bộ của một kĩ năng sẽ kéo theo
sự tiến bộ của các kĩ năng khác
Trong nghiên cứu này, nội dung phát triển KNGT cho TRLPTK bao gồm các
kĩ năng cơ bản sau:
-Kĩ năng tập trung chú ý: Dạy trẻ biết tập trung chú ý vào người, vật hoặc hoạt
động, bao gồm nhìn, lắng nghe, có thời gian, suy nghĩ
-Kĩ năng luân phiên: Giúp trẻ biết luân phiên trong quá trình giao tiếp, biết đáp
ứng yêu cầu của người khác, lần lượt sử dụng đồ vật, đồ chơi, trả lời câu hỏi
-Kĩ năng hiểu lời nói : Giúp trẻ hiểu những chỉ dấn bằng lời nói và hành động,
các tình huống chơi đóng vai đơn giản, thể hiện cảm xúc
-Kĩ năng sử dụng lời nói:Giúp trẻ biết sử dụng lời nói vận dụng vào các tình
huống giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày
1.5.4 Biện pháp phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
Để giúp trẻ khắc phục những khiếm khuyết khó khăn về KNGT và để phát triển KNGT cho TRLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm thì cần đưa ra được các biện pháp phát triển KNGT cho TRLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
Trang 35Biện pháp phát triển KNGT cho TRLPTK 5-6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
Là các cách làm của giáo viên được chọn lọc, tích lũy từ các kinh nghiệm để áp dụng vào các hoạt động nhóm để giúp TRLPTK có thể phát triển được các KNGT phù hợp với trẻ trong độ tuổi 5-6 tuổi
Để phát triển KNGT cho TRLPTK cần thực hiện các biện pháp sau đây như:
- Tổ chức các hoạt động can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập gắn kết nhau, vừa sửa chữa những khiêm khuyết của trẻ, vừa tạo cơ hội cho trẻ tham gia hòa đồng với các bạn để xuất hiện nhu cầu giao tiếp và trẻ có cơ hội thực hành, luyện tập các KNGT được học từ cô giáo và các bạn
- Tổ chức các hoạt động nhóm cho trẻ giao lưu với cộng đồng như đi chợ, công viên, siêu thị, tham quan, giã ngoại để giúp trẻ mở rộng mối quan hệ giao tiếp, tự tin trong quá trình giao tiếp,
- Tổ chức các hoạt động tại gia đình để phát triển mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ với các thành viên trong gia đình như: ông, bà, bố , mẹ, anh, chị, em,…và mối quan hệ giữa trẻ với các đồ dùng trong gia đình Ngoài thời gian học tại trường trẻ
có nhiều thời gian ở gia đình và chịu sự tác động từ gia đình, từ ăn uống, học tập, nghỉ ngơi,…các KNGT của trẻ được hình thành ở đây Giáo viên cần có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình, phát huy vai trò của gia đình trong việc hình thành, rèn luyện KNGT cho TRLPTK để phát triển KNGT cho TRLPTK ở mọi lúc mọi nơi
- Tổ chức các hoạt động xã hội huy động nhiều nguồn lực phục vụ cho mực tiêu phát triển KNGT cho TRLPTK như ; môi trường giáo dục, tài chính, kiến thức
và kinh nghiệm của giáo viên trong cán thiệp sớm và GDHN cho TRPTK, cơ sở vật chất, đồ dùng nhằm đem đến sự thành công trong dạy TRLPTK nói chung và phát triển KNGT cho TRLPTK nói riêng
1.5.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KNGT cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ
5 - 6 tuổi thông qua hoạt động nhóm
Trong quá trình phát triển KNGT cho TRLPTK có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tác động và ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác can thiệp và giáo dục Trong những yếu tố như năng lực của giáo viên, tính tích cực của trẻ, mooi trường gia đình, bạn
bè, lớp học,…tác động trực tiếp đến KNGT cho TRLPTK
Trang 36*Khả năng của trẻ: bao gồm khả năng hoạt động của não bộ, hệ thống thần
kinh bao gồm bán cầu đại não trái và bán cầu đại não phải, các thùy, các hồi hoạt động theo sự chỉ đạo của hệ thần kinh trung ương, phối hợp làm việc cùng nhau theo một hệ thống giúp cho các phẩm chất tâm lý như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ,…của trẻ được hình thành và phát triển tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp
* Năng lực của giáo viên: Năng lực chuyên môn, kĩ năng sư phạm và kĩ năng
giao tiếp của giáo viên là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình phát triển KNGT cho TRLPTK Trẻ đến trường nhận được sự đánh giá đúng về điểm mạnh, điểm yếu của trẻ, chỉ ra những nhu cầu của trẻ để trao đổi vớ gia đình cùng xây dựng kế hoạch GDCN cho trẻ, cùng tổ chức thực hiện, hướng dẫn, giao bài tập cho phụ huynh hằng ngày để biết cách chăm sóc, dạy con ở nhà Đến lớp trẻ bắt chước hành động, âm thanh, cử chỉ, lời nói của cô vận dụng vào quá trình giao tiếp, KNGT của cô là mô hình chuẩn để trẻ học theo Bên cạnh đó giáo viên cần có sự đồng cảm với phụ huynh có con bị RLPTK, không gán mác gọi tên, không phân biệt đối xử với trẻ và gia đình Khi trẻ có hành vi bất thường, giáo viên cần bình tĩnh và kiên trì tìm cách giải quyết
* Môi trường bạn bè:
- Tình bạn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với lòng tự trọng và là thước đo để trẻ có thể tự đánh giá bản thân mình Thông qua tình bạn, trẻ có thể so sánh mình với các bạn, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn thường nhật với các bạn cùng trang lứa, nhờ đó hình thành nên sự đồng cảm với thấu hiểu lẫn nhau Trong mối quan hệ bạn bè, trẻ khao khát muốn trở thành đối tượng chú ý và đánh giá của bạn cùng tuổi.Trẻ có khuynh hướng khẳng định những phẩm chất tôt của mình và có nhu cầu được bạn thừa nhận và tôn trọng Tuy nhiên, nếu trẻ thường xuyên bị thua kém bạn
và các bạn trong lớp không tôn trọng trẻ thì trẻ sẽ có cảm giác bị bỏ rơi, nảy sinh tính không được cởi mở, tính thụ động, tính thù hằn.Chính vì thế khi xây dựng vòng tay bạn bè cho trẻ thì phải chọn lựa những trẻ có thái độ tốt, thông cảm, có thái độ muốn giúp đỡ bạn yếu hơn… để làm những người hỗ trợ đồng đẳng
- Đối với trẻ ở độ tuổi mầm non, đặc điểm của trẻ trong các hoạt động hằng ngày là chơi cạnh nhau, chơi cùng nhau Giáo viên là cầu nối tổ chức các hoạt động
Trang 37để trẻ tham gia cùng các bạn.chính vì vậy, bạn bè có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ nói chung và KNGT nói riêng Bạn bè là động cơ, là động lực thúc đẩy trẻ xuất hiện nhu cầu giao tiếp, tương tác với các bạn trẻ được hình thành, phát triển, củng cố và sửa chữa KNGT của mình
Hiểu được những khó khăn này, người giáo viên sẽ lên kế hoạch và tổ chức nhữnghoạt động phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp một cách khoa học và có hiệu quả dưới nhiều hình thức khác nhau
Kết luận chương 1
1 TRLPTK là những trẻ giao tiếp và tương tác kém, chậm trễ trong ngôn ngữ nói, có hành vi rập khuôn, định hướng Khó khăn lớn nhất của trẻ trong cuộc sống hằng ngày là giao tiếp
2 Sự phát triển KNGT của TRLPTK có sự khác biệt so với trẻ bình thường ở nhiều khía cạnh khác nhau: sự tập trung chú ý, tương tác, vốn từ, sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ nghe hiểu và nggon ngữ diễn đạt Kết quả phát triển KNGT cho TRLPTK chịu ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến sự phát triển KNGT của TRLPTK như: sự tập trung chú ý, mức độ RLPTK, đặc điểm và các yếu tố can thiệp sớm với các hoạt động can thiệp tổ chức trong môi trường GDHN
3 Việc tổ chức hoạt động nhằm phát triển KNGT cho TRLPTK cần được nghiên cứu một cách cụ thể phù hợp với thực tiễn, tính đến các yếu tố đặc thù của TRLPTK ( mức độ, khả năng, nhu cầu, sở thích, vốn từ, giao tiếp,…) và đặc điểm các hoạt động ở lớp học hòa nhập trong trường mầm non với sự hỗ trợ từ môi trường,
sự tương tác tích cực của các bạn và các kĩ thuật đặc thù được GV vận dụng trong quá trình tổ chức để giúp TRLPTK có thể phát triển KNGT một cách tốt nhất
4 Để phát triển KNGT cho TRLPTK trong lớp học hòa nhập ở trường mầm non thông qua hoạt động nhóm cần phải có sự nghiên cứu cụ thể để đưa ra những biện pháp , cách làm cụ thể GV có thể dễ dàng áp dụng vào công việc của mình đế phát triển KNGT cho TRLPTK
Trang 38Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KỈ NĂNG
GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM Ở TRƯỜNG MẦM NON
2.1 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng
2.1.1 Mục đích khảo sát
Đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng cuả việc phát triển KNGT cho TRLPTK; thực trạng các biện pháp giáo viên tổ chức hoạt động phát triển KNGT cho TRLPTK; thực trạng mức độ phát triển KNGT cho TRLPTK làm cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp phát triển KNGT cho TRLPTK
2.1.2 Nội dung khảo sát
Nội dung nghiên cứu thực trạng cụ thể như sau:
- Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của phát triển KNGT đối với TRLPTK
- Các biện pháp giáo viên đáng nhằm phát triển KNGT cho TRLPTK
- Thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong tổ chức các hoạt động nhóm nhằm phát triển KNGT cho TRLPTK
-Mức độ phát triển KNGT của TRLPTK 5-6 tuổi trong các lớp học hòa nhập ở trường mầm non về kĩ năng taappj trung chú ý, bắt chước, luân phiên, nghe và hiểu,
sử dụng ngôn ngữ
2.1.3 Quy mô và địa bàn khảo sát
- 42 giáo viên dạy TRLPTK 5-6 tuổi trong trường hòa nhập ở tỉnh Thanh Hóa Giáo viên được đào tạo ở trình độ cao đẳng chiếm nhiều nhất là 58,4%, sau đó là giáo viên trình độ Đại hoạc đạt 31,6%, trung cấp đạt 10%; thời gian dạy học rừ 5-10 năm chiếm 36,6%, sau đó từ 1-5 năm chiếm 28,4%, từ 10-15 năm là 26,6%, từ 15-
20 năm là 8,4%
- Khảo sát 12 trẻ rối loạn phổ tự kỉ trong khảo sát ở mức độ nhẹ đang học hòa nhập ở trường mầm non
Trang 392.1.4 Phương pháp khảo sát
2.1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thốnghóa lí thuyết nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lí luận của đề tài
2.1.4.2 Phương pháp thực tiễn:
a Phương pháp điều tra, khảo sát
Phiếu khảo sát dành cho giáo viên đang trực tiếp dạy hòa nhập TRLPTK 10 câu hỏi nhằm thu thập thông tin và sự hiểu biết của họ về phát triển KNGT cho TRLPTK Chúng tôi phát phiếu cho giáo viên để giáo viên tự điền thông tin sau đó chúng tôi nhận lại phiếu Để đảm bảo sự trung thực trong trả lời, giáo viên không cần ghi tên
và thông tin cá nhân vào phiếu ( phụ lục 1)
b Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát 9 hoạt động ( các giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, giờ đón và trả trẻ) ở trường mầm non trong điều kiện bình thường có báo trước Sau đó chúng tôi tiến hành thống kê và phân tích kết quả (phụ lục 2)
c Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn 6 phụ huynh có con rối loạn phổ tự kỉ nhằm thu thập thông tin thêm
về vấn đề nghiên cứu
d Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu 10 kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên Nhằm tìm hiểu các mục tiêu giáo dục đặt ra trong các hoạt động có mục tiêu riêng dành cho trẻ RLPTK không ? Cách tổ chức của giáo viên có phù hợp với khả năng của TRLPTK
và có kết quả trên trẻ không ? Chúng tôi đánh giá bản kế hoạch theo 10 chỉ số, với thang điểm 10 để làm căn cứ phân tích
2.1.6 Tiêu chí đánh giá Bảng đáng giá kĩ năng giao tiếp cho TRLPTK gồm
5 tiêu chí sau
+ Tiêu chí 1: Tập trung chú ý
Tiêu chí này được đánh giá thông qua 5 chỉ số: Lắng nghe người khác nói chuyện; nhìn vào đối tượng giao tiếp; Tập trung vào chỉ dẫn của đối tượng giao tiếp;
Trang 40Nhìn vào đồ vật trong một thời gian ngắn; Tập trung vào một nhiệm vụ và lắng nghe được hướng dẫn Từng chỉ số được đánh giá theo 3 mức độ: 0 điểm- trẻ không thực hiện được kể cả khi có sự trợ giúp hoặc không chịu thực hiện; 1 điểm- trẻ thực hiện hay thực hiện đúng nhờ có sự giúp đỡ ( cầm tay trẻ cùng làm, gọi ý bằng cử chỉ hay lời nói; làm mẫu nhắc bằng lời) 2 điểm- trẻ thực hiện hay làm đúng mà không cần trợ giúp.Điểm tối đa của tập trung chú ý là 10 điểm
Người kiểm tra quan sát tương tác của giáo viên và TRLPTK trong các hoạt động nhóm trên lớp
+ Tiêu chí 2: Bắt chước
Để đo được kĩ năng này, khóa luận đã sử dụng 5 chỉ số: Bắt chước hành động của người khác; Bắt chước âm thanh của người khác; Bắt chước lời nói của người khác; Bắt chước cử chỉ của người khác; Bắt chước điệu bộ của người khác (biểu lộ tình cảm) Mỗi chỉ số được đánh giá theo 3 mức độ sau: 0 điểm- trẻ không thực hiện
kể cả khi có sự trợ giúp hoặc không chịu thực hiện; 1 điểm- trẻ thực hiện hay thực hiện đúng nhờ có sự trợ giúp ( cầm tay trẻ cùng làm, gọi ý bằng cử chỉ hay lời nói: làm mẫu, nhắc bằng lời) 2 điểm- trẻ thực hiện hay thể hiện đúng mà không cần trợ giúp.Điểm tối đa của tiêu chí bắt chước là 10 điểm
Chúng tôi quan sát hoạt động của giáo viên hướng dẫn cho cả lớp và cho trẻ RLPTK, xem trẻ có bắt chước được không và bắt chước được bao nhiêu hành động, lời nói ?
+Tiêu chí 3: Luân phiên
Để đo được kĩ năng này, luận án đã sử dụng 5 tiêu chí: Đáp ứng yêu cầu của người khác; Chờ đến lượt mình khi hoạt động; Lần lượt thực hiện hành động trong hoạt động/ hội thoại; Lần lượt sử dụng đồ vật; Khởi đầu hội thoại và chờ người giao tiếp đáp lại Đánh giá từng chỉ số theo 3 mức độ sau: 0 điểm- trẻ không thực hiện được kể cả khi có trợ giúp hoặc không chịu thực hiện; 1 điểm- trẻ thực hiện hay thực hiện đúng nhờ sự giúp đỡ( cầm tay trẻ làm, gợi ý bằng cử chỉ hay lời nói: làm mẫu, nhắc bằng lời) 2 điểm- trẻ thực hiện hay thể hiện đúng mà không cần trợ giúp.Điểm tối đa của tiêu chí luân phiên là 10 điểm