1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ xưng hô trong ca dao tình yêu lứa đôi

67 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ xưng hô trong ca dao tình yêu lứa đôi
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Anh
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học dân gian
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 830,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Khóa luận được thực hiện tại trường Đại Học Hồng Đức Có được kết quả này, trước tiên em xin được tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Phạm Thị Anh, người đã tận tình chỉ bảo, hướ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc

Mã sinh viên: 1569010079 Lớp: K18B – ĐHGD Mầm non Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Anh

THANH HÓA, THÁNG 5 NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC

ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc

Mã sinh viên: 1569010079 Lớp: K18B – ĐHGD Mầm non Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Anh

THANH HÓA, THÁNG 5 NĂM 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện tại trường Đại Học Hồng Đức

Có được kết quả này, trước tiên em xin được tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Phạm Thị Anh, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp với đề tài “Giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ xƣng hô trong ca dao tình yêu lứa đôi”

Em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, thư viện Trường Đại Học Hồng Đức đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm và giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận của em

Trong khuôn khổ thời gian cho phép và vốn kiến thức có hạn, chắc chắn khóa luận của em không tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thanh Hóa, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục của đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 CA DAO VÀ CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI 5

1.1 Một số vấn đề chung về ca dao 5

1.1.1 Khái niệm ca dao 5

1.1.2 Phân loại ca dao 9

1.2 Ca dao về tình yêu lứa đôi 14

1.2.1 Ca dao tỏ tình 14

1.2.2 Ca dao tương tư - yêu đương 17

1.2.3 Ca dao thề nguyền 19

1.2.4 Ca dao hận tình 23

Chương 2 ĐẠI TỪ VÀ GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC ĐẠI TỪ TIÊU BIỂU TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI 27

2.1 Khái niệm về từ loại đại từ, các đại từ trong Tiếng Việt 27

2.1.1 Khái niệm 27

2.1.2 Phân loại đại từ 27

2.1.3 Một số lưu ý khi dùng đại từ 27

2.2 Các đại từ xưng hô trong Tiếng Việt 28

2.3 Giá trị biểu đạt của các đại từ tiêu biểu trong ca dao tình yêu lứa đôi 30

2.3.1 Cặp đại từ “mình – ta” 30

2.3.2 Cặp đại từ “anh – em” 36

2.3.3 Cặp đại từ “thiếp- chàng” 40

2.3.4 Một số cặp đại từ tiêu biểu khác 43

Chương 3 PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA MỘT SỐ ĐẠI TỪ XƯNG HÔ TIÊU BIỂU TRONG CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT KHÁC 47

Trang 5

3.1 Cặp đại từ mình – ta trong quan hệ với biện pháp tu từ ẩn dụ 47

3.2 Cặp đại từ xưng hô anh – nàng trong mối quan hệ với biện pháp tu từ nói quá, ẩn dụ 48

3.3 Cặp đại từ anh – em trong mối quan hệ với biện pháp tu từ so sánh 52

3.4 Cặp đại từ qua - bậu trong tương quan với bản sắc văn hóa Trung bộ 54

KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian, kho tàng quý giá của đất nước

đã vượt qua thử thách của thời gian để trở thành một thành tố quan trọng trong nền văn học Việt Nam Qua ca dao, giá trị truyền thống và tâm hồn người Việt Nam được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất Có rất nhiều mảng đề tài về

ca dao như: ca dao về tình cảm gia đình, ca dao tình yêu quê hương đất nước, ca dao về lao động sản xuất, ca dao về kinh nghiệm sống… nhưng không thể bỏ qua mảng đề tài ca dao tình yêu lứa đôi

Ca dao tình yêu lứa đôi là một bộ phận đa dạng, phong phú và sâu sắc nhất trong kho tàng ca dao của người Việt Đến với những bài ca dao tình yêu lứa đôi, ta được bước vào một thế giới đời sống nội tâm phong phú với những trạng thái cảm xúc chân thực, tinh tế của con người Tình yêu trong ca dao được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành, mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thêng thanh như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như dòng nước lững lờ êm trôi

Ở mảng ca dao này, các tác giả dân gian đã sử dụng rất nhiều các đại từ xưng hô như mình, ta, anh, em, thiếp, chàng… để chỉ mình hay người yêu theo các thời kì khác nhau, mỗi thời kì có một cách xưng hô khác nhau Các đại từ xưng hô này là một trong những yếu tố làm cho ca dao tình yêu lứa đôi mang màu sắc và có giá trị riêng

Mỗi một đại từ xưng hô có giá trị riêng, thể hiện quan hệ giao tiếp riêng Điều đó nói lên sự linh hoạt, tế nhị trong giao tiếp, đặc biệt là trong tình yêu lứa đôi Bên cạnh các yếu tố nghệ thuật khác như: thể thơ, các biện pháp tu tù, lối gieo vần, sử dụng các hình ảnh…, cách sử dụng các đại từ trong cao tình yêu lứa đôi có vị trí quan trọng, tạo nên sức hấp dẫn của ca dao – những viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề: “Giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ xƣng hô trong ca dao tình yêu lứa đôi” làm đối tượng

nghiên cứu

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về đại từ trong Tiếng Việt

Đại từ là một trong những từ loại tiêu biểu trong hệ thống từ loại Tiếng Việt Về cơ bản, vấn đề về từ loại đại từ đã được nghiên cứu kĩ lưỡng trong các giáo trình, sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo

Giáo trình Tiếng Việt (Diệp Quang Ban), tập 1 và 2, khẳng định đại từ là

một trong số các từ loại cơ bản của Tiếng Việt như: danh từ, động từ, tính từ, quan hệ từ, chỉ từ, lượng từ, phụ từ, tình thái từ… Đại từ được chia thành ba loại: đại từ nhân xưng, đại từ dùng để hỏi, đại từ dùng để thay thế cho từ ngữ

đã dùng

Giáo trình Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành (Phan Thị Hồng Xuân – Lê

Thị Nga) cũng khẳng định: đại từ là một trong 9 từ loại của Tiếng Việt Đại từ là

từ dùng để xưng hô, để chỉ vào sự vật hay sự việc, thay thế cho danh từ, động từ

và tính từ trong câu để tránh khỏi lặp những từ ngữ ấy, tránh để câu bị lủng củng khi lặp từ nhiều lần Khi thay thế cho từ loại nào, đại từ đảm nhận các chức năng ngữ pháp của chính từ loại ấy Đại từ nhân xưng hay còn gọi là đại từ chỉ ngôi Bên cạnh các đại từ xưng hô chuyên dùng, Tiếng Việt còn sử dụng nhiều danh

từ làm từ xưng hô (gọi là DT chỉ người lâm thời làm đại từ xưng hô) Đó là các danh từ chỉ nghề nghiệp, chỉ quan hệ trong gia đình

2.2 Lịch sử nghiên cứu về cách sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao tình yêu lứa đôi

Trong một số giáo trình, tài liệu tham khảo, các bài viết trên tạp chí, vấn đề

về cách sử dụng đại từ nhân xưng trong cao dao tình yêu lứa đôi đã được nghiên

cứu, bàn luận:

Trong Giáo trình văn học dân gian do GS.TS Vũ Anh Tuấn (chủ biên), khi

bàn đến nghệ thuật ca dao đã khẳng định, đại từ là một trong những từ loại tiêu biểu được dùng trong ca dao, bên cạnh tính từ Tác giả cho rằng, các đại từ trong

ca dao được sử dụng linh hoạt, thể hiện trình độ nghệ thuật cao của ngôn ngữ ca dao Tác giả cũng khái quát một số đại từ tiêu biểu trong ca dao như: thiếp – chàng; mình –ta; anh – nàng; ai – ai…

Trang 9

Trong Giáo trình văn học dân gian do GS Hoàng Tiến Tựu chủ biên, cũng

khẳng định: ca dao sử dụng các đại từ xưng hô đa dạng, phong phú và linh hoạt các đại từ này thể hiện rõ đặc tính diễn xướng, tính truyền miệng của văn học dân gian… Đây là những định hướng cơ bản giúp cho việc tiếp cận ca dao tình yêu lứa đôi thuận tiện hơn

Bên cạnh các Giáo trình, nhiều bài viết cũng đã tập trung nghiên cứu cách

sử dụng các đại từ trong ca dao tình yêu lứa đôi ở nhiều góc nhìn khác nhau Cụ thể:

“Những những tình yêu lành mạnh, tình cảm tự nhiên được miêu tả một cách sinh động trong ca dao Việt Nam Cũng qua đó đã cho ta thấy sự hà khắc của lễ giáo phong kiến trước đây Không những thế, một số bài ca dao đã phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của các bạn thanh niên thời bấy giờ” [18]

“Khi yêu nhau, trai gái ngày xưa không được thể hiện thoải mái như bây giờ Có yêu lắm, thương lắm, nhớ lắm thì cũng chỉ qua cái nắm tay, qua ánh mắt và có khi chỉ dám mượn những câu ca dao để nói lên nỗi lòng của mình Dưới đây xin gửi đến các bạn những câu ca dao nói về nỗi lòng đôi trai gái, nhớ thương mộc mạc “Chẳng tham nhà ngói ba tòa/ Tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành” [19]

Trong bài viết Ca dao về tình yêu lứa đôi, tác giả bài viết cho rằng:

“Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõ nhất trong Ca dao - Tục Ngữ, vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thưở của kiếp người Trong ca dao tục ngữ Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như dòng nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những dòng sông” [20]

Như vậy, chúng tôi nhận thấy:

- Vấn đề về đại từ và các đại từ nhân xưng trong cao dao nói chung, ca dao tình yêu lứa đôi nói riêng đã ít nhiều được đề cập đến như một biện pháp nghệ thuật, thể hiện đặc trưng của văn học dân gian

Trang 10

- Tuy nhiên, việc nghiên cứu giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ nhân xưng trong cao dao tình yêu lứa đôi vẫn là vấn đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống

3 Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc khảo sát nội dung, nghệ thuật của các bài ca dao về tình yêu lứa đôi, đề tài tập trung nghiên cứu giá trị biểu đạt của các đại từ xưng hô, từ đó hiểu rõ hơn vẻ đẹp của ca dao nói chung, ca dao về tình yêu nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giá trị biểu đạt của các đại từ xưng hô trong ca dao tình yêu lứa đôi

- Phạm vi của đề tài:

+ Chỉ khảo sát, phân tích giá trị biểu đạt của một số cặp đại từ xưng hô tiêu biểu + Chọn lựa, phân tích giá trị biểu đạt của việc sử dụng các đại từ xưng hô trong một số bài ca dao về tình yêu lứa đôi, trong mối quan hệ với các biện pháp nghệ thuật khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai một cách khoa học và hệ thống những nhiệm vụ đã nêu, đề tài

sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6 Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Ca dao và ca dao tình yêu lứa đôi

Chương 2: Đại từ và giá trị biểu đạt của các đại từ tiêu biểu trong ca dao

về tình yêu lứa đôi

Chương 3: Phân tích giá trị biểu đạt của các đại từ tiêu biểu trong một số bài ca dao về tình yêu lứa đôi trong mối quan hệ với các biện pháp nghệ thuật khác

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1

CA DAO VÀ CA DAO TÌNH YÊU LỨA ĐÔI 1.1 Một số vấn đề chung về ca dao

1.1.1 Khái niệm ca dao

Nói về ca dao, thật khó phân biệt đâu là mực thước, hoặc ca dao được sáng tác theo thể lệ hay luật mẹo nào của thi ca, …thật khó mà xác định được Cho nên, người ta khó có thể đưa ra một định nghĩa nào cho thỏa đáng về tất cả các yêu cầu của ca dao Nếu có đi nữa, thì cũng chỉ nhằm hiểu được phần nào về ca dao Việt Nam

Trong Từ điển Tiếng Việt, thì: “Ca dao là thể thơ dân gian, được lưu truyền dưới dạng câu hát, có ý nghĩa sâu sắc và là thể loại lục bát, có dạng ca dao”[1].Còn theo Vũ Ngọc Phan thì: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu ca dao”[2]

- Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội [/ca-dao-tuc-ngu-thanh-ngu-la-gi-van-hoc-dan-gian-viet-nam.html]

- Ca dao là thuật ngữ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc Theo lịch

sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên: ca dao là những bài có hoặc không

có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu

tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm

- Ca dao là những bài thơ dân gian do nhân dân lao động sáng tạo nên (phần lớn bằng thơ lục bát) giàu vần điệu, hình ảnh, ngắn gọn xinh xắn, nhằm phản ánh đời sống vật chất và biểu hiện tâm tư, tình cảm của họ trong dòng chảy thời gian và lịch sử Trước đây ca dao được truyền miệng, ngày nay ca dao đã được sưu tầm, nghiên cứu trong nhiều công trình có giá trị

Trang 12

Dân ca là những bài hát dân gian có làn điệu in đậm sắc thái từng miền quê

Nó thể hiện niềm vui, nỗi buồn, những ước mơ và hi vọng… của nhân dân, của người lao động trong cuộc đời

Hầu như mỗi miền quê đều có làn điệu dân ca riêng của mình Nhưng hay nhất, phổ biến sâu rộng nhất là dân ca Quan Họ Bắc Ninh, Hò Sông Mã, Hát giặm Nghệ Tĩnh, Hò giã gạo, các điệu Lí ở Trị Thiên, Lí con sáo, Lí ngựa ô… Nam Trung Bộ và Nam Bộ

Có một số không nhỏ các bài dân ca bắt nguồn từ ca dao, có thêm những tiếng đệm Ví dụ:

Ca dao:

“Người về em vẫn trông theo, Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi”…

Dân ca Quan Họ Bắc Ninh:

“Người về em vẫn (i i i ỉ i có mấy) trông theo, Trông (ư ư) nước (tình chung là như) nước chảy,

(Mà này cũng có a trông bèo) Trông bèo (lạ) bèo trôi…”

- Ca dao, dân ca là những câu hát trữ tình thuộc thể loại văn học dân gian Bằng hệ thống chủ đề, phương tiện diễn xướng, hình thức nghệ thuật độc đáo, ca dao, dân ca phản ánh thế giới nội tâm, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của con người đối với thế giới khách quan Tất cả tạo nên một quan niệm và thái độ chung của họ đối với cuộc sống

- Ca chỉ về vần điệu, lời lẽ xuôi câu, dễ nhớ Dao chỉ sự bén nhọn như “lưỡi dao”

Ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác của ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội

Trang 13

- Trong sinh hoạt văn học dân gian, có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt

ca hát, trong đó tiêu biểu nhất là việc diễn xướng ca dao, dân ca Ðể chỉ lĩnh vực

ca hát dân gian, nhân dân sử dụng các từ: ca, hò, ví, lý, hát giao duyên, hát đối, hát huê tình

Giới nghiên cứu, các nhà nho sưu tầm, biên soạn gọi những câu hát dân gian là: phong sử, phong dao, ca dao, dân ca, thơ ca dân gian, thơ ca truyền miệng dân gian, thơ ca trữ tình dân gian

+ Ca dao là thuật ngữ Hán Việt Theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc

Sách Trung Quốc ca dao: ca là bài hát có hòa với nhạc, dao là lời của bài hát đó

Theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên: ca dao là những bài

có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt

Cất lên một tiếng linh đình, Cho loan sánh phƣợng, cho mình sánh ta

Trang 14

Ơi ông chồng, chồng mình ơi ! Chi mà tệ, tệ lắm chàng ! Chi mà bạc, bạc lắm chàng !

(Lý vọng phu)

Trong ca dao, đại đa số là tác phẩm trữ tình Ca dao là loại trữ tình của văn học dân gian Khái niệm trữ tình dân gian được hiểu trong sự đối lập với khái niệm tự sự dân gian ở góc độ loại hình Ðối tượng của nó là những sáng tác phản ánh hiện thực đời sống không phải thông qua cốt truyện, sự xung đột của hành động nhân vật mà thông qua sự thể hiện tâm trạng các nhân vật trữ tình

-Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta

- Bướm vàng đậu đọt mù u,

Lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn

- Còn duyên kẻ đón người đưa, Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng

- Thân cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Tuy có nhiều cách định nghĩa nhưng nhìn một cách khái quát nhất: Ca dao

là thể loại trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người Ca dao

là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, ru con hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ quan hệ phức tạp khác trong xã hội , ngoài ra còn có những nội dung khác của

ca dao: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội

Qua hai định nghĩa trên, chúng ta thấy, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa thơ và ca dao Nhưng với ca dao Việt Nam thì ta có thể khẳng định ngay rằng: ca dao là kho tàng văn hoá của người Việt, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian qua đi, viên ngọc càng thêm toả sáng Qua ca dao, giá trị truyền thống và tâm hồn người Việt Nam được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất

Trang 15

1.1.2 Phân loại ca dao

Có nhiều cách phân loại ca dao:

- Dựa vào chức năng và hệ thống đề tài mà phân chia thành: ca dao ru con,

ca dao tình yêu thương, tình nghĩa, ca dao trào phúng (hài hước, châm biếm), ca dao than thân…

- Dựa vào chức năng sinh hoạt và đối tượng phản ánh trong ca dao, dân ca,

có thể chia ca dao thành các loại sau:

Những bài ca nghi lễ

Những bài ca lao động

Những bài hát cho trẻ (đồng dao)

Những bài ca sinh hoạt gia đình

Những bài ca sinh hoạt xã hội, lịch sử

Những bài ca giao duyên

Mỗi loại bài ca dao dân ca có rất nhiều bài thể hiện đặc trưng riêng khá độc lập

- Dựa vào số lượng các tiếng trong thể thơ của ca dao người ta chia ca dao dân ca thành các loại sau:

+ Thơ 4 chữ phối hợp với thơ lục bát

Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai, Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhớ ai,

Mà đèn không tắt ? Mắt thường nhớ ai, Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền,

Lo vì một nỗi không yên mọi bề…

+ Có bài ca dao phối hợp nhiều thể thơ

Trang 16

Chiếc buồm nho nhỏ, Ngọn gió hiu hiu…

Nay nước thủy triều, Mai lại nước rươi…

Sông sâu, sóng cả, em ơi!

Chờ cho sóng lặng, Buồm xuôi, ta xuôi cùng

Trót đã mang vào kiếp bềnh bồng, Xuống ghềnh, lên thác,

Một lòng ta thương nhau

+ Thơ lục bát

Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng ? Đưa nhau một bước lên đàng,

Cỏ xanh hai dãy, mấy hàng châu sa

Trang 17

- Tuy có nhiều cách phân loại, nhưng theo chúng tôi, việc tách đồng dao thành thể loại riêng biệt là hợp lí

Bởi, đồng dao là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em Chủ thể sáng tác diễn xướng chủ yếu là trẻ em thể hiện những cảm nghĩ, cảm xúc ngây thơ thường nảy ra một cách ngẫu nhiên ở trẻ em Trẻ em thường vừa chơi trò chơi, vừa ca hát Ðồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ

em, loại gắn với trò chơi của trẻ em

- Nghé ơ Mẹ gọi tiếng trước, Cất cổ lên đàng

Nghé ơ Mẹ gọi tiếng sau, Cất lồng lên chạy

Có khôn thì đi theo mẹ,

Có khéo thì đi theo đàn, Chớ đi theo quẩn theo quàng,

Có ngày mất mẹ nghé ơ

-Nu na nu nống,

Cái cống nằm trong, Cái ong nằm ngoài,

Củ khoai chấm mật, Con cóc nhảy ra, Con gà ú ụ,

Nhà mụ thổi xôi, Nhà tôi nấu chè, Tay xoè, chân rụt ! -Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,

Ðể trâu ăn lúa gọi cha ới ời, Cha còn cắt cỏ trên trời,

Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên, Ông thì cầm bút, cầm nghiên,

Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa

Trang 18

+ Ca dao lao động

Ca dao lao động là phần lời cốt lõi của dân ca lao động Những bài ca dao tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động Ðặc điểm cơ bản là có sự gắn

bó giữa nhịp điệu lao động và xúc cảm của con người trong lao động

Hò lao động nảy sinh trên cơ sở những công việc có sự lặp đi lặp lại động tác lao động, có tính chất tổ chức nhịp điệu lao động

Hò giật chỉ (hò kéo lưới) Nam Trung Bộ:

-Ra đi sóng biển mịt mù, Trời cho lưới nặng dô hò kéo lên

Phần lời này sẽ do một người lĩnh xướng (cái hát), những người khác xô theo (con hát) Trong quá trình diễn xướng của nó, sẽ có sự diễn biến nhanh chậm tùy theo tính chất công việc Khi lưới còn ngoài khơi, động tác kéo lưới chậm, tiết tấu nhịp điệu câu hát cũng chậm Khi lưới gần bờ, tốc độ kéo lưới nhanh, nhịp điệu hát, tiết tấu cũng nhanh mạnh hơn

Ở Hò giã gạo Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và một số địa phương Nam Trung Bộ: câu xô gồm 6 tiếng à ơ à à ơ à, thể hiện động tác muốn nhấc cao cái chày lên trước khi đặt nó về chỗ cũ (Nguyễn Xuân Khoát) Tên các giai đoạn hò cũng tương ứng các giai đoạn của một cuộc giao duyên nam nữ hơn là tính chất công việc lao động: hò mời, hò ân tình, hò xa cách

Như vậy, ở nhiều bài hò lao động, yếu tố trữ tình luôn đan xen thể hiện chức năng giao lưu tình cảm, có khi lấn áp chức năng phối hợp động tác lao động ban đầu của tiểu loại

+ Bài ca nghề nghiệp nói về nghề nghiệp truyền thống như bài ca về lịch lao động của nghề làm ruộng, nghề chài lưới

-Tháng chạp là tiết trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

Tháng ba thì đậu đã già,

Ta đi ta hái về nhà phơi khô

Trang 19

Tháng tư đi tậu trâu bò,

Ðể ta sắm sửa làm mùa tháng năm

+ Ca dao ru con

Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến Trên mỗi miền có một điệu hát ru riêng biệt phù hợp với giọng nói, ngôn ngữ địa phương Lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn Ca dao ru con rất gần gũi, thể hiện rất rõ chức năng thực hành xã hội của ca dao

-Ru em em théc cho mùi,

Ðể mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu

Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh

- Con cối đá nằm trong cối đá, Con chim đa đa đậu nhánh đa đa, Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy chồng xa

Mai sau cha yếu mẹ già

Chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng ?

+ Ca dao nghi lễ, phong tục

-Lạy trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cày

Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân

-Ở gần hay là ở xa, Cách phủ cách huyện hay là cách sông ?

Xa xôi cách mấy quảng đồng,

Ðể anh bỏ việc bỏ công đi tìm

+ Ca dao trào phúng, bông đùa

+ Ca dao trữ tình

Trang 20

1.2 Ca dao về tình yêu lứa đôi

Qua các định nghĩa và phân loại trên, chúng ta thấy, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa thơ và ca dao Nhưng với ca dao Việt Nam thì ta có thể khẳng định ngay rằng: ca dao là kho tàng văn hoá của người Việt, được xem là viên ngọc lấp lánh, thời gian qua đi, viên ngọc càng thêm toả sáng Qua ca dao, giá trị truyền thống và tâm hồn người Việt Nam được thể hiện và lưu giữ một cách rõ nét nhất Trong các chủ đề được ca dao đề cập đến thì tình yêu đôi lứa là một đề tài rất rộng và có nhiều hình thức diễn bày

Bằng những tình yêu lành mạnh, tình cảm tự nhiên được miêu tả một cách sinh động trong ca dao Việt Nam Cũng qua đó đã cho ta thấy sự hà khắc của lễ giáo phong kiến trước đây Không những thế, một số bài ca dao

đã phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của các bạn thanh niên thời bấy giờ

Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất và cũng rõ nhất trong ca dao - tục ngữ, vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thuở của kiếp người Trong ca dao Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như đòn nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những dòng sông Trong sự phát triển ấy, tình yêu được phát triển theo các giai đoạn sau:

1.2.1 Ca dao tỏ tình

Đời sống được gắn liền với những hoạt động nông nghiệp thì điều kiện để tình yêu nảy nở và gắn liền với những hình ảnh đồng ruộng, cái cày, con trâu v.v Khi những buổi chiều tà, lúc mặt trời đã gác non đoài, với những đoàn trai gái trong làng vác cày, rửa hái để trở về mái nhà tranh sau một ngày làm việc Những làn khói cơm chiều lan tỏa vươn trong giải mây tím hòa lẫn với tiếng hát của trẻ mục đồng đang dắt trâu trở về, đã phác họa cho chúng ta hình ảnh một miền quê êm ả thanh bình

Trên trời dưới nước, thấp thoáng sau lũy tre xanh, quanh co bên bờ đê ấp yêu ruộng đồng, rì rào bên sóng lúa chín vàng, mênh mang trong tiếng sáo diều

Trang 21

vi vu tất cả những hình ảnh đẹp đó đã gợi nên những vần thơ trao hỏi ý tình giữa trai gái trong làng Có nhiều cách tỏ tình, có thể là xa xôi, vòng vo, đưa đẩy.v.v nhưng tất cả đều thể hiện được tính chất lãng mạng, yêu đời

Hãy nghe chàng trai mở đầu, hỏi người thôn nữ bằng một câu hỏi ỡm ờ, gợi

ý xa xôi:

Hôm qua tát nước đầu đình

Để quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Người con trai thật sự chưa chắc đã để quên cái áo, nhưng chàng cố ý gài người thôn nữ vào thế phải trả lời khi tỏ ý ngờ rằng nàng đã giữ cái áo của mình

để làm tin Cũng có khi chỉ là một câu hỏi bâng quơ nhưng diễn đạt bằng những câu thơ thật trữ tình của một đêm trăng sáng, chàng trai có nhiều hi vọng để được cô gái trả lời:

Hỡi cô tát nước đầu làng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Hoặc có lúc chàng trai mạnh dạn hơn:

Cô kia cắt cỏ một mình Cho tôi cắt với chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng

Không phải lúc nào các chàng trai cũng tỏ tình một cách mạnh bạo như vậy, có những lúc các chàng trai ấy tỏ tình, dò hỏi một cách nhẹ nhàng hơn và

Trang 22

Trong khi các chàng trai thường mạnh bạo và chủ động hơn trong việc tỏ tình làm quen thì các cô gái không phải lúc nào cũng e thẹn yên lặng, mà đôi khi cũng rất bạo dạn để ngỏ lời trước:

Hỡi anh đi đường cái quan

Dừng chân đứng lại em than vài lời

Sự bạo dạn cũng xuất hiện nơi các cô gái ấy những đầy hồn nhiên:

Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu

Cử chỉ mời trầu đó không có tính cách lơi lả, mà chỉ chứng tỏ rằng người thôn nữ muốn sống thành thật với chính mình Hai chữ “cau xanh” chỉ mối tình son trẻ, hai chữ “xơi trầu” có ý nghĩa trân trọng Và bốn chữ ghép lại thành hai chữ “trầu cau” chỉ sự mong ước cho một mối duyên Tấn Tần Người con trai chắc chắn không thể nào không nhận miếng trầu mời bởi người con gái trong cái cung cách lịch sự ấy

Những lời tỏ tình của các cô gái đôi khi cũng mang nhiều nỗi niềm, bởi không biết lời tỏ tình ấy của mình không biết có được đáp trả lại hay không, hoặc sợ tình yêu của mình đến chậm chăng; nên đôi lúc các cô cũng quanh co rào trước đón sau:

Anh đà có vợ con chưa

Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên

Mẹ già anh ở nơi nao

Để em tìm vào hầu hạ thay anh

Những câu tỏ tình như đã kể trên thường chỉ là những câu mà trong lúc vắng vẻ, hai người đã hỏi ý cùng nhau Tất cả đều là những câu mộc mạc chân tình, nhưng không kém vẻ lãng mạn trữ tình

Trong những dịp hội hè có hát đối giữa hai nhóm trai gái của hai làng kế cận, những câu tỏ tình được gợi ra thật nhẹ nhàng bóng bẩy, như có chất thơ Bên con trai hỏi:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Trang 23

Bên con gái đáp:

Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Ngọc còn ẩn bóng cây tùng Thuyền quyên còn đợi anh hùng sánh vai

Người con gái cũng như bông hoa còn đang giấu nhụy để chờ ngày khoe sắc với chàng bướm lang quân

1.2.2 Ca dao tương tư - yêu đương

Sau giai đoạn tỏ tình là đến giai đoạn tương tư – yêu; và đây là quãng thời gian thơ mộng nhất cũng như đầy thử thách nhất Nào yêu thương, nào nhớ nhung, nào giận hờn, nào xa cách, nào đợi chờ

Hãy nghe chàng và nàng thủ thỉ bên nhau những lời âu yếm:

Thương anh, em để ở đâu

Để trong cuốn sách để đầu trang thơ Thương em, anh để ở đâu

Để trong tay áo lâu lâu lại dòm

Khi phải tạm xa nhau, chàng trai luyến tiếc những giây phút cận kề:

Còn đêm nay nữa mai đi Lạng vàng không tiếc, tiếc khi ngồi kề

Trời đã sáng, những gặp gỡ hàn huyên đêm qua giờ chỉ còn là kỷ niệm mong manh để làm hành trang cho cuộc đăng trình Còn nàng thôn nữ thì cũng nức nở trong ngấn lệ đầy vơi:

Trang 24

Có đêm thơ thẩn một mình

Ở đây thức cả năm canh rõ ràng

Có đêm tạc đá ghi vàng Ngày nào em chả nhớ chàng, chàng ơi

Đi đâu, làm gì, nàng đều cảm thấy nỗi nhớ đeo đẳng và vương dấu tích khắp nơi khiến xao lãng cả công việc thường ngày:

Chiều chiều mang giỏ hái dâu

Hái dâu chả hái, nhớ câu ân tình

Những nhớ nhung đó đã đong đầy thêm tình yêu, để khi gặp lại thì hai người vội vã ước hẹn cho những mộng ước mai sau:

Nàng thì:

Ước gì chung mẹ chung thầy

Để em giữ cái quạt này làm thân

Và tình tứ hơn nữa:

Chải đầu chung cái lược ngà Soi gương chung cả cành hoa giắt đầu

Còn chàng thì cũng dùng cái quạt để xẻ chia hương nồng:

Quạt này anh để che đầu Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này

Hay vẽ ra những âu yếm trang trọng mà chàng sẽ dành cho nàng:

Ước gì ta lấy được nàng

Để ta mua gạch Bát Tràng về xây Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Thật là cao sang, cầu kỳ và thơ mộng Rồi thì cuối cùng cả hai cùng cầu nguyện cho một ngày vui mau pháo đỏ nhuộm đường:

Nấu chè van vái Nguyệt hà Khiến cho sum hiệp một nhà phụng loan

Trang 25

1.2.3 Ca dao thề nguyền

Tình yêu vốn có nhiều cung bậc, có buồn vui, ngọt bùi, đắng cay…và cũng

có sự bất hạnh nữa Nếu tâm hồn con người có bao nhiêu “nốt nhạc thăng trầm” thì tình yêu cũng thế! Và như vậy, bên cạnh những lời tỏ tình, trao duyên không thể thiếu, thì những lời thề nguyền gắn bó keo sơn lại càng không thể thiếu được Nó được xem như là chất keo dính, là một sự khẳng định cho tình yêu đôi lứa Lời thề nguyền ấy nhằm thể hiện ý chí, nghị lực của hai bên nhằm làm động lực vượt qua chông gai thử thách để mong ước được đến với nhau Nói khác hơn, lời thề nguyền ấy có tính chất lằm tăng sức mạnh cho hai người trong việc hướng về lý tưởng cả hai cùng đang thêu dệt

Sau những lần “e ấp làm quen”; sau những lời tỏ tình vừa dễ thương, hóm hỉnh, hài hước, thông minh, tài tình, táo bạo và cũng không kém phần tha thiết như thì cả hai cùng hướng về một tương lai thật đẹp Để củng cố niềm tin và tăng thêm sức mạnh, cả hai cùng muốn thể hiện tấm chân tình của mình; và những lời thề đã được thốt ra

Chàng trai nói một cách mạnh mẽ:

Yêu nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua Yêu nhau chẳng ngại đường xa Một ngày không đến thì 3-4 ngày”

Tình yêu là tâm sự muôn đời và tâm lý chung của những người đang yêu, là niềm khao khát gìn giữ cho tình yêu bất tử Ca dao xưa cũng mang trong mình tinh thần nhân bản ấy, khi có rất nhiều câu, bài thể hiện ước nguyện gắn kết của tình yêu chung thuỷ trọn đời Và cái đích cuối cùng mà những lời thề nguyền hướng tới: ấy là khát khao một tình yêu chung thuỷ, gắn bó keo sơn, một sự gắn kết bền vững giữa những trái tim yêu thương Nên câu ca dao sau mang đậm ý nghĩa ấy:

Nước non non nước khơi chừng,

Ái ân đôi chữ xin đừng xa nhau

Hay:

Trang 26

Thương nhau tạc một chữ tình Trăm năm thề quyết bạn mình có nhau

Hoặc:

Cũng liều cắn ớt nhai gừng Chua cay mặn ngọt, ta đừng quên nhau

Có quan niệm cho rằng, khi yêu người con gái thường hay nhạy cảm, tình yêu của họ mãnh liệt đến vô cùng Cho nên nhu cầu gắn kết hoặc mong muốn một tình yêu bất diệt luôn thường trực trong họ:

Trót lời đã bén duyên chàng

Dù cho nát đá phai vàng mới thôi Hòn đá cách Hàn xếp đổ lò nôi Cạn lòng con sông cái

Thì tôi mới quên nghĩa chàng”

Hay:

Một lời thề không duyên thì nợ Hai lời thề không vợ thì chồng

Ba lời thề khơi núi lấp sông

Em quyết theo anh đi cho trọn đạo Kẻo luống công anh chờ

Có khi thề nguyền một cách quyết liệt dứt khoát như một sự kiên định về tình yêu chung thuỷ suốt đời không đổi thay

Chừng nào núi Bụt hết cây Lại Giang hết nước, dạ này hết thương

Cây núi Bụt, nước sông Giang thì không thể nào hết và không thể xác định hay cân, đo, đong, đếm được Và như thế, đem tình cảm của chính mình ra mà thề nguyền là một minh chứng rõ nhất, đáng quý nhất của tình yêu đôi lứa.Thứ tình cảm ấy là tình cảm gắn cốt ghi tâm, khắc sâu vào trong da thịt của người con gái Dù cho vật đổi sao dời, dù cho thế giới xoay chuyển, vận thế đổi thay

nó cũng không hề xê dịch

Trang 27

Vì thế:

Trăm năm lòng gắn dạ ghi

Dù ai đem bạc đổi chì cũng không Trăm năm quyết chí một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai Dầu cho đá nát vàng phai Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào Trăm năm không bỏ người chồng Vải thưa nhuộm lấy màu đen Vải thưa mặc vải màu xinh khen màu Trăm năm tạc một chữ đồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng cũng không Trăm năm trăm tuổi một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai…

Người con gái thề nguyền trong tình yêu là vậy Còn chàng trai thì sao? Chàng trai cũng mạnh mẽ không kém, dù biết rằng trong tình yêu không có khái niệm: ai yêu ai nhiều hơn Chính vì vậy, để đáp lại ân tình của người con gái, chàng trai thường đưa ra những lời thề thốt, hứa hẹn một tương lai cho mối tình của họ

Chừng nào cho sóng bỏ gành

Cù lao bỏ biển, anh đành bỏ em Bao giờ cạn lạch Đồng Nai Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền

Biển đông sóng gợn cát đùa Sánh đôi không đặng lên chùa anh tu

Hay:

Chừng nào hòn chữ bể tư Cửa Nha Trang cạn nước, anh mới từ nghĩa em

Và cũng như người con gái, chàng trai đem cả tính mạng của mình ra để thề nguyền

Trang 28

Cùng nguyền một tấm lòng son Anh dẫu có phụ keo sơn có hồi Sống dương gian hai đứa hai nơi Thác xuống âm phủ cũng lời thề xưa

Lời thề nguyền của chàng trai không chỉ là minh chứng cho tình yêu chung thuỷ của chàng trai đối với người con gái ở kiếp này, mà sức mạnh của tình yêu

nó làm cho lời thề nguyền ấy có sức lan toả đến cả kiếp sau và mãi mãi Chính

vì vậy mà ta có thể bắt gặp những câu ca dao thể hiện sự thề nguyền chung của hai người; lời thề đó không thể tách biệt rõ ràng ai thề với ai, bởi lúc này cả hai người con trai và người con gái như hoà làm một, ở họ chỉ còn chỗ cho một tiếng nói chung Đó là tiếng nói của tình yêu:

Thương nhau cắt tóc mà thề Khó nghèo cũng chịu chớ hề bỏ nhau Thương nhau tạc một chữ tình Trăm năm thề quyết, bạn mình có nhau

Đó là lời nhắn nhủ của đôi lứa yêu nhau

Nước non non nước khơi chừng

Ái ân đôi chữ xin đừng xa nhau Trăm năm lòng gắn dạ ghi Dầu ai đem bạc đổi chì mặc ai Trăm năm ai chớ bỏ ai

Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim

Có khi trong lời thề nguyền ấy, vừa là một sự nhắc nhở, vừa có phần khuyên răn, song hết sức ý nhị, tinh tế mà chàng trai và cô gái thầm gửi đến nhau Nó như một bức thông điệp nhỏ về tình yêu đôi lứa vậy:

Giếng khơi gầu múc lưng chừng Nếu mà vụng liệu xin đừng trách đây Cầm đàn mà bỏ quên dây

Bỏ công ao ước, bỏ ngày ước ao Sông sâu em sẽ cắm sào

Trang 29

Miếu thiêng em sẽ tìm vào cắm nhang

Vì dù không lấy được này Mang thân đi xuống suối vàng cho xong Yêu nhau cho trọn chữ tròn

Kẻo mai thẹn với nước non ở đời Thà rằng thác xuống giếng khơi Còn hơn sống ở trên đời xa nhau…

Ta nhận thấy trong ca dao tình yêu yếu tố vĩnh cửu của tình yêu là nhu cầu của mọi kẻ yêu đương Dưới cặp mắt của họ, những con số tưởng như khô cằn, cứng nhắc bỗng trở nên mềm mại xiết bao, và một điều tưởng như không thể nó cũng đã đi vào trong những lời thề nguyền

Một thuyền, một bến, một dây Ngọt bùi ta hưởng, đắng cay chịu cùng

Bài ca dao nghe như một khúc tâm tình Phải chăng đó là lời thủ thỉ ân tình của đôi lứa đang yêu, lời thề nguyện về một tình yêu thuỷ chung, bền chặt

1.2.4 Ca dao hận tình

Khi bao nhiêu mộng ước không thành, đôi lứa không đến được với nhau thì một trong hai trách móc, hận thù nhau;hoặc đã đến được với nhau nhưng không tìm thấy được hạnh phúc trong đời sống hôn nhân như những mộng ước thật đẹp

mà hai người trước kia hằng mơ ước Hận trách đó, có khi trách móc ông trời, trách móc ông Tơ bà Nguyệt, ông mai bà mối và luôn có một thể thức nhất định: trách người…trách ai… tiếc công.v.v

Một tình yêu đẹp với bao viễn cảnh nên thơ cả hai người đang hướng đến tại sao đến đây trở nên hờn trách, hận thù với nhau như vậy? Nếu là một tình yêu đi đến kết thúc hôn nhân, cả hai cùng cố gắng xây dựng một cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc Hãy nhìn những hình ảnh thật đẹp của một đôi vợ chồng luôn có nhau trong cuộc sống:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Trang 30

Hình ảnh đó đã phản ảnh lời cùng nhau hứa hẹn khi đang chuẩn bị cho

cuộc hôn nhân: Làm sao nên nghĩa phu thê/ Đó chồng đây vợ ra về có đôi

Hoặc, sự hòa thuận xẻ chia gánh nặng đường đời:

Thuận vợ thuận chồng

Tát bể đông cũng cạn

Nhưng để đi đến hạnh phúc ấy, cả hai vợ chồng đều phải nương cậy và nhường nhịn lẫn nhau:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau

Nhất là người vợ, với ảnh hưởng của nền lý luận đạo Nho, đạo Khổng:

Chồng ta áo rách ta thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người

Chiều chồng và lo lắng món ăn thức uống cho chồng cũng là đức tính của người phụ nữ phương Đông Họ cảm thấy đó là niềm vui, là bổn phận tự nguyện

và xa hơn nữa, là hạnh phúc:

Đốt than nướng cá cho vàng

Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi

Hoặc Dẫu cho đá nát vàng phai

Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào

Nếu một tình yêu mà do sự ngăn cấm của cha mẹ hay bị chèn ép nặng nề bởi những lễ giáo phong kiến; cụ thể là con cái không có được quyền quyết định trong việc hôn nhân mà tùy vào quyết định của các bậc làm cha làm mẹ thì mộng ước vỡ dẫn đến trách hận nhau:

Mẹ em ham thúng xôi dền

Tham con lợn béo tham tiền Cảnh Hưng

Bây giờ kẻ thấp người cao

Như đôi đũa lệch so sao cho bằng

Sự phụ bạc là một đặc tính luôn tồn tại trong tình yêu, nó có thể là chủ quan hoặc khách quan Nhưng bằng cách nào đi chăng nữa thì nỗi đau để lại một

Trang 31

trong hai người thì vô cùng lớn Sự tiếc nuối cho những gì cả hai cùng vun đắp, nhưng bây giờ đã thành mây khói, hoặc có người khác xuất hiện, hưởng trọn thành quả đó

Tiếc công anh đắp đập be bờ

Để ai quậy đó mang lờ đến đơm

Hoặc

Tiếc công đan giỏ bỏ cà Giỏ thƣa cà lọt công đà uổng công Cầm vàng mà lội qua sông

Vàng rơi không tiếc tiếc công cầm vàng

Hay, sau khi đã thành vợ thành chồng thì người chồng bỗng sinh thói

“trăng hoa”, bỏ bê vợ con trong nỗi cô đơn mong chờ:

Gió đƣa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

Cũng đôi khi do tại người chồng bỗng nhiên va phải những thói hư tật xấu như

cờ bạc hay rượu chè khiến hạnh phúc gia đình chỉ còn là hình ảnh đã phôi pha:

Chồng em nó chẳng ra gì

Tổ tôm xốc đĩa nó thì chơi hoang

Và, những lời thở than, hận trách về những cuộc hôn nhân không đẹp mà hiện tại chỉ là một gánh nặng Lời than trách ấy không phải của một riêng ai, mà là cả hai cùng than trách khi không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân:

Gái có chồng nhƣ gông đeo cổ

Trai có vợ nhƣ nhợ buộc chân

Hay:

Chồng gì anh, vợ gì tôi Chẳng qua lá cái nợ đời chi đây

Tình yêu và hôn nhân cũng như tất cả các hiện tượng trong cuộc đời đều có tính hai mặt Tuy nhiên, cái không đẹp đó không phải là tất cả, mà chỉ là một phần nhỏ Cuộc sống của chúng ta là sự nỗ lực, cố gắng khắc phục vượt qua nó Chính việc nỗ lực ấy càng làm cho cuộc sống chúng ta có ý nghĩa và tốt đẹp

Trang 32

hơn Qua ca dao, tình yêu được thể hiện một cách lãng mạn và trữ tình, những lời tỏ tình thật dễ thương và ý vị nhưng không kém phần mạnh mẽ

Thấy em đẹp nói đẹp cười Đẹp người đẹp nết ra vào đoan trang Vậy nên anh gửi thư sang

Dù sao anh quyết lấy nàng mà thôi

Khi đã thành vợ thành chồng thì các đức tính nhường nhịn, hòa thuận và thủy chung được đề cao và thường xuyên nhắc nhở nhau trong cuộc sống; nhằm hướng đến một cuộc sống ấm no hạnh phúc

Em ơi chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau

Tuy không phải mối tình nào cũng kết thúc có hậu, nhưng không phải vì thế mà con người mất niềm tin vào cuộc sống Chính tình yêu và bao mộng ước thật đẹp nơi tương lai là động lực, là nguồn sống để con người vượt qua và hướng đến cái đẹp ấy Và, con đường đi nếu toàn là thảm đỏ thì người đi sẽ không ý thức được bước chân của mình như thế nào; con đường đi ấy phải có nhiều chông gai để từ đó phát huy được sự nỗ lực, tinh thần cầu tiến của mỗi con người Cho nên, dù có trắc trở, hờn trách nhau thế nào thì tình yêu vẫn là một tiếng nói khát vọng hạnh phúc của con người từ xưa cho đến ngàn sau, mà điều

ấy đã được ông cha ta thể hiện một cách rõ nhất qua những câu ca dao thật đẹp chan chứa tình người

Trang 33

Chương 2

ĐẠI TỪ VÀ GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC ĐẠI TỪ TIÊU BIỂU

TRONG CA DAO VỀ TÌNH YÊU LỨA ĐÔI 2.1 Khái niệm về từ loại đại từ, các đại từ trong Tiếng Việt

2.1.2 Phân loại đại từ

- Đại từ xưng hô: Là từ được người nói dùng để tự chỉ mình hay chỉ người khác khi giao tiếp

Các ngôi của đại từ xưng hô:

+ Ngôi thứ nhất: tôi, tao, tớ, chúng tao, …

+ Ngôi thứ hai: mày, mi, chúng mày, chúng bay, …

+ Ngôi thứ ba: y, hắn, nó, chúng nó, họ, …

Ngoài các đại từ xưng hô phổ biến còn có các danh từ làm từ xưng hô Ví

dụ như trong quan hệ gia đình như ông bà, anh, chị, em, con, cháu; trong các nghề nghiệp hoặc chức vụ riêng như bộ trưởng, thầy giáo, luật sư…

- Đại từ sử dụng với mục đích hỏi

- Đại từ thay thế các từ khác nhằm tránh việc lặp từ hoặc không muốn đề cập trực tiếp

2.1.3 Một số lưu ý khi dùng đại từ

- Trong Tiếng Việt, có những đại từ vừa có thể được dùng để chỉ ngôi thứ nhất, vừa có thể được dùng để chỉ ngôi thứ hai

Ví dụ:

Mình về mình có nhớ ta (mình: ngôi thứ hai – trỏ người nghe)

Ngày đăng: 17/07/2023, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Diệu, “Sống với ca dao miền Nam Trung Bộ”, Lƣợng thông tin và những kĩ sƣ tâm hồn ấy, NXB Tác phẩm Mới, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với ca dao miền Nam Trung Bộ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Tác phẩm Mới
Năm: 1978
2. Cao Huy Đỉnh, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
3. Krapxốp N.I, Thi pháp folklore, M, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp folklore
Tác giả: Krapxốp N.I
Nhà XB: M
Năm: 1974
4. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
5. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (Chủ biên), Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn Hóa – Thông tin, H., 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Văn Hóa – Thông tin
Năm: 1995
6. Nguyễn Xuân Kính, Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, H., 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1992
7. Hêghen, Mĩ học, Tập 1, 2 (Phan Ngọc dịch), NXB Văn học, H., 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học, Tập 1, 2
Tác giả: Hêghen
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
8. C. Mác và F. Ăngghen, Hệ tư tưởng Đức, NXB Sự thật, H., 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ tư tưởng Đức
Tác giả: C. Mác, F. Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1962
9. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Tái bản lần thứ 7) NXB Khoa học xã hội, H., 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (Tái bản lần thứ 7)
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1978
10. L ê Chí Quế (Chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: L ê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
11. Vũ Anh Tuấn, Giáo trình văn học dân gian, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học dân gian
Tác giả: Vũ Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
12. Hoàng Tiến Tựu, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tiến Tựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
13. Phạm Thu Yến, Những thế giới nghệ thuật ca dao, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật ca dao
Tác giả: Phạm Thu Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
14. Đỗ Bình Trị, Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
15. Đỗ Bình Trị, Những đặc điểm thi pháp các thể loại Văn học dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm thi pháp các thể loại Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đỗ Bình Trị
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
16. Mai Ngọc Chừ, Ngôn ngữ ca dao, Tạp chí Văn học, số 2, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1991
17. Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên), Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 1 - quyển 1, 2, NXB Đà Nẵng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 1 - quyển 1, 2
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w