NỘI DUNG
Thơ là một hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu, trong đó từ ngữ được chọn lọc và sắp xếp logic để tạo ra hình ảnh và gợi cảm âm thanh, mang đến tính thẩm mỹ cho người đọc và người nghe.
Theo Chế Lan Viên, thơ là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc, tránh khô khan hoặc nông cạn Sóng Hồng nhấn mạnh thơ là hình thái nghệ thuật cao quý, kết hợp tình cảm mãnh liệt và lý trí, diễn đạt qua hình ảnh đẹp và nhạc điệu Mỗi tâm hồn thơ có xúc cảm và quan điểm riêng, thể hiện qua ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, và các biện pháp tu từ.
Thơ có thể được phân loại dựa trên nội dung, phương thức tái hiện đời sống, hoặc cách tổ chức văn bản ngôn từ Dựa vào nội dung và phương thức tái hiện, ta có thơ tự sự, thơ triết lý Theo cách tổ chức văn bản ngôn ngữ, thơ được chia thành thơ tự do và thơ cách luật Trong văn học Việt Nam, các thể thơ cách luật quen thuộc bao gồm thơ tám chữ, thơ năm chữ, song thất lục bát, thơ lục bát, và các thể thơ Đường luật như thất ngôn tứ tuyệt Các thể thơ cách luật được phân chia theo số tiếng trong mỗi dòng, số dòng, và quy tắc liên kết các dòng.
THƠ VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
Thơ và đặc điểm thơ viết cho trẻ mầm non
Thơ là một hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu, trong đó từ ngữ được chọn lọc và sắp xếp logic để tạo ra hình ảnh và gợi cảm âm thanh, mang đến tính thẩm mỹ cho người đọc và người nghe.
Theo Chế Lan Viên, thơ là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc, tránh khô khan hoặc nông cạn Sóng Hồng nhấn mạnh thơ là hình thái nghệ thuật cao quý, kết hợp tình cảm mãnh liệt và lý trí, diễn đạt qua hình ảnh đẹp và nhạc điệu Mỗi tâm hồn thơ có xúc cảm và quan điểm riêng, thể hiện qua ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu, và các biện pháp tu từ.
Thơ có thể được phân loại dựa trên nội dung, phương thức tái hiện đời sống, hoặc cách tổ chức văn bản ngôn từ Dựa vào nội dung và phương thức tái hiện, ta có thơ tự sự, thơ triết lý Theo cách tổ chức văn bản ngôn ngữ, thơ được chia thành thơ tự do và thơ cách luật Trong văn học Việt Nam, các thể thơ cách luật quen thuộc bao gồm thơ tám chữ, thơ năm chữ, song thất lục bát, thơ lục bát và các thể thơ Đường luật Ngày nay, thơ tự do và thơ văn xuôi ngày càng được sử dụng rộng rãi bên cạnh các thể thơ truyền thống.
Thơ viết cho trẻ em mang đặc trưng thể loại, đồng thời có nét riêng phù hợp với tư duy trẻ thơ và mục đích giáo dục.
Thơ cho trẻ em tập trung vào những chủ đề gần gũi như thiên nhiên, gia đình, bạn bè, và động vật Thông qua đó, thơ giúp trẻ hiểu về tình bạn, sự dũng cảm, và đôi khi cả những vấn đề lớn về Tổ quốc và dân tộc Những bài thơ giản dị này mang đến cho trẻ những ý niệm ban đầu về giá trị văn hóa, đạo đức và khát vọng sống.
Để sáng tác thơ cho trẻ em thành công, nhà thơ cần có sự quan sát tinh tế, cách nghĩ dí dỏm và tình yêu mến trẻ thơ Thơ cho trẻ em đòi hỏi trí tưởng tượng phong phú, cái nhìn trong trẻo về thế giới xung quanh, và một tâm hồn yêu trẻ Ngôn ngữ thơ cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, góp phần phát triển vốn từ và giáo dục toàn diện cho trẻ, thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh và nhân hóa.
Thơ viết cho trẻ em cần mang tính giáo dục cao, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Đồng thời, thơ cần cung cấp vốn từ phong phú, giúp trẻ nhận thức sự vật, hiện tượng một cách toàn diện.
Phạm Hổ và thơ viết cho thiếu nhi
Nhà thơ Phạm Hổ có bút danh là Hồ Huy Ông sinh ngày 28 tháng 11 năm
1926, mất ngày 04 tháng 05 năm 2007 Quê gốc của nhà thơ ở xã Nhân An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định Ông là thành viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam (1957)
Phạm Hổ may mắn gặp được những bậc thầy nghệ thuật từ sớm, ông không chỉ sáng tác thơ và truyện mà còn lấn sân sang âm nhạc và hội họa, minh chứng là triển lãm tranh đầu tiên năm 1995 tại Hà Nội Tranh của ông, tựa như thơ, đều chan chứa tình yêu đời, yêu người và yêu thiên nhiên Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng học hội họa từ danh họa Nguyễn Đỗ Cung và được "đặc ân" theo hầu thầy.
Tính từ tập truyện đầu tiên “Em tre” (1949) đến năm 1933 Phạm Hổ đã có
Phạm Hổ là một nhà văn đa tài với nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi, bao gồm 11 tập thơ, 9 tập truyện và 4 vở kịch, đồng thời ông cũng có 8 tập thơ văn viết cho người lớn, khẳng định sự nghiệp văn chương phong phú và đa dạng của mình.
Hổ hoạt động văn nghệ ở khu V Thơ ông đƣợc in ở hai tập “Em vẽ Bác Hồ”
Hai tập sáng tác "(1948)" và "Lúa non" (1954) đánh dấu sự khởi đầu trong sự nghiệp văn chương của nhà văn, đồng thời hé lộ thiên hướng viết cho thiếu nhi, một hướng đi đầy tiềm năng và ý nghĩa.
Nhà văn đã đạt được thành công lớn trong lĩnh vực văn thơ thiếu nhi, tạo dựng vị thế vững chắc trong nền văn học thiếu nhi hiện đại Việt Nam Các tác phẩm tiêu biểu dành cho độc giả nhỏ tuổi bao gồm "Bê và sáo", "Viết thư cho cha", "Chuyện hoa chuyện quả", "Chú bò tìm bạn", và "Từ không đến mười".
Năm 1966, Nhà Xuất bản Kim Đồng giới thiệu tập "Chú bò tìm bạn" của Phạm Hổ, tuyển chọn những bài văn và thơ hay nhất từ các truyện xuất bản từ 1955 đến 1995, đã được dịch và giới thiệu ở nhiều quốc gia như Nga, Ukraina, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hungari, khẳng định giá trị văn học vượt thời gian và không gian.
Phạm Hổ là một nhà văn thành công trong lĩnh vực văn học thiếu nhi, nổi bật với thơ giàu trí tưởng tượng, vui tươi và dễ nhớ, phù hợp với tâm lý trẻ thơ Thơ của ông tái hiện các trò chơi dân gian và mang đến những câu chuyện độc đáo về thiên nhiên và cuộc sống, góp phần bồi dưỡng nhân cách cho trẻ từ lứa tuổi mầm non Đề tài thơ Phạm Hổ tập trung vào thế giới xung quanh trẻ, với những hình ảnh quen thuộc như con vật và đồ vật hàng ngày, được thể hiện một cách dung dị và tự nhiên.
Ngòi bút Phạm Hổ linh hoạt chuyển đổi góc nhìn và giọng điệu, từ trẻ thơ đến người lớn, tạo nên thế giới trẻ thơ phong phú và gần gũi trong sáng tác của ông Bút pháp này vừa tái hiện trò chơi, sinh hoạt, học hành, vừa dẫn dắt suy tưởng, giúp tâm hồn các em bay bổng hơn.
Phạm Hổ là một nhà thơ có nhiều tìm tòi trong nghệ thuật thể hiện, với thơ đa dạng về hình thức, nhạc điệu vui tươi và ngôn từ trong sáng Thơ ông sử dụng các hình thức hỏi - đáp, định nghĩa và trích dẫn, trong đó hình thức hỏi - đáp xuất hiện nhiều Phạm Hổ khai thác nét tính cách hay hỏi của trẻ, một hệ quả tất yếu của sự tò mò và ham hiểu biết Trong thơ hỏi - đáp, ông sử dụng nhân vật loài vật hoặc con người để nêu ra vấn đề trẻ quan tâm và đưa ra câu trả lời phù hợp, với giọng thơ nhẹ nhàng, giàu sức thuyết phục.
Thơ Phạm Hổ là người bạn đồng hành không thể thiếu của tuổi thơ, mang đến niềm vui và giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh Những bài thơ đi cùng năm tháng đã trở thành một phần kí ức đẹp đẽ của nhiều thế hệ, khơi gợi sự tò mò và tình yêu với cuộc sống.
Bài thơ “Chú bò tìm bạn” đƣợc dùng để đặt tên cho tập thơ trên – viết từ năm 1952, khá tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Hổ
Nhà văn đã xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng thuộc nhiều thể loại, bao gồm thơ như "Những ngày thân ái" (1957) và "Ra khơi" (1960), truyện ngắn "Vườn xanh" (1961), tiểu thuyết "Tình thương" (1964), và các tác phẩm dành cho thiếu nhi như "Chú bò tìm bạn" (1970) và "Ngựa thần từ đâu đến" (1986) Đặc biệt, bộ sách "Chuyện hoa, chuyện quả" (1971-1994) gồm 6 tập là một dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác của ông, cùng với "Cất nhà giữa hồ" (1995) và "Nàng tiên nhỏ thành ốc".
1980, tái bản 1993) và nhiều tập thơ, tập chuyện, tập kịch khác viết cho thiếu nhi
Nhà thơ này đã được vinh danh với nhiều giải thưởng văn học uy tín, trong đó có giải A cho tập thơ "Chú bò tìm bạn" từ cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do TW Đoàn Thanh niên Cộng sản tổ chức, và giải thưởng cho tập thơ "Chú vịt bông", khẳng định vị thế của ông trong văn học thiếu nhi Việt Nam.
Trong giai đoạn 1967-1968, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản đã tổ chức một cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi Tác phẩm "Những người bạn im lặng" đã vinh dự nhận giải chính thức về thơ từ Hội đồng văn học thiếu nhi Hội nhà văn năm 1985 Kịch bản "Nàng nhỏ thành ốc" cũng được trao giải thưởng về kịch cho thiếu nhi từ Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản và Hội nghệ sĩ sân khấu năm 1986.
Phạm Hổ được biết đến là một nhà thơ nhiệt tình viết cho thiếu nhi, dù ông còn là nhà văn, nhà viết kịch và họa sĩ Thơ của ông thường vun đắp tình yêu và trách nhiệm với cuộc sống cho các em, thông qua những hình ảnh gần gũi như cây cỏ, loài vật và con người, từ gia đình đến xã hội.
Dù viết cho thiếu nhi hay người lớn, thơ hay truyện, sáng tác hay phê bình, Phạm Hổ luôn thể hiện một tâm hồn thơ đa dạng, điều này làm nên sự đặc biệt trong các tác phẩm của ông.
Các khái niệm cơ bản
1.3.1 Khái niệm về từ và phát triển vốn từ
Trong cuốn Cơ sở tiếng Việt, Hữu Đạt đã đƣa ra định nghĩa về từ nhƣ sau:
Từ vựng, hay hệ thống vốn từ của một ngôn ngữ, là tập hợp toàn bộ các từ ngữ cố định, được tổ chức theo một hệ thống nhất định [1; 85], đóng vai trò then chốt trong giao tiếp và biểu đạt.
Phát triển từ ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi là quá trình giúp trẻ mở rộng vốn từ vựng, nắm vững ý nghĩa của từ và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong giao tiếp hàng ngày (Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức, Nhà Xuất Bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội).
Từ tiếng Việt là đơn vị ngôn ngữ cố định, mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa nhất định, đóng vai trò là đơn vị lớn nhất trong hệ thống ngôn ngữ để tạo thành câu hoàn chỉnh.
Từ là đơn vị của ngôn ngữ Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ Dưới góc độ ngữ pháp học thì từ đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Từ là đơn vị ngôn ngữ độc lập, đóng vai trò cấu thành câu và mang ý nghĩa biểu đạt thông qua sự kết hợp giữa âm thanh và ý nghĩa.
Từ ngữ không chỉ đơn thuần miêu tả sự vật, hiện tượng riêng lẻ mà còn khái quát hóa, biểu thị cả nhóm sự vật, hiện tượng có chung đặc điểm Vì vậy, tính khái quát là một thuộc tính quan trọng của từ ngữ.
Nghĩa của từ là yếu tố cốt lõi của tư duy ngôn ngữ, kết nối từ với ý thức về sự vật và hiện tượng Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non bao gồm việc mở rộng từ mới, hiểu nghĩa của từ, và sử dụng chúng hiệu quả trong giao tiếp.
Phát triển vốn từ cho trẻ là chìa khóa để trẻ nắm vững từ ngữ, hiểu rõ ý nghĩa và ứng dụng linh hoạt trong giao tiếp, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển ngôn ngữ và trí tuệ Vốn từ bao gồm âm thanh, ngữ nghĩa, cấu trúc và cách sử dụng từ trong giao tiếp hàng ngày, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giao tiếp sinh hoạt của trẻ.
Phát âm là yếu tố then chốt, bao gồm việc dạy trẻ các âm vị tiếng Việt, từ vựng (danh từ, động từ, tính từ) và cách phát âm cả câu một cách rõ ràng, đồng thời biểu đạt cảm xúc và thái độ thông qua ngữ điệu, nhấn nhá và kéo dài âm tiết.
Ngữ nghĩa, cách một khái niệm được diễn đạt qua từ ngữ, phát triển theo thời gian khi trẻ em xây dựng vốn từ vựng Ban đầu, ý nghĩa từ ngữ của trẻ khác biệt so với người lớn, nhưng khi lớn lên, trẻ không chỉ sử dụng từ chính xác hơn mà còn nhận thức sâu sắc về ngữ nghĩa và sử dụng chúng một cách sáng tạo.
Ngữ pháp đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết từ ngữ theo quy luật nhất định, giúp trẻ diễn đạt ý nghĩa Kiến thức ngữ pháp bao gồm cú pháp, quy định cách từ liên kết trong câu, và hình thái học, cách sử dụng quy luật ngữ pháp để biểu đạt.
Để giao tiếp hiệu quả, trẻ em cần học cách sử dụng vốn từ vựng một cách thực tiễn, phù hợp với từng tình huống giao tiếp cụ thể Bên cạnh đó, việc diễn đạt thông qua cử chỉ, điệu bộ, giọng nói và vận dụng ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong quá trình giao tiếp của trẻ.
1.3 2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Trẻ mẫu giáo lớn có nhu cầu nhận thức cao, khao khát khám phá thế giới xung quanh Phát triển vốn từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
Bộ máy phát âm của trẻ phát triển theo độ tuổi, kéo theo khả năng phát âm cũng dần hoàn thiện theo từng giai đoạn Do những hạn chế về sinh lý, điều kiện chăm sóc và môi trường ngôn ngữ, trẻ thường gặp khó khăn trong phát âm, vì vậy việc luyện phát âm đúng cho trẻ là vô cùng cần thiết.
Trẻ 5-6 tuổi sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, điều này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển trí tuệ và trải nghiệm của trẻ Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ em sử dụng tiếng mẹ đẻ thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày Vốn từ của trẻ tăng lên đáng kể, đạt khoảng 3000 – 4000 từ, bao gồm danh từ, động từ, đại từ, tính từ, liên từ, đủ để giao tiếp hiệu quả.
Số lƣợng từ tăng dần theo độ tuổi, đến 6 tuổi trẻ đã có hơn 1000 Số lƣợng từ tăng vọt ở trẻ 2-3 tuổi và 48 tháng (4tuổi)
Sự chênh lệch về số lƣợng từ của trẻ trong cùng một năm ở tuổi nhà trẻ (dưới 3 tuổi)
Số lượng từ của trẻ không chỉ phụ thuộc vào độ tuổi mà còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường giáo dục, khả năng nhận thức và sự chủ động của trẻ.
Danh từ và đại từ vẫn chiếm ƣu thế nhƣng tính từ và các loại từ khác cũng đƣợc trẻ sử dụng nhiều hơn, cụ thể:
Một số cơ sở lí luận
1.4.1 Cơ sở tâm lí Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở tuổi mầm non Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ, vẫn tiếp tục phát triển mạnh Con người khác xa con vật nhờ có ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là điều kiện để con người hoạt động và giao lưu Trong hoạt động học tập ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn Ngôn ngữ vừa là công cụ thực hiện hóa tƣ duy, lĩnh hội tri thức vừa nói lên khả năng trí tuệ của con người Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy, nếu trau dồi vốn ngôn ngữ tốt thì sẽ tạo điều kiện cho tƣ duy phát triển tốt Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác Ngôn ngữ đƣợc hình thành rất sớm Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói của trẻ Trẻ có ý thức về ngôn ngữ nhƣng bằng cách bắt chước có tính chất bản năng, trẻ sẽ học được cách nói của những người xung quanh mình
Trẻ mẫu giáo có trí nhớ trực quan hình tượng phát triển mạnh, ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật Đến cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ chủ định phát triển, sử dụng công cụ tâm lí như sơ đồ, biểu đồ Biểu tượng của trí nhớ mang tính khái quát, được sử dụng trong quá trình tưởng tượng.
Ngôn ngữ giúp trẻ điều khiển trí nhớ và hướng sự chú ý một cách tự giác, làm tăng khối lượng và độ bền vững của sự tập trung Ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn có tính chủ định cao hơn, mặc dù các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, ngay cả trong hoạt động trí tuệ.
Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, là "dòng tư duy" không thể tách rời khỏi tư duy và tưởng tượng của con người Trẻ mầm non chủ yếu phát triển tư duy trực quan hành động và hình tượng, do đó ngôn ngữ còn hạn chế so với các lứa tuổi khác Ở tuổi ấu nhi, hoạt động với đồ vật giúp trí tuệ trẻ phát triển nhanh chóng, đặt nền móng cho các hành động định hướng bên trong Đến tuổi mẫu giáo lớn, tư duy của trẻ chuyển từ trực quan hành động sang trực quan hình tượng.
1.4.2 Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, phương tiện giao tiếp cơ bản của cộng đồng Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong phát triển tư duy và truyền đạt văn hóa, lịch sử Nhờ ngôn ngữ, con người trao đổi hiểu biết và kinh nghiệm, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Ngôn ngữ đóng vai trò thiết yếu trong việc xã hội hóa trẻ em, giúp trẻ học tập, vui chơi và bày tỏ nhu cầu Ngôn ngữ hỗ trợ người lớn trong việc chăm sóc, giáo dục và hình thành nhân cách cho trẻ Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được thúc đẩy thông qua các hoạt động đa dạng và ngược lại, ngôn ngữ cần thiết cho mọi hoạt động của trẻ.
Sự phát triển vốn từ của trẻ mầm non, chủ yếu dựa vào ngôn ngữ nói, được hỗ trợ mạnh mẽ thông qua việc áp dụng thơ ca trong quá trình dạy học Thơ ca giúp trẻ mở rộng vốn từ một cách đơn giản và dễ dàng thông qua việc nghe giáo viên đọc.
Trẻ mầm non dễ dàng tiếp thu vần điệu và ngôn ngữ ngộ nghĩnh trong thơ ca, vì vậy cần thiết phải làm giàu vốn từ cho trẻ bằng cách giới thiệu từ mới và giải thích nghĩa của từ khó Việc cung cấp và chính xác hóa vốn từ giúp trẻ hiểu rõ ý nghĩa, từ đó tích cực hóa khả năng sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt hiểu biết về thế giới xung quanh Do đó, trong quá trình chăm sóc và giáo dục, người lớn cần liên tục rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các hoạt động học tập thường xuyên ở mọi lúc, mọi nơi.
Vai trò chung của văn học đối với giáo dục ngôn ngữ cho trẻ
Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất trong tác phẩm văn học, là chất liệu xây dựng hình tượng Tác giả văn học chú trọng chọn lọc, trau chuốt ngôn từ, cách sử dụng câu, và cách biểu đạt để đạt sức biểu đạt cao nhất Ngôn ngữ văn học mang tính sáng tạo, độc đáo và đặc sắc.
Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng và biểu cảm sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến nhận thức và tình cảm của người đọc Đặc biệt, văn học mầm non sử dụng ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu, giàu hình ảnh, tạo chuẩn mực ngôn ngữ cho trẻ học tập và phát triển.
Học văn học giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, đáp ứng nhu cầu giao tiếp và nhận thức, đồng thời rèn luyện phát âm chuẩn bị cho lớp 1.
Văn học mở ra một thế giới từ ngữ phong phú, giúp trẻ em tiếp thu và trau dồi vốn từ vựng một cách chính xác và biểu cảm Qua đó, trẻ học được cách sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo để miêu tả thế giới xung quanh một cách sinh động và hấp dẫn.
Ngôn ngữ văn học có tính chính xác và biểu cảm, là hình mẫu ngôn ngữ giúp trẻ phát triển vốn từ, ngữ pháp và khả năng diễn đạt mạch lạc Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cần tổ chức các hoạt động giao tiếp đa dạng như đóng kịch, kể chuyện và đọc thơ.
Ngôn ngữ văn học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Giáo viên mầm non cần hiểu rõ bản chất và khai thác thế mạnh của ngôn ngữ văn học để giúp trẻ thành thạo hơn trong giao tiếp.
Văn học đóng vai trò quan trọng trong việc giải đáp những thắc mắc của trẻ mầm non về thế giới xung quanh, mở ra cánh cửa khám phá thiên nhiên kì thú và thế giới loài người nồng ấm Các tác phẩm văn học giúp trẻ em tiếp cận và hiểu rõ hơn về những điều mới lạ, kích thích trí tưởng tượng và khả năng tư duy của trẻ Phạm là một trong những tác giả tâm huyết viết cho lứa tuổi này.
Thơ Phạm Hổ, sáng tác chủ yếu cho lứa tuổi mầm non và tiểu học, được nhiều thế hệ độc giả nhỏ tuổi yêu thích nhờ sự gần gũi và trong sáng.
Văn học và thơ ca đóng vai trò quan trọng trong giáo dục trẻ mầm non, giúp hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ Việc tiếp xúc với tác phẩm văn học dưới sự hướng dẫn của giáo viên giúp trẻ mở mang nhận thức, phát triển tư duy, trí tưởng tượng và ngôn ngữ Dạy thơ cho trẻ, giáo viên cần khai thác từ ngữ gắn liền với ngữ cảnh để trẻ hiểu và nhớ lâu nội dung bài học.
Văn học đóng vai trò then chốt trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ, từ rèn luyện phát âm chuẩn đến tích lũy vốn từ và ngữ pháp Ngôn ngữ mạch lạc là chìa khóa để giao tiếp hiệu quả và có văn hóa Văn học, như M.Góocki định nghĩa, là "nghệ thuật ngôn từ", sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng, làm phong phú cảm xúc và mang đến những hình ảnh tuyệt diệu Thơ ca, với nhịp điệu và giai điệu, góp phần làm giàu vốn ngôn ngữ thi ca của trẻ, khơi gợi sự sáng tạo ngôn ngữ, ý thức về lời hay ý đẹp và hình thành phong cách sống.
Có thể nói, qua việc trẻ tiếp xúc với văn học, trẻ học tiếng mẹ đẻ - thấy đƣợc sự phong phú của tiếng việt
Thơ cho trẻ em có những đặc trưng riêng, đòi hỏi người viết phải thấu hiểu tâm lý, nhận thức và ngôn ngữ của trẻ Phạm Hổ đã thành công nhờ tình yêu trẻ và sự am hiểu sâu sắc thế giới quan của các em, mở ra những điều mới lạ từ những điều gần gũi xung quanh trẻ.
“những điều rất thật mà lạ vô cùng”.
PHÁT TRIỂN TỪ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA TẬP THƠ “CHÚ BÒ TÌM BẠN” CỦA PHẠM HỔ
Khảo sát về việc sử dụng từ ngữ trong tập thơ “Chú bò tìm bạn”
Trong tập thơ "Chú bò tìm bạn", Phạm Hổ đã thành công trong việc khắc họa một thế giới thiên nhiên kì thú và gần gũi với trẻ thơ qua những vần thơ trong sáng, ngọt ngào Với 35 trên tổng số 60 bài thơ tập trung miêu tả thiên nhiên, tác giả đã cung cấp một vốn từ vựng phong phú về các loài chim chóc, muông thú, hoa quả, mang đến cho độc giả nhỏ tuổi những hình ảnh sinh động và vui tươi của thế giới xung quanh.
Bảng 1 Bảng khảo sát các yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “ Chú bò tìm bạn” của nhà thơ Phạm Hổ
STT Tên bài thơ Vốn từ thế giới động vật
Vốn từ thế giới thực vật
Vốn từ về các hiện tƣợng tự nhiên Đề tài khác
6 Thỏ con và mặt trăng
30 Gà con và quả trứng
38 Đón thƣ trung thu của Bác Hồ
46 Cắm trại bên quê hương Thánh
57 Em bé và đàn bò +
58 Những dấu chân nho nhỏ
Nhìn vào bảng thống kê (bảng 1) có thể thấy: Tập thơ “Chú bò tìm bạn” bao gồm:
- 14/60 bài có nói tên các con vật điển hình nhƣ: gấu, trâu, bò, ngựa, bê, thỏ, chó, mèo, gà, ngỗng, vịt, đom đóm, bướm, sáo
- 6/60 bài nói tên các loại cây: bắp cải, tre, lúa, mía, xoan, bí
- 1/60 bài nói tên các loại củ: củ cà rốt
- 10/60 bài nói tên các loại quả: thị, khế, na, ổi, vải, dứa, đu đủ, dƣa đỏ, dừa
3/60 bài nói về các hiện tượng tự nhiên như mặt trời, trăng, sao cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua tập thơ “Chú bò tìm bạn”
2.2.1 Phát triển vốn từ về thế giới loài vật ngộ nghĩnh, đáng yêu
Tập thơ "Chú bò tìm bạn" giới thiệu đa dạng loài vật, giúp trẻ mở rộng vốn từ vựng và kiến thức về thế giới động vật phong phú Các từ loại chính được sử dụng trong tập thơ là danh từ, động từ và tính từ, hỗ trợ phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Thơ Phạm Hổ tập trung vào thế giới động vật thôn quê, gần gũi với gia đình và cảnh vật làng quê như vườn ruộng, sông nước Đặc biệt, ông có nhiều bài thơ nổi tiếng viết về loài gà đáng yêu, thể hiện tình cảm và sự quan sát tinh tế của mình.
Thơ thiếu nhi mang đến những khám phá mới mẻ về thế giới xung quanh, đặc biệt là những loài vật quen thuộc như gà con và quả trứng Các bài thơ giúp trẻ em làm giàu vốn từ, sử dụng từ ngữ linh hoạt và phù hợp với khả năng tiếp nhận của trẻ.
Nhìn kìa đàn gà Mào như hoa đỏ Cái thấp, cái cao Đi, đi trên cỏ
Toàn gà chống Mỹ Đố em biết đấy
Khi ăn, khi đẻ Khi chạy, khi đi ?
Gửi em thử đọc Kìa! em lắng nghe
Thơ Phạm Hổ không chỉ mở rộng vốn hiểu biết mà còn cung cấp từ ngữ, giúp trẻ sử dụng từ ngữ chính xác Bài thơ "Gà con và quả trứng" sử dụng nhiều tính từ chỉ màu sắc và biện pháp so sánh, ví dụ như "mào như hoa đỏ", cùng các động từ chỉ hành động của gà Phạm Hổ gợi mở những suy nghĩ, dự đoán của trẻ về nỗi lo của gà, vượt xa việc chỉ hình dung về con vật quen thuộc này.
Thế giới loài vật trong thơ Phạm Hổ đa dạng, hấp dẫn với âm thanh và màu sắc, vừa mang đặc điểm loài, vừa mang tính cách ngây thơ của trẻ em, đặc biệt tập trung vào các con vật nhỏ, hàm ý về đối tượng tiếp nhận bài học.
Trong tập thơ "Chú bò tìm bạn", độc giả nhí sẽ bắt gặp thế giới loài vật phong phú, đa dạng với những nhân vật gần gũi, quen thuộc Các con vật trong thơ Phạm Hổ không chỉ mang đặc điểm riêng của từng loài mà còn được nhân cách hóa với tính cách trẻ thơ, tạo sự gần gũi và dễ dàng đồng cảm cho các em nhỏ.
Phạm Hổ đã dùng ngòi bút miêu tả sinh động để tạo ra những vần thơ đáng yêu, gần gũi về thế giới loài vật Trong tập thơ "Chú bò tìm bạn", tác giả giới thiệu chú bò hiền lành, thật thà như một người bạn đặc biệt.
Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước Thấy bóng mình ngỡ ai
Cứ ngoái trước nhìn sau
Chú Bò, với mong ước kết bạn được nhân hóa tự nhiên qua các từ ngữ thân thiện, tạo nên một không gian ấm áp tình bạn giữa bò và thế giới xung quanh Phạm Hổ khéo léo giới thiệu danh từ chỉ vật "Bò" và từ chỉ thời gian "buổi chiều", đồng thời sử dụng đại từ nghi vấn "ai" để kích thích sự tò mò của trẻ thơ.
Nhà thơ Phạm Hổ khắc họa nét thơ ngây, hồn nhiên trong trí tưởng tượng của trẻ thơ qua hình tượng chú thỏ đáng yêu, khám phá những điều mới mẻ Bài thơ cung cấp vốn từ cho trẻ qua danh từ chỉ vật như "Thỏ, Trăng" và động từ chỉ hành động như "chạy, dừng" Tác giả khéo léo giúp trẻ thể hiện tình cảm với thế giới tự nhiên qua câu hỏi ngộ nghĩnh và thán từ "ơi" (Trăng ơi! Có phải/ Trăng cũng có chân?).
Thỏ chạy, trăng chạy Thỏ dừng, trăng dừng, Thỏ con ngẩng mặt, Nhìn trăng lạ lùng:
- “Trăng ơi! Có phải Trăng cũng có chân?”
(Thỏ con và mặt trăng)
Trẻ em thường tò mò muốn khám phá thế giới xung quanh bằng những câu hỏi "Vì sao?" Nhà thơ Phạm Hổ đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ gần gũi, dễ thương để diễn tả sự ngây thơ đó qua các danh từ chỉ người như "mẹ, con", động từ chỉ hoạt động như "chạy, đi" và đại từ nghi vấn như "là sao, đi đâu, lúc nào ".
“Mẹ uống sữa lúc nào
Mà sữa đầy vú mẹ?
Còn con bú nhiều thế Sữa lại chạy đi đâu? Ơ kìa, mẹ không nói Lại cứ cười là sao?”
Trong bài thơ "Chơi ú tim", tác giả giới thiệu một chú chó ngốc nghếch nhưng đáng yêu, tương đồng với lứa tuổi trẻ em qua trò chơi trốn tìm, sử dụng linh hoạt danh từ chỉ vật như "chó, mèo".
Rủ nhau chơi trốn tìm Giờ đến phiên chó trốn Mèo đảo mắt nhìn quanh Chó nấp đâu giỏi gớm!
Trong bài thơ, Chó và Mèo chơi trò chơi dân gian "Chơi ú tim", một trò chơi quen thuộc mà trẻ em yêu thích, tạo nguồn cảm hứng từ những trò chơi dân dã thông qua những con vật gần gũi Nhà thơ đã khéo léo đưa trẻ vào thế giới thơ ca một cách dễ hiểu và ngọt ngào, giúp trẻ vui vẻ hóa mình vào cảm giác ẩn nấu và tìm kiếm Phạm Hổ đã dựng lại trò chơi này một cách sống động, trong đó Mèo con trốn trước và bị phát hiện, đến lượt Chó trốn kỹ nhưng vẫn bị Mèo tìm ra vì cái đuôi lộ diện.
“Lỗi chỉ tại cái đuôi”
Phạm Hổ đã tạo nên một trò chơi dân gian thú vị qua những vần thơ ngộ nghĩnh, thể hiện sự am hiểu sâu sắc về tâm lý trẻ thơ, giúp trẻ dễ dàng tin và vui vẻ đón nhận những điều thú vị xung quanh.
Chùm thơ "Gà con và quả trứng" của Phạm Hổ là một câu chuyện cảm động về tình mẫu tử, kể về quá trình sinh trưởng của loài gà một cách trình tự từ "Gà đẻ", "Gà ấp" đến "Gà nở" Qua đó, nhà thơ muốn gắn kết trẻ nhỏ với tình mẫu tử thiêng liêng, giúp trẻ nhận thức được tình cảm của mẹ và đáp lại tình cảm ấy, đồng thời thể hiện nỗi lo lắng của gà mẹ khi nguy hiểm rình rập đàn con.
“bọn nó” để chỉ các con vật nguy hiểm rình rập muốn cướp gà con của gà mẹ
“Coi chừng bọn nó Cáo, quạ, diều hâu
Mẹ lại ngoái đầu Nhìn sâu bụi thấp”
Thông qua câu chuyện "Gà con và quả trứng", Phạm Hổ giúp trẻ nhận thức về giống loài, thể hiện qua sự nhầm lẫn đáng yêu của gà con về việc trứng nở thành gà và câu hỏi ngây thơ "Quả gì thế mẹ?" khi nhìn thấy vỏ trứng lạ lùng.
“Tròn nhẵn trứng hồng Quả gì thế mẹ?”
Và điều bí ẩn đó đã được gà mẹ ân cần giải thích bằng những danh từ chỉ người
“con” thật gần gũi, thân thương:
“Chính là con đó Những ngày trước xa Con nằm trong ổ Lớn dần chui ra ”