Tuy nhiên, công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn một số hạn chế: Tình trạng vi phạm các quy định về ATTP ở một số nơi, một số lĩnh vực vẫn còn và diễn ra ở một số các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ ANH CHIẾN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 22
BỘ GIÁO DỤCVÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ ANH CHIẾN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 834.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Hoằng Bá Huyền
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lê Hoằng Bá Huyền
Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Người cam đoan
Lê Anh Chiến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất tận tình của tập thể và cá nhân, các cơ quan trong và ngoài Trường Đại học Hồng Đức
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tới PGS TS Lê Hoằng Bá Huyền đã
tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong thời gian làm luận văn để tôi có thể hoàn thành tốt nhất luận văn của mình
Tôi xin cảm ơn Khoa Kinh tế - QTKD, các Phòng ban Trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của cán bộ, nhân viên của của các đơn vị có liên quan đã cung cấp và giúp cho thu thập thông tin để thực hiện luận văn
Sau cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn đến những người bạn, những đồng nghiệp và những người thân đã tận tình hỗ trợ, góp ý và và động viên Tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu ý kiến đóng góp từ Quý Thầy cô và bạn bè nhưng với khuôn khổ thời gian và khối lượng kiến thức còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những thông tin góp ý của Quý thầy cô và bạn bè, đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày tháng năm 2022
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Dự kiến kết quả đạt được 5
6 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 7
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý về an toàn thực phẩm 7
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 7
1.1.2 Tầm quan trọng của an toàn thực phẩm, quản lý về an toàn thực phẩm 11
1.1.3 Phương pháp và nguyên tắc quản lý về an toàn thực phẩm 13
1.1.4 Đặc điểm quản lý về an toàn thực phẩm 15
1.1.5 Nội dung quản lý về an toàn thực phẩm 16
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý về an toàn thực phẩm 20
1.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý về an toàn thực phẩm 22
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế 22
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 23
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Thanh Hóa 26
Tiểu kết chương 1 28
Chương 2.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 29
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 29
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thanh Hóa 29
2.1.1 Vị trí địa lý 29
Trang 62.1.2 Địa hình, khí hậu 30
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 31
2.2 Thực trạng quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 32
2.2.1 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm32 2.2.2 Thực trạng xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản, chính sách pháp luật trong quản lý về an toàn thực phẩm 38
2.2.3 Thực trạng tổ chức thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm trong quản lý về an toàn thực phẩm 42
2.2.4 Thực trạng đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách cho công tác quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 60
2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm 63
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 68
2.3.1 Các yếu tố chủ quan 68
2.3.2 Các yếu tố khách quan 69
2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 71
2.4.1 Những kết quả đạt được 71
2.4.2 Một số tồn tại và nguyên nhân 72
Kết luận Chương 2 75
Chương 3.GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HANH HÓA 76
3.1 Quan điểm, định hướng, mục tiêu công tác quản lý về an toàn thực phẩm của tỉnh Thanh Hóa 76
3.1.1 Quan điểm 76
3.1.2 Định hướng 76
3.1.3 Mục tiêu 77
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 78
3.2.1 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm 78
Trang 73.2.2 Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật, cơ chế
chính sách, chương trình, đề án về an toàn thực phẩm 80
3.2.3 Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, quản lý về an toàn thực phẩm 81
3.3.4 Kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý về an toàn thực phẩm 82
3.3.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí thực hiện chính sách đảm bảo an toàn thực phẩm 84
3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý về an toàn thực phẩm 86
3.4 Kiến nghị 90
3.4.1 Kiến nghị với Quốc hội 90
3.4.2 Kiến nghị với Chính phủ 91
3.4.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy Thanh Hóa 91
3.4.4 Kiến nghị với Hội đồng nhân dân tỉnh 91
3.4.5 Kiến nghị với UBND tỉnh và các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC P1
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LIFSAP Dự án Cạnh tranh ngành chăn nuôi và ATTP
NAFIQAD Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản NĐTP Ngộ độc thực phẩm
NFSL Phòng xét nghiệm ATTP Quốc gia
SOP Quy trình vận hành chuẩn
SXKD Sản xuất, kinh doanh
TCĐLCL Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
Trang 9DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa 29
Bảng 2.1 Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý ATTP tuyến tỉnh 34 Bảng 2.2 Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý ATTP tuyến huyện 35 Bảng 2.3 Tình hình phân cấp quản lý các cơ sở thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 46 Bảng 2 4 Tình hình cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện của cấp tỉnh 47 Bảng 2.5 Tình hình thực hiện giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP 48
và thực hiện cam kết bảo đảm ATTP của cấp huyện và xã quản lý 48 Bảng 2.6 Thông tin điều tra về chủ các cơ sở thực phẩm 57 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ thực hành của Chủ cơ sở khi thực hiện SX, KD và chế biến thực phẩm 58 Bảng 2.8 Mối liên quan giữa kiến thức & thực hành của các đối tƣợng 59 chủ cơ sở 59 Bảng 2.9 Tình hình thực hiện công tác kiểm tra của các huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (theo kế hoạch) 64 Bảng 2.10 Tình hình kiểm tra các cơ sở thực phẩm của tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa (kiểm tra đột xuất) 65
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mạng lưới quản lý an toàn thực phẩm tỉnh Thanh Hóa 32
Biểu đồ 2.1 Đánh giá về nhân sự cán bộ làm công tác quản lý về ATTP 36
Biểu đồ 2.2 Đánh giá về bộ máy các đơn vị kiểm nghiệm 37
Biểu đồ 2.3 Ý kiến đánh giá của CBQL về văn bản chỉ đạo điều hành 39
Biểu đồ 2.4 Tình hình ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành 40
Biểu đồ 2.5 Ý kiến đánh giá của CBQL về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ 51
Biểu đồ 2.6 Ý kiến đánh giá của CBQL về các điều kiện đáp ứng yêu cầu về ATTP của Bếp ăn tập thể 53
Biểu đồ 2.7 Đánh giá của CBQL về công tác thông tin, tuyên truyền và đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản lý về ATTP 56
Biểu đồ 2.8 Khảo sát kiến thức của chủ cơ sở về điều kiện ATTP 57
Biểu đồ 2.9 Khảo sát kiến thức của chủ cơ sở về qui định khác 58
Biểu đồ 2.10 Đánh giá của CBQL về điều kiện làm việc, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý ATTP 61
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, góp phần tích cực nâng cao chất lượng dân số, năng suất lao động, giảm thiểu chi phí khám chữa bệnh của nhà nước
và nhân dân Để bảo đảm được an toàn thực phẩm thì cần phải đẩy mạnh sản xuất sản phẩm nông sản, thực phẩm an toàn theo các qui định hiện hành về an toàn thực phẩm, sẽ nâng cao giá trị thu nhập, kinh tế - xã hội và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường; tạo điều kiện thu hút mạnh khách du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững và đảm bảo an sinh xã hội Theo số liệu của Bộ Y tế, trong thời gian vừa qua, mỗi năm trung bình có 669.000 người bị ảnh hưởng do 7 loại bệnh phát sinh từ thực phẩm Thực phẩm không an toàn là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư, chiếm tỷ lệ 35% trong số các nguyên nhân gây bệnh thực phẩm trong thời đại hiện nay
Hiện nay, Việt Nam hiện dành khoảng 0,22% GDP hàng năm để chi trả cho
6 căn bệnh ung thư mà nguyên nhân chính là do thực phẩm ô nhiễm Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ước tính tổn thất năng suất lao động hàng năm của Việt Nam do thực phẩm không an toàn (dưới hình thức ốm đau, giảm thời gian làm việc
và chết sớm) là trên 900 triệu USD, cộng thêm 200 triệu USD chi phí y tế trong điều trị bệnh từ thực phẩm hàng năm Gánh nặng đối với sức khỏe cộng đồng của bệnh truyền qua thực phẩm ở Việt Nam hiện ngang bằng với bệnh lao và HIV/AIDS
Thanh Hóa có 27 huyện, thị xã, thành phố, trong đó có 6 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng; có tổng số 559 xã, phường, thị trấn với 4.410 thôn, xóm, bản làng, khu phố; gần 67.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống Đến nay, công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực Đó là, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về vệ sinh ATTP được hoàn thiện; trách nhiệm của các cấp, các ngành được phân định rõ ràng hơn Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về ATTP được đẩy mạnh; đã huy động các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng tham gia, tạo sự chuyển biến
Trang 12tích cực về nhận thức và hành động, Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm nghiệm về
vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường
Tuy nhiên, công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn một số hạn chế: Tình trạng vi phạm các quy định về ATTP ở một số nơi, một số lĩnh vực vẫn còn và diễn ra ở một số các khâu trong quá trình sản xuất, kinh doanh, lưu thông, tiêu thụ thực phẩm; tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thói quen lạm dụng, sử dụng phân bón, thuốc BVTV, thuốc thú y, thuốc kích thích sinh trưởng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản;
sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến trong chế biến thực phẩm không đúng quy trình, quy định, không rõ nguồn gốc còn khá phổ biến; việc giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ và kinh doanh sản phẩm tươi sống chưa đảm bảo vệ sinh thú y
và ATTP vẫn còn nhiều; tỉ lệ các cơ sở sản xuất nông lâm thủy sản nhỏ lẻ chưa đáp ứng điều kiện bảo đảm ATTP cao; thực tế, thực phẩm nông lâm thủy sản không rõ nguồn gốc xuất xứ, kém chất lượng, không an toàn lưu thông trên thị trường vẫn còn nhiều; công tác kiểm soát thực phẩm tại các chợ, các cửa hàng chưa được quan tâm đúng mức, hàng hóa thực phẩm tại chợ không có đánh giá nguy cơ ô nhiễm Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ quản lý của các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp
xã còn chưa thật sự sâu sát, trách nhiệm trong quản lý ATTP tại địa phương; bên cạnh đó, người tiêu dùng thực phẩm lại dễ dãi trong lựa chọn thực phẩm không nguồn gốc, không kiểm tra chất lượng, nguồn gốc, xuất sứ sản phẩm thực phẩm
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Giải pháp tăng
cường quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý về ATTP trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý về ATTP
+ Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2017-2021
Trang 13+ Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu tại 3 ngành (Y tế, Nông nghiệp, Công thương)
và 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) trên địa bàn tỉnh
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu số liệu thứ cấp của giai đoạn
2017-2021 và số liệu sơ cấp thu thập trong khoảng tháng 10 -12 năm 2017-2021
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu giải pháp tăng cường quản lý về ATTP
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Gồm: Công tác ban hành các văn bản quản lý; Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý; Đầu tư cơ sỏ vật chất; Thanh tra, kiểm tra về ATTP
trên địa bàn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn ngoài việc sử dụng các phương pháp chuyên ngành như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải, tiếp cận hệ thống, để phân tích lý luận và luận giải thực tiễn, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp
Việc khảo sát điều tra thu thập số liệu được tiến hành đồng thời ở hai cấp độ là
số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp có tính chất hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu
Thu thập số liệu thứ cấp:
Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh (Ban chỉ đạo về quản lý vệ sinh ATTP tỉnh, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Công Thương, Công An tỉnh, Cục Quản lý thị trường tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố) ; thông tin trên các website, số liệu từ các báo cáo khoa học, công trình nghiên cứ KH về lĩnh vực liên quan đến đề tài
Thu thập sô liệu sơ cấp:
Trang 14Số liệu sơ cấp thu thập được bằng cách điều tra bằng bảng hỏi đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP từ cấp tỉnh đến cấp xã và phỏng vấn người sản xuất, kinh doanh thực phẩm (phụ lục 01, 02)
- Điều tra thực trạng đáp ứng các tiêu chí xã ATTP theo bộ tiêu chí đã ban hành; điều tra đánh giá điều kiện bảo đảm ATTP tại các cơ sở thực phẩm thông qua
bộ câu hỏi KAP để đánh giá thực trạng, kiến thức và thực hành của các nhóm đối tượng có liên quan SX, CB, KD thực phẩm có liên quan các tiêu chí xây dựng xã, phường, thị trấn ATTP trên địa bàn nghiên cứu;
- Phỏng vấn sâu: các lãnh đạo địa phương về quá trình lãnh đạo, triển khai, tổ chức thực hiện các tiêu chí ATTP tại địa phương về các nguyên nhân, thuận lợi, khó khăn, vướng mắc…
- Cỡ mẫu điều tra:
Mẫu được chọn ngẫu nhiên, bảo đảm tính đại diện cho toàn tỉnh, với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng (Atratified samphing Method) Mỗi vùng chọn ngẫu nhiên 3 huyện, mỗi huyện rút thăm chọn ngẫu nhiên ra 2 đơn vị xã hoặc phường hoặc thị trấn đại diện để điều tra, mỗi đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn chọn đối tượng theo các tiêu chí có liên quan để điều tra Các đối tượng là chủ các cơ sở thuộc các ngành, loại hình SX, CB, KD thì lập danh sách sau đó chia cho
15 để tìm hệ số k để xác định hộ đầu tiên, sau đó tiếp tục điều tra theo hệ số k cho đến khi đủ số đối tượng cần điều tra
Trang 15- Cấp tỉnh: 17 phiếu, bao gồm: 6 phiếu phỏng vấn 03 đồng chí Lãnh đạo sở
và 03 công chức thực hiện nhiệm vụ công tác quản lý nhà nước về ATTP của 3 sở:
Y tế, Nông nghiệp & PTNT, Công Thương, và 11 phiếu phỏng vấn 05 đồng chí lãnh đạo chi cục, 06 công chức chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
về ATTP của các chi cục, đơn vị: An toàn vệ sinh thực phẩm; Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản; Chăn nuôi và Thú y; Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Văn phòng điều phối về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh
- Cấp huyện: 36 phiếu (4 phiếu/01 huyện x 9 huyện - đại diện 3 vùng miền của tỉnh), gồm: 01 đồng chí lãnh đạo UBND và 03 công chức của 3 phòng: Y tế, Nông nghiệp & PTNT/Kinh tế, Kinh tế hạ tầng
- Cấp xã: Khảo sát cán bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP và phỏng vấn người sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại 18 xã thuộc 9 huyện (đại diện
3 vùng miền của tỉnh), trong đó:
+ Cán bộ quản lý: 72 phiếu (4 phiếu/01 xã x 18 xã), gồm 01 đồng chí lãnh đạo UBND, 01 cán bộ địa chính – nông nghiệp, 01 trưởng trạm y tế, 01 cán bộ công chức văn hóa – thông tin
+ Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm: 144 phiếu (8 phiếu/01 xã x
18 xã)
Kết quả số phiếu thu về: CBQL các cấp: 110/125 (đạt 88%); Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm: 135/144 (đạt ; 93,95)
4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được bằng bảng hỏi được tổng hợp và xử lý thông qua phương pháp phân tổ thống kê với phần mềm EXCEL
5 Dự kiến kết quả đạt được
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý về ATTP trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới
- Hoàn thành 01 luận văn làm tài liệu tham khảo cho Chi cục ATVSTP Thanh Hóa và những đối tượng quan tâm đến đề tài
Trang 166 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu làm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý về ATTP
Chương 2: Thực trạng quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý về ATTP trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ
AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1 Cơ sở lý luận của quản lý về an toàn thực phẩm
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm thực phẩm
Theo Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 thì: “Thực phẩm là sản
phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” [17]
Tại Điều 2, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, ngoài khái niệm thực phẩm còn đưa ra một số khái niệm cụ thể khác liên quan đến thực phẩm, như [2]:
+ Thực phẩm tươi sống: là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến
+ Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng: là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng
+ Thực phẩm chức năng: là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học
+ Thực phẩm biến đổi gen: là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen
+ Thực phẩm đã qua chiếu xạ: là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm
+ Thức ăn đường phố: là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự
Trang 18+ Thực phẩm bao gói sẵn: là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay
Như vậy, có thể hiểu: Thực phẩm là những sản phẩm nhằm phục vụ cho nhu
cầu ăn, uống của con người thông qua sản xuất, chế biến, đánh bắt, hái lượm, nuôi, trồng bằng những phương pháp khác nhau
1.1.1.2 Khái niệm an toàn thực phẩm
Trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan điểm khác nhau về an toàn thực phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm Cụ thể: Theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 06 năm 2010 của Quốc hội, thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản [2]: ATTP là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Như vậy, ATTP là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng
Tại khoản 1 Điều 2 Chương 1 của Luật ATTP (2010) có quy định: “An toàn
thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” Bảo đảm chất lượng VSATTP giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo
vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa
xã hội và thể hiện nếp sống văn minh [2]
Qua các quan niệm về ATTP, có thể hiểu: ATTP là tất cả các điều kiện, biện
pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng
Như vậy, qua các khái niệm trên có thể khái quát nội dung của ATTP không chỉ nêu lên các điều kiện vệ sinh của thực phẩm, các dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm mà còn là các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không xảy ra các vấn đề do vi khuẩn, hóa chất, tình trạng vật lý hay các nguy cơ nhiễm
Trang 19bệnh gây ra trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản và sử dụng thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng con người [28]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định Mục tiêu này có thể là do các thành viên trong tổ chức tự thống nhất với nhau, cũng
có thể do người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao cho tổ chức thực hiện Nhưng cũng có những tổ chức được hình thành để thực hiện những mục tiêu được xác định trước, khi đó, bản thân tổ chức không thể tự mình làm thay đổi mục tiêu [28]
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước – bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác khác nhau tùy theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
Quản lý là sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với hoạt động xã hội, để chúng phát triển phù hợp với quy luật và đạt tới mục đích đã đề ra của tổ chức, đúng ý chí của nhà quản lý, với chi phí thấp nhất [12, tr.140]
Kế thừa các quan điểm của các tác giả, theo tác giả “Quản lý là một hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm tạo nên sự phát triển và đạt được mục tiêu chung”
Quản lý bao gồm một hệ thống với các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý, phương pháp quản lý (có nhiều nhóm phương pháp khác nhau), công cụ quản lý, chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra) Trong đó:
+ Chủ thể quản lý: Có thể là cá nhân hay tập thể, đề ra mục tiêu, tổ chức, hướng các đối tượng quản lý, tác động có chủ định nhằm đạt mục tiêu
Trang 20+ Khách thể quản lý: Nằm ngoài hệ thống, là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường Nó chịu tác động hay tác động trở lại hệ thống GD và hệ QLGD Do đó, chủ thể QL phải làm như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể là tác động tích cực cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung
1.1.1.4 Khái niệm quản lý về an toàn thực phẩm
Quản lý về ATTP được hình thành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện theo Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật An toàn thực phẩm, các Nghị định, Thông tư có liên quan đến ATTP… với mục đích bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của con người, giữa người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe và môi trường cho cộng đồng, đảm bảo sự công bằng trong xã hội… và nó gắn liền với hoạt động kinh tế –
xã hội và đời sống nhân dân
Theo Võ Văn Quyền, Lê Việt Nga (2014): Quản lý ATTP được định nghĩa là
hoạt động điều khiển có tính bắt buộc của các cơ quan chức năng quốc gia (cấp Trung ương) hoặc địa phương nhằm tạo nên sự bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo rằng tất cả các loại thực phẩm trong khi sản xuất, vận chuyển, lưu kho, chế biến và phân phối đều an toàn, lành mạnh (không độc hại) và thích hợp cho tiêu thụ ở người; phù hợp với các yêu cầu về an toàn và chất lượng; được dán nhãn một cách trung thực và chuẩn xác như đã được quy định bởi pháp luật [16])
Theo Nguyễn Thị Bích Ly (2019): QLNN về ATTP là hoạt động có tổ chức
của nhà nước thông qua các văn bản pháp luật, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện ATVSTP của đơn vị sản xuất, kinh doanh
và người tiêu dùng nhằm định hướng , dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn
đề về ATTP QLNN về ATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, các chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề ATTP và công tác tổ chức thực thi các văn bản gồm một số công việc cụ thể: tổ chức giáo dục tuyên truyền, công tác thanh tra, xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý [12]
Thông qua khái niệm về quản lý và những khái niệm QLNN về ATTP đã
nêu, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là việc các cơ quan quản
lý nhà nước tác động bằng nhiều biện pháp lên các đối tượng quản lý nhằm mục
Trang 21đích bảo đảm xã hội được tiếp cận, sử dụng thực phẩm an toàn, chất lượng Nhà nước sử dụng quyền lực được nhân dân giao cho để trực tiếp điều hành, tác động lên các chủ thể quản lý mà ở đây cụ thể là các đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng thông qua các công cụ chính sách, pháp luật, kế hoạch và các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm
Quyền lực nhà nước được bảo đảm bằng khả năng áp dụng, cưỡng chế thông qua chủ yếu ở các văn bản cụ thể cá biệt Bên cạnh đó, trong hoạt động quản lý của mình, nhà nước còn là chủ thể chấp hành, thực hiện trên thực tế các luật và các văn bản dưới luật đã được ban hành
Quản lý ATTP từ góc độ xã hội chính là việc phân loại thực phẩm giữa an toàn và không an toàn bằng công cụ pháp lý Mục đích của việc phân loại là giúp loại bỏ thực phẩm nguy hiểm khỏi thị trường trước khi chúng được tiêu thụ Việc phân loại này do Nhà nước đảm nhiệm và được các cơ quan chuyên ngành tiến hành Việc phân loại có thể tiến hành tại nhiều khâu Tại thị trường khi thực phẩm được đưa vào buôn bán, tại các cơ sở chế biến, sản xuất, tại các điểm cung cấp đầu vào như giống, nguyên liệu, …Nó cũng được đồng thời phối hợp giữa nhiều ngành Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chúng ta hiện đang mất kiểm soát sản phẩm tại gốc Tiến hành kiểm soát khi sản phẩm đã ra đến thị trường thường là quá muộn
1.1.2 Tầm quan trọng của an toàn thực phẩm, quản lý về an toàn thực phẩm 1.1.2.1 Tầm quan trọng của an toàn thực phẩm
Về phương diện kinh tế, bằng việc tạo ra các sản phẩm hàng hóanhững thực phẩm an toàn, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thương hiệu của sản phẩm của các doanh nghiệp, sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản thực phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản thực phẩm, từ đó đảm bảo cho sự thành công của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, dịch vụ phát triển trên cơ sở bền vững là hết sức cần thiết [15]
Đối với xã hội, ATTP là yếu tố bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng một cách lâu dài, bền vững, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thể hiện nếp sống văn minh của xã hội khi được sử dụng những sản phẩm thực phẩm an toàn
Chất lượng, ATTP là chìa khóa tiếp thị của sản phẩm Nâng cao chất lượng ATTP sẽ mang lại uy tín cùng với lợi nhuận lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp,
Trang 22công nghiệp chế biến cũng như hoạt động dịch vụ và thương mại Thực phẩm đồng thời còn đóng vai trò là một loại hàng hóa chiến lược, thực phẩm đảm bảo chất lượng
an toàn sẽ góp phần nâng cao vị trí cạnh tranh và gia tăng nguồn thu từ xuất khẩu
1.1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý về an toàn thực phẩm
Trong những năm gần đây vấn đề ATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại đến tính mạng con người
và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của quản lý là đặc biệt quan trọng trong đó Nhà nước là chủ thể trực tiếp và toàn diện của quản lý về ATTP Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến ATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo ATTP Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề ATTP [16]
Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến ATTP, nhà nước sẽ đóng vai trò trực tiếp quản lý vấn đề ATTP trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm
Mặt khác, QL về ATTP là sự tác động của các cơ quan QL về ATTP nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý ATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển như hiện nay thì vai trò của quản lý ngày càng trở lên quan trọng Vai trò quản lý về ATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác ATTP
Trang 23hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế [27]
-Vai trò không thể thiếu của QL về ATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường Các
cơ quan quản lý về ATTP đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu… nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên
ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử lý những
vi phạm
- Nhờ có vai trò QL về ATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường Mặt khác, vai trò của các cơ quan quản lý về ATTP còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực ATTP Định hướng cho công tác đảm bảo ATTP theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ATTP…
1.1.3 Phương pháp và nguyên tắc quản lý về an toàn thực phẩm
1.1.3.1 Phương pháp quản lý về an toàn thực phẩm
Phương pháp quản lý về ATTP là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích của nhà nước lên các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm sức khỏe nhân dân Trong quá trình quản lý, nhà nước thường sử dụng 03 phương pháp chủ yếu: phương pháp hành chính - mệnh lệnh, phương pháp kinh tế và phương pháp giáo dục
Thứ nhất, phương pháp hành chính
Phương pháp này mang tính bắt buộc và tính quyền lực Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính trong quá trình hoạt động của mình, nếu vi phạm sẽ bị xử lý, chế tài theo quy định của pháp luật Tính quyền lực đòi hỏi cơ quan nhà nước chỉ được ph p đưa ra tác động hành chính đúng thẩm quyền của mình đã được pháp luật quy định Trong QLNN nói chung, quản lý về ATTP nói riêng phương pháp hành chính – mệnh lệnh
Trang 24có vai trò to lớn, xác lập được kỷ cương trật tự trong xã hội Tuy nhiên, để có hiệu quả khi sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan QLNN khi ra quyết định
Thứ hai, phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng Thông qua phương pháp này Nhà nước đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, điều kiện khuyến khích về kinh tế, phương tiện vật chất như giảm thuế, miễn thuế thu nhập, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ về kỹ thuật nhằm thúc đẩy, khuyến khích các đối tượng quản lý phát triển theo hướng có lợi cho xã hội
Trong công tác quản lý, phương pháp kinh tế là phương pháp mềm dẻo nhất,
dễ thu hút các đối tượng quản lý, do vậy ngày nay nó ngày càng mang tính phổ biến
và thường được sử dụng trong công tác quản lý Thông qua phương pháp này, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giúp cho nhà nước giảm bớt được nhiều công việc hành chính như kiểm tra, giám sát có tính chất sự vụ hành chính Vì vậy, sử dụng phương pháp này vừa tiết kiệm được chi phí quản lý, vừa tăng tính sáng tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thứ ba, phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực Tuyên truyền, giáo dục là phương pháp không thể thiếu trong công tác QL bởi vì mọi đối tượng quản lý suy cho cùng cũng chỉ là quản lý con người mà con người là tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội và ở họ có những đặc trưng tâm lý rất đa dạng đòi hỏi phải có nhiều phương pháp tác động khác nhau trong việc tuyên truyền, giáo dục
Theo xu hướng chung hiện nay thì phương pháp này phải được làm thường xuyên, liên tục, nghiêm túc và phải được kết hợp với hai phương pháp trên để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý sở dĩ như vậy là do việc sử dụng phương pháp hành chính – mệnh lệnh hay kinh tế để điều chỉnh hành vi của các đối tượng quản lý suy cho cùng vẫn là tác động bên ngoài, do đó không triệt để và toàn diện Hơn nữa, bản thân phương pháp hành chính và kinh tế cũng phải qua hoạt động thuyết phục,
Trang 25giáo dục thì mới truyền tới được các cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng để đạt những mục tiêu quản lý do Nhà nước đề ra
1.1.3.2 Nguyên tắc quản lý về an toàn thực phẩm
Các nguyên tắc quản lý ATTP được quy định cụ thể tại Điều 3 Chương I Luật An toàn thực phẩm (2010) quy định nguyên tắc như sau:
- Bảo đảm ATTP là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về ATTP đối với thực phẩm
do mình sản xuất kinh doanh;
- Quản lý ATTP phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng;
- Quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm;
- Quản lý ATTP phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành
- Quản lý ATTP phải đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội
1.1.4 Đặc điểm quản lý về an toàn thực phẩm
- Quản lý về ATTP với mục tiêu là bảo đảm, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tác động lên các đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng, hướng các đối tượng này đi đến mục tiêu chung là bảo đảm chất lượng thực phẩm, bảo đảm sức khoẻ nhân dân
- Xét về đối tượng quản lý, quản lý về ATTP chủ yếu tập trung vào các đối tượng có liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người dân Trong nền kinh tế - xã hội ngày nay, công tác quản lý về ATTP là một bộ phận cần thiết không những góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội mà còn tác động đến các lĩnh vực khác như: việc con người được bảo đảm về sức khỏe làm nâng cao năng suất lao động từ đó có đóng góp nhất định đến kết quả hoạt động của các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục Ngoài ra trong công tác quản lý về ATTP còn định hướng các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm phát triển bền vững trên
Trang 26cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chất lượng, an toàn qua đó góp phần vào phát triển kinh tế của xã hội
- Công tác quản lý về ATTP hiện nay ở nước ta là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Việc bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của toàn
xã hội nhưng trên hết vẫn là trách nhiệm quản lý của các cơ quan quản lý về ATTP
đã được quy định tại Luật An toàn thực phẩm năm 2010 Theo quy định tại Điều 61, Chính phủ thống nhất quản lý về ATTP; Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý về ATTP; Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý về ATTP; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý về ATTP trong phạm vi địa phương
- Quản lý về ATTP phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định
do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng; phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích các mối nguy đối với an toàn thực phẩm; phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành; phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tính trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh
1.1.5 Nội dung quản lý về an toàn thực phẩm
1.1.5.1 Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản, chính sách pháp luật trong quản lý về an toàn thực phẩm
Cơ sở pháp lý để QL về ATTP là hệ thống các VBQPPL về ATTP, tức là những văn bản quy định những điều được làm, không được làm và những điều bắt buộc phải thực hiện để đảm bảo ATTP, đồng thời quy định các chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định pháp luật về ATTP Hệ thống các VBQPPL định hướng, điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực ATTP theo hướng xây dựng và phát triển mối quan hệ hài hòa giữa các chủ thể trong mối quan hệ với ATTP
Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng quản lý nhà nước, các chủ thể quản
lý sử dụng nhiều hình thức hoạt động khác nhau nhưng hình thức cơ bản và quan trọng nhất là xây dựng và ban hành pháp luật Việc quản lý xã hội phải bằng pháp luật thì mục đích việc quản lý mới đạt được và có hiệu quả cao Pháp luật có vai trò
Trang 27và vị trí quan trọng đặc biệt đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nó chính là phương tiện ghi nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ngoài
ra, pháp luật do nhà nước ban hành để quản lý xã hội nhưng nhà nước cũng sẽ bị hạn chế bởi chính pháp luật, chịu sự phục tùng và phải thi hành pháp luật do chính mình đặt ra, có như vậy mới đảm bảo được quyền của công dân, tránh sự lạm quyền, đảm bảo sự công bằng và sự phát triển bình thường của xã hội
Bên cạnh việc xây dựng hệ thống các VBQPPL về ATTP, còn có hệ thống các QCVN, TCVN, quy định đối với các sản phẩm thực phẩm và quy định điều kiện ATTP đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ thực phẩm làm căn cứ cho hoạt động QL về ATTP Đồng thời, pháp luật được ban hành tự thân
nó không thể đi vào đời sống mà phải thông qua việc tổ chức thực hiện trong thực tế đời sống xã hội
Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP được tiến hành bởi các chủ thể bao gồm: Các cơ quan QL về ATTP; các doanh nghiệp, các tổ chức, các hộ gia đình và các cá nhân trong toàn xã hội Trong đó, một bên luôn là cơ quan QL về ATTP (với tư cách là chủ thể quản lý), có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật về ATTP Đây là dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tiến hành theo các thủ tục của pháp luật quy định; một bên là chủ thể quản lý, có nghĩa
vụ tuân thủ, thi hành, chấp hành các quy định của pháp luật đồng thời có quyền sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và toàn cộng đồng
1.1.5.2 Tổ chức thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm trong quản lý về an toàn thực phẩm
Việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về ATTP là bước cụ thể hóa các văn bản quản lý đã được ban hành Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý đưa hoạt động của các đối tượng quản lý và chính cơ quan quản lý vào một khuôn khổ nhất định thông qua các quyết định hành chính Trong quá trình hoạt động của mình, cơ quan QL về ATTP xem xét, cân nhắc để lựa chọn phương án có hiệu quả nhất để từ
đó ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực ATTP
Công tác chỉ đạo, điều hành về an toàn thực phẩm ở địa phương được quy định tại khoản 1, Điều 65, Luật ATTP năm 2010 [17]: Ban hành theo thẩm quyền
Trang 28hoặc trình cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật địa phương; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ
sở sản xuất thực phẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn
bộ chuỗi cung cấp thực phẩm Điều này thực hiện dựa trên cơ sở đường lối, chiến lược, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước về ATTP kết hợp tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Trên cơ sở thực tiễn vấn đề an toàn thực phẩm, các địa phương tập trung xây dựng các chính sách, chương trình, kế hoạch về ATTP đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm sức khỏe nhân dân…
Trong khâu tổ chức thực hiện pháp luật về ATTP cần quan tâm đến việc phân công rõ trách nhiệm quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức để tránh tình trạng chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau Nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là sự am hiểu về pháp luật; đề cao vai trò trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống cơ quan QL về ATTP nhằm làm cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật ATTP được đúng đắn, khách quan và bảo đảm công bằng xã hội
1.1.5.3 Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo cán bộ quản lý về ATTP
Việc xây dựng bộ máy QL về ATTP hiện nay phải bảo đảm tinh gọn, điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, linh hoạt, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề do Nhà nước và nhân dân đặt ra Trên cơ sở đó, Luật An toàn thực phẩm đã được ban hành năm 2010 với nhiều đổi mới quan trọng, như: tiếp cận
QL về ATTP trong toàn bộ quá trình sản xuất, bảo đảm truy xuất nguồn gốc thực phẩm; thu gọn đầu mối QL về ATTP từ 05 bộ xuống còn 03 bộ chịu trách nhiệm chính trong QL về ATTP, gồm: Bộ tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Bộ Công thương và có sự phân công cụ thể trách nhiệm QL về ATTP của các bộ đối với từng nhóm sản phẩm tại Điều 62, 63, 64 17
Tại Trung ương: QL về ATTP được phân công cho 03 bộ: Bộ tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương Trong đó, Bộ tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất QL về ATTP Tại 03 Bộ này đều có các đơn vị chuyên môn phụ trách Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương
về ATTP được thành lập do Phó Thủ tướng làm Trưởng ban để chỉ đạo việc phối hợp hoạt động giữa các Bộ
Trang 29Ở địa phương, tại Khoản 4, Điều 65, Luật ATTP năm 2010 quy định UBND
có trách nhiệm bố trí nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm ATTP trên địa bàn 17 Trên cơ sở luật định, UBND giao chức năng, nhiệm vụ, biên chế cho Sở tế, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn giúp tham mưu UBND trong công tác QL về ATTP Ở các đơn
vị này đều có các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu QL về ATTP trên địa bàn Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ thực hiện công tác QL về ATTP
1.1.5.4 Đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách cho công tác quản lý về an toàn thực phẩm
Để hiện thực hóa các mục tiêu đối với công tác quản lý về ATTP cần quan tâm
bố trí ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn hợp pháp khác để tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các cơ quan chuyên môn, các cơ quan chức năng để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ATTP; tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động, giám sát và phát động các phong trào thi đua về ATTP; tích cực vận động xây dựng các mô hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn , góp phần nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm an toàn
Bên cạnh đó, huy động các nguồn lực của xã hội (Nhà nước, doanh nghiệp,
hộ kinh doanh…), hỗ trợ ngân sách để đầu tư, cải tạo nâng cấp, trang thiết bị, dụng
cụ phục vụ kinh doanh thực phẩm trong các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm, đảm bảo thống nhất, khoa học, vệ sinh, đảm bảo ATTP và bảo vệ môi trường
1.1.5.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
Thanh tra, kiểm tra là một trong những chức năng của quản lý, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QL Qua kiểm tra phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến những vi phạm pháp luật để có những biện pháp xử lý kịp thời, xây dựng những biện pháp phòng ngừa bên cạnh đó còn chỉ ra những yếu kém bất cập trong quản lý, nguyên nhân của chúng nhằm đưa ra những biện pháp khắc phục
Công tác kiểm tra, thanh tra về ATTP luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên trong công tác QL về ATTP Luật An toàn thực phẩm năm 2010
Trang 30quy định đây là trách nhiệm của UBND trong công tác QL về ATTP (khoản 6, Điều 65) [17] Hoạt động này được tiến hành đồng loạt từ Trung ương đến địa phương bằng nhiều biện pháp như định kỳ theo kế hoạch hay đột xuất vào các đợt cao điểm như mùa lễ hội, các sự vụ ảnh hưởng do thiên tai, dịch bệnh…Thông qua kiểm tra, thanh tra về an toàn thực phẩm các chủ thể quản lý tự điều chỉnh hành vi của mình theo mục tiêu, nhiệm vụ QL, cơ quan cấp trên có thể thường xuyên xem xét tình hình triển khai, thực hiện nhiệm vụ của cơ quan cấp dưới
Để thực hiện có hiệu quả nội dung này, các cơ quan quản lý phải xây dựng
kế hoạch thanh tra, kiểm tra chặt chẽ, hợp lý và hợp pháp, ngăn ngừa những biểu hiện nhũng nhiễu gây phiền hà, cản trở hoạt động hợp pháp của các đối tượng quản
lý Tổ chức giám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của cơ quan QL cấp dưới và ngay trong nội bộ cơ quan mình Khi phát hiện có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan quản lý có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải ngăn chặn kịp thời, tuỳ theo mức độ vi phạm để xử lý trách nhiệm theo đúng quy định của pháp luật [21]
1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý về an toàn thực phẩm
1.1.6.1 Các nhân tố chủ quan
- Bộ máy quản lý về an toàn thực phẩm: đây là yếu tố quan trọng trong công
tác quản lý Trong việc quản lý an toàn thực phẩm, cơ quan quản lý được giao nhiệm vụ cần thiết lập hệ thống tổ chức với đội ngũ con người tương ứng với thực tiễn quản lý Việc cơ cấu, tổ chức bộ máy quản lý an toàn thực phẩm trong điều kiện hiện nay đang là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý Mô hình quản lý hiện nay tuy đạt được những kết quả nhất định nhưng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội dẫn tới bất cập như cồng kềnh về tổ chức, chồng chéo trong quản lý
và thiếu một cơ chế phối hợp hiệu quả Các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm dần dần lỗi thời do xuất hiện nhiều dòng sản phẩm thực phẩm mới Với những thay đổi
đó đòi hỏi cơ quan quản lý phải thay đổi, thiết lập lại các bộ phận,quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ cho từng bộ phận [21]
- Đội ngũ cán bộ quản lý về an toàn thực phẩm: mọi tổ chức đều do con
người nắm giữ, điều khiển, chi phối nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, đạt mục tiêu chung của tổ chức Vì vậy con người quyết định sự thành công hay thất bại của
Trang 31chính họ và tổ chức đó Do đó, để quản lý tốt vấn đề an toàn thực phẩm, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý về an toàn thực phẩm có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ quản lý
- Ý thức của người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm: hiện nay, bên
cạnh đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thì vẫn còn những đối tượng vì nhiều lý do khác nhau đã đưa ra sản phẩm thực phẩm kém chất lượng, không an toàn Để bảo đảm an toàn thực phẩm, trách nhiệm của doanh nghiệp là phải thực sự quan tâm đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, từ đó, lập kế hoạch triển khai các hoạt động nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là đưa đến tay người dân sản phẩm thực phẩm an toàn làm được điều này sẽ góp phần giải quyết vấn đề thực phẩm hiện nay
- Trang thiết bị sử dụng cho hoạt động kiểm tra chất lượng sản phẩm:
ngày càng đóng vai trò quan trọng và là một yếu tố quyết định đến hiệu quả, chất
lượng của công tác quản lý về an toàn thực phẩm Trang thiết bị hiện đại, được trang bị đầy đủ, dễ vận hành sẽ là yếu tố thuận lợi để cán bộ làm công tác quản lý về
an toàn thực phẩm hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
1.1.6.2 Các nhân tố khách quan
- Các chính sách pháp luật về quản lý về an toàn thực phẩm: đây là yếu tố
có tác động lớn đến công tác quản lý về an toàn thực phẩm Muốn thực hiện chức năng quản lý, cần thiết phải có một hành lang pháp lý đầy đủ, đó là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý của mình Chính sách pháp luật về quản lý về an toàn thực phẩm đầy đủ, thống nhất, không chồng chéo sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý về an toàn thực phẩm và ngược lại
- Yếu tố thông tin quản lý: để quản lý hiệu quả công tác an toàn thực phẩm,
các nhà quản lý cần phải nắm được tình hình, thực trạng vấn đề thực phẩm chính xác kịp thời muốn vậy phải có thông tin từ tất cả các nguồn như xã hội, đối tượng quản lý và từ quốc tế Nhà quản lý về an toàn thực phẩm đưa ra thông tin điều khiển dưới các quyết định quản lý như: mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định…kèm theo đó là bảo đảm vật chất để đối tượng quản lý có thể thực hiện Đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng muốn định hướng các hoạt động của mình trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm phải tiếp nhận thông tin điều khiển, định
Trang 32hướng của nhà quản lý cùng với bảo đảm vật chất để chọn cách xử sự và điều chỉnh bản thân nhằm thực hiện chính xác mệnh lệnh quản lý Do đó thông tin là yếu tố luôn gắn liền với hoạt động quản lý và là cầu nối giữa nhà quản lý với đối tượng quản lý
- Yếu tố truyền thông: thông tin tuyên truyền luôn là yếu tố quan trọng tác
động đến nhận thức, làm thay đổi nhận thức của các đối tượng được truyền thông Trong công tác quản lý về an toàn thực phẩm cũng vậy, yếu tố truyền thông có hiệu quả sẽ giúp thay đổi nhận thức của các chủ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, cơ sở dịch vụ ăn uống và người dân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý về an toàn thực phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn của quản lý về an toàn thực phẩm
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế
Hiện nay ATTP vẫn là mối quan ngại mang tính toàn cầu, ngay cả đối với các nước phát triển có trình độ công nghệ tiên tiến và hệ thống quản lý chất lượng rất khoa học thì tỷ lệ ngộ độc thực phẩm vẫn rất cao Ở Mỹ, một đất nước có hơn
200 triệu dân, kinh tế phát triển vào bậc nhất thế giới, khoa học kỹ thuật cũng được xếp trong những nước đứng đầu song hàng năm vẫn có hơn 70 triệu ca ngộ độc thực phẩm Tại Úc, về kinh tế xã hội cũng như khoa học kỹ thuật được xếp vào mức khá trong nhóm các nước phát triển, tuy vậy hàng năm vẫn có hơn 4 triệu người bị ngộ độc thực phẩm [22 Tr.3]
Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là ngành công nghiệp hoá học và công nghiệp thực phẩm, nhiều loại hóa chất sử dụng trong thực phẩm cũng gia tăng nhanh chóng về chủng loại và số lượng [20] Trên thế giới có trên 1.450 hợp chất hoá học (cả tự nhiên và tổng hợp) được sử dụng làm phụ gia thực phẩm để bảo quản, làm tăng hương vị, tạo màu và làm đẹp thêm hình dạng của thực phẩm hoặc tạo điều kiện dễ dàng cho việc chế biến sản phẩm [23 Tr 479]
Hiện nay, tình hình an toàn thực phẩm trong khu vực, trên thế giới đang diễn biến phức tạp trong xu thế toàn cầu hóa với nhiều nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm cho người tiêu dùng như vệ sinh môi trường, thiên tai lũ lụt, gian lận thương mại Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm luôn được các quốc gia quan tâm Cùng chung
Trang 33mục đích là bảo đảm an toàn thực phẩm nhưng cách thức tổ chức và quản lý của các quốc gia trên thế giới có những điểm giống và khác nhau
Đối với liên minh châu Âu: Lấy việc đảm bảo an toàn cho sức khỏe người
tiêu dùng làm mục tiêu, do vậy cơ quan kiểm soát an toàn thực phẩm có tên gọi là: Tổng vụ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng (DG Sanco – EU), cơ quan này đảm nhận tất cả các nội dung về an toàn thực phẩm của 28 quốc gia thuộc Liên minh châu Âu
và kết quả thì như chúng ta đã biết thông qua việc xuất khẩu nông sản, thủy sản của Việt Nam vào thị trường này
Đối với cộng hòa Pháp: Xác định nhiệm vụ kiểm soát bệnh, dịch động, thực
vật trên cạn và thủy sản, Kiểm soát an toàn thực phẩm phải theo chuỗi, nên đã thành lập cơ quan: Tổng cục An toàn thực phẩm, Thú y và Bảo vệ thực vật, Cơ quan này
tổ chức hoạt động kiểm soát theo 3 chuỗi: Bệnh động vật trên cạn và an toàn thực phẩm sản phẩm động vật trên cạn: Bệnh thực vật trên cạn và an toàn thực phẩm sản phẩm thực vật trên cạn: Bệnh thủy sản và an toàn thực phẩm sản phẩm thủy sản
Đối với Nhật Bản: Chính Phủ Nhật Bản rất quan tâm đến công tác đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm, những năm qua Nhật Bản luôn được xem là đất nước có chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm hàng đầu khu vực và thế giới Không chỉ chặt chẽ trong các quy định của pháp luật mà ý thức của người dân về công tác đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm cũng rất cao Sự chặt chẽ và thống nhất trong các quy định của pháp luật cũng là một trong những nội dung quan trọng mà đất nước ta cần phải học hỏi trong quá trình ban hành các văn bản pháp luật phục vụ công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của nước ta hiện nay Ngoài ra ta thấy ở Nhật Bản việc phân công quản lý về an toàn thực phẩm cho các cơ quan nhà nước không bị chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ đây cũng là yếu tố quan trọng mà nhà nước ta cần quan tâm học hỏi
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh có tốc độ gia tăng dân số, gia tăng đô thị hóa mạnh mẽ
Do đó, an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được các cấp chính quyền trong tỉnh đặc biệt quan tâm, coi đây là một vấn đề có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội, an toàn sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường Trước tình hình đó, tháng
Trang 341/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập thí điểm mô hình BQL ATTP tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở từ một số chức năng của các đơn vị thuộc Sở Y tế,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Công thương Từ đó đến nay, dưới
sự điều hành chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, cùng sự quyết tâm và cố gắng của tập thể Ban lãnh đạo, cán bộ, nhân viên, BQL ATTP tỉnh đã triển khai hiệu quả nhiều hoạt động nhằm đảm bảo ATTP trên địa bàn như [4]:
- Trong năm 2020, BQL ATTP tỉnh đã tích cực, chủ động tham mưu cho
UBND tỉnh, Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tỉnh triển khai có hiệu quả nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng bảo đảm ATTP trên địa bàn; trọng tâm là xây dựng kế hoạch thực hiện “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2020” Theo đó, công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về ATTP đã được tăng cường đẩy mạnh
-Trong năm 2021, Ban Quản lý ATTP tỉnh Bắc Ninh đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị tuyến tỉnh và tuyến huyện, thành phố tiến hành nhiều hình thức truyền thông trực tiếp và gián tiếp như: Cấp phát tài liệu tuyên truyền; tổ chức tập huấn, nói chuyện về ATTP; tuyên truyền thông qua các hình thức tin bài, phát thanh, truyền hình, pano, áp phích, tờ rơi…
-Cùng với đó, BQL ATTP tỉnh đã chủ động phối hợp triển khai hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đợt cao điểm trong năm: Tết Trung thu, Tết Nguyên đán đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh nhằm kịp thời phát hiện, nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý các tổ chức, cá nhân có vi phạm các quy định của Nhà nước về vệ sinh ATTP Theo báo cáo thống kê, trong năm 2020, BQL ATTP tỉnh đã tiến hành thanh, kiểm tra tổng số 2.093 cơ sở (bao gồm cả thanh, kiểm tra liên ngành, chuyên ngành và đột xuất); ban hành 37 quyết định xử phạt với tổng số tiền phạt 274.500.000 đồng, số tiền phạt trung bình 7,42 triệu đồng/cơ sở
-Công tác giám sát, phát hiện mối nguy ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn tỉnh luôn được quan tâm và triển khai thực hiện nhằm kịp thời phát hiện và có biện pháp ngăn chặn không để thực phẩm không đảm bảo chất lượng, an toàn lưu thông trên thị trường và cũng là căn cứ để định hướng trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Trang 35- BQL ATTP đã triển khai thực hiện đồng bộ các hoạt động giám sát nhằm phòng ngừa, giảm thiểu các sự cố về ATTP như: thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về ATTP, đặc biệt tập trung vào các bếp ăn tập thể,
lễ hội, sự kiện, bữa ăn tập trung đông người; triển khai các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, phổ kiến kiến thức về an toàn thực phẩm cho các đối tượng là người quản
lý, trực tiếp sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, người tiêu dùng Bên cạnh
đó, Ban Quản lý cũng đã thành lập các Đội điều tra ngộ độc thực phẩm phản ứng nhanh để sẵn sàng điều tra, xử lý các vụ ngộ độc thực phẩm và sự cố về ATTP khi xảy ra; thông báo số điện thoại đường dây nóng tiếp nhận thông tin ngộ độc thực phẩm, phản ánh của người dân, các cơ sở y tế, các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
1.2.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Với mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành điểm đến thực phẩm an toàn, Đà Nẵng đang triển khai giai đoạn 1 của Dự án truy xuất nguồn gốc thực phẩm trên cơ sở số hóa bằng hệ thống điện tử Dự án giúp người dân có thể dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản phẩm và đánh giá các thực phẩm thông qua ứng dụng, đảm bảo quyền lợi cho người dân
Theo Ban Quản lý An toàn vệ sinh thực phẩm thành phố Đà Nẵng, trong giai đoạn 1, thành phố sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu và website, phần mềm truy xuất nguồn gốc theo chiều sâu cho chuỗi sản phẩm thịt – trứng và triển khai thực tế cho sản phẩm thịt lợn Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Thành ủy, UBND, HĐND thành phố đã tạo nên sự chuyển biến sâu rộng của cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp, các ban, ngành, mặt trận, đoàn thể các cấp trong công tác đảm bảo ATTP, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân thành phố Đà Nẵng, các nội dung mà Ban lãnh đạo, cán bộ, nhân viên, BQL ATTP tỉnh đã triển khai hiệu quả nhiều hoạt động nhằm đảm bảo ATTP trên địa bàn như [3]:
Công tác tuyên truyền, tập huấn cho người sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, cho người tiêu dùng trên địa bàn thành phố được các sở, ngành, các cấp
là thành viên BCĐ tổ chức thường xuyên, thay đổi cách tiếp cận bằng nhiều hình thức, mang tính hướng đích cụ thể nhằm thay đổi nhận thức, thay đổi tư duy và dễ dàng thay đổi hành vi trong sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm
Trang 36Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý được tiến hành thường xuyên, đạt tỉ lệ 85%, xử phạt 256 cơ sở với số tiền trên 1,8 tỷ đồng Hoạt động kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm được duy trì với các cơ sở giết mổ tập trung đảm bảo về vệ sinh thú
ý, vệ sinh môi trường và trong vận chyển sau giết mổ Bên cạnh đó, việc lấy mẫu giám sát các chỉ tiêu an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm, truy xuất nguồn gốc của thực phẩm không đảm bảo để kịp thời
có hướng xử lý đối với nguồn cung cấp thực phẩm cho thành phố Đặc biệt trong năm 2021, với tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp trong hoàn cảnh các tỉnh thành bị phong tỏa, thành phố vẫn không để xảy ra đứt gãy chuỗi cung ứng thực phẩm và đồng thời ổn định về chất lượng và an toàn thực phẩm cho nhân dân thành phố
Trong năm 2021, Ban Quản lý ATTP đã xây dựng và được UBND thành phố đồng ý cho ban hành Bộ Tiêu chí xếp hạng sao cho các cơ sở dịch vụ ăn uống, và đã công nhận cho 64 cơ sở đạt chuẩn sao, gồm 7 cơ sở xếp hạng 5 sao, 16 cơ sở đạt 4 sao, 17 cơ sở đạt 3 sao, 14 cơ sở đạt 2 sao và 10 cơ sở đạt 1 sao Công tác xây dựng chợ đạt Điều kiện ATTP được tiếp tục đầu tư về cơ sở hạ tầng và đảm bảo các tiêu chí về ATTP để được công nhận nhằm đảm bảo nơi tin cập cho người tiêu dùng thành phố mua sắm
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Thanh Hóa
Từ kinh nghiệm QL về ATTP quốc tế và một số tỉnh, thành phố như đã nêu trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa như sau:
- UBND tỉnh Thanh Hóa cần nghiên cứu và sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về: Phân công, phối hợp giữa các cấp, các ngành trong QL về ATTP; các chỉ tiêu công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định ATTP đối với các sản phẩm thực phẩm được sản xuất và kinh doanh phổ biến tại địa phương; quy định cơ chế phối hợp trong QL về ATTP giữa Sở Y tế tỉnh Thanh Hóa với Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thanh Hóa
- Cần phải hệ thống cơ sở pháp lý chặt chẽ, các quốc gia đều ban hành luật quy định riêng về vấn đề ATTP Việc xây dựng hành lang pháp lý vừa tạo điều kiện cho các chủ thể sản xuất kinh doanh hoạt động vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác QL về ATTP
Trang 37- Về đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý an toàn thực phẩm: hàng năm thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác quản
lý an toàn thực phẩm, từ xã, phường đến cán bộ y tế thôn, xóm Thường xuyên cập nhật những quy định mới, những kiến thức mới để đảm bảo cho đội ngũ làm công tác quản lý an toàn thực phẩm đáp ứng được cao nhất hiệu quả công tác quản lý về
an toàn thực phẩm
- Đẩy mạnh đầu tư về cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật và nhân lực trong kiểm tra, giám sát, quản lý chất lượng đối với các sản phẩm thực phẩm tươi sống tại các chợ đầu mối của tỉnh
- Các cơ quan QL về ATTP cần duy trì thường xuyên công tác phối hợp liên ngành giữa các ban, ngành là thành viên của Ban chỉ đạo các cấp thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch cũng như các đợt thanh tra, kiểm tra đột xuất nhằm phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về ATTP Nghiêm túc xử lý các hành vi vi phạm về ATTP theo các quy định của pháp luật hiện hành
Trang 38Tiểu kết chương 1
Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận QL về ATTP tại Chương 1, Luận văn đã làm rõ khái niệm về thực phẩm, an toàn thực phẩm; quản lý; quản lý về an toàn thực phẩm; đồng thời, phân tích rõ tầm quan trọng của an toàn vệ sinh thực phẩm Bên cạnh những phương pháp, nguyên tắc, đặc điểm quản lý về ATTP, các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý về ATTP, luận văn đề xuất 05 nội dung của quản lý về ATTP bao gồm: (1) Xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện văn bản, chính sách pháp luật trong quản lý về an toàn thực phẩm; (2) Tổ chức thực hiện các văn bản, chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm trong quản lý về an toàn thực phẩm; (3) Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo cán bộ quản lý về an toàn thực phẩm; (4) Đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách cho công tác quản lý về an toàn thực phẩm và (5) Thanh tra, kiểm tra,
xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm
Trong chương 1, luận văn cũng đã đề cập tới kinh nghiệm quốc tế và một số địa phương trong nước, từ đó rút ra kinh nghiệm trong QL về ATTP cho tỉnh Thanh Hóa Các cơ sở lý luận tại chương 1 sẽ là tạo tiền đề cho việc phân tích thực trạng, đánh giá ưu, nhược điểm, tìm ra nguyên nhân những mặt hạn chế về ATTP và QL
về ATTP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa tại Chương 2 của luận văn
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Hoá là một tỉnh nằm ở cực Bắc miền Trung, phía Bắc giáp với 3 tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nuớc Cộng hòa DCND Lào), phía Đông mở ra phần giữa của Vịnh Bắc
bộ thuộc biển Đông Thanh Hoá có diện tích tự nhiên là 11.120,34 km2, chiếm 3,37% tổng diện tích tự nhiên cả nước, trên 70% diện tích là vùng gò đồi và rừng
Là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện, cửa ngõ quan trọng trong lưu thông, vận chuyển hàng hóa, thực phẩm Bắc Nam nên khó kiểm soát thực phẩm từ tỉnh ngoài vào trong tỉnh
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa
(Nguồn: UBND tỉnh Thanh Hóa)
Trang 402.1.2 Địa hình, khí hậu
Thanh Hoá có 27 đơn vị hành chính gồm 02 thành phố (TP Thanh Hoá và TP Sầm Sơn), 02 thị xã (Bỉm Sơn và Nghi Sơn), 23 huyện và 559 xã, phường, thị trấn;
địa hình Thanh Hoá có thể chia làm 3 dạng đặc trưng sau:
Vùng núi và trung du: Chiếm 2/3 diện tích tự nhiên gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía Nam, gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc; phù hợp phát triển các sản phẩm nông sản như măng, hoa quả,
Vùng đồng bằng được bồi tụ bởi hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Hoạt, sông Yên bao gồm các huyện: Thọ Xuân, ên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và TP Thanh Hóa; phù hợp phát triển các sản phẩm nông sản, thực phẩm rau, củ, quả
Vùng ven biển: Bao gồm các huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố Sầm Sơn), Quảng Xương, Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn), chạy dọc theo bờ biển là cửa các sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Bạng; phù hợp với phát triển các sản phẩm nông sản, thực phẩm nuôi trồng đặc biệt là thủy sản
Thanh Hóa có diện tích tự nhiên 11.114,6 km2 và dân số 3,64 triệu người, là tỉnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước Thanh Hóa có 3 vùng địa hình: Vùng miền núi, trung du; vùng đồng bằng và vùng ven biển; có 27 huyện, thị xã, thành phố (02 thành phố, 02 thị xã, 12 huyện đồng bằng và ven biển, 11 huyện miền núi) với 559
xã, phường, thị trấn, 4.410 thôn, bản, khu, phố
Khí hậu Thanh Hoá là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng, ẩm mưa nhiều, chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô, nóng; mùa đông lạnh và ít mưa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24 độ C, nhiệt độ không khí phụ thuộc vào yếu tố địa hình và được chia thành 3 vùng khí hậu; phù hợp phát sản phẩm nông sản, thực phẩm ôn đới