Nguyễn Đức Dân, cuốn Tuyển tập Đỗ Hữu Châu 2005… Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về lời dẫn thoại dẫn như: Luận án tiến sĩ của Mai Thị Hảo Yến, Hội thoại trong tác phẩm v
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Hoàng Văn Giang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Phạm Văn Hảo Người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong tổ Ngôn Ngữ học, Ban chủ nhiệm khoa KHXH, Phòng Đào tạo (Bộ phận Sau đại học) trường Đại học Hồng Đức đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến cơ quan Huyện Ủy Thường Xuân, cơ quan Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Thường Xuân, tới gia đình
và những người bạn thân thiết đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học
Thanh Hóa, ngày 09 tháng 9 năm 2014
Hoàng Văn Giang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
2.1 Nuớc ngoài 2
2.2 Trong nước 3
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của đề tài 4
5 4
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6.1 Đối tượng nghiên cứu 4
6.2 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Dự kiến kết quả đạt được 5
8 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
7
1.1.1 Cấu trúc hội thoại 7
7
7
8
8
: 8
vi ngôn ngữ: 8
1.1.2 Các nhân tố giao tiếp 9
1.1.2.1 Ngữ cảnh 9
a Nhân vật giao tiếp 9
b Hiện thực ngoài diễn ngôn 11
1.1.2.2 Diễn ngôn 13
13
Trang 41.2.1 Khái niệm 13
i dẫn 14
15
1.2.4 Về lời dẫn 15
15
17
1.2.4.3 Vấn đề điểm nhìn trong lời dẫn 17
1.3 Vài nét về Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của ông 18
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM LỜI DẪN CỦA THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 21
2.1 Cách thức dẫn thoại 21
2.2 Vị trí của lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp 23
2.2.1 Lời dẫn ở trước lời được dẫn 23
2.2.2 Lời dẫn ở giữa lời được dẫn 24
2.2.3 Lời dẫn ở sau lời được dẫn 25
2.3 Cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của lời dẫn 27
2.3.1 Cấu trúc cú pháp của lời dẫn 27
2.3.1.1 Câu đơn 27
2.3.1.2 28
29
2.3.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của lời dẫn 30
2.4 Điểm nhìn trong lời dẫn 45
2.4.1 Điểm nhìn của nhân vật 46
2.4.2 Điểm nhìn của tác giả 48
Chương 3 GIÁ TRỊ CỦA LỜI DẪN TRONG THOẠI DẪN TRỰC TIẾP Ở TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 53
3.1 Giá trị hội thoại 53
3.1.1 Lời dẫn là một thành phần cơ bản của thoại dẫn 53
3.1.2 Lời dẫn giúp cho việc xác định nghĩa thật sự của lời được dẫn một cách chính xác hơn 55
Trang 53.2 Giá trị của lời dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp 59
3.2.1 Lời dẫn góp phần tạo dựng chân dung nhân vật 59
thể hiện tâm lý, tính cách nhân vật 61
3.2.3 Lời dẫn tái hiện các hoạt động xảy ra đồng thời với lời được dẫn – lời thoại của nhân vật 64
3.2.4 Lời dẫn giúp hiểu sâu hơn về nội tâm của nhân vật 65
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 71
71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ VIẾT TẮT
3 DTTGT : Dòng tâm tư gián tiếp
4 DTTTT : Dòng tâm tư trưc tiếp
9 Sp1 (Speaker 1) : Vai nói (viết)
10 Sp2 (Speaker 2) : Vai nghe (đọc)
Trang 7Bảng 2.2 Các kiểu câu trong lời dẫn của TDTT trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
44
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hội thoại là một trong những nhân tố cơ bản cấu thành tác phẩm văn học Các nhân vật văn học thể hiện tâm lý, tính cách, đặc điểm không chỉ qua lời miêu tả của tác giả (người kể), qua hành động của nhân vật trong tác phẩm, mà còn thông qua giao tiếp – tức qua hội thoại của nhân vật với nhân vật Vì thế, “hội thoại vẫn thường là một kỹ thuật quan trọng để đặc tả nhân vật và được dùng thường xuyên trong tác phẩm văn học” [1] Tất nhiên, việc dẫn các lời thoại “tưởng tượng” đó vẫn phải tuân theo những quy tắc dẫn thoại nói chung Hội thoại trong tác phẩm văn học được gọi là thoại dẫn
– –
kiểu “diegesis” (kể) là một dạng của “bắt chước” [59]
: L
) Lời dẫn là một trong hai thành phần làm nên cấu trúc của một thoại dẫn Vai trò của lời dẫn
là rất lớn Lời dẫn không những là một trong những kỹ thuật dẫn thoại trong tác phẩm, mà lời dẫn còn có thể góp phần chuyển tải ý đồ nghệ thuật của nhà văn, có thể tô đậm thêm chân dung nhân vật trong tác phẩm Luận văn sẽ làm
rõ hơn vai trò này của lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp của trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn đã “mang tới cái chất mà lâu nay trong văn học Việt Nam hơi thiếu – chất kiêu bạc, “tàn nhẫn” và “cay đắng” Chất “kiêu bạc, tàn nhẫn” và “cay đắng” ấy, theo quan sát của chúng tôi, đã
Trang 9được thể hiện rất nhiều trong kỹ thuật xây dựng hội thoại trong tác phẩm của nhà văn Hơn nữa, trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có nhiều loại nhân vật, với nhiều kiểu thoại khác nhau có thể đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ Hơn nữa, việc nghiên cứu cũng sẽ góp phần hiểu sâu hơn các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Nuớc ngoài
Sự dẫn thoại (của người viết) và các thoại dẫn đã được nói đến từ thời
Hi Lạp cổ đại Platon, khi bàn về các phương thức tự sự đã phân biệt các phương thức cơ bản: “diegesis”, tiếng Anh dịch là “telling” chúng tôi tạm dịch là “kể” và “mimesis”, tiếng Anh dịch là “showing”, chúng tôi tạm dịch là diễn (trình diễn) Aristote, học trò của Platon mở rộng khái niệm mimesis –
diễn thành khái niệm “bắt chước” (imitasion) và xem diegesis – kể là một
dạng của “bắt chước” Thoại dẫn trong tác phẩm về bản chất là “bắt chước” lời thoại trong hội thoại đời thường Aristote phân biệt hai hình thức thoại dẫn: Oratio racta và oratio oblique [59]
Hai hình thức thoại dẫn trên, oratio racta được dịch là thoại dẫn trực tiếp (direct speech – TDTT) và oratio oblique được dịch là thoại dẫn gián tiếp
(indirect speech – TDGT) Ý nghĩ cũng có thể được dẫn và cũng có khả năng dẫn trực tiếp và dẫn gián tiếp
Dẫn trực tiếp và dẫn gián tiếp đã được Leech G & Short M nói đến một cách
khá bài bản trong “Style in fiction – A linguistic introduction fictional prose” (1981),
Longman, London
Quyết định cho việc hiểu dẫn trực tiếp hay dẫn gián tiếp chính là ngữ cảnh – sự quan yếu Trên cơ sở các nguyên tắc ngữ dụng (phương châm quan
hệ – maxim of relation) trong nguyên tắc cộng tác (co – operative principle),
lý thuyết quan yếu đã được xây dựng bởi Wilson Deirdre, 1998, trong
Linguistic structure and inferential communication, in Caron, Bernard (ed) Proceedings of 16th International Congress of linguists (Paris, 20 – 25 July 1997),
Trang 10Pergamon, Oxfor: Elsevier Sciences; Winson Deirdre, 1999, Relevance and Relevance Theory, in R Wilson & F Keil (eds) MIT Encydopedia of the Cognitive Sciences, MIT Press, Cambridge MA; Winson Deirdre & Sperber, Dan, 2002, UCL Working Papers in linguistics 14 Seiji Uchida, trong bài viết
"Immediate contex and reported speech" (1997), UCL Working Papers in
linguisics 9 đã nói rõ hơn về việc xác lập các yếu tố của các nhận biết được chọn làm ngữ cảnh
Nghiên cứu về lời dẫn còn phải kể đến các tác giả như: Sternberg, Fludernik, Banfield
2.2 Trong nước
Nghiên cứu về sự dẫn thoại đã được đề cập đến trong cuốn Ngữ dụng học (1998) của GS Nguyễn Đức Dân, cuốn Tuyển tập Đỗ Hữu Châu (2005)…
Ngoài ra, phải kể đến các công trình nghiên cứu về lời dẫn (thoại dẫn)
như: Luận án tiến sĩ của Mai Thị Hảo Yến, Hội thoại trong tác phẩm văn học – Đặc điểm của thoại dẫn (2001), Ngữ cảnh và lời dẫn trong hội thoại (2005) của Nguyễn Vân Phổ; Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ lời dẫn thoại trong tiểu thuyết của Chu Lai (2010) của Nguyễn Thị Thái…
Lời dẫn thoại có thể nói đã được quan tâm nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, một công trình riêng biệt, đầy đủ và chi tiết về lời dẫn từ lý thuyết hội thoại – thoại dẫn là chưa có Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu lý thuyết cũng như cách tiếp
cận của những nghiên cứu trước, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
3 Mục đích nghiên cứu
- Xác định được lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp
- Nghiên cứu cũng sẽ góp phần làm rõ hơn những giá trị của lời dẫn trong hội thoại và giá trị của lời dẫn trong việc chuyển tải ý đồ nghệ thuật của nhà văn
Trang 114 Những đóng góp mới của đề tài
* Về mặt lý luận
- Luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn lý thuyết về Lời dẫn, mà cụ thể là Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp, với việc đưa ra khái niệm, tiêu chí phân loại
và những phân tích mô tả một cách toàn diện
- Luận văn góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của ngành ngôn ngữ
học: nghiên cứu một vấn đề cụ thể – lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong sự
hành chức của nó – tác phẩm văn học
* Về mặt thực tiễn
- Góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề của tiếng Việt qua một vấn đề
ngôn ngữ cụ thể – Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp
- Góp phần làm rõ hơn các giá trị hội thoại cũng như giá trị nghệ thuật
của lời dẫn trong thoại dẫn trực tiếp
- Góp phần hiểu thêm các tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ
- Đề tài cũng sẽ góp phần cung cấp một số kiến thức Việt ngữ vào việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
5
Trong luận văn này, chúng tôi nhắm đến thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
5.1 Xây dựng khái niệm lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp, từ đó rút ra
những đặc trưng của lời dẫn trong thoại dẫn trực tiếp
5.2 Mô tả cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của lời dẫn
5.3 Bước đầu tìm hiểu giá trị của lời dẫn trong hội thoại và trong tác
phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp
trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
Trang 126.2 Phạm vi nghiên cứu
- Chúng tôi sẽ khảo sát Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Trong quá trình nghiên cứu, đồng thời chúng tôi
cũng sẽ so sánh đối chiếu các cứ liệu trong các tác phẩm của các tác giả khác,
để có thể có những đánh giá khách quan hơn về đối tượng đang nghiên cứu
7 Kết quả đạt được
- 01 bài báo (có nội dung liên quan đến đề tài) đăng trên tạp chí chuyên ngành
- 01 Báo cáo khoa học tổng kết đề tài luận văn (đúng mục tiêu nội dung
đề ra) tại Trường Đại học Hồng Đức (khoảng 80 – 90 trang)
- 01 báo cáo tóm tắt luận văn (20 – 25 trang)
8 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp của ngôn ngữ học:
+ Phương pháp miêu tả: Dùng để miêu tả các dạng, các mô hình của các Lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp Từ đó, phân tích các phương diện của Lời dẫn trong thoại dẫn trực tiếp
+ Phân tích, tổng hợp: Từ sự miêu tả, trên cơ sở lý thuyết về thoại dẫn,
chúng tôi sẽ phân tích và lý giải lời dẫn với những giá trị hội thoại cũng như
giá trị nghệ thuật Từ phân tích, sẽ đi đến những kiến giải cụ thể trong từng
phương diện nghiên cứu về lời dẫn, cũng như đưa ra những nhận định, đánh
giá một cách toàn diện các vấn đề nghiên cứu
- Các thủ pháp nghiên cứu: Khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
ời dẫn: L
ại dẫn
Chương 2: ời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn
Trang 13Nguyễn Huy Thiệp ời dẫn,
vị trí lời dẫ ời dẫn cả về cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa; điểm nhìn trong lời dẫn; vai trò của lời dẫn trong hội thoại nói chung và hội thoại trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng Trong một chừng mực nhất định, chúng tôi cũng đồng thời tìm hiểu mối quan hệ giữa thoại nguồn (thoại thực tế) và thoại trong tác phẩm văn học qua lời dẫn
Chương 3: Giá trị của lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
trị hội thoại và giá trị nghệ thuật của lời dẫn trong thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng và trong hội thoại nói chung
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Hội thoại được nghiên cứu cơ bản là hội thoại trong thực tế sử dụng ngôn ngữ Tức sự hành chức của ngôn ngữ Tức trong hoạt động nói năng của con người trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, hoạt động hội thoại trong thực
tế đó, phần nào cũng được tái hiện trong tác phẩm văn học và nhiều loại văn bản khác Hội thoại trong văn bản nói chung được gọi là thoại dẫn Nghiên cứu
về lời dẫn của thoại dẫn, chúng tôi sẽ áp dụng hệ thống lý thuyết sau:
Chúng tôi sẽ áp dụng lý thuyết hội thoại của GS Đỗ Hữu Châu với những vấn đề cơ bản, gồm:
1.1.1 Cấu trúc hội thoại
Trang 16Durot –
: H
1.1.2 Các nhân tố giao tiếp
Các nhân tố giao tiếp gồm: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Tuy nhiên, trong phạm vi ứng dụng của đề tài với hệ thống lý thuyết này, chúng tôi chỉ đề cập đến yếu tố ngữ cảnh và diễn ngôn là cơ bản
1.1.2.1 Ngữ cảnh
Giáo sư Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn” Ngữ cảnh là một tổng thể những hợp phần sau đây:
a Nhân vật giao tiếp:
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
- Vai giao tiếp
Trong một cuộc giao tiếp có sự pha vai: Vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1 (speaker 1) và vai tiếp nhận diễn ngôn, tức nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp2 (speaker 2) Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngược lại
Trong một cuộc giao tiếp Sp1 (cả chủ ngôn, cả thuyết ngôn) đều có đích, còn gọi là đích giao tiếp, niềm tin (vào Sp2, vào chính cuộc giao tiếp và vào chính mình) Mà như chúng ta đã nói, Sp2 có thể chuyển thành Sp1 cho nên cả Sp2 cũng phải có ý định và niềm tin tương tự
Trang 17- Quan hệ liên cá nhân
Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance) còn gọi là trục thân cận (solidarity) Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội Cái gọi là địa
vị xã hội có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp mà có
Vị thế xã hội và mức độ thân cận cũng là những yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà những người tham gia giao tiếp xây dựng về nhau
“Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Trong các ngôn ngữ, đặc biệt trong tiếng Việt, xưng
hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân Qua xưng hô mà Sp2 nhận biết Sp1 đã xác định quan hệ vị thế và quan hệ thân cận giữa anh ta với mình như thế nào”.[8]
Nhân vật giao tiếp với quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân cũng được thể hiện trong lời dẫn
Ví dụ <1>: Một bữa kia có một chàng trai dáng vẻ hùng dũng đến nói với trưởng bản và các bô lão:
- Dũng cảm là đức tính quí nhất và khó kiếm nhất Tôi là người có đức tính ấy!
(Tiệc xoè vui nhất – TNNHT – 15)
Lời dẫn trên cho biết có các nhân vật giao tiếp là “chàng trai dáng vẻ hùng dũng” và “trưởng bản và các bô lão” Lời dẫn cũng cho biết, giữa các nhân vật giao tiếp có mối quan hệ liên nhân, mà cụ thể là quan hệ xã hội và quan hệ thân cận rất khác nhau Ngoài ra trong lời dẫn cũng cho biết cách
Trang 18nhìn nhận của người kể chuyện (tức điểm nhìn của tác giả) đối với nhân vật của mình, đó là “một chàng trai dáng vẻ hùng dũng”
b Hiện thực ngoài diễn ngôn:
Trừ nhân vật giao tiếp, tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hoá
có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến
trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn
(đối với ngôn ngữ thì là hiện thực ngoài ngôn ngữ)
Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần nhưng hiện thực ngoài diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành hiểu biết của những người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì hiện thực ngoài diễn
ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao tiếp của diễn ngôn
Một cuộc giao tiếp chỉ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp có một lượng tiền giả định bách khoa chung nào đấy mặc dầu về chất lượng và số lượng tuyệt đối thì hiểu biết về hiện thực ngoài diễn ngôn của các nhân vật giao tiếp (và của những người sử dụng cùng một ngôn ngữ) không đồng nhất
Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận:
- Hiện thực – đề tài của diễn ngôn
- Hoàn cảnh giao tiếp
- Thoại trường
- Ngữ huống giao tiếp
Trong đó, đáng chú ý là sự có mặt trong lời dẫn các yếu tố như:
- Hoàn cảnh giao tiếp (trước đây gọi là hoàn cảnh giao tiếp rộng)
Loại trừ thế giới khả hữu – hệ quy chiếu, loại trừ hiện thực – đề tài, tất
cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp
Trang 19- Thoại trường (setting, site) (trước đây được gọi là hoàn cảnh giao tiếp hẹp)
Một cuộc giao tiếp phải diễn ra trong một không gian cụ thể ở một thời gian cụ thể Thoại thường được hiểu là cái không – thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra Không nên hiểu không – thời gian thoại thường là không gian và thời gian bất kỳ, thường xuyên biến đổi Không – thời gian thoại thường là không gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người ta phải xử sự, nói năng theo những cách thức ít nhiều cũng chung cho nhiều lần xuất hiện Trường học, chùa chiền, nhà thờ, cung điện, hội trường là những thoại trường thường được dẫn làm thí dụ Thời gian thoại trường là thời gian ở một không gian thoại trường mà ở đó con người phải nói năng, xử sự khác với cách nói năng, xử sự ở thời gian khác trong cùng không gian thoại thường Thí dụ: Buổi sáng, buổi chiều, ngày rằm, mồng một và ngày thường là những thời gian thoại thường khác nhau của cái không gian thoại trường: Nhà chùa
- Ngữ huống giao tiếp
Quan hệ liên cá nhân, các tiền giả định bách khoa, thoại trường của một cuộc giao tiếp không phải nhất thành bất biến đối với một cuộc giao tiếp Những yếu tố của các nhân tố, nhân vật giao tiếp, của hiện thực ngoài diễn ngôn thay đổi liên tục suốt trong quá trình giao tiếp Cho t1, t2, t3, , tn là những thời điểm kế tiếp nhau của một cuộc giao tiếp thì các yếu tố trên ở thời điểm t1 khác, ở thời điểm t2, t3, khác Tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp là các ngữ huống của cuộc giao tiếp Chẳng hạn:
Ví dụ <2>: Lặng im một lát rồi nhận thấy mình vô lý, bà bỗng kéo cô con gái đang lả người đi, mềm nhũn vào lòng bà, rồi nói với giọng tỉnh táo không ngờ:
- Cứ sống đi con, rồi con sẽ hiểu cuộc đời Khốn nạn! Khốn nạn vô cùng (Huyền thoại phố phường – TNNHT – 56)
“Lặng im một lát” và “nhận thấy mình vô lý” là ngữ huống của tình huống giao tiếp giữa các nhân vật “bà” và “cô con gái”
Trang 201.1.2.2 Diễn ngôn
Cần phân biệt ba khái niệm câu, phát ngôn, diễn ngôn trước khi nói về
diễn ngôn là cần thiết
Ngôn ngữ học thế giới hiện nay vẫn chưa có cách hiểu nhất trí về ba
khái niệm câu, phát ngôn, diễn ngôn Dưới dây chỉ là cách hiểu của chúng tôi
về chúng, cách hiểu có tính chất để làm việc hơn là cách hiểu thật thấu triệt
Diễn ngôn là lời của từng nhân vật nói ra trong một cuộc giao tiếp Cũng có những diễn ngôn do hai hay hơn hai nhân vật giao tiếp xây dựng nên (như trường hợp trong một cuộc hội thoại tay ba, hai người liên kết với nhau
để chống lại người thứ ba)
Trong mối qua hệ với lời dẫn, các diễn ngôn là một phần tất yếu của thoại dẫn Và để hiểu diễn ngôn một cách đầy đủ, thì không thể không xem xét đến lời dẫn
<3>: Helooked Angten her furiously anh said: “Why can’ thank
you stop it? Really! Why do you go on with this comedy?”
Trang 21?” (*)1
) “Why… comedy?” [59]
– indireet speech –
)
[59] (GT)
Trang 22Để thuận lợi cho việc sử dụng thuật ngữ, chúng tôi sẽ thống nhất gọi các hình thức TD trong diễn ngôn như sau: TDTT, TDGT và DTT mà không cần phải nhắc lại TDTT hay TDGT là dẫn lời thoại, còn DTT là dẫn ý nghĩ
Trong khuôn khổ của đề tài luận văn, chúng tôi chỉ bàn đến thoại dẫn trực tiếp – dẫn lời với thành phần là lời dẫn mà thôi
: T); T
)
<1> thì “Một bữa kia có một chàng trai dáng vẻ hùng dũng đến nói với trưởng bản và các bô lão:” “- Dũng cảm là đức tính quí nhất và khó kiếm nhất Tôi là người có đức tính ấy!”
,
Trang 23
- TDTT hay TDGT
: C
(như: Hsuddenly thought…)
Ví dụ <4>: Hình ảnh Mỵ Nương hiện ra Trương Chi thở dài Nàng
ngả người trên đệm Nàng lấy những ngón tay thon thả gỡ tóc Nàng bảo chàng:
- Hát đi!
(Trương Chi – TNNHT – 289)
Trang 24<5>: Mấy người kéo nhau xuống bến Phu nhân và hai người con sửng sốt Vẻ phấn khích làm cho má cô gái và cậu con trai ửng đỏ như có
than hồng Phu nhân hỏi:
- Thưa ông, tôi lại hỏi khí không phải nữa, thế cái người con gái mà ông hẹn bảy năm trước hình dáng thế nào Chẳng là tôi là người ở vùng này, nói đến ai là tôi biết liền
(Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt – TNNHT – 430)
: “Mấy người kéo nhau xuống bến… như có th
tài này
Từ những nghiên cứu về lời dẫn trên, chúng tôi cho rằng lời dẫn có thể
sự của tác phẩm, dẫn lời thoại (hoặc ý nghĩ) của nhân vật Lời dẫn của người
dẫn (kể, nói, viết) cùng với lời được dẫn (lời thoại, ý nghĩ) của nhân vật làm thành một thoại dẫn (hội thoại trong tác phẩm văn học)
1.2.4.3 Vấn đề điểm nhìn trong lời dẫn
-: T
; Tnhân v
“Nàng bảo chàng” hay “Phu nhân hỏi”
Trang 25“Dũng cảm là đức tính quí nhất và khó kiếm nhất Tôi là người có đức tính ấy!”, “Hát đi!” “Thưa ông, tôi lại hỏi khí không phải nữa, thế cái người con gái mà ông hẹn bảy năm trước hình dáng thế nào Chẳng là tôi là người ở vùng này, nói đến ai là tôi biết liền ”
Lời dẫn được nghiên cứu với các phương diện như: Vị trí lời dẫn, cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của lời dẫn, điểm nhìn của lời dẫn, và mối quan hệ giữa lời dẫn và lời được dẫn Vận dụng các lý thuyết về hội thoại và thoại dẫn, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề trên của lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ở chương sau
1.3 Vài nét về Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của ông
Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950 tại Thanh Trì, Hà Nội, Nguyễn Huy Thiệp từng có một tuổi thơ vất vả Ông đã cùng gia đình lưu lạc khắp nhiều vùng nông thôn của đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên… Sau khi tốt nghiệp Khoa Sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Nguyễn Huy Thiệp đã có 10 năm giảng dạy ở miền núi Tây Bắc Năm 1980, ông trở
về Hà Nội, làm việc tại công ty Sách Giáo khoa thuộc Sở giáo dục Hà Nội, sau đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục bản đồ cho đến khi
về hưu Hiện nay ông sống cùng gia đình tại Hà Nội
Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên văn đàn Việt Nam đúng vào lúc Đảng và Nhà nước có những chủ trương nhằm đem đến sự phát triển cho nền văn học thời kỳ đổi mới Với hơn 40 truyện ngắn, 3 tiểu thuyết, gần 10 vở kịch cùng với nhiều bài phê bình văn học Nguyễn Huy Thiệp đã đóng góp nhiều cho văn học Việt Nam Song, thể loại làm nên tên tuổi và mang lại cho
ông một phong cách nghệ thuật độc đáo chính là truyện ngắn Những Tướng
về hưu, bộ ba truyện lịch sử, Không có vua, Những ngọn gió Hua Tát, Những bài học nông thôn, Sang sông… đã giúp Nguyễn Huy Thiệp đã nhanh chóng
đứng vững trên văn đàn bằng tài năng văn chương của mình Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khai phá những mảng khuất tối trong đời sống đô thị, đời sống nông thôn, những ngóc ngách bí ẩn trong tâm hồn con người, khuấy đảo
Trang 26lên những vấn đề người ta hay né tránh, khước từ lối suy nghĩ một chiều dễ dãi Cuộc sống và con người hiện lên trong truyện Nguyễn Huy Thiệp sắc nét,
xù xì nham nhở, thậm chí kinh dị, vừa đẹp, vừa buồn Và ẩn sau những rậm rạp chữ nghĩa là tư tưởng xuyên suốt của của nhà văn: Nương vào tự nhiên
mà sống
Giọng Nguyễn Huy Thiệp văn của ông trong trẻo, huyền ảo khi viết về những huyền thoại miền sơn cước; lạnh lùng đến ghê rợn khi viết về hiện trạng đời sống thành thị; chua xót khi viết về đời sống nông thôn; tự tin khi viết về lịch sử; pha lẫn với chất ma mị, cười cợt, triết lý rải khắp các trang văn…
Truyện ngắn của ông được dịch sang tiếng Pháp, Anh, Italia, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia Ông đã vinh dự đuợc tặng Huân chương Văn học nghệ thuật Pháp năm 2007, nhận Giải thưởng Văn học Premio Nonino, Italia năm 2008
Xung quanh các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện nhiều ý kiến khen chê khác nhau, nhưng sức hấp dẫn của những trang văn này đối với độc giả đã được nhiều nhà phê bình thừa nhận Châu Minh Hùng: “Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, người đọc phải lao vào một cuộc chơi ở đó tất cả đều ở trong quan hệ bình đẳng, dân chủ Luật chơi sòng phẳng, cũng là nguyên tắc thẩm mỹ của truyện Nguyễn Huy Thiệp Thứ nhất, nhà văn đứng ngang hàng với nhân vật Cái kiểu nhà văn đứng cao hơn cuộc sống, đạo diễn cho nhân vật trịnh trọng dạy đời trên một lập trường hay quan điểm nào đó không tồn tại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp” [20] Hồ Tấn Nguyên Minh: “Đọc
truyện Nguyễn Huy Thiệp, có thể nhìn thấy một “cõi người ta” xù xì, gân
guốc, góc cạnh lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng
và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm
vô cùng bí ẩn Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu sắc của nhà văn về con người” [63] Và cho đến thời điểm hiện tại, Nguyễn Huy Thiệp cùng với các tác phẩm của ông vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà phê bình nghiên cứu khi tìm hiểu về nền văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ
Trang 27sau năm 1975 nói chung, cũng như khi khảo sát phong cách nghệ thuật của nhà văn nói riêng Có thể nói, khi nhắc đến những hiện tượng văn học tiêu biểu sau chiến tranh, bất cứ một tác giả nào cũng phải đề cập ít nhiều đến Nguyễn Huy Thiệp như một biểu hiện xuất sắc và độc đáo của dòng văn học đương thời
Tiểu kết
Hoạt động hội thoại trong thực tế cuộc sống hàng ngày phần nào đó được tái hiện trong tác phẩm văn học và nhiều loại văn bản khác Hội thoại trong văn bản nói chung được gọi là thoại dẫn Khi nghiên cứu về lời dẫn của thoại dẫn chúng tôi áp dụng hệ thống lý thuyết về hội thoại và lý thuyết về thoại dẫn
Để phân tích lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp nói chung cũng như trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nói riêng Trước hết không thể không chú ý đến những khái niệm cơ bản của lý thuyết hội thoại đó là những khái niệm: Cấu trúc hội thoại, các nhân tố giao tiếp hay các hình thức của thoại dẫn và các thành phần của thoại dẫn trong lý thuyết về thoại dẫn… Đồng thời không thể không nhắc đến lời dẫn, việc xác định lời dẫn giúp cho việc nghiên cứu đạt tới hiệu quả cao nhất Việc tìm hiểu lý thuyết hội thoại và lý thuyết thoại dẫn là yêu cầu cơ bản và bắt buộc để làm cơ sở khi tiến hành nghiên cứu lời dẫn của thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Qua đó giúp cho việc nghiên cứu tiếp cận một cách gần nhất và đúng nhất cách sử dụng ngôn ngữ của nhân vật ở những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và những mục đích khác nhau, cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả
Trang 28Chương 2
ĐẶC ĐIỂM LỜI DẪN CỦA THOẠI DẪN TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
2.1 Cách thức dẫn thoại
Theo [8], trong tiếng Việt nói chung và các văn bản tiếng Việt nói
riêng, đặc biệt là tác phẩm văn học, thoại dẫn trực tiếp d
: D), dẫn trực tiếp tự do (không có lời dẫn) và dẫn pha trộn (vừa dẫn trực tiếp
– có lời dẫn và dẫn trực tiếp tự do – không có lời dẫn) Qua nghiên cứu,
chúng tôi cũng nhận thấy rằng, trong thoại dẫn ở truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp, chỉ có kiểu dẫn trực tiếp và dẫn pha trộn, không có kiểu dẫn trực
tiếp tự do
Ví dụ <6>: Hặc nói với mọi người:
- Trung thực là đức tính đáng quí và khó kiếm nhất
(Tiệc xòe vui nhất – TNNHT – 18)
nhất ”
<7>: Anh Bường bảo: “Mày không nên đa cảm như thế Cuộc
đời còn cực nhọc lắm con ạ Chúng ta phải làm kiệt sức để kiếm miếng ăn, đa
cảm làm yếu người đi Ngày mai khối lượng công việc rất nặng Mày mất ngủ
vì một tiếng hoãng kêu, điều ấy có hại vô cùng Tao đưa mày lên rừng để làm
việc chứ không phải để mày tu dưỡng”
(Những người thợ xẻ – TNNHT – 222)
Trang 29
<8>: Cô Phượng chạy lại, quỳ xuống gỡ hai tay tôi, hốt hoảng:
“Anh có sao không? Trời ơi, sao tôi rồ dại thế này!”
(Con gái thủy thần – TNNHT – 167)
: Cô Phượng chạy lại, quỳ xuống gỡ hai tay tôi, hốt hoảng:
- Anh có sao không? Trời ơi, sao tôi rồ dại thế này!
Thì hiệu quả nghệ thuật sẽ giảm đi rất nhiều và tính liên tục của các sự kiện sẽ không còn nữa
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cách thức dẫn trực tiếp theo kiểu lời dẫn và lời được dẫn làm thành một câu và được ngăn cách bởi dấu trích dẫn được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng tương đối nhiều trong các tác phẩm của mình Trong tổng số 2237 lần dẫn thoại trực tiếp, thì kiểu dẫn này xuất hiện tới 1445 lần (chiếm 64,59%) Phải chăng đây cũng là một trong những yếu tố
về mặt ngôn ngữ đã góp phần tạo nên “dáng vẻ văn chương” của Nguyễn Huy Thiệp – một thứ văn lôi cuốn không chỉ bởi nội dung đa nghĩa mà ngay từ hình thức dẫn truyện khá đặc biệt này
nói chung Nghĩa là thoại dẫn trực tiếp (có lời dẫn) được dẫn cùng với thoại dẫn trực tiếp tự do (không có lời dẫn)
Ví dụ <9>: Ông giáo Chi cảm thấy nghẹt thở, nước mắt chảy ra giàn giụa
Ông cười không thành tiếng:
- Ừ Vậy ra nó là thanh tra giáo dục Thế nó nói gì?
(Sống dễ lắm – TNNHT – 466)
Trang 30Nhưng qua khảo sát, chúng tôi thấy Nguyễn Huy Thiệp dường như rất
ít kiểu dẫn này Mỗi lời thoại của nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp đều có lời dẫn
2.2 Vị trí của lời dẫn ở thoại dẫn trực tiếp
2.2.1 Lời dẫn ở trước lời được dẫn
Một điều dễ nhận thấy, đó là hầu như lời dẫn trong các tác phẩm tự sự nói chung đều có vị trí ở trước, giữa và sau lời được dẫn
Lời dẫn, theo quan niệm của chúng tôi chỉ là câu nằm ngay trước hoặc
ngay sau hoặc ở giữa lời được dẫn Lời dẫn ở trước lời được dẫn, được
Nguyễn Huy Thiệp dẫn theo hai cách:
Thứ nhất, đó là lời dẫn được ngăn cách với lời được dẫn bằng dấu hai
chấm qua dòng
Ví dụ <10>: Cô gái đáo để:
- Thưa ông, người ta nói “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” là thế nào ạ?
(Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt – TNNHT – 427)
Hoặc <11>: Ông bảo:
- Sám hối vẫn thường là một nhu cầu tâm linh của người ta khi đã về già Thế nào gọi là Sám? Thế nào gọi là Hối? Sám có nghĩa là ăn năn về những lỗi lầm mình đã phạm từ trước Các nghiệp ác, các tội ngu si mê chấp, kiêu ngạo khinh mạn hoàn toàn xin ăn năn hối lỗi, từ nay về sau không còn gây ra nữa Thế gọi là Sám Hối có nghĩa là hối cải những điều lỗi có thể phạm phải sau này Các nghiệp ác, các tội ngu mê, kiêu ngạo, ngông cuồng, ghen ghét đã được giác ngộ sẽ phải dứt bỏ hẳn, không gây ra nữa
(Chuyện ông Móng – TNNHT – 511)
Và kiểu thứ hai:
Ví dụ <12>: Bà Lâm lắc đầu: “Cậu còn trẻ lắm, cậu cứ sống đến tám
mươi tuổi đi xem đã nào” Đức Phật tổ cho mỗi người một ít của cải, ai cũng như nhau, người tám lạng kẻ nửa cân Sức khỏe, đức hạn cũng là của cải Có của thì phải biết tiêu Chứa nhiều rồi nó hóa tinh ra ấy chứ
(Những bài học nông thôn – TNNHT – 147)
Trang 31Hoặc <13>: Anh Bường bảo: “Đàn bà lạ lắm Cái gì thuộc về họ thì họ
hành hạ đến nơi đến chốn, họ chỉ quí thứ tình gió đưa thôi Bởi vậy, sống ở đời,
khốn nạn nhất là thằng đàn ông nào trở thành vật sở hữu của đàn bà ”
(Những người thợ xẻ – TNNHT – 228)
Nếu kiểu dẫn thứ nhất là phổ biến trong các tác phẩm tự sự nói chung,
thì với Nguyễn Huy Thiệp, kiểu dẫn thứ hai lại mới là kiểu dẫn mà ông
thường xuyên sử dụng trong tác phẩm và chiếm tỉ lệ lớn nhất Có đến 1445 lời
dẫn kiểu này trong tổng 2237 lời dẫn, chiếm 64,59% Và tất nhiên, như chúng
tôi đã nói, hai kiểu dẫn này không hoàn toàn đồng nhất về giá trị Phải chăng,
chính cách dẫn truyện này, một phần nào đó tạo nên sự lôi cuốn của tác phẩm
Nguyễn Huy Thiệp đối với người đọc
2.2.2 Lời dẫn ở giữa lời được dẫn
Nhưng trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thì vị trí lời dẫn này lại rất phổ biến
<14>: Ngay Chúa cũng bị bán với giá rẻ – Giáo sư Lê nói –
Chúng ta buộc phải chấp nhận sự dung tục ở trong cuộc sống như không khí,
như nước rửa hàng ngày Các em ra trường, đi làm, lấy vợ, lấy chồng, rồi sẽ
sinh con đẻ cái Kiểu gì chúng ta cũng phải bán rẻ mình đi Vợ chồng cãi
nhau, phản bội, oán thù! Con cái bỏ đi hoang, bạc bẽo với cha mẹ đẻ Những
người bạn tưởng là tri âm sẽ lấy cắp tiền của chúng ta Dù cho thế nào đi nữa
các em cũng phải tin rằng cuộc sống tươi đẹp Nhớ chưa nào?
(Những tiếng lòng líu la líu lô – TNNHT – 535) Hoặc <15>: - Này, này, tao đùa đấy Hơi tí đã khóc Thôi, thôi, nếu
như mày muốn thì tao sẽ có tâm hồn – Thu bối rối, nó bắt đầu phịa ra câu
chuyện tưởng tượng để dỗ bạn – Đúng thế đấy, tối qua tao nghe thấy ở đâu
đấy vang lên âm thanh rất khẽ: u-u-u-u Tao không hiểu tiếng gì Từa tựa
như gió thổi ngoài đầu hồi Có thể đấy là tiếng tâm hồn của tao chăng?
(Tâm hồn mẹ – TNNHT – 41)
Trang 32Hay <16>: - Anh buồn cười thật! – Cuối cùng thiếu phụ bắt đầu vui
lại – Lúc nãy anh bảo tôi ở một mình trong phòng tập thể có tám mét vuông
là vì sao thế?
(Chút thoáng Xuân Hương – TNNHT – 92)
Ví dụ <17>: - A, cô này giỏi nhỉ! – Chàng cười gằn, nụ cười méo xệch
chứng tỏ chàng cũng rất đau đớn – Cũng may tôi hiểu cô sớm chứ không
mà rước cái của nợ này về thì khốn – Vừa nói chàng vừa nhanh tay túm lấy
nắm ảnh của nàng xe vụn
(Tình yêu ơi, ở đâu? – Nguyễn Thị Thu Huệ)
Hoặc <18>: - Em nói cái gì đấy My Dương là anh rể của em? – Giọng
Hảo tắc nghẹn – My Em còn trẻ Có phải Dương lợi dụng em không?
(Thiếu phụ chưa chồng – Nguyễn Thị Thu Huệ)
2.2.3 Lời dẫn ở sau lời được dẫn
<19>: - Chiếc vé số đâu rồi? – Hạnh hơi quát lên, giọng đanh lại như tiếng kim loại đập vào nhau
(Huyền thoại phố phường – TNNHT – 55)
Hoặc <20>: - Chị nghĩ gì thế? Anh hỏi và thoáng nhìn vào đôi mắt xa
xăm của thiếu phụ
(Chút thoáng Xuân Hương – TNNHT – 90) Hay <21>: - Tôi sẽ đi, đi một mình, đi ngựa Sẽ ăn mặc như một
chàng rể – Đề Thám vừa nói với bà Ba Cẩn vừa đội lên đầu chiếc khăn
xếp trứ danh thửa mãi tận phố Hàng Lộng Hà Nội, chiếc khăn quái đản:
không thể dùng làm mũ, cũng không thể dùng để lau mặt được
(Mưa Nhã Nam – TNNHT – 386)
Trang 33Về vị trí lời dẫn, qua các nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng lời dẫn thường có ba vị trí cơ bản: Vị trí trước, giữa và sau lời được dẫn Tuy nhiên, trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, còn có một kiểu dẫn pha trộn: Lời dẫn vừa có vị trí ở trước lời được dẫn, vừa có vị trí ở giữa lời được dẫn Và kiểu dẫn này xuất hiện tới 14 lần, chiếm 0,63%
Ví dụ <22>: Đăng cười buồn rầu, nó nói một cách nghi hoặc:
- Nếu mày tìm được lửa thì mày sẽ là mẹ thật – Nó bật cười – Và tìm
ra lửa thì tao sẽ nghĩ ra cách để cho người ta tìm thấy chúng mình
(Tâm hồn mẹ – TNNHT – 42)
Hoặc <23>: - Được rồi! – Bà Thiều bắt tay với bà khách dứt khoát – Thế nhưng tôi không có nhẫn một chỉ vàng đâu! – Rồi sực nhớ ra, bà Thiều đứng dậy gọi với lên nhà – Thoa ơi, xuống dưới này, con!
(Huyền thoại phố phường – TNNHT – 49)
Hay <24>: Tảo bỗng quát lên:
- Chèo gì lạ thế? Đã sợ vãi đái ra quần rồi hả? – Tảo đưa ngón tay chuối mắn nắm lấy ngực tôi – Tôi xin mời ông cút khỏi thuyền ngay! Ông ở
trên thuyền rồi tôi lại kéo phải đầu lâu người thì tôi chết!
(Chảy đi sông ơi – TNNHT – 70)
Và đây cũng là kiểu dẫn có thể xem là “đặc sản” của Nguyễn Huy Thiệp trong cách dẫn thoại ở thoại dẫn trực tiếp trong truyện ngắn Bởi qua tìm hiểu, chúng tôi không thấy kiểu dẫn này xuất hiện ở các tác giả khác, chí
ít là trong các tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trong Phụng (giai đoạn trước 1945) và trong các truyện ngắn gần đây của các tác giả như: Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh
Trang 34Bảng 2.1 B ẫn trực tiếp trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp
STT
Vị trí lời dẫn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
0,63
2.3 Cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của lời dẫn
2.3.1 Cấu trúc cú pháp của lời dẫn
2.3.1.1 Câu đơn
– V
<25>: Cô gái nói:
- Ông đứng ở vệ đường này Chỉ một lát thôi là em quay lại
(Chuyện tình kể trong đêm mưa – TNNHT – 347, 348)
Hoặc <26>: Ông Móng khen:
- Làm được nhà, lấy được vợ chỉ nhờ vào phân! Thế là nhất!
(Chuyện ông Móng – TNNHT – 509)
Hay <27>: Doanh bảo:
- Nó ngày càng có vẻ khiêu dâm hơn thì có! Đấy là kết quả của việc
tiếp thu văn minh đô thị Bà mẹ tội nghiệp ạ, bà đang mất dần con gái bà đấy!
Học vấn và tiện nghi sẽ làm móng vuốt của nó sắc nhọn ra, nước bọt của nó
Trang 35biến thành thuốc độc, tâm hồn của nó giăng như lưới nhện Tôi thích cái bàn
tay hái chè của nó ngày xưa, móng tay trụi thùi lụi, các ngón tay mòn đi, dưới
lớp da “trần bì” há dày của nó có rất nhiều lương tâm với lòng chẳng nỡ,
còn bây giờ không cẩn thận là toàn vi trùng
(Những người muôn năm cũ – TNNHT – 488)
như: Nói, khen…
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, kiểu lời dẫn là một câu đơn
xuất hiện khá nhiều Có những truyện, Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu dẫn các
câu đơn, đó là truyện “Những người thợ xẻ”, “Giọt máu” và “Thương nhớ
đồng quê” Trong tổng số 577 lời dẫn (của 03 truyện này) thì có tới 535 lời
dẫn là câu đơn Cách dẫn truyện là những câu đơn có vẻ như đã đem đến cho
người đọc một cảm giác dồn nén về cảm xúc Dường như người kể không
nhận xét, không bình luận, không miêu tả Những điều đó bị đẩy về phía
người đọc, làm cho câu chuyện có vẻ khách quan hơn Và phần nào đã tạo ra
“chỗ đứng” cho người đọc trong câu chuyện mà chính họ cũng bị “đẩy” vào
2.3.1.2 : C – V, C – V
<28>: Hai con bé giúp việc cho bà Hai Thoan định chạy vụt đi nhưng bà giữ lại:
- Đồ ranh con! Chạy ra nó vụt vỡ đầu bây giờ! Đi vào trong nhà!
(Đưa sáo sang sông – TNNHT – 469,470)
bé giúp việc cho bà Hai Thoan định chạy vụt đi Hai con bé giúp việc
cho bà Hai Thoan , “định chạy vụt đi nhưng bà giữ lại”
bà , “giữ lại
Hoặc <29>: Thế nào? Tao mặc cả nhé! – Cô Diệu vừa nói vừa cười, ý
nghĩ của cô rạch nhanh như những tia chớp trong đầu – Mày hãy cho tao
Trang 36ba cái nhẫn này, mày không có nó cũng không sao Mày vẫn là đứa ăn
mày Thế nào? Có đồng ý không? Mày muốn gì tao cũng nghe mày
(Cún – TNNHT – 64)
–– Cô Diệu vừa nói vừa cười Cô Diệu , “vừa nói vừa
cười ý nghĩ của cô rạch nhanh như những tia chớp trong đầu
ý nghĩ của cô , “rạch nhanh như những tia chớp trong đầu
Có thể nói, lời dẫn là câu ghép rất ít xuất hiện trong việc xây dựng hội
thoại ở truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Văn của Nguyễn Huy Thiệp, mà
đúng hơn là thoại trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp là thoại của nhân vật
với đúng nghĩa của từ này Hầu như rất hiếm thấy sự hiện diện của người kể
Tức tác giả rất ít khi “thò mặt” vào câu chuyện của nhân vật Các nhân vật cứ
nói, cứ trò chuyện Cứ tự nhiên như đời sống vậy
<30>: Anh ngần ngại hỏi:
- Cháu có dám mơ mộng không?
(Sang sông – TNNHT – 319)
Hoặc <31>: - Bọn đánh cá đêm ác lắm chị ạ – Tôi buồn rầu nói: – Họ
nghe thấy em kêu cứu mà cứ lờ đi
(Chảy đi sông ơi – TNNHT – 74)
Hay <32>: - Vô ích! – Hắn thản nhiên nói
(Sang sông – TNNHT – 325)
: “ngần ngại”, “buồn rầu”, “
Trang 37
<33>: Ông phủ Vĩnh Tường lo lắng nhìn Thặng: - Cách làm
của ông không ổn Các bậc thánh hiền đều lấy nhân trị làm gốc Phải lo cho
đến từng người…
(Chút thoáng Xuân Hương – TNNHT – 85)
Hoặc <34>: Bà Thiều nhổm dậy nhìn ra: - Ai đấy?
(Huyền thoại phố phường – TNNHT – 53)
<35>: Anh nhìn chăm chú vào khuôn mặt đầy nước mắt của thiếu phụ rồi chậm rãi nói:
- Rồi chị sẽ tha thứ Phải không Rồi chị sẽ tha thứ Mặc dầu chị
biết điều ấy cay đắng vô cùng
(Chút thoáng Xuân Hương – TNNHT – 94)
Hoặc <36>: Cô Phượng có cách nghĩ về tình yêu khá lạ lùng: “Tôi
thưởng thức anh, tôi nhắm anh”
(Con gái thủy thần – TNNHT – 183)
Bảng 2.2 Các kiểu câu trong lời dẫn của TDTT trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
Trang 38Hoặc <38>: Tôi bảo cái Mị: “Em về đi Anh phải gặt đến trưa, ăn cơm
rồi đi luôn”
(Thương nhớ đồng quê – TNNHT – 367)
Cháu xin bác; Bác bảo cho cháu đến cuối bến Cốc cơ mà!” và “Em về
đi Anh phải gặt đến trưa, ăn cơm rồi đi luôn” Tuy nhiên, theo kết quả khảo
sát, chúng tôi nhận thấy, Nguyễn Huy Thiệp rất ít xây dựng các nhân vật
“tôi” Trong tổng số 43 truyện, chỉ có 3 truyện, Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện
với ngôi thứ nhất “tôi” mà thôi
ba
trực tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
<39>: Bác lái đò nói:
- Thưa ông, chúng tôi đã tề tựu cả ở dưới bến rồi
(Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt – TNNHT – 429)
Hoặc <40>: Không! – Thiếu phụ lắc đầu – Đàn ông các anh như trẻ
con cả! Cũng giống hệt như đàn lượn của tôi Khi nào được ăn thì phởn
(Chút thoáng Xuân Hương – TNNHT – 93)
Hay <41>: Tên mặc áo ca rô khép nép: - Cụ xá lỗi! Con đang giữ
trong tay báu vật Vỡ cái bình này thì sạt nghiệp
(Sang sông – TNNHT – 317)
“Bác lái đò”, “Thiếu phụ”, “T
“Thưa ông, chúng tôi đã tề tựu cả ở dưới bến rồi; Không”; “Đàn ông các anh như trẻ con cả!
Cũng giống hệt như đàn lượn của tôi Khi nào được ăn thì phởn ” và “Cụ xá
lỗi! Con đang giữ trong tay báu vật Vỡ cái bình này thì sạt nghiệp”
Trang 39Hoặc <43>: Bà Hân khuyên nhủ:
- Đừng lo cho thày u! Thày con tuy thế nhưng còn mạnh chán Con cứ
đi đi, phụng sự nhà chồng U thấy bên ấy cốt cách khác người u cũng mừng thầm, chỉ hiềm cái hạn người ta lớn quá, chẳng biết thế nào Con đi đi, dăm bữa nửa tháng phải đánh tin về cho thày u biết
(Cánh buồm nâu thuở ấy – TNNHT – 548)
Hay <44>: Nửa đùa nửa thật, Móng thề:
- Nếu tôi không chung thủy với em thì suốt đời tôi đi hót cứt!
- Con với cái! Từ Tết đến giờ phá hoại năm sáu chục nghìn! Nợ ơi là nợ!
(Huyền thoại phố phường – TNNHT – 50)
Hay <47>: Người đàn ông nhăn nhó, lẩm bẩm:
- Mẹ cha nó! Cái thằng điên quá!
(Đưa sáo sang sông – TNNHT – 470)
”, “rền rẫm”, “
Trang 40+
nói năng
<48>: Bà Thiều nói nghẹn ngào:
- Con lấy chiếc vé ra đưa cho nó!
(Huyền thoại phố phường – TNNHT – 56)
Hoặc <49>: Mẹ tôi xuýt xoa nói: “Đấy! Ngày xưa ông cứ bảo chú ấy là
vô tích sự nữa đi! Bây giờ thì chú ấy giàu to rồi! Tiền tiêu chắc là không hết!”
(Chú Hoạt tôi – TNNHT – 523)
Hay <50>: Chiểu đứng ở đằng sau, lầm rầm khấn: “Nếu Phật cho ni
cô Huệ Liên, xin hậu tạ một bữa tiệc chay thật hậu”
(Giọt máu – TNNHT – 197)
Cấu trúc vị ngữ của lời dẫn vừa là động từ nói năng vừa là động từ chỉ cách thức nói năng có thể rất phổ biến ở một số tác phẩm của các tác giả khác (như truyện ngắn của Nam Cao chẳng hạn), thì ở Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi thấy hầu như rất ít Trong lời dẫn như đã nói, Nguyễn Huy Thiệp thường sử dụng câu đơn bình thường (chủ ngữ + vị ngữ), tức chủ thể của lời được dẫn + động từ nói năng mà thôi Những động từ chỉ cách thức nói năng đi kèm với động từ nói năng thường là những chỉ dẫn của người kể về cách nói năng của nhân vật Ở đó không ngoại trừ những nhận xét, đánh giá, hay bình luận kiểu như:
<51>: Vợ lo ngại hỏi:
- Bây giờ người thế nào để tôi kể với ông lang lấy thuốc?
(Nghèo – Nam Cao)