LỜI CAM ĐOAN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC HOÀNG NGỌC QUYẾT HÌNH TƢỢNG TRĂNG TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT VÀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành Văn[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
HOÀNG NGỌC QUYẾT
HÌNH TƯỢNG TRĂNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT VÀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822.01.21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Thị Hồng Hải
THANH HÓA, NĂM 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Hoàng Ngọc Quyết
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của PGS TS Mai Hồng Hải - Giảng viên Trường Đại học Hồng Đức Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô, người đã hướng dẫn, chỉ bảo
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, tập thể Thầy, Cô bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Khoa học xã hội, Phòng Quản lý Khoa học và công nghệ, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học- Trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cố gắng khi thực hiện đề tài này tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Bản thân rất mong được
sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô giáo trong Hội đồng bảo vệ luận văn cùng toàn thể quý vị và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hoá, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Hoàng Ngọc Quyết
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Mục đích nghiên cứu: 11
5 Phương pháp nghiên cứu: 11
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Nội dung nghiên cứu 12
Chương 1 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA HÌNH TƯỢNG TRĂNG TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 13
1.1 “Trăng” - một hình tượng thiên nhiên phong phú, đa dạng 13
1.1.1 “Trăng” biểu đạt cho vẻ đẹp của cảnh vật quê hương, đất nước 14
1.1.2 “Trăng” là phương tiện chuyển tải tâm trạng, tình cảm con người 17 1.2 “Trăng” trong đời sống, sinh hoạt và lao động 22
1.2.1 “Trăng” với công việc lao động, sinh hoạt ở thôn quê 22
1.2.2 “Trăng” với những kinh nghiệm được đúc kết 26
1.3 “Trăng” - một hình tượng giàu giá trị biểu đạt và thẩm mỹ trong tình yêu đôi lứa 28
1.3.1 “Trăng” là phương tiện để tỏ tình 28
1.3.2 “Trăng” biểu đạt cho những cung bậc tương tư 31
1.3.3 “Trăng” biểu đạt cho lời thề ước 34
1.3.4 Trăng với tiếng nói hận tình 37
Chương 2 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA HÌNH TƯỢNG “TRĂNG” TRONG THƠ NÔM THẾ KỶ XV 41
2.1 Hình tượng “trăng” biểu đạt cho vẻ đẹp của thiên nhiên 41
2.1.1 “Trăng” biểu đạt cho thiên nhiên mang vẻ đẹp tao nhã, mỹ lệ, mang âm hưởng Đường thi 42
Trang 52.1.2 “Trăng” biểu đạt cho thiên nhiên mang vẻ đẹp bình dị, kì thú 49
2.2 Hình tượng “trăng” biểu đạt cho cuộc sống và thế giới tâm trạng của nhà thơ 53
2.2.1 “Trăng” - người bạn tâm giao 54
2.2.2 Trăng - nơi kí thác những tình cảm, nỗi niềm thi nhân 59
Chương 3 TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CỦA HÌNH TƯỢNG TRĂNG TRONG CA DAO VÀ THƠ NÔM THẾ KỶ XV 69
3.1 Những điểm tương đồng của hình tượng trăng trong ca dao và thơ Nôm thế kỷ XV 69
3.1.1 Hình tượng trăng biểu đạt cho tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước 69
3.1.2 Hình tượng trăng mang âm vị trào lộng dân gian 72
3.2 Những điểm khác biệt của hình tượng trăng trong ca dao và thơ Nôm thế kỷ XV 76
3.2.1 “Trăng” trong ca dao mang vẻ đẹp dân dã, bình dị, “trăng” trong thơ Nôm thế kỷ XV mang vẻ đẹp ước lệ, Đường thi 76
3.2.2 “Trăng” trong ca dao thể hiện tâm hồn, tình cảm của người dân lao động; trăng trong thơ Nôm thế kỷ XV thể hiện tình cảm, nỗi niềm của người trí thức phong kiến 79
3.2.3 “Trăng” trong ca dao biểu đạt cho sự kết tinh kinh nghiệm của nhân dân về cuộc sống lao động 83
3.3 Lý giải nguyên nhân dẫn đến điểm tương đồng và khác biệt về hình tượng trăng trong ca dao và trong thơ Nôm thế kỷ XV 84
3.3.1 Lý giải điểm tương đồng 84
3.3.2 Lý giải điểm khác biệt 86
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
HĐQÂTT Hồng Đức quốc âm thi tập
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong thơ ca từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây, “trăng” là một trong những hình tượng có vị trí quan trọng trong cảm xúc của các thế hệ thi nhân - một hình tượng giàu xúc cảm thẩm vừa mang ý nghĩa cụ thể vừa giàu giá trị biểu tượng cho thiên nhiên, phong vật, cho thế giới tâm trạng, tình cảm của con người Vì thế, thi nhân với “trăng” có một mối quan hệ giao cảm thật đặc biệt, vừa là hình ảnh của ngoại cảnh vừa là hình ảnh của nội tâm thật khó tách bạch 1.2 Trong kho tàng cao dao của người Việt, hình tượng trăng xuất hiện khá đậm nét, là đối tượng thẩm mỹ mà tác giả dân gian luôn kiếm tìm và thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: có thể đó là hình ảnh một vầng trăng biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên, một vầng trăng luôn song hành với người nông dân trong đời sống lao động sản xuất, và có cả hình tượng của trăng đã được nội tâm hóa thật phong phú, đa dạng trong tâm tư, tình cảm của con người
1.3 Trong thơ ca trung đại Việt Nam, nhất là ở bộ phận Thơ Nôm Đường luật (TNĐL), “phong hoa tuyết nguyệt” là những hình ảnh thiên nhiên không
thể thiếu trong sáng tác ở mỗi thi nhân Từ thơ Nôm của Nguyễn Trãi cho đến những tác giả cuối cùng của dòng thơ tiếng Việt như Nguyễn Khuyến, Trần
Tế Xương, hình tượng “trăng” luôn xuất hiện như một đối tượng trữ tình, có lúc như một khách thể của thế giới ngoại cảnh, có lúc lại như một chủ thể trữ tình với nhiều cung bậc của cảm xúc, tâm trạng, và trong nhiều trường hợp còn được xem là sự “phân thân” của cái tôi trữ tình nhà thơ Vì thế, chọn hình tượng “trăng” trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV làm đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng tôi hi vọng sẽ mở nhiều khám phá mới mẻ, bổ ích và bất ngờ về một hình tượng văn học vừa quen vừa lạ
1.4 Đặt hình tượng trăng trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế
kỷ XV trong tương quan so sánh, chúng ta cũng sẽ tìm thấy nhiều điểm khác
Trang 8nhau của hình tượng nghệ thuật này Qua đó cũng thấy được yếu tố lịch sử, thời đại và thể loại cũng như loại hình tác giả là những nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự khác biệt của hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu về hình tượng trăng trong ca dao người Việt
Ở nội dung này, chúng tôi lựa chọn những công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Hoàng Tiến Tựu, (2000): “Văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội; Đinh Gia Khánh (Chủ biên - 2001): “Văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Giáo Dục, Hà Nội; Vũ Ngọc Phan (2000): “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, Nxb Hội nhà văn Việt Nam; Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên - 2003): Văn học dân gian - Những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo Dục, Hà Nội; Nguyễn Xuân Kính (2004): “Thi pháp ca dao”, Nxb ĐHQG Hà Nội; Nhiều tác giả (2016): “Hợp tuyển công trình nghiên cứu văn học dân gian & văn học trung đại Việt Nam”, Nxb ĐHQG Hà Nội.v.v
Ở các công trình nghiên nghiên cứu trên, qua sưu tầm, biên soạn và giới thiệu của các tác giả, chúng tôi nhận thấy hình tượng trăng xuất hiện ở một số bài ca dao của người việt Tuy nhiên những bài nghiên cứu chuyên biệt về
“trăng” trong cao dao người Việt thì hầu như chưa có Chỉ có một số nhận xét của các tác giả khi đề cập đến các đề tài, nội dung hoặc các thủ pháp nghệ
thuật trong ca dao và dẫn ra các ví dụ, trong đó có xuất hiện hình ảnh trăng, ánh trăng, đêm trăng
Chẳng hạn: “Một lối so sánh gián tiếp nữa cũng rất kín đáo: muốn ngỏ ý lấy nhau, bên trai hỏi đã “bóng gió”, bên gái ưng thuận và đáp lại còn “bóng gió: hơn:
- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng?
Trang 9Không dùng “đêm khuya” mà dùng “đêm trăng thanh” để chỉ lúc công việc rỗi rãi, thanh niên nam nữ ở nông thôn thường tình tự với nhau; nếu dùng
“đêm khuya” thì thành ra vợ chồng mất, những câu sau sẽ hóa ra vô nghĩa ” [32; tr.107-108]
Có trường hợp, hình tượng trăng trong ca dao đã được tác giả dân gian nhân hóa thành “Ông Tơ bà Nguyệt” để giải thích cho nguyên làm tình yêu, hôn nhân tan vỡ: “Trong ca dao, dân ca trữ tình, có một nhóm bài ca nói về ông Tơ bà Nguyệt, phản ánh nhận thức lệch lạc của nhân dân đối với những hiện tượng tan hợp trong quan hệ nam nữ Ở những bài ca dao lấy đề tài tình yêu đau khổ, ông Tơ bà Nguyệt là những hiện tượng siêu nhiên do trí tưởng tượng của người xưa tạo ra để giải thích nguyên nhân của những nỗi bất hạnh trong tình yêu
Bắc thang lên tận ông trời, Bắt ông Nguyệt lão đánh mười cẳng tay
Đánh thôi lại trói vào cây, Hỏi ông Nguyệt lão nào dây tơ hồng ” [14; tr 451]
Cũng trong cuốn: Vũ Ngọc Phan - Tác phẩm: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam khi nói về lối dùng chữ và thể thơ sáu tám trong ca dao, tác giả có
dẫn ra bài ca dao có hình ảnh trăng xuất hiện nhưng cũng không có lời bình nào về hình ảnh này: “ lời đẹp mà giản dị “toàn bích” không pha phách một chữ Hán nào, không gò ép một tiếng Việt nào, có cái đẹp nồng hậu như cái đẹp của người gái quê, thì ở thể sáu tám, một thể văn chương đặc biệt Việt Nam, ca dao cũng có những câu tuyệt diệu Thí dụ những câu sau nói lên mối tình bịn dịn của một cô gái đối với bạn tình của mình:
Gió vàng hiu hắt đêm thanh Đường xa, dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề Làm chi để gánh nặng nề riêng ai” [32; tr.80]
Trang 10Hoặc: “Muốn tả một thứ tình yêu khác nữa, một thứ tình yêu trong sáng mới chớm nở ở cõi lòng đôi lứa thanh niên, ca dao cũng có câu:
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu ” [32, tr 82]
Khi nói đến những mối tình thắm thiết và nỗi nhớ trong tình yêu của trai gái ở nông thôn, tác giả dân gian đã sử dụng hàng loạt những hình ảnh để so sánh, trong đó có hình ảnh trăng: “Cùng làm lụng, cùng vất vả như nhau, nên những nam nữ thanh niên ở nông thôn đối với nhau có những mối tình thắm thiết Khi vắng mặt người yêu, thấy đàn cò trắng cùng nhau sum họp và bay lượn trên cánh đồng, họ hát lên những lời nhớ nhung thắm thiết:
Một đàn cò trắng bay quanh Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta
Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường
thì ca dao cũng có câu:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?
Ở đây khó mà biết được ai mượn của ai”
[32; tr 245]
Cũng nói về sự ảnh hưởng, tiếp thu qua lại nhiều khi đến khó xác định là tác phẩm của văn học viết hay là ca dao, tác giả Hoàng Tiến Tựu có đưa ra một bài ca dao, trong đó có hình ảnh “vầng quế”, “bóng trăng”:
Trang 11“Lửng lơ vầng quế soi thềm Hương đưa bát ngát càng thêm bận lòng
Dao vàng bó đẫy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng
Đèn tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này
Việc lựa chọn các từ ngữ đẹp một cách sang trọng (như “vầng quế”,
“thềm”, “dao vàng”, “đẫy kim nhung”, “người ngọc”, “thung thăng”) chứng
tỏ tác giả bài ca dao này đã chịu ảnh hưởng nhiều của ngôn ngữ thơ ca bác học Có thể tác giả đầu tiên của bài ca dao này là một nhà thơ hay một nho sĩ bình dân thời phong kiến, vừa có vốn văn chương bác học, vừa am hiểu văn học dân gian và đã tham gia sinh hoạt ca hát dân gian, góp phần tạo ra cái cầu nối giữa văn học dân gian và văn học viết” [39; tr 215]
Trở lên là một số nhận xét của các nhà nghiên cứu hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp về hình ảnh “trăng”, “bóng trăng”, “đêm trăng” ở các nội dung, chủ
đề khác nhau trong ca dao Nhìn chung, chưa có một bài viết riêng, trọn vẹn hoặc những ý kiến đầy đủ, thấu đáo về những đặc điểm của hình tượng trăng trong ca dao
2.2 Lịch sử nghiên cứu về hình tượng trăng trong thơ Nôm thế kỷ XV
Ở nội dung này, chúng tôi lựa chọn những công trình nghiên cứu tiêu
biểu sau đây: Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm (1956), “Quốc âm thi tập”
NXB Văn-Sử-Địa, Hà Nội; Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên (1982),
“Hồng Đức quốc âm thi tập”, NXB Văn học, Hà Nội; Nguyễn Trãi: Về tác gia, tác phẩm (1999), NXB Giáo Dục, Hà Nội; Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội; Đinh Gia Khánh - Bùi Duy Tân - Ma Cao Chương (1998), “Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII”, NXB Giáo Dục, Hà Nội; Lã Nhâm Thìn
(1998): Thơ Nôm Đường luật, NXB Giáo Dục, Hà Nội; Trần Đình Sử (1998):
Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung đại Việt Nam NXB Giáo Dục, Hà Nội;
Trang 12Trần Quang Dũng (2005), “Hồng Đức quốc âm thi tập trong tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam”, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, v.v
Qua khảo sát các tài liệu đã dẫn, chúng tôi lựa chọn một số nhận xét, đánh giá về hình tượng trăng trong QÂTT và HĐQÂTT
Về hình tượng trăng QÂTT:
Trong bài viết: “Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển Việt Nam”, nhà thơ Xuân Diệu có một số câu, đoạn viết về trăng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự lý giải và lời bình khá tinh tế
Chẳng hạn: “Bao nhiêu cao thượng trong những câu thơ này:
Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu
“Trà mai”, lấy miếng gỗ cây mơ nấu lên làm nước trà; cái nước chè thanh đạm này, ta sẽ thấy, trong thơ nó giải khát cho Nguyễn Trãi Tại sao lại giữa đêm, chợt dậy xem nhìn bóng trăng? Phải có một nỗi niềm nung nấu gì đây “Trà mai”, “đêm nguyệt”, Nguyễn Trãi biết làm thơ lắm, đem đặt gần các danh từ với nhau một cách nào đó, các danh từ bèn dính với nhau, không cần có hồ của các tiếng trợ từ; “đêm trăng”, mọi người đã nói rồi, “đêm nguyệt”, lần đầu tiên Nguyễn Trãi nói; “đêm nguyệt dậy xem bóng”, hai tiếng trắc, lại là hai dấu nặng, đụng vào nhau: chợt dậy, một tâm sự chợt dựng mình dậy, hoặc là cái đẹp đặc biệt của trăng khuya bắt mình phải dậy Câu trên đột ngột, có câu dưới đối lại thật ung dung, hai câu nâng nhau lên “Trà mai đêm nguyệt dậy xem bóng”, đây là ví dụ về những câu thơ hay của Nguyễn Trãi” [29 ; tr 595-596]
Cũng ở bài nghiên cứu này, nhà thơ Xuân Diệu còn viết: “Lại khám phá điều này nữa: ít có nhà thơ nào hằng nói đến măt trăng, có nhiều câu thơ hay
về mặt trăng như Ức Trai “Quét trúc bước qua lòng suối, Thưởng mai về đạp bóng trăng”, hoặc là “Dò trúc xông qua lòng suối, Tìm mai theo đạp bóng trăng; rất nhiều trường hợp “trăng” đã thành “nguyệt”, nguyệt phối hợp với các cái đẹp khác:
Trang 13Ức Trai rất quý trăng, đối với trăng rất là tương thức, yêu cái đẹp của mặt trăng soi xuống nước ao hồ, đã từng giữ nước ao hồ cho trong để đón trăng, “Nước dưỡng cho thanh trì thưởng nguyệt”, và tránh cả thả cá vào ao
hồ nhà mình để những đêm có trăng, mặt trăng hiện lên trọn vẹn hơn, nguyên khôi hơn:
Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá Rừng tiếc chim về ngại phát cây (Bài 28)” [29; tr 611]
Trong bài: “Tình yêu thiên niên trong thơ Nguyễn Trãi”, tác giả Mai Trần có bình về hai câu thơ:
“Chăng cài cửa tiếc non che khuất
Sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ Không đóng cửa vì sợ nó che khuất ngọn núi phía trước mặt, chiều tối, dạo chơi xong, cứ để ngay thuyền ở bến không cất đi, vì phòng trăng có xin chở nhờ thì cho chở! Cũng như trên đây, chúng ta đã thấy nói:
Chè tiên nước kín nguyệt đeo về Đẹp là thế! Tình tứ đến thế!
Nếu thuyền không chở trăng, thì nhà thơ cho nó chở gió mây, chở hơi khói:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then
(Thuật hứng Bài 24)” [29 tr 652]
Khi viết về thiên nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, các tác giả cuốn
Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII có viết: “Thiên nhiên là bầu
Trang 14bạn, cho nên nhà thơ đã quét am để đón mây, dành ao đề chờ trăng, giữ rừng
để đợi chim:
Bẻ cái trúc hòng phân suối Quét con am để chừa mây Trì tham nguyệt hiện, chăng buông cá Rừng tiếc chim về, ngại phát cây
(Thơ Nôm - Mạn thuật Bài 6)” [13; tr 249]
Viết về con người cá nhân Nguyễn qua QÂTT, khi nói về tư chất người nghệ sĩ, tác giả Nguyễn Hữu Sơn viết: “Tư chất nghệ sĩ ấy còn được phóng chiếu qua những vần thơ tràn đầy cảm hứng, ngỡ như con người có thể giao hòa cùng thiên nhiên, trời đất, vũ trụ:
Có thở biếng thăm bạn cũ Lòng thơ nghìn dặm nguyệt ba canh” [29; tr 735] Tác giả La Kim Liên khi so sánh thơ viết về trăng của Lý Bạch và Nguyễn Trãi có đoạn viết: “Nguyễn Trãi thì khác, ông đã đến với trăng:
Rượu đối cầm đâm thơ một thủ
Ta cùng bóng liễn nguyệt ba người Vẫn là ý thơ của Lý Bạch, nhưng ở đây không còn “đối nữa mà là
“cùng” với trăng (Tự thán - Bài 79) Rõ ràng giữa trăng với Nguyễn Trãi
không còn khoảng cách xa vời, sóng sánh uống chén rượu tình Ông làm thơ
để vịnh thiên nhiên và bao giờ cũng vậy với trăng ông đều dành một tình cảm đặc biệt, gửi gắm nỗi niềm cô đơn của mình ” [29; tr 545]
- Về HĐQÂTT
Trong Lời giới thiệu cuốn HĐQÂTT, các soạn giả khi nói về sự tinh tế
và trí tưởng tượng dồi dào của các tác gia Hồng Đức khi tả ánh trăng có viết:
“Một cảnh trăng thượng huyền chênh chếch:
Ánh núi: cung treo chim thắc thỏm Dải hồ: câu thả cá tung tăng
(Tân nguyệt Bài 17 - Thiên địa môn)
Trang 15Cá ngỡ câu chìm xui bạn lánh Chim ngờ cung bắn bảo nhau bay
(Tân nguyệt Bài 18 - Thiên địa môn)
Các tác giả đã có cái nhìn tinh tế, và cách tả cũng tinh tế qua trí tưởng tượng dồi dào tả trăng lên giống như cái lưỡi câu chìm dưới nước, hay ánh cung treo trên trời, mà cá ngờ ngợ tưởng là lưỡi câu, chim ngờ ngợ tưởng là cánh cung” [8; tr 20]
Các tác giả cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, khi
viết về thiên nhiên cảnh sắc bốn mùa trong HĐQÂTT cũng có nhắc đến hình ảnh trăng trong bức tranh cảnh vật: “Mùa thu không phải chỉ là cảnh man mác trời mây, mà cũng có cái đặc sắc:
San sát vàng buông giậu cúc Phau phau bạc phất cờ lau Hòa pha khóm lục chim phơi ngọc Nguyệt dãi dòng trong cá hớp châu”
(Vịnh cảnh mùa thu) [13; tr 278]
Trong bài viết: “Về một số bài thơ Nôm của Lê Thánh Tông”, khi khảo sát 11 bài thơ xướng họa về “Trăng” - biểu tượng của mỹ đức của minh quân đương triều - trong HĐQÂTT, tác giả Vũ Đức Phúc có viết: “Theo ý tôi, bài sau đây chính là bài xướng của Lê Thánh Tông:
Ở cao song cũng thấu nhân tình
Vì có làu làu tính sáng thanh Soi khắp đầu Giêng liên cuối Chạp Suốt từ một khắc nhẫn năm canh
Tất nhiên bài thơ cũng có ý tự hào, nhưng chỉ tự hào về chỗ: “Ở cao song cũng thấu nhân tình” và chăm chỉ quanh năm và suốt năm canh Đó là phong cách quen thuộc của Lê Thánh Tông từng được thể hiện qua thơ văn ông Bởi vậy, các bài thơ họa lại cũng có ý tứ rất thú vị Ông cho rằng
“Ngẫm xem khí tượng hình dung ấy / Chợt ló ra thì lạt chúng tinh” Nghĩa
Trang 16là chỉ có bệ hạ sáng suốt nhất, chúng tôi chỉ có tài nhỏ mọn, sánh sao được Ông cho rằng vua càng là minh quân bao nhiêu thì quan càng vẻ vang bấy nhiêu:
Càng cao càng sáng trên ngôi ấy Càng tỏ huân danh đấng tướng tinh” [31; tr 474-475] v.v
Qua khảo sát, thống kê chúng tôi nhận thấy hình tượng “trăng” xuất hiện khá đậm nét trong hai tập thơ Nôm thế kỷ XV: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi và “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông và các thi nhân Hồng Đức Các bài nghiên cứu về “trăng” trong hai văn bản thơ Nôm trên cũng đã có nhưng chủ yếu chì dừng lại ở việc giới thiệu và khái quát về đối tượng Chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về hình tượng trăng trong thơ Nôm thế kỷ XV
Tiểu kết:
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã có về hình tượng trăng trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV, luận văn đi vào tìm hiểu những vấn đề, nội dung cụ thể đã đặt ra trong mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV
Trang 17+ Những tương đồng và khác biệt về hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV
- Trần Văn Giáp - Phạm Trọng Điềm (1956), “Quốc âm thi tập” NXB
Văn - Sử - Địa, Hà Nội
- Phạm Trọng Điềm - Bùi Văn Nguyên (1982), “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Phạm Trọng Điềm-Bùi Văn Nguyên, NXB Văn học, Hà Nội
4 Mục đích nghiên cứu
- Luận văn sẽ hướng tới tìm hiểu một cách cụ thể và hệ thống về giá trị biểu đạt, biểu cảm và giá trị thẩm mỹ của hình tượng “trăng” trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV
- Chỉ ra những điểm khác biệt giữa hình tượng trăng trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài “Hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Luận văn sử dụng phương pháp này để tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Luận văn sử dụng phương pháp này để so sánh giá trị biểu đạt của hình tượng trăng trong ca dao người Việt và thơ Nôm thế kỷ XV
5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá
Luận văn sử dụng phương pháp này với mục đích phân tích, đánh giá để làm sáng rõ hơn giá trị biểu đạt của hình tượng trăng trong ca dao người Việt
và thơ Nôm thế kỷ XV
Trang 18- Phương pháp khái quát, tổng hợp
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung nghiên cứu ở các chương, mục luận văn thành các luận điểm để làm sáng tỏ đối tượng và
mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
6 Đóng góp của luận văn
- Hình tượng trăng trong ca dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV được tìm hiểu ở các bình diện giá trị: biểu đạt, biểu cảm và thẩm mỹ một cách
cụ thể và hệ thống
- Thấy được những điểm khác nhau trong quan niệm nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ của tác giả dân gian và tác giả thơ Nôm thế kỷ XV thông qua hình tượng trăng
- Góp phần tìm hiểu dấu ấn lịch sử, thời đại, đặc trưng của thể loại và loại hình tác giả trong hai bộ phận văn học này
7 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn có 3 chương
Chương 1 Giá trị biểu đạt của hình tượng trăng trong ca dao người Việt Chương 2 Giá trị biểu đạt của hình tượng trăng trong thơ Nôm thế kỷ XV Chương 3 Những tương đồng khác biệt của hình tượng trăng trong ca
dao người Việt và trong thơ Nôm thế kỷ XV
Trang 19Chương 1 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA HÌNH TƯỢNG TRĂNG
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Ở chương 1 của luận văn, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu hình tượng trăng trong ca dao người Việt trên ba phương diện chính: “trăng” - một hình tượng thiên nhiên phong phú, đa dạng; “trăng” trong cuộc sống thôn quê và những kinh nghiệm được đúc kết từ cuộc sống ; “trăng” - một hình tượng giàu giá trị biểu đạt và thẩm mỹ trong tình yêu đôi lứa
Đặt vấn đề tìm hiểu hình tượng trăng ở ba phương diện cơ bản trên vì căn cứ vào số liệu khảo sát tỷ lệ xuất hiện của hình tượng này khá cao và cũng tương đối tập trung Còn các phương diện khác mà cao dao phản ánh như: tín ngưỡng, tôn giáo; quan niệm về đồng tiền - của cải, giàu sang - nghèo hèn; về nhân đức, nhân nghĩa; các quan hệ xã hội có tỷ lệ xuất hiện của hình tượng
“trăng” không đáng kể
Lưu ý: tất cả các câu ca dao được trích dẫn trong chương và luận văn được chúng tôi dẫn trích từ các cuốn: “Văn học dân gian Việt Nam” của Hoàng Tiến Tựu, (2000), Nxb Giáo Dục, Hà Nội; “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan (2000), Nxb Hội nhà văn Việt Nam; “Ca dao”, Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên - 2001) Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; “Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính (2004), Nxb ĐHGQ Hà Nội và có tham khảo thêm một số tác phẩm khác
1.1 “Trăng” - một hình tượng thiên nhiên phong phú, đa dạng
“Thiên nhiên là bà mẹ lớn của con người” Con người không thể tồn tại nếu thiếu thiên nhiên Con người sống trong thế giới thiên nhiên, hòa vào thiên nhiên và tác động trở lại cải tạo thiên nhiên Trong quá trình ấy, ít nhiều cũng bộc lộ những quan niệm, tình cảm, thái độ ứng xử của con người với thiên nhiên Mối quan hệ giữa con người, văn hóa và thiên nhiên càng ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn
Trang 20Là một bộ phận của văn hóa, folklore nói chung và ca dao trữ tình nói riêng gắn bó rất chặt chẽ với thiên nhiên Thiên nhiên trong ca dao trữ tình không chỉ là đối tượng mô tả mà còn là phương tiện nghệ thuật giúp chúng ta hiểu rõ hơn thế giới quan, lối sống, cách cảm nghĩ và thẩm mĩ của người bình dân Vì vậy, thiên nhiên có một vị trí rất quan trọng trong ca dao Thiên nhiên
là nội dung, là hình thức, là sức sống của ca dao Và trong rất nhiều những hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong ca dao, “trăng” là một trong những hình tượng được hiện lên khá ấn tượng
1.1.1 “Trăng” biểu đạt cho vẻ đẹp của cảnh vật quê hương, đất nước
Với nhân dân ta, quê hương là nơi quê cha đất mẹ, là cái nôi thân thiết, yêu thương Quê hương là mái nhà, luỹ tre, cái ao tắm mát, là sân đình, cây đa, giếng nước, con đò, là cánh đồng xanh, con cò trắng, cánh diều biếc tuổi thơ Đất nước với quê hương chỉ là một, là cơ đồ ông cha
để lại, là núi sông hùng vĩ thiêng liêng Quê hương, đất nước được nói đến trong ca dao, dân ca đã thể hiện biết bao tình cảm yêu thương, tự hào của nhân dân ta từ bao đời nay:
Mêng mông biển lúa xanh rờn
Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau
Một vùng phong cảnh trước sau Bức tranh thiên cổ đượm màu giang san
Hiện lên trước mắt chúng ta là một bức tranh quê hương, đất nước thật gần gũi, thân quen Bức tranh ấy có “biển lúa xanh rờn” hứa hẹn một cuộc sống sung túc, ấm no, có “tháp cao sừng sững” hiện thân cho những công trình nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa, văn hiến đất nước ngàn năm, và
có cả những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc, gợi nhớ trong tiềm thức mọi người về quê hương, xứ sở: “trăng vờn bóng cau” - một hình ảnh thật dân dã, bình dị mà xúc động dư ba Ở đây hình tượng “trăng” được nhân hóa để hòa điệu và đồng hiện vẻ đẹp cùng “bóng cau” tỏa bóng xuống sân nhà Có thể nói, tình yêu thiên nhiên, trong đó có tình yêu cái đẹp của thiên nhiên, cảnh
Trang 21vật là một nét nổi bật trong tính cách người Việt Qua cái nhìn của tác giả dân gian, các hình ảnh thiên nhiên, cảnh vật luôn luân chuyển, hoạt động, tràn đầy sinh khí và sức sống nhưng cũng đầy tình tứ, gắn bó tương thông với con người Cũng cần lưu ý là trong ca dao trên, đối tượng gây nên cảm xúc thẩm
mỹ không chì là thiên nhiên mà còn là những cảnh vật do con người tạo nên, gắn bó với đời sống của họ
Còn đây lại là một bức tranh phong cảnh của một miền quê xứ Huế trong một đêm trăng:
Đò từ Đông Ba đò qua Đập Đá
Đò về Vĩ Dạ thẳng ngã ba Sình
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh Tiếng hò xa vọng nặng tình nước non
Rất gần gũi và rất đỗi thân quen với hình ảnh dòng sông, con đò, bến nước và điệu hò trên sông nước đêm trăng làm gợi nhớ đến nao lòng tình quê hương xứ xở Trong trường hợp này, thiên nhiên và cảnh vật hiện ra không
phải như những đối tượng sở chỉ (reference), ám chỉ hay đưa đẩy, mà là đối
tượng của sự chiêm ngưỡng thuần túy Điều này rất đáng chú ý, nó chứng tỏ
ca dao truyền thống không chỉ chứa đựng tâm tư và kinh nghiệm sống của người dân quê mà còn thể hiện những rung động thẩm mỹ, tình yêu của họ với cái đẹp của thiên nhiên và cảnh vật xung quanh
Nói đến không gian làng cảnh Việt truyền thống không thể không nhắc
tới các cảnh vật như: cây đa, bến nước, sân đình cũng các hình ảnh thiên nhiên như trăng thanh, gió mát mang đậm bản sắc và hồn cốt dân tộc:
Đầu làng có cây đa cao Trăng thanh gió mát lọt vào tận nơi
Nói đến làng quê Việt Nam là nói đến cây đa Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích, một mô-típ quen thuộc trong khá nhiều lời ca dao Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá,
Trang 22chơi những trò chơi dân gian Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân trước khi về làng hoặc đi khỏi làng Gốc đa là nơi "trâu trong làng gặm cỏ gốc
đa xanh", gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái, nhất là vào những đêm gió mát trăng trong Như vậy, hình tượng “cây đa” và vẻ đẹp của ngoại cảnh
“trăng thanh gió mát” trong trường hợp này là những cảnh vật gợi cảm hứng cho “bức tranh quê” Và cái tình ở đây là cái tình với núi sông, trăng sao, mây gió, cái tình với những cảnh vật thiên nhiên quen thuộc, gần gũi bao quanh mình, hàng ngày gắn bó với mình Đó không chỉ là sự chiêm ngưỡng những cảnh đẹp thiên nhiên mà còn là lòng yêu mến những cảnh vật bình thường của cuộc sống:
Gái trai cất giọng đêm hè Tình ta trăng gió nghiêng về nước non
Sông sâu nước chảy đá mòn Lòng ta sau trước sắt son không dời
Tương tự thế, đây cũng là bức tranh phong cảnh đáng chiêm ngưỡng của quê hương đất nước có non cao, sông dài, mây trời, trăng khuyết được tái hiện qua cái nhìn và tâm trạng của người con gái thôn quê:
Ngày ngày em đứng em trông Trông non, non ngất, trông sông, sông dài,
Trông mây, mây kéo ngang trời Trông trăng, trăng khuyết, trông người, người xa
Và nhiều khi vẻ đẹp cũng sự tồn tại vĩnh hằng của thiên nhiên, của
“trăng” còn được hình tượng hóa như những sinh thể sống:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non
Trăng bao nhiêu tuổi trăng tròn
Núi bao nhiêu tuổi, núi còn trơ trơ
Như vậy, vẻ đẹp của thiên nhiên tràn ngập trong ca dao, và được hình tượng trăng biểu đạt thật sinh động Thái độ và tình cảm của tác giả dân gian
Trang 23đối với cái đẹp của thiên nhiên ấy vừa phản ánh vũ trụ quan thô sơ của người dân quê coi con người và thiên nhiên như là một, vừa nói lên tình yêu của họ đối với thiên nhiên, một tình yêu vừa có ý nghĩa mỹ học sâu sắc, vừa chứa đựng trong nó một nhãn quan về môi trường rất nhân văn và hiện đại
1.1.2 “Trăng” là phương tiện chuyển tải tâm trạng, tình cảm con người
Tìm hiểu về hình tượng trăng trong ca dao viết về thiên nhiên, chúng ta thấy rất hiếm gặp những bài về trăng hoàn chỉnh Thông thường “trăng” chỉ xuất hiện ở một số câu hạn định trong bài cùng với các hình ảnh thiên nhiên khác để thể hiện vẻ đẹp của cảnh vật đất nước, quê hương
Qua khảo sát hình tượng trăng trong ca dao, chúng ta còn nhận thấy ngoài việc biểu hiện trực tiếp cho vẻ đẹp của thiên nhiên, phong cảnh quê hương, đất nước, phần nhiều “trăng” còn được tác giả dân gian sử dụng như một phương tiện để chuyển tài tình cảm con người, là “vật” gợi thi hứng cho việc bộc lộ tâm trạng, tình cảm của người viết Chẳng hạn, đây là tâm trạng đầy sầu oán, héo hon của cô gái trước sự “đặt điều”, nghi ngờ của người đời
về sự thủy chung, trinh tiết được ngụ qua các hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống, trong đó có hình ảnh “trăng”:
Đêm khuya giục bóng trăng tà Sao mai đã mọc, tiếng gà gọi con
Vằng vặc giải tấm lòng son Lại thêm con vượn héo hon bên ghềnh
Hoặc mượn hình ảnh “trăng rằm” để khẳng định phẩm giá, sự trinh bạch của mình:
Thân em như thể trăng rằm Mây đen có phủ, chẳng lầm giá trong
Mượn hình ảnh “trăng”: để cảnh báo, cảnh tỉnh về sự bội bạc của người đời:
Đừng ham sao tỏ bỏ trăng Một trăm sao tỏ không bằng trăng lên
Trang 24Đây nữa, là tâm trạng thao thức, nhớ nhung của người con gái khi bắt gặp (có khi chỉ là mơ tưởng) người con trai đi qua cửa trong một đêm trăng rằm:
Đêm qua trời sáng trăng rằm Anh đi qua cửa em nằm không yên
Cùng đồng hiện trong câu ca dao là hai bức tranh: bức tranh thiên nhiên
và bức tranh tâm trạng, trong đó bức tranh thiên nhiên với hình ảnh trăng rằm trời sáng chính là “cảnh”, “vật” có tác dụng gợi cảm hứng cho nỗi nhớ của người con gái về người bạn tình của mình Đúng như nhận xét: “Tác giả dân gian thường coi thiên nhiên như là một trong những “bệ phóng” quan trọng để cho thi hứng của mình được bay bổng tới những “vùng trời” cao rộng của tâm hồn con người” [14; tr 489]
Hoặc nữa, đây là một bức thiên nhiên với hình ảnh “trăng soi nước, nước in cầu” thật đẹp nhưng cũng thật buồn vì nó chở theo tâm trạng của con người:
Trăng soi nước, nước in cầu Tiêng chuông kim cổ, nhịp cầu tang thương
Cỏ hoa ánh bóng tà dương Nghìn xưa “hưng bá đồ vương” chốn này
Cảnh vật thấm đậm một nỗi buồn của khúc bi ai hoài cổ được gợi lên từ
Trang 25âm thanh của “tiếng chuông kim cổ”, từ màu sắc: “bóng tà dương”, cảnh vật:
“nhịp cầu tang thương” và kể cả “ánh trăng soi nước” kia cũng nhuốm màu dâu bể Các hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ này chỉ là những vật gợi hứng cho những nghĩ suy của con người trước sự thịnh - suy, hưng - vong của lịch
sử dân tộc
Có thể thấy, lối mượn cảnh thiên nhiên, trong đó có hình ảnh “trăng” làm câu mở đầu, bắc cầu để dẫn tới nói lên tình ý ở câu sau là một hình thức phổ biến, rất điển hình cho thi pháp ca dao và thơ ca truyền thống mà chúng ta hay gọi là thể “hứng” Sự xuất hiện của thiên nhiên dưới hình thức này chứng tỏ thiên nhiên trong ca dao không chỉ hiện ra dưới dạng đối tượng miêu tả, đối tượng nhận thức mà còn hiện ra như một phương tiện nghê thuật, đánh dấu một trình độ sáng tạo trong sáng tác ca dao, một bước phát triển của tính văn học của ca dao, một bước chuyển từ lời văn vần tường thuật sang lời văn vần trữ tình, xích gần tới hành động sáng tạo nghệ thuật thực sự
Không chỉ là “vật” gợi cảm hứng cho tâm trạng, tình cảm của con người, thiên nhiên nói chung và hình ảnh “trăng” nói riêng còn đem lại cho câu ca dao tính văn học đầy đủ nhất khi nó xuất hiện dưới dạng những cảnh vật được ngụ ý, tức là dưới hình thức những ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng Ở đây cảnh vật thiên nhiên gần như đã trút hết ý nghĩa hiện thực của nó để mang một ý nghĩa khác hoặc vừa giữ ý nghĩa hiện thực vừa mang thêm một ý nghĩa nữa hay nói theo cách thông thường, vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa bóng và nghĩa bóng mới là cái chính chứ không phải là nghĩa đen Ví dụ, trong câu:
Ai làm cho đó xa đây Cho trăng xa cuội, cho mây xa trời
Các hình ảnh thiên nhiên ở đây đã được nhân hóa, một biểu hiện tế nhị của lối so sánh ví von rất phổ biến trong ca dao Nếu gọi phương pháp nhân cách hóa là phương pháp gán cho sự vật tính cách của con người, tâm hồn của con người, thì mục đích của phương pháp này trong đa số trường hợp là để cho tính cách, tâm hồn của con người được thể hiện ra một cách sinh động Vì
Trang 26thế, nỗi buồn về sự chia li, cách trở trong tình yêu, hạnh phúc trong trường hợp này đã được “phổ” vào thiên nhiên, cảnh vật, và thiên nhiên, cảnh vật cũng mang tâm trạng của con người
Hoặc nữa:
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn
Cớ sao trăng lại chịu luồn đám mây?
“Đèn” và “trăng” ở đây đã được nhân hóa để làm cuộc so tài hơn thua về
“độ sáng” của mình Mỗi bên đều có cái lý tồn tại của nó và đều có lúc tỏ lúc mất Vì thế, giá trị của mỗi bên đều như nhau, không được xem thường, hoặc ganh đua cao thấp Tác giả dân gian ở đây đã mượn hình ảnh “đèn”, “trăng”, nhân hóa chúng để nói về cách ứng xử, quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống
Là phương tiện chuyển tải tình cảm của con người, hình tượng “trăng” cùng với các hình ảnh thiên nhiên khác xuất hiện trong mọi mối quan hệ giữa người với người trong phạm vi gia đình cũng như xã hội Riêng trong mối quan hệ tình yêu đôi lứa, luận văn có một mục trình bày riêng Ở đây chỉ giới thiệu một số mối quan hệ chủ yếu, đặc biệt là trong quan hệ tình cảm vợ chồng, vì có số lượng câu ca dao xuất hiện hình ảnh trăng có tỷ lệ cao nhất Đây là một nụ cười trào tiếu, bông đùa rất dân gian khi nói về sự “kết duyên” giữa “ông Trăng” và “bà Trời”:
Ông Trăng mà lấy bà Trời Tháng năm ăn cưới tháng mười ăn cheo
Sự cưới xin, ăn hỏi giữa “ông Trăng” với “cô Sao”:
Ông Trăng mà lấy cô Sao Bao giờ có cưới cho tao ăn trầu
Tác giả dân gian đã hình tượng hóa các hiện tương thiên nhiên (trời, trăng, sao) thành hình ảnh con người trong quan hệ vợ chồng, trai gái thật
Trang 27cụ thể, sinh động, thể hiện một cảm xúc thật trẻ trung, hồn nhiên, yêu đời
Đây lại là cảnh bồng con nhớ chồng trong một đêm “trăng thu vằng vặc”:
Bồng con ngồi tựa trên non Trăng thu vằng vặc dạ còn nhớ trông
Là tâm trạng của một người vợ trẻ trong đêm nhớ chồng, tìm đến
“trăng”, “sao”, “đèn” để gửi gắm và giải toả nỗi niềm:
Trông sao, sao mọc về tây Trông trăng, trăng ở trên trời làm cao
Trông đèn bấc tổn dầu hao Thương anh em biết nơi nao đi tìm
Nhiều khi nhìn thấy hình ảnh “trăng xế”, “trăng lu” (nghĩa là trăng gần lặn, đã mờ ánh sáng) cũng là ngoại cảnh đánh thức nỗi nhớ thương:
Mẹ trông con ra cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng Phu
Mỏi mòn trăng xế, trăng lu Khác chi con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu nguôi lòng
Còn đây là một lời khuyên “tế nhị” của người vợ trẻ với chồng nên chăm chú vào việc “đọc sách ngâm thơ” Và để chuyển tải lời khuyên ấy, người vợ
đã mượn hình ảnh “nguyệt hoa, hoa nguyệt” làm ẩn dụ:
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng Đêm xuân ai dễ cầm lòng được mơ
Trang 28Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu
Và ta cũng bắt gặp nhiều lần “trăng” được nhân hóa như nhân vật thứ ba làm tan vỡ hạnh phúc:
- Bây giờ chàng ăn ở ra dạ bạc đen
Có bóng trăng, tình phụ bóng đèn thoảng qua
- Có trăng thì phụ lồng đèn,
Ba mươi mồng một đi tìm lấy trăng
v.v
Tóm lại, hình tượng “trăng” với tư cách là một hiện tượng của thiên
nhiên được tác giả dân gian sử dụng khá đa dạng: khi chỉ đơn thuần là một hình ảnh thiên nhiên thuần tuý làm tôn lên vẻ đẹp phong cảnh của đất nước, quê hương, nhất là cảnh sắc ở thôn quê bình dị; nhưng phần nhiều, “trăng” còn được sử dụng một cách có nghệ thuật, giàu giá trị biểu đạt cho tâm trạng, tình cảm của con người trong các mối quan hệ gia đình và xã hội, đặt biệt là trong tình yêu trai gái
1.2 “Trăng” trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt
Ca dao về lao động sản xuất chiếm một vị trí quan trọng trong ca dao trữ tình của người Việt, và cùng với các hình ảnh thiên nhiên khác, “trăng” cũng được tác giả dân gian sử dụng trong nhiều hoàn cảnh của đời sống lao động ở thôn quê như: biểu đạt cho cuộc sống lao động vất vả của người dân quê; cho khí tượng, thời tiết liên quan đến thời vụ, mùa màng, và cho cả những kinh nghiệm được đúc kết từ cuộc sống lao động
1.2.1 “Ttrăng” với công việc lao động, sinh hoạt
Qua khảo sát, chúng ta bắt gặp rất nhiều các hoạt động lao động sản xuất
ở thôn quê được gợi cảm hứng từ thiên nhiên như: cấy hái, tát nước, cày bừa, chài lưới, dệt cửi, bán buôn, Có thể nói, thiên nhiên có một mối quan hệ gắn
bó mật thiết với công việc và môi trường lao động, môi trường sinh hoạt của
Trang 29người nông dân Việt Nam, trong đó “trăng” là một hình ảnh được sử dụng khá phổ biến
Đơn cử:
Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
Một cảnh đêm trăng thanh gió mát thật yên ả, thanh bình của một làng quê, và trong khoảng thời gian, không gian ấy xuất hiện một đôi vợ chồng trẻ với những công việc thường nhật của mình: “Em ngồi canh cửi còn anh
vá chài”
“Em ngồi canh cửi” là nói đến nghề dệt vải Dệt vải là một nghề nghiệp khá phổ biến ở nông thôn Việt Nam thời trước, là công việc của người phụ nữ truyền thống Cũng đã có nhiều bài ca dao nói về nghề dệt vải này Chẳng hạn:
Tai nghe con nhạn khơi chừng Chân gò nhịp lại, tay dừng thoi đưa
Còn “anh vá chài” là nói về nghề chài lưới Nghề chài lưới là một trong
ba nghề đặc thù (trồng lúa nước và nghề rừng) của nông dân Việt Nam Cũng như nghề kiếm sống khác, nghề chài lưới đã xuất hiện và tồn tại cùng chiều dài lịch sử dân tộc Có thể thấy, người nông dân Việt Nam từ xưa đến nay vẫn cần cù chịu khó, gắn bó với xóm làng, hăng say, vui vẻ lao động sản xuất, luôn cất cao tiếng hát, câu hò để làm giàu thêm đời sống tinh thần không kể đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn Từ những điệu hò trên sông cho đến những câu ca dao, tục ngữ còn truyền lại thì hình ảnh của người dân lao động vẫn luôn đẹp, tràn đầy sức sống, hòa quyện và gắn bó với thiên nhiên, với công việc trong cuộc sinh tồn của mình Chẳng hạn:
Một mình thong thả làm ăn Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm
Hoặc:
Nhìn mắt trăng, trăng lại còn khuya Muốn quăng câu sợ cá mê đìa không ăn
Trang 30Trong trường hợp này người dân chài nhìn “trăng” là để ước lượng thời gian trong đêm để tiếp tục công việc chài lưới, quăng câu nhưng xem ra cũng không dễ dàng dàng kiếm được cá, vì sợ cá mê đìa nên không chịu cắn câu Công việc đồng áng, cấy cày cũng là một trong những công việc mệt nhọc, vất vả của người nông dân “một nắng hai sương” Nhiều câu ca dao đã ghi lại công việc này: “Cày đồng đang buổi ban trưa / Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày ” Có lúc họ đối diện để so sánh, giãi bày với thiên nhiên, với
“trăng” về công việc của mình:
Trăng mờ vì đám mây che
Em đây vất vả về nghề canh nông
Trăng mờ lại có lúc trong
Em đây vất vả đỉnh chung có ngày
Sự so sánh giữa con người với thiên nhiên, giữa “em” và “trăng” ở đây vừa có sự tương đồng, vừa có sự đối lập Tương đồng ở hai câu đầu: “trăng mờ” vì “mây che”, còn với “em vất vả” là vì “nghề canh nông” Còn đối lập
là ở hai câu sau, bởi “trăng mờ” nhưng còn có lúc tỏ, “lúc trong”, còn “em vất vả” quanh năm ngày tháng, không có một ngày được nông nhàn, nghỉ ngơi Thậm chí nỗi lo về công việc đồng áng, cấy cầy của người nông dân, nhất là vào thời vụ, còn khiến họ không có những giấc ngủ trọn vẹn:
Bấy lâu thức nhắp mơ màng Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng
Có thể thấy, hoạt động lao động sản xuất nông nghiệp ở nước ta xưa kia, khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển vốn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Con người luôn có ý thức tôn trọng thiên nhiên và luôn muốn sống hoà hợp với thiên nhiên, lấy thiên nhiên với trời, sao, trăng, gió để giải bày, tâm sự Còn đây là cuộc sống và thân phận của “kiếp thợ” là thuê:
Trăng kia còn có đêm rằm Thấu chăng kiếp thợ tối tăm một đời
Trang 31Chắc chắn nghề nghiệp được nói đến ở đây là một nghề thợ với công việc nặng nhọc, vất vả như nghề thợ cấy, thợ cày, hơn thế là nghề rèn đúc, nghề khai thác Trong trường hợp này, tác giả dân gian cũng đã mượn đến hình ảnh của “trăng” để so sánh, giãi bày về nghề nghiệp của mình Hình ảnh thiên nhiên (trăng) và con người (kiếp thợ) ở đây được hiện lên trong sự đối lập Dẫu biết, “trăng” không tỏ, không sáng suốt đêm, suốt tháng nhưng vẫn còn có những “đêm rằm” trăng thanh, trăng tỏ, nhưng với kiếp thợ thì không
có một ngày được nghỉ ngơi, vui thú “tối tăm một đời” Câu ca dao đã sử dụng cách nói cường điệu về thân phận người lao động nhưng lại khái quát được cả một nghề nghiệp vất vả, nặng nhọc và nguy hiểm mà người dân quê
đã từng trải qua
Công việc chợ búa, bán buôn nhỏ lẻ cũng là một công việc phổ biến ở thôn quê và được tái hiện trong ca dao, trong đó hình ảnh “trăng” xuất hiện như một cảnh vật thiên nhiên để gợi cảm hứng:
Trăng lên khỏi núi, khuất bụi chuối con trăng mờ Tiếng em ở chợ sao khờ bán buôn
Nhìn trăng lên và khuất dần sau bụi chuối trước vườn nhà, người con gái với công việc chợ búa, bán buôn đã tự vấn với chính mình rằng còn khờ, còn dại Đây là công việc mưu sinh không hề đơn giản, dễ dàng bởi đặc thù của nghề chạy chợ là tranh mua, tranh bán, kèn cựa, nguýt lườm, rèm pha, nâng lên đặt xuống Có lẽ vẫn còn giữa được bản tính của một cô gái quê hiền hậu, chất phác, thật thà mà người con gái trong câu ca dao này chưa quen và chưa “nhập cuộc” được với không gian của chợ búa ntrong cuộc mưu sinh Trở lên chúng ta dễ nhận thấy, công việc, nghề nghiệp trong cuộc sống ở thôn quê xưa nay khá đa dạng và xuất hiện khá phong phú trong ca dao Mục đích của luận văn không đặt vấn đề tìm hiểu tất cả các loại hình nghề nghiệp, công việc ấy mà chỉ lựa chọn những câu, bài ca dao về lao động, sinh hoạt ở thôn quê có hình ảnh “trăng” xuất hiện như một “vật” để gợi cảm hứng, là phương tiện để chuyển tải tình cảm, tâm trạng của con người
Trang 321.2.2 “Trăng” với những kinh nghiệm được đúc kết từ cuộc sống lao động sản xuất
Như chúng ta đã biết, bên cạnh tính trữ tình tha thiết, lâu lắng, ngọt ngào,
ca dao còn là những câu nói, bài ca ngắn gọn thể hiện kinh nghiệm của dân gian về nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội trong đó có lao động sản xuất Điều này chứng tỏ người xưa quan sát tỉ mỉ những biểu hiện nhỏ nhất trong thế giới tự nhiên, từ đó rút ra những nhận xét chính xác, lâu dần thành kinh nghiệm Mặt khác, những kinh nhiệm trong lao động sản xuất từ rút ra từ sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên (trời, mây, trăng, gió, sấm chớp, nắng, mưa ) còn thể hiện mối quan hệ và ứng xử rất gần gũi và hòa đồng của con người với thiên nhiên, rất coi trọng sức lao động và đề cao sản phẩm lao động Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những câu ca dao đúc kết kinh nghiệm về lao động sản xuất được dân gian quan sát và tổng kết
từ hình ảnh mặt trăng
Nghề nông phụ thuộc vào nhiều vào hiện tượng thiên nhiên Muốn nắm bắt được tình hình thời tiết, phục vụ cho công việc nhà nông, người nông dân luôn có ý thức quan sát mọi hiện tượng ở xung quanh, trong đó có việc quan sát mặt trăng:
- Đêm trời lạnh trăng sao không tỏ
Đó là điềm mưa gió tới nơi
- Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa
Từ những kinh nghiệm về thời tiết, người nông dân đã biết tận dụng thiên nhiên để gieo cấy cho hợp thời vụ, sao cho gieo trồng đạt năng suất cao:
Tháng chạp là tháng trồng khoai Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng…
Họ cũng dựa vào hiện tượng sự thay đổi độ sáng của mặt trăng (tỏ, mờ)
để đoán định kết quả của mùa vụ:
Trang 33Trăng tỏ mười bốn được tằm
Tỏ trăng hôm rằm thì được lúa chiêm
Hoặc:
Trăng mờ tốt lúa nỏ Trăng tỏ tốt lúa sâu
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, văn hoá Việt Nam cũng xuất hiện những dấu ấn văn hoá đặc trưng chung, đó là văn hoá nông nghiệp Đặc trưng văn hoá nông nghiệp được thể hiện đậm nét trong tục ngữ ca dao về lao động sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng trọt, thể hiện kinh nghiệm của cha ông ta trong hoạt động trồng lúa và các cây hoa màu Nắm được khí tượng có ảnh hưởng đến kết quả của mùa màng, người nông dân sẽ chủ động hơn trong việc lựa chọn, điều chỉnh trong công việc trồng trọt cấy hái của mình
Tóm lại, với việc thiên nhiên nói chung và trăng nói riêng xuất hiện xuất
hiện đa dạng trong ca dao về lao động sản xuất đã phản ánh sự gắn bó của người nông dân Việt Nam với môi trường thiên nhiên vốn cũng là môi trường lao động, môi trường sinh sống của họ Từ các sinh hoạt, các công việc “chân lấm tay bùn” nơi thôn dã đến việc đúc kết những kinh nghiệm về lao động sản xuất từ việc quan sát các khí tượng từ “trăng”, từ các hiện tượng thiên nhiên
để chọn thời vụ, đoán định kết quả mùa vụ đã được phản ảnh khá phong phú
và sinh động trong bộ phận ca dao này
Trang 341.3 “Trăng” - một hình tƣợng giàu giá trị biểu đạt và thẩm mỹ trong tình yêu đôi lứa
Bên cạnh giá trị biểu đạt cho vẻ đẹp của thiên nhiên và gắn bó mật thiết với đời sống lao động sản xuất ở thôn quê, trăng trong ca dao còn là một hình tượng giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm và thẩm mỹ trong các các mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt là trong tình yêu đôi lứa
Xét riêng trong tình yêu đôi lứa, hình tượng trăng cũng được tác giả dân gian thể rất đa dạng: trăng là phương tiện để tỏ tình; trăng biểu đạt cho những cung bậc tương tư; trăng biểu đạt cho lời thề ước và trăng còn là tiếng nói hận tình khi hạnh phúc, tình yêu tan vỡ
1.3.1 “Trăng” là phương tiện để tỏ tình
Tình yêu đôi lứa - tình yêu nam nữ là chủ đề được thể hiện sâu sắc nhất
và cũng rõ nhất trong Ca dao, vì tình yêu đôi lứa luôn là đề tài muôn thưở của kiếp người Trong ca dao Việt Nam, tình yêu được thể hiện thật ý nhị, uyển chuyển, nhưng cũng có lúc thật chân thành mộc mạc; một thứ tình yêu mộc mạc chân quê, pha trộn hương đồng cỏ nội, thênh thang như đồng lúa và uyển chuyển nhẹ nhàng như dòng nước lững lỡ nhè nhẹ êm trôi của những dòng sông Và trong các hình ảnh thiên nhiên được sử dụng trong ca dao để nói về tình yêu, “trăng” là một trong những phương tiện trữ tình giàu giá trị thẩm mỹ hình được sử dụng khá đậm nét
Đời sống được gắn liền với những hoạt động nông nghiệp thì diều kiện
để tình yêu nảy nở và gắn liền với những hình ảnh đồng ruộng, cái cày, con trâu v.v Khi những buổi chiều tà, lúc mặt trời đã gác non đoài, với những đoàn trai gái trong làng vác cày rửa hái để trở về mái nhà tranh sau một ngày làm việc Những làn khói cơm chiều lan tỏa vươn trong giải mây tím hòa lẫn với tiếng hát của trẻ mục đồng đang dắt trâu trở về, đã phác họa cho chúng ta hình ảnh một miền quê êm ả thanh bình Rồi những đêm trăng sáng, trai gái
hò hẹn, ướm hỏi, có thể là xa xôi, vòng vo, đưa đẩy nhưng tất cả đều thể hiện được tính chất lãng mạng, yêu đời Và trong những câu ca dao tỏ tình quen thuộc, có hình ảnh ánh trăng hiển hiện, không thể không nói đến hai câu:
Trang 35Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
Một cặp thơ lục bát đậm đà gió nội hương đồng đã làm hiện lên trước mắt ta cảnh vật đồng quê một đêm trăng tuyệt vời Đó là vẻ đẹp của cánh đồng quê bát ngát màu xanh và ngào ngạt hương lúa ngập tràn ánh trăng vàng Đó là vẻ đẹp duyên dáng, khỏe đẹp của một thiếu nữ đang cần mẫn tát nước dưới trăng Dòng nước, cánh tay, nét mặt và toàn thân cô như được dát ánh trăng vàng Gầu nước vục xuống, mặt nước xao động, muôn ánh trăng vàng tan ra lung linh, huyền ảo Cô thôn nữ tát nước một mình mà chẳng lẻ loi vì đã có trăng làm bạn, và còn có cả chàng trai làng thầm yêu trộm nhớ đang say mê ngắm “nàng tiên” tát nước dưới trăng Cảnh vật và con người, lao động và tình yêu, dòng nước và con đường đều tràn ngập ánh trăng Câu
ca dao mười bốn từ, chỉ có một từ về “trăng” mà người đọc được bắt gặp một không gian toàn trăng Nhà thơ dân gian đã sống nhiều cùng trăng nơi thôn
dã, đã yêu vầng trăng với một tình yêu bao la, đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn
cô gái nơi thôn dã nên mới nói được thật hay, thật đẹp cảnh thiếu nữ tát nước đêm trăng đến thế
Nhưng cái hay, cái đẹp, cái ẩn ý của câu ca dao còn là ở câu ướm hỏi của chàng trai: “Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?” Tinh tế và giàu ý tứ câu hỏi của chàng làm cho cô gái tuổi trăng tròn ấy không khỏi bối rối Trả lời sao đây cho phải, cho hay, cho đẹp như người hỏi và trăng? Nhưng hỏi chỉ để mà hỏi, là cớ để bộc lộ cảm xúc mãnh liệt trước vẻ đẹp của người, của trăng mà chàng trai đang được chiêm ngưỡng đó thôi Và rất có thể, hỏi chỉ để lấy một cái cớ làm quen, mà rút ngắn cái khoảng cách của từ "cô" mà chàng đã dùng rất ý nhị kia Và hiểu cho cùng, nói trăng là để giãi bày lòng mình Hỏi "múc ánh trăng vàng đổ đi?" là để được gần người múc trăng hay chính là ngầm nhắc cô gái trăng tròn ấy đừng làm ngơ trước lòng người như đang sóng sánh cùng trăng Thật khéo léo, thật tình tứ mà vẫn giản dị, dễ thương Vậy thì cô gái trăng tròn đang múc từng gàu nước đẫm trăng kia, lòng cô hẳn cũng chẳng thể làm ngơ, hồn cũng đang xao xuyến và sóng sánh cùng trăng cùng người?
Trang 36Trong ca dao tỏ tình của tình yêu nam nữ trong ca dao được viết theo lối đối - đáp còn có cả một “đêm trăng thanh” tạo ra một không gian thơ mộng, trữ tình, hợp với lời ướm hỏi, thổ lộ tình yêu của chàng trai Ở đây chúng tôi chỉ dẫn lời ướm hỏi của nhân vật chàng trai:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Lời tỏ tình của trai gái nơi thôn dã thường gắn liền với đêm trăng thanh gió mát yên bình Dưới hình ảnh ánh trăng đó chàng trai đã lấy hết mọi can đảm và nỗi lòng của mình để bày tỏ với cô gái Trước những khó khăn thiếu thốn của chốn miền quê thì ánh trăng chính là minh chứng tốt đẹp nhất, lãng mạn nhất cho đôi lứa Hình ảnh “tre non” với câu hỏi đã “đủ lá” để “đan sàng” hay chưa nhằm hỏi độ tuổi của cô gái đã đến tuổi, đã sẵn sàng để lấy chồng hay chưa, và nếu đủ rồi và cô chưa có người thương thì chàng muốn lấy cô về làm vợ Đó là một câu hỏi hay, một cách tỏ tình thật tế nhị, không làm cho chàng trai hay cô gái phải e thẹn hay ngại ngùng gì Cũng qua câu tỏ tình này, người đọc cũng nhận ra được hình ảnh một chàng trai thôn quê nhưng rất đa tình, hào hoa mà cũng thật chân thành, sâu sắc và ý tứ Lời thổ
lộ, hò hẹn, ướm hỏi, có thể là xa xôi, vòng vo, đưa đẩy nhưng tất cả đều thể hiện được tính chất chân thật nhưng cũng rất lãng mạn, yêu đời Và đây nữa
là câu ca dao cũng có hình ảnh “trăng” là một ẩn dụ trong lời tỏ tình cảu chàng trai:
Bao giờ cho gạo bén sàng Cho trăng bén gió cho nàng bén anh
Lời ướm hỏi thật đơn sơ bình dị, các đồ vật, phẩm vật (gạo, sàng) cũng như các hình ảnh thiên nhiên làng quê quen thuộc (trăng, gió) được sử dụng như những hình ảnh ẩn dụ để bộc bạch tình cảm yêu đương ở chàng trai Các hình ảnh ẩn dụ ấy có mọt mối quan hệ thân thiết, gắn bó: “gạo” phải qua
“sàng” mới sạch, mới ngon; trăng thanh thì phải có gió mát mới thi vị, hữu tình Các cặp hình ảnh sóng đôi “gạo - sàng”, “trăng - gió” trong câu ca dao
Trang 37chỉ là sự đưa đẩy, là cái cớ để đi đến câu hỏi quan trọng nhất: “Bao giờ cho nàng bén anh” Động từ “bén” được sử dụng thật hữu hiệu, đặc tả rất đúng cho trạng thái tình cảm trong tình yêu trong thơ ca: “bén duyên”, “bén tiếng” Nhà thơ Hồ Xuân Hương sau này cũng đã viết: “Thiếp bén duyên chàng có thế thôi”, v.v
Còn đây là sự ca ngợi vẻ đẹp của cô gái mà chàng trai mơ ước được đồng hiện trong đêm thấp thoáng bóng trăng:
Đêm tà thấp thoáng bóng trăng
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này
Thật ra đây là một vẻ đẹp lí tưởng, ít liên quan đến cuộc sống lao động cực nhọc, bị cưỡng bách của người phụ nữ nông thôn thời phong kiến Nhưng trong ngôn ngữ, cái nhìn và tình cảm của người đang yêu thì sự lý tưởng hóa cái đẹp của người mình yêu, mình đang mơ ước được gặp gỡ, hò hẹn, kết duyên thì cũng là một nét tâm lí phổ biến
Như vậy, trong cao dao tỏ tình của tình yêu nam nữ chúng ta thường thấy xuất hiện những sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong đời sống hàng ngày của nhân dân Những nét sinh hoạt, những cảnh vật ấy thường được dùng làm bối cảnh cho những cuộc gặp gỡ, hẹn hò, thổ lộ tình cảm của trai gái thôn quê, trong đó hình tượng “trăng” xuất hiện khá đậm nét và giàu
ấn tượng, là phương tiện trữ tình để thể hiện tình cảm
1.3.2 “Trăng” biểu đạt cho những cung bậc tương tư
Sau giai đoạn tỏ tình và tình cảm được chấp nhận là giai đoạn bắt đầu của một tình yêu Và trong “Cái thuở ban đâu lưu luyến ấy”, hình tượng
“trăng” cũng đã hiển hiện như một minh chứng của thiên nhiên trước tình yêu của hai người:
Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
(VNP tr 82)
Trang 38Tình yêu vừa chớm nở bao giờ cũng thật đẹp, thật đáng trân trọng, nâng niu Tất cả đều mới bắt đầu: “lửa mới nhen”, “trăng mới mọc”, “đèn mới khêu” như “đôi ta” vừa đến với một tình yêu bình dị và trinh nguyên vậy Các hình ảnh so sánh từ thiên nhiên (trăng mới mọc) đến những sinh hoạt trong cuộc sống (lửa mới nhen, đèn mới khêu) đều thuộc về cái hàng ngày dân dã, mộc mạc Không hoa mỹ, cường điệu vì đó là một tình yêu giản dị, đơn sơ nhưng thật nồng ấm và hạnh phúc
Đã yêu nhau thì tất phải tương tư, nhớ nhung Nói như nhà thơ Nguyễn Bính sau này: “Nắng mưa là chuyện của trời / Tương tư là bệnh của tôi yêu
nàng” (Tương tư) Ca dao truyền thống của dân tộc Việt cũng đã ghi lại được
khá phong phú và đa dạng của những cung bậc tình cảm này của trai gái khi yêu nhau, và “trăng” xuất hiện như một hình tượng nghệ thuật giàu cảm xúc
và thẩm mỹ:
Một đàn cò trắng bay quanh Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta
Mình nhớ ta như cà nhớ muối
Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng
Câu đầu là “tức cảnh”, ba câu sau là “sinh tình” Đây cũng là một thủ pháp thường gặp trong ca dao Để thể hiện nỗi nhớ trong tình yêu, ca dao cũng như thơ ca truyền thống khống hiếm gì cách nói, cách sử dụng hình ảnh Trong bài ca dao này, tác giả dân gian (trong vai một cô gái, hay chàng trai)
đã nói về nỗi nhớ tình yêu của mình một cách tinh tế mà sâu sắc, đã sử dụng được các hình ảnh quen thuộc mà hàm ý sâu sa của các biểu tượng thể hiện sự sóng đôi, kết nối, không thể tách rời trong thiên nhiên cũng như trong đời
sống sinh hoạt của người bình dân: loan - phượng, cà - muối, cuội - trăng Và
vì thế, nỗi nhớ trong tình yêu giữa trai gái cũng giống như quy luật vĩnh hằng
của thiên nhiên, đất trời vậy thôi Thiên nhiên ở đây (Cuội - trăng) được nhân
hóa và chở đi tình cảm của con người
Trang 39Có thể nói, nỗi tương tư trong tình yêu choán đầy cả không gian, đằng đẵng theo thời gian và lắng vào độ sâu của tâm tưởng, của nỗi buồn thương nhớ:
Đêm qua trăng gác đầu non Vạc kêu sương lạnh, em buồn tái tê
Trong một đêm sương lạnh, nhìn ánh trăng chênh chếch gác đầu núi và tiếng vạc khắc khoải gọi bầy, người con gái trong câu ca dao thấy lòng mình dâng trào một nỗi buồn tê tái Nỗi buồn này không gì khác mà chính là nỗi tương tư của tình yêu đang thấm vào cảnh vật Có biết bao nhiêu câu ca dao hay như vậy khi viết về tình yêu và nỗi nhớ và thường câu nào cũng gắn với hình ảnh của thiên nhiên Nhưng thiên nhiên ở đây không chỉ là đối tượng thẩm mĩ của ca dao, nó còn là phương tiện trữ tình góp phần tạo nên cái hay, cái đẹp của câu ca dao và nói được chiều sâu tâm trạng của con người, trong
đó “trăng” là một trong những hình tượng được tác giả dân gian sử dụng khá phổ biến:
Trăng lên đỉnh núi trăng nghiêng Nhớ em, anh những sầu riêng một mình
Trong tương tư, nhớ nhung của tình yêu thì nỗi đau bởi sự chia lìa, cách
xa của đôi bạn tình là điều ám ảnh nhất Sự nhớ thương, đau khổ như thấm đẫm đến tận thiên nhiên, trời đất qua hình tượng một vầng trăng “xẻ làm đôi”:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?
Đưa nhau một bước lên đàng
Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa
Bài ca dao đã vẽ ra một không gian đa chiều để chất chứa vào đó nỗi buồn của tình yêu lúc chia li: có thăm thẳm trời cao, có bao la trần thế, có nhỏ bé một quảng đường; có hiển thị một vầng trăng chia nửa, có ảo ảnh một trần thế ngược xuôi; có gần, có xa, có tả thực, có ước lệ biến hoá khôn lường Một bức tranh không chỉ có sự chia đôi của một vầng trăng, mà còn có sự ngược
Trang 40xuôi của đường đời, sự cắc cớ của mối duyên tình Không gian đó tưởng tĩnh
mà động, không chỉ có cái hiển thị mà còn có cả cái hàm ẩn, có cả tầng nổi lẫn tầng chìm, có gần, có xa nhưng bao trùm lên cả là nỗi buồn ly biệt
Rõ ràng đây là một ý đồ nghệ thuật được thể hiện bằng tài năng sáng tạo tuyệt vời Từ giữa bao la rộng lớn của trời, của đất, của vầng trăng xẻ nửa bổng thu dần về một không gian hẹp hơn (đường trần ngược xuôi), hẹp hơn nữa (cỏ xanh hai dãy), và nỗi buồn chia ly của con người cũng như theo đó
mà cô lại thành giọt, rồi thành hàng, thành mấy hàng, thành vô hạn Cả trời cao, đất dày cả nhân thế mênh mông như cùng chứng giám cuộc chia ly đẫm
lệ đó, như sẽ chìm trong dòng lệ chia ly đó Sau này Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã sử dụng lại hình tượng “Vầng trăng ai xẻ làm đôi” để nói về cuộc chia tay giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều đầy lưu luyến mà cũng tiềm ẩn nhiều trắc trở, trái ngang trong tình yêu của hai người:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gồi chiếc, nửa soi dặm trường
Yêu nhau để rồi thương rồi nhớ, khi sợi “tơ hồng” đã buộc hai người xa
lạ với nhau, trái tim thổn thức ngân rung nhịp đập của tình yêu Đôi người yêu nhau thương nhớ khôn nguôi với tâm trạng xót xa, khắc khoải
Có thể nói, những bài ca dao nói về tình yêu, về nỗi nhớ thật khó mà kể xiết, trong đó có nhiều bài đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và nội dung Có lẽ chỉ tình yêu với những rung cảm mãnh liệt và bất tận mới giúp nghệ sĩ dân gian sáng tạo được những tuyệt bút sống mãi với thời gian
1.3.3 “Trăng” biểu đạt cho lời thề ước
Tình yêu vốn có nhiều cung bậc, có buồn vui, ngọt bùi, đắng cay…và cũng có sự bất hạnh nữa Nếu tâm hồn con người có bao nhiêu “nốt nhạc thăng trầm” thì tình yêu cũng thế! Và như vậy, bên cạnh những lời tỏ tình, trao duyên không thể thiếu, thì những lời thề nguyền gắn bó keo sơn lại càng không thể thiếu được Nó được xem như là chất keo dính, là một sự khẳng định cho tình yêu đôi lứa Lời thề nguyền ấy nhằm thể hiện ý chí, nghị lực của