MỤC LỤC 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình khác Ngƣời[.]
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình khác
Người cam đoan
Mai Thị Huyền
Trang 2
L ời cảm ơn
Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học Hồng Đức Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn TS Lê Thị Thu Bình - người đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi thực hiện luận văn này Chúng tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hồng Đức, và các thầy cô giáo thuộc
bộ môn lí luận Ngôn ngữ - Khoa Ngữ văn trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ của một học viên cao học
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được sự động viên, khuyến khích của nhiều thầy cô giáo, bạn bè, nhân dịp này, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
Mai Thị Huyền
Trang 3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 5
I Lí do chọn đề tài……… 5
II Lịch sử vấn đề……… 7
III Mục đích nghiên cứu……… 9
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 10
V Phương pháp nghiên cứu……… 10
VI Đóng góp của đề tài……… 11
VII Cấu trúc của đề tài……… 11
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài……… 12
1.1 Khái niệm về đoạn văn ……… 12
1.1.1 Khuynh hướng thừa nhận có hai đơn vị cùng tồn tại là đoạn văn và chỉnh thể cú pháp phức hợp………
12 1.1.2 Khuynh hướng thừa nhận cấp độ trên câu chỉ có một đơn vị 15 1.2 Phân loại đoạn văn……… 18
1.2.1 Phân loại đoạn văn dựa vào hình thức……… 18
1.2.2 Phân loại đoạn văn dựa vào cấu trúc……… 19
1.2.3 Phân loại đoạn văn dựa vào ý nghĩa……… 20
1.2.4 Phân loại đoạn văn dựa vào chức năng……… 21
1.3 Quan niệm về đoạn văn đặc biệt……… 24
1.4 Tiểu kết……… 26
Chương 2: Đặc điểm của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945………
28 2.1 Xét về cấu tạo……… 28
2.1.1 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một từ……… 28
2.1.2 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một cụm từ……… 31
2.1.3 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một câu……… 32
2.2 Xét về vị trí……… 33
Trang 42.2.1 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu văn bản……… 33
2.2.2 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí triển khai……… 34
2.2.3 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí kết thúc……… 36
2.3 Xét về quan hệ……… 37
2.3.1 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu……… 37
2.3.2 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí triển khai……… 41
2.3.3 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí kết thúc……… 43
2.4 Xét về ý nghĩa……… 46
2.4.1 Ở vị trí mở đầu……… 46
2.4.2 Ở vị trí triển khai……… 49
2.4.3 Ở vị trí kết thúc……… 53
2.5 Tiểu kết……… 56
Chương 3: Chức năng của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945………
58 3.1 Chức năng của đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu……… 58
3.2 Chức năng của đoạn văn đặc biệt ở vị trí triển khai……… 63
3.3 Chức năng của đoạn văn đặc biệt ở vị trí kết thúc……… 71
3.4 Tiểu kết……… 74
Kết luận……… 76
Tài liệu tham khảo……… 79
Tài liệu trích dẫn……… 83
Trang 5Khi văn bản có nhiều nội dung, nhiều ý sẽ nảy sinh vấn đề tách đoạn để tạo cho văn bản có kết cấu hợp lí Quy trình tách đoạn trong truyện ngắn phụ thuộc rất nhiều vào dung lượng văn bản và ý đồ chủ quan của người viết Bởi, việc chia tách đoạn văn vừa tạo cơ sở hình thức cho cấu trúc văn bản, cũng tức là đánh dấu liên kết tổng thể Bên cạnh đó, nó còn tạo sắc thái ý nghĩa bổ trợ, tức là thông qua việc chia tách đoạn văn mà đưa thêm vào văn bản những
“ý không lời”, những sắc thái ý nghĩa có tác dụng tình cảm hoặc nhận thức không được diễn đạt bằng từ ngữ tường minh Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi bắt gặp những đoạn văn mang đầy đủ tiêu chí về nội dung và hình thức, nhưng cũng có đoạn văn không mang đầy đủ tiêu chí về nội dung và hình thức Đoạn văn mang đầy đủ tiêu chí về nội dung và hình thức, chúng tôi gọi đó là đoạn văn bình thường Đoạn văn không mang đầy đủ tiêu chí về nội dung và hình thức, chúng tôi gọi là đoạn văn đặc biệt
Như vậy, việc nghiên cứu đoạn văn đặc biệt góp phần lí giải cho chúng
ta hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về đơn vị trực tiếp cấu thành văn bản
1.2 Đoạn văn đặc biệt cũng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở phương diện lý thuyết mà chưa đi sâu nghiên cứu trong từng thể loại văn bản cụ thể, nhất là thể loại văn bản nghệ thuật như truyện ngắn
Trang 6Truyện ngắn Việt Nam xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, nhưng mãi đến giai đoạn 1930-1945, mới gặt hái được nhiều thành tựu Đây là giai đoạn, nền văn học nước nhà phát triển hết sức nhanh chóng Chỉ trong vòng hơn một thập
kỷ, các bộ phận, các xu hướng văn học đều vận động, phát triển với tốc độ đặc biệt khẩn trương, mau lẹ Điều đó được thể hiện qua sự phát triển về số lượng tác giả và tác phẩm, sự hình thành và đổi mới các thể loại văn học và
độ kết tinh ở những tác giả và tác phẩm tiêu biểu Không những thế đây là giai đoạn, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hoá với nhiều cuộc cách tân sâu sắc đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết Truyện ngắn ở giai đoạn này được viết theo lối mới, từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể truyện và ngôn ngữ nghệ thuật
Điều đáng chú ý ở đây là các nhà văn đã sử dụng khá nhiều đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn để thể hiện dụng ý riêng của mình Nhưng trong các công trình nghiên cứu về truyện ngắn, giới sáng tác và nghiên cứu mới tập trung khai thác các khía cạnh như quan niệm về tình huống, cốt truyện, nhân vật, thể loại…mà ít chú ý đến chức năng của đơn vị tạo nên truyện như đoạn văn và đoạn văn đặc biệt Vì thế nghiên cứu đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tìm hiểu kết cấu văn bản truyện, đồng thời giúp bạn đọc có thể định hướng cách tiếp nhận đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn ở các giai đoạn sau
1.3 Xét về mặt thực tiễn, trong thực tế giảng dạy môn ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay, học sinh đã được học nhiều truyện ngắn nhưng chỉ quen tiếp nhận nội dung của truyện mà chưa đi sâu tìm hiểu về bản chất những đơn
vị cấu tạo nên truyện như: tên truyện, các đoạn văn trong truyện… Bởi vậy, việc nghiên cứu đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn sẽ góp phần tích cực vào việc giảng dạy môn ngữ văn ở trường phổ thông
Để góp phần làm rõ đặc điểm của đoạn văn đặc biệt trong văn bản nói chung
và đoạn văn đặc biệt trong văn bản nghệ thuật nói riêng, luận văn sẽ tập trung khảo sát đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Trang 7Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945” để nghiên cứu
II Lịch sử vấn đề
Đoạn văn là đơn vị quan trọng trong ngữ pháp văn bản Cho đến nay vấn đề về đoạn văn đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước cũng như trên thế giới Chúng ta có thể điểm qua tình hình nghiên cứu về đoạn văn như sau:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Ngôn ngữ học văn bản là một bộ phận của ngành ngôn ngữ học nghiên cứu các đơn vị trên câu Trong các đơn vị trên câu, đoạn văn đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm như: O I Moskalskaja; A.M Pescốpxki; N
S PosPelôp; K Bôstơ; L.A Bulakhôpxky; I.Rgalperin… Nhìn chung các hướng tìm hiểu về đoạn văn chủ yếu phân tích các biểu hiện liên kết về nội dung hay hình thức trong các loại hình và các phần của văn bản
Trong những năm gần đây, đối tượng nghiên cứu về đoạn văn không dừng lại ở văn bản viết mà mở rộng cả ở văn bản dạng nói Chẳng hạn công trình Discourse analysis (Phân tích diễn ngôn) của G Brown & G Yule,
2002 Ở trong công trình này, khi phân tích diễn ngôn, người ta quan tâm tới đoạn thoại, đoạn lời Đoạn thoại ( hay “văn đoạn lời nói”) là có dấu hiệu mở đầu thường là một biểu thức giới thiệu, khi nói thường có dấu hiệu cao giọng
ở câu mở đầu, câu kết thúc có dấu hiệu hạ thấp giọng, có thể dùng cụm tóm tắt, lặp lại biểu thức giới thiệu, có khoảng ngừng dài, thường dài đến một giây (8, tr 167) Đây là những đơn vị có đặc điểm như đoạn văn ở dạng viết
2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Đoạn văn với tư cách là những đơn vị trên câu, là những phần tử trong văn bản Muốn tạo thành một văn bản, chúng phải liên kết chặt chẽ với nhau, tạo ra mạng lưới dày đặc các quan hệ về chủ đề, lôgíc ngữ pháp… giữa chúng Ở nước ta, việc nghiên cứu văn bản mới thực sự bắt đầu khoảng từ năm 1970 trở lại đây Khi tìm hiểu văn bản, các nhà nghiên cứu tìm hiểu ở những mức độ khác nhau nhưng đều đề cập đến đơn vị đoạn văn
Trang 8Nguyễn Quang Ninh (1993), cho rằng: Khi “đoạn văn đạt đến mức độ
tương đối hoàn chỉnh về nội dung, đoạn văn đó sẽ có những đặc điểm kết cấu đồng dạng ở mức độ cao nhất với văn bản Trong những trường hợp này, mỗi đoạn văn được gọi là đoạn ý (hay đoạn nội dung) Ngược lại, đoạn văn không có
sự hoàn chỉnh về nội dung được gọi là đoạn lời (hay đoạn diễn đạt)” (36; tr 7- 8)
Với cách hiểu này, tác giả đã thể hiện được nhiều đặc trưng cơ bản của đoạn văn Mỗi đoạn văn là một thể thống nhất về chủ đề, gồm một số câu triển khai chủ đề, theo trình tự lôgíc nhất định, với những phương tiện liên kết phù hợp Theo tác giả, đoạn văn hoàn chỉnh là đoạn văn có nội dung tương đối hoàn chỉnh và có cấu trúc ba phần: phần mở đoạn, phần triển khai và phần kết thúc Mặt khác, cũng có những đoạn văn không hoàn chỉnh về nội dung và cấu trúc không hoàn chỉnh Nhưng giữa chúng lại có sự liên kết chặt chẽ để tạo nên một văn bản hoàn chỉnh
Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu đoạn văn và liên kết trong văn bản, đã
quan tâm tới các vấn đề về đoạn văn như: vị trí của đoạn văn trong văn bản,
quan niệm về đoạn văn, phân loại đoạn văn theo cấu trúc (14, tr 74 đến 98)
Phan Mậu Cảnh quan niệm về đoạn văn như sau: “Đoạn văn là một bộ
phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, biểu thị một nội dung tương đối độc lập, có hình thức rõ ràng” Dựa trên khái niệm về
đoạn văn, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đoạn văn trên các mặt: vai trò của đoạn văn trong văn bản, phân đoạn trong văn bản, phân tích các loại đoạn văn theo chức năng Với bài viết này, tác giả đã giúp người đọc hiểu rõ hơn về đoạn văn theo chức năng và vai trò của nó trong văn bản (11, tr 129-207)
Có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về đoạn văn, nhìn chung các nhà nghiên cứu mới chỉ quan tâm tới đoạn văn bình thường mà chưa chú
ý nhiều tới dạng đặc biệt của nó Tuy nhiên cũng đã có một số ý kiến quan tâm tới đoạn văn đặc biệt trong văn bản Chẳng hạn, Nguyễn Trọng Báu,
Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm, dưới góc độ của ngữ pháp văn bản, các tác giả đã đưa ra quan niệm về đoạn văn như sau: “Bất kỳ một từ, một câu,
Trang 9một nhóm câu, một chỉnh thể câu, một nhóm chỉnh thể câu nào cũng có thể tách ra được thành một đoạn văn” (4, tr 127) Dựa trên tiêu chí này, các tác
giả đã tiến hành phân loại đoạn văn Theo đó, đoạn văn có thể là đoạn văn bình thường hoặc là đoạn văn đặc biệt tùy thuộc vào việc tách đoạn của tác giả
Từ góc độ thực hành văn bản, tác giả Phan Mậu Cảnh đã phân tích một
số đặc điểm tiêu biểu của đoạn mở đầu trong văn bản, trong đó nhấn mạnh tới đoạn văn đặc biệt Theo tác giả, đoạn văn mở đầu trong văn bản thường có hai loại: mở bằng đoạn văn bình thường và mở bằng đoạn văn đặc biệt Tác giả
cho rằng: kiểu mở bằng đoạn văn đặc biệt, đây là kiểu mở đầu văn bản bằng
đoạn chỉ có một câu ngắn gọn; có thể gọi đó là những đoạn văn không hoàn chỉnh, những “câu - đoạn văn” (11, tr 158)
TS Lê Thị Thu Bình ( 2008) đã đưa ra khái niệm về đoạn văn và đoạn văn đặc biệt, chỉ ra chức năng của đoạn văn nói chung, đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn nói riêng
Gần đây đã có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đoạn văn nói chung, đoạn văn đặc biệt nói riêng Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở khảo sát hình thức, nội dung của đoạn văn đặc biệt trong văn bản nói chung mà chưa quan tâm đến đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Chính vì vậy, đoạn văn đặc biệt phải cần được nghiên cứu nhiều trong sự hành chức của nó ở từng thể loại văn bản cụ thể, nhất là trong truyện ngắn
III Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là miêu tả, phân tích đặc điểm của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 trên các mặt: cấu tạo, vị trí, quan hệ , chức năng; giúp bạn đọc hiểu một cách sâu sắc hơn về giá trị của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn
Để thực hiện mục đích này, luận văn có những nhiệm vụ sau:
(1) Xác định khái niệm đoạn văn và đoạn văn đặc biệt
(2) Nghiên cứu cấu tạo, vị trí, quan hệ đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Trang 10(3) Nghiên cứu chức năng của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn tập trung khảo sát là: Đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
về truyện ngắn Việt Nam, đồng thời cũng là những tác giả có truyện ngắn được chọn giảng dạy trong nhà trường phổ thông Ngoài ra, chúng tôi có lấy một số tư liệu thuộc các văn bản khác để tham khảo
V Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Đây là phương pháp chủ yếu được áp dụng để tiến hành thống kê các đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn theo cấu tạo, vị trí và chức năng
5.2 Phương pháp miêu tả
Luận văn sử dụng phương pháp này để miêu tả đặc điểm cấu tạo, vị trí
và chức năng của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn, đồng thời khái quát những đặc trưng cơ bản nhất của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn
5.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Từ tư liệu đã khảo sát, chúng tôi tiến hành phân tích những kết quả nhằm nêu lên mật độ xuất hiện, phân tích các kiểu dạng của đoạn văn đặc
Trang 11biệt Từ đó tổng hợp lại những vấn đề quan trọng rút ra được nhận xét cơ bản nhất về đoạn văn đặc biệt
VI Đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 dự kiến đóng góp về các mặt sau:
- Về lí luận, góp phần làm rõ đặc điểm, chức năng của đoạn văn nói
chung, đoạn văn đặc biệt nói riêng trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945
- Về thực tiễn, giúp bạn đọc (đặc biệt là giáo viên và học sinh phổ
thông), đánh giá đúng ý nghĩa của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn, thấy được dụng ý và bút pháp nghệ thuật của tác giả qua đoạn văn đặc biệt
VII Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết quả nghiên cứu của luận văn được trình trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương 2: Đặc điểm của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Chương 3: Chức năng của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 Khái niệm về đoạn văn
Trong các công trình nghiên cứu về văn bản, các nhà nghiên cứu đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để gọi tên đơn vị trung gian giữa câu và văn bản: A M Peshkovskji (1914) gọi là “đoạn văn”, N S Paspelov (1946) gọi
là “chỉnh thể cú pháp phức hợp”, K Bôstơ (1949) cho đó là “khối liên hiệp câu”, L.A Bulakhopxki (1952) gọi là “thể thống nhất trên câu”, A A Akisina (1968) gọi là “siêu câu”, K Hausenblas (1971) gọi là “giao tiếp vị”, Z J Turaeva (1986) gọi đây là “tổ hợp quan hệ vị ngữ tính” Các nhà Việt ngữ học như Trần Ngọc Thêm (1984) gọi là đoạn văn, Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Dân (1994) gọi là “chỉnh thể trên câu”,
Các thuật ngữ nói trên thể hiện những quan điểm khác nhau về đơn vị ngôn ngữ được đề cập Tuy nhiên có thể quy những quan niệm khác nhau ấy
về hai khuynh hướng chủ yếu sau:
1.1.1 Khuynh hướng thừa nhận có hai đơn vị cùng tồn tại là đoạn văn
và chỉnh thể cú pháp phức hợp
L.M Lôsêva cho rằng: “Không nên đối lập đoạn văn và chỉnh thể cú
pháp phức hợp, bởi vì đó không phải là những phạm trù tương tác lẫn nhau Tuy nhiên, sẽ còn nguy hiểm hơn nếu không phân biệt chúng, coi phạm trù này là hình thức biểu hiện, tri giác,v.v của phạm trù kia” (L.M Loseva – 973,
tr50) Tác giả quy chỉnh thể cú pháp vào lĩnh vực cú pháp, còn đoạn văn là
thuộc về kết cấu văn bản: “Không nên quy đoạn văn về các phạm trù cú pháp
Trong cấu trúc cú pháp của văn bản không có đơn vị nào khác ngoài các cụm
từ, kết hợp từ, câu, chỉnh thể cú pháp phức hợp” (Dẫn theo Phan Mậu Cảnh
11, tr 122)
Các tác giả khác như O.I Moskalkaja, I.R Galperin cũng có xu hướng phân chia đơn vị trên câu thành chỉnh thể trên câu và đoạn văn Theo O.I Moskalkaja trong cuốn “Ngữ pháp văn bản”, thể thống nhất trên câu được xem là: “Những chuỗi câu được tổ chức về mặt cấu trúc về là những thể thống
Trang 13nhất nghĩa và giao tiếp”, đó là những “văn bản con” là một chuỗi câu đúng được tổ chức một cách đặc biệt thể hiện “một phát ngôn thống nhất” (33; tr 26) Theo tác giả, “đoạn văn chỉ có ở lời nói viết, còn khái niệm thể thống nhất trên câu như một phát ngôn liên kết cấu tạo từ một chuỗi câu thì phổ biến như nhau cho cả lời nói miệng và lời nói viết” (33, tr 49) Về quan hệ giữa hai đơn vị này, tác giả nêu lên ba trường hợp: “thể thống nhất trên câu chia ra làm vài đoạn văn”, hoặc “một đoạn văn bao gồm vài thể thống nhất trên câu” và
“thể thống nhất trên câu “trùng” với đoạn văn.” (33, tr 119)
I.R Galperin cũng thừa nhận đơn vị trên câu là “đoạn văn” và “thể thống nhất trên câu” (20, tr 104) Theo tác giả, thể thống nhất trên câu “là một nhất thể kết cấu phức gồm trên một câu độc lập, mang tính hoàn chỉnh về ý nghĩa trong văn cảnh của lời nói mạch lạc và có tư cách là một phần giao tiếp trọn vẹn” (20, tr 138) Tác giả cũng cho rằng thể thống nhất trên câu và đoạn văn có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau (20, tr 144)
Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Dân cũng sử dụng khái niệm đoạn văn và chỉnh thể trên câu Theo các tác giả:
“Nếu đoạn văn được quan niệm là một đơn vị thể hiện phong cách thì chỉnh thể trên câu được quan niệm là một đơn vị ngữ pháp Đoạn văn có thể không hoàn chỉnh về mặt nội dung nhưng chỉnh thể trên câu không thể như vậy Chỉnh thể trên câu bao giờ cũng cần sự hoàn chỉnh tương đối về nội dung và biểu hiện cụ thể nhất về điều này là chỉnh thể trên câu luôn thể hiện một tiểu chủ đề Tiểu chủ đề đồng thời là dấu hiệu phân giới giữa những chỉnh thể trên câu khác nhau” ( 15, tr 171)
Từ các quan niệm về đơn vị trên câu của các tác giả theo khuynh hướng thứ nhất, có thể thấy:
Về nội dung, chỉnh thể trên câu biểu thị một tiểu chủ đề trong văn bản với một nội dung tương đối trọn vẹn, có thể tách ra khỏi văn bản mà vẫn hiểu được nội dung của nó, còn đoạn văn có thể hoàn chỉnh về nội dung mà cũng
có thể không hoàn chỉnh về nội dung
Trang 14Về kích thước, so sánh đoạn văn với chỉnh thể trên câu (viết tắt CTC) có 2 trường hợp:
* Chỉnh thể trên câu trùng với đoạn văn
CTC và đoạn văn là những khái niệm khác nhau, nhưng là những khái niệm tiếp giáp với nhau về mặt chức năng, bởi cả hai đều giữ vai trò quan trọng về mặt ngữ nghĩa phong cách học Vì vậy, CTC và đoạn văn trong một
số trường hợp có thể trùng nhau Mỗi CTC được thể hiện bằng một đoạn văn
và ngược lại mỗi đoạn văn tương ứng với một CTC Ví dụ:
“Nó đứng ở cạnh bàn, run lên bần bật Nó liếc mắt nhìn quan Ngài oai
vệ quá Nó lại sợ hơn nữa Nhưng dù run hay sợ, nó cũng không quên được việc vi thiền quan
Nhưng tiền trình diện quan, nó lại buộc vào trong dải yếm Nó phải cởi
ra, mới lấy được
Nó mới lúi húi rút cái nút buộc ra Nó sợ quan chờ lâu, nên phải vội vàng Mà vì vội vàng, nó lo quan gắt, nên nó lóng cóng Cái nút vừa sổ ra, thì lẻng xẻng, cả món tiền rơi tiệt cả xuống gạch.”
( “Đồng hào có ma” – Nguyễn Công Hoan )
Phân tích ví dụ trên ta thấy 3 đoạn văn tương ứng 3 CTC
+ Thái độ run sợ của con mẹ Nuôi trước mặt quan nhưng không quên đưa tiền cho quan
+ Tiền để trong dải yếm phải cởi ra
+ Vì run sợ nên lóng ngóng tiền rơi cả xuống gạch
Sự trùng hợp này thể hiện, đoạn văn mang chức năng lôgíc ngữ nghĩa Với trường hợp này có thể gặp trong các văn bản văn học, văn chính luận, song chúng xuất hiện phổ biến nhất là trong các văn bản khoa học Điều này
là hoàn toàn dễ hiểu bởi vì tính lôgíc vốn là đặc trưng chủ đạo của văn phong khoa học
* Chỉnh thể trên câu không trùng với đoạn văn:
Đó là những đoạn văn có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn CTC Ví dụ:
Trang 15“Từ một giờ trở đi, số phiếu vẫn đuổi theo nhau, lúc bên này hơn vài
lá, lúc bên kia hơn vài lá
Bộ tham mưu ông Thiện rỉ tai nói nhỏ cùng nhau
Bộ tham mưu ông Hà cũng gọi nhau ra chỗ vắng để bàn bạc
Rồi cuộc chiến bắt đầu giữ dội.”
( “Trần Thiện, Lê Văn Hà” – Nguyễn Công Hoan )
Các đoạn văn trong chỉnh thể này có liên kết song song theo cùng một cấu trúc ngữ pháp và lặp lại các từ: Bộ tham mưu
Như vậy, ở ví dụ trên chỉ có một CTC nhưng có tới bốn đoạn văn làm cho chức năng biểu cảm càng được bộc lộ rõ Tuy nhiên, cũng có trường hợp: chỉ có một đoạn văn nhưng chứa trong mình hai hoặc nhiều CTC
Ví dụ: “Tôi về Bắc Mẹ tôi bảo tôi lấy vợ Tôi lấy vợ Vợ tôi là một cô
gái nhà quê không đẹp, có lẽ xấu nhưng được cái cũng là đàn bà mà lại thuộc cái hạng đặt đâu ngồi đấy Hình như y cũng nhận ra cái mặt tôi làm sao ấy Bởi mấy tháng đầu tôi thấy y buồn bã Tôi cũng buồn Nhưng rồi cũng quen
đi Cái gì lâu mà lại chẳng quen? Kể cả cái mặt không chơi được.”
(“Cái mặt không chơi được” – Nam Cao)
Phân tích ví dụ trên, chúng tôi thấy, đoạn văn gồm 2 CTC Chỉnh thể thứ nhất nói về việc nhân vật tôi lấy vợ và giới thiệu sơ lược về cô gái, chỉnh thể sau nói về tâm trạng con người
Tóm lại, vấn đề về đoạn văn có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, khi liên kết các câu sẽ dẫn đến 2 khả năng:
+ Câu trực tiếp tạo thành văn bản (với những văn bản ngắn)
+ Có một loại kết cấu lớn hơn câu nhưng chưa phải là văn bản (CTC)
Vì vậy, đã có rất nhiều tên gọi khác nhau để chỉ đơn vị trung gian này: Chỉnh thể câu, chỉnh thể thống nhất trên câu, chỉnh thể cú pháp phức hợp, nhất thể câu, đoạn văn…Nhưng trong đó, đoạn văn vẫn được đề cập nhiều nhất
1.1.2 Khuynh hướng thừa nhận cấp độ trên câu chỉ có một đơn vị
Trang 16Quan niệm này cho rằng cấp độ trên câu chỉ có một đơn vị, những tên gọi về các đơn vị trên câu như đã nêu chỉ là sự khác nhau về thuật ngữ, còn khái niệm chỉ là một
L G Pritman phủ nhận chỉnh thể trên câu, chỉ thừa nhận đoạn văn Tác giả cho rằng: “Không có một dấu hiệu tương thích nào cho phép xác định địa
vị của đơn vị cú pháp, chỉnh thể cú pháp phức hợp Chính vì vậy mà theo chúng tôi không thể xem là một đơn vị như thế… Chúng tôi cho rằng đơn vị
cú pháp trên câu có bộ các dấu hiệu tương thích khu biệt nó về phẩm chất với những đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn-các câu-đó là đoạn văn” (Dẫn theo O.I Moskalkaja (33, tr 47)
Tác giả Trần Ngọc Thêm (1984) cho rằng một đơn vị ngôn ngữ phải đáp ứng những tiêu chuẩn như sau:
1) Đơn vị ngôn ngữ phải có khả năng khu biệt: có hình thức nhất định với ranh giới rõ ràng cho phép có thể nhận diện và sử dụng
2) Theo F de Saussure, khi xác định một đơn vị ngôn ngữ thì “những
sự phân chia trên dòng âm thanh phải tương ứng với những sự phân chia trên dòng khái niệm”, tức là giữa nội dung và hình thức phải có sự thống nhất Sự thống nhất này dẫn đến hệ quả: mỗi cấp độ chỉ có một đơn vị duy nhất tương ứng (chứ không thể có nhiều đơn vị trong cùng một cấp độ)
3) Một đơn vị ngôn ngữ phải có khả năng sản sinh và có tính biến thể (đa dạng) trên cơ sở những mô hình cấu trúc nhất định
Từ những tiêu chuẩn trên, tác giả cho rằng trên câu chỉ có một đơn vị là đoạn văn
Đứng về phương diện phong cách học, Nguyễn Trọng Báu, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Quang Ninh trong cuốn “Ngữ pháp văn bản và tập làm văn”
(4, tr 127) còn cho rằng: “Đoạn văn chỉ là một phương tiện để phân đoạn văn
bản về mặt phong cách học Đó là một đoạn của văn bản thể hiện bằng những đơn vị ngữ pháp khác nhau Bất kỳ một từ, một câu, một nhóm câu, một chỉnh thể câu nào cũng có thể tách ra thành đoạn văn” Từ quan niệm của Trần
Trang 17Ngọc Thêm, ta thấy sẽ có hai loại đoạn văn: đoạn văn bình thường và đoạn văn bất thường Đoạn văn bình thường là đoạn văn có hình thức rõ ràng, có cấu trúc nhất định (từ hai câu trở lên), có nội dung đầy đủ Đoạn văn bất thường (một từ, một cụm từ, một câu) có nội dung không đầy đủ Đây là một quan niệm tương đối đầy đủ về đoạn văn
+ Đoạn văn thứ nhất là một từ
+ Đoạn văn thứ hai gồm một chỉnh thể câu
Các nhà Việt ngữ học: Bùi Bùi Tất Tươm-Nguyễn Văn Bằng-Hoàng
Xuân Tâm trong cuốn giáo trình, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXBGD
1997 cho rằng đơn vị trên câu là đoạn văn và: “Đoạn văn là tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề”
Diệp Quang Ban cho rằng: “ Đoạn văn thông thường được hiểu là một phần của văn bản từ chỗ viết hoa, thường lùi vào ở chỗ đầu dòng, cho đến chỗ dấu chấm xuống dòng” (3, tr 289) Quan niệm này thiên về mặt hình thức Muốn nhận diện đoạn văn chỉ cần có các tiêu chí này
Phan Mậu Cảnh trong cuốn, Ngôn ngữ học văn bản cho rằng: “đoạn
văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, được tách ra một cách hoàn chỉnh, rõ ràng về hình thức”
Dựa vào cấu trúc và chức năng của đoạn văn, tác giả Lê Thu Bình cũng
cho rằng đơn vị trên câu là đoạn văn và quan niệm: “Đoạn văn là đơn vị ngôn
ngữ nhỏ nhất có khả năng biểu đạt một chủ đề” ( 6, tr 39)
Trang 18Từ hai khuynh hướng trên, ta thấy, các nhà nghiên cứu văn bản đã phân chia cấp độ trên câu thành hai đơn vị: chỉnh thể trên câu và đoạn văn Trong
đó có tác giả chỉ thừa nhận đơn vị này và phủ nhận đơn vị kia hoặc ngược lại, cũng có những tác giả thừa nhận cả hai đơn vị cùng song song tồn tại và lý giải chúng theo cách quan niệm riêng của mình
Việc xác định đoạn văn là đơn vị trên câu, có hình thức rõ ràng, dễ nhận diện có thể phân tích được về mặt cấu trúc – ý nghĩa và quan hệ nội tại giữa các câu trong đó, có giá trị trong quá trình tạo lập văn bản Do đó, chúng
tôi chỉ sử dụng khái niệm đoạn văn Dựa vào quan niệm của các nhà nghiên cứu về đoạn văn và để phù hợp với việc nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan niệm về đoạn văn như sau: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo
thành, có cấu trúc nhất định, có khả năng biểu đạt một chủ đề, được tách ra một cách hoàn chỉnh, rõ ràng về hình thức
1.2 Phân loại đoạn văn
1.2.1 Phân loại đoạn văn dựa vào hình thức
Về mặt hình thức, các nhà nghiên cứu chia đoạn văn thành hai loại: Đoạn văn bình thường và đoạn văn bất thường (đoạn văn đặc biệt)
1.2.1.1 Đoạn văn bình thường
Đoạn văn bình thường là đoạn văn được cấu tạo từ hai câu trở lên có nội dung tương đối trọn vẹn (một tiểu chủ đề) và có hình thức tương đối hoàn chỉnh Nó có tác dụng làm cơ sở hình thức cho cấu tạo của văn bản
Ví dụ: Lý lịch của ông huyện Hinh cũng xấu thật Bởi vì ngồi huyện
nào, ông cũng bị dân kiện Mà quan trên xét ra ông lại trễ nải việc quan Đời làm quan của ông chỉ có hai việc chính: đánh bạc và chơi gái
( “Đồng hào có ma” – Nguyễn Công Hoan )
1.2.1.2 Đoạn văn đặc biệt
Đoạn văn đặc biệt là đoạn văn có hình thức chưa hoàn chỉnh và nội dung thường chưa trọn vẹn Nó thường dùng vào những trường hợp có dụng ý
Trang 19riêng Hay nói cách khác, đây là đoạn văn mang đậm sắc thái tu từ (Đoạn văn đặc biệt sẽ được chúng tôi đề cập kĩ ở phần sau)
1.2.2 Phân loại đoạn văn dựa vào cấu trúc
1.2.2.1 Đoạn văn diễn dịch
Đoạn văn diễn dịch là những đoạn văn mà chủ đề được phát triển theo hướng từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng Câu đầu nêu chủ đề khái
quát đứng trước, các câu còn lại cụ thể hoá nội dung khái quát ở câu mở đầu
Ví dụ: Hộ đã quên hẳn vợ con Hắn chỉ còn háo hức muốn biết thêm
về việc quyển “Đường về” của Quyền được dịch ra tiếng Anh Hắn bám lấy Mão và Trung Ba người vào tiệm giải khát ở Bờ Hồ Và chỉ độ nửa giờ sau, Mão và Trung đã thấy Hộ đỏ tai, giộng một cái vỏ chai bia xuống mặt bàn
(“Đời thừa” – Nam Cao)
1.2.2.2 Đoạn văn quy nạp
Đoạn văn quy nạp là đoạn văn trong đó chủ đề của đoạn được phát triển theo hướng từ cụ thể đến khái quát, từ riêng đến chung Các câu diễn đạt ý cụ thể, câu khái quát đứng ở vị trí cuối đoạn
Ví dụ: Người ấy là đồng chí Tôn Đức Thắng, là chủ tịch nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và cũng là Chủ tịch danh dự của ủy ban thiếu
niên nhi đồng Việt Nam, từ ngày ủy ban được thành lập Đó là Bác Tôn rất
Trang 20Ví dụ: Nó mới lúi húi rút cái nút buộc ra Nó sợ quan chờ lâu, nên
phải vội vàng Mà vì vội vàng, lại lo quan gắt, nên nó lóng cóng Cái nút vừa
xổ ra, thì loẻng xoẻng, cả món tiền rơi tiệt cả xuống đất
(“Đồng hào có ma”- Nguyễn Công Hoan) 1.2.2.4 Đoạn văn song hành
Đây là đoạn văn có các câu triển khai nội dung song song với nhau Các câu đều có tầm quan trọng như nhau trong việc biểu đạt nội dung của toàn đoạn văn, không có câu nào mang ý chính có thể khái quát được ý của các câu khác Đoạn văn này không có câu chủ đề, mỗi câu nêu một khía cạnh của chủ đề
Ví dụ: Mưa càng như rây bột, như chăng lưới Phố xá lờ mờ trắng xóa
Xung quanh ngọn lửa điện diễm lệ, rây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đen dài
(“Anh Xẩm” – Nguyễn Công Hoan)
1.2.2.5 Đoạn văn tổng- phân- hợp
Đoạn văn tổng-phân- hợp là đoạn văn có cấu trúc khép kín, có tính độc lập khá cao Các câu trong đoạn văn liên kết với nhau theo kiểu: câu chủ đề- các câu chi tiết- câu tổng hợp
Ví dụ: Ngoài phố chợ là bảy tám gia đình nghèo khổ không biết quê
quán đâu, mà người dân trong huyện vẫn gọi một cách khing bỉ: những kẻ ngụ cư Họ ở những đâu đến đây để kiến ăn trong mấy tháng trời làm đói kém, làm những nghề lặt vặt: người thì kéo xe, người thì đánh dậm lay làm thuê, ở mướn cho những nhà giàu có trong làng Người ta gọi mỗi gia đình bằng tên người mẹ: nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê Những gia đình
này đều giống nhau ở chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả
( “Nhà mẹ Lê” – Thạch Lam )
1.2.3 Phân loại đoạn văn dựa vào ý nghĩa
Căn cứ vào tiêu chí này, có thể chia đoạn văn thành ba loại
Trang 211.2.3.1 Đoạn văn hợp nghĩa
Đoạn văn hợp nghĩa là đoạn văn có nội dung liên quan chặt chẽ với ít nhất một đoạn văn khác (thể hiện ở các phương tiện liên kết nhất định), không tách rời khỏi văn bản Chúng ta không thể hiểu đầy đủ đoạn văn này nếu không đặt bên cạnh đoạn văn mà nó liên quan Đoạn văn hợp nghĩa thường chứa các từ ngữ liên kết với các đoạn văn kế cận như: các từ ngữ chuyển tiếp, các từ thay thế,
Ví dụ: “Nhưng đã hơn một tháng nay, anh ta không diễn ở đâu cả Vì
đã hơn một tháng nay, cha anh ta ốm Đã hơn một tháng nay, lúc nào trong cái gác tối om ở gian nhà ngay đầu ngõ Sầm Công, cái tiếng rên rỉ của ông
cụ cũng hòa lẫn với tiếng rầu rĩ của siêu thuốc mà làm anh Tư Bền phải rầu gan nát ruột, chẳng thiết đến sự làm ăn Bệnh cha anh càng nặng, thuốc thang chạy chữa, nào anh có quan ngại gì Nhưng cái số tiền để dành của một vai kép, dần dần nó cũng đi bài tẩu mã, đến nỗi anh phải đi vay trước của các ông chủ rạp hát ít nhiều”
( “Kép Tư Bền” – Nguyễn Công Hoan)
Đoạn văn này không có tính độc lập vì đã có từ “ nhưng” là từ nối đoạn trước với nó Nếu đứng độc lập người đọc sẽ không hiểu anh ta ở đây là ai? Và anh ta diễn cái gì? Vì sao anh ta lại nghỉ? Nên nó không thể tách ra khỏi văn bản
1.2.3.2 Đoạn văn tự nghĩa
Là đoạn văn nêu một nội dung khá trọn vẹn đầy đủ Không chứa các từ ngữ liên kết Vì vậy, nó có thể tách khỏi văn bản vẫn hiểu và nắm được nội dung của đoạn
Ví dụ: “ Anh xe nghiến răng, cau mặt, lủi thủi ra hè, cầm cái đệm quật
mạnh vào hòm đánh thình một cái! Anh móc túi lấy bao diêm đốt vía, rồi khoèo bàn chân, co cái càng lên, đưa tay ra đỡ, thủng thẳng dắt xe đi”
(“Ngựa người và người ngựa” – Nguyễn Công Hoan)
1.2.4 Phân loại đoạn văn dựa vào chức năng
Trang 22Dựa vào chức năng có thể chia đoạn văn thành 4 loại: đoạn văn mở đầu, đoạn văn triển khai, đoạn văn chuyển tiếp và đoạn văn kết thúc
1.2.4.1 Đoạn văn mở đầu
Đoạn văn mở đầu là đoạn văn đứng đầu văn bản, thường nêu chủ đề, giới thiệu khung cảnh chung của văn bản Ví dụ, đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn sau giới thiệu về khung cảnh thiên nhiên của truyện:
Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo cho biết trước Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi Sơn và chị chơi cỏ gà ngoài cánh đồng còn thấy nóng bức, chảy mồ hôi
( “Gió lạnh đầu mùa” - Thạch Lam )
1.2.4.2 Đoạn văn triển khai
Đoạn văn triển khai là những đoạn văn nằm ở vị trí sau đoạn văn mở đầu, đảm nhận chức năng triển khai nội dung của văn bản
để đợi chờ bông hoa nở
Trang 23Sân gạch ngay chỗ cửa sổ buồng học chúng tôi trông ra, và lúc nào ngửng lên trên sách, chúng tôi cũng thấy bóng ông Sự chăm chút âu yếm và cẩn trọng của ông làm chúng tôi buồn cười Nếu không có anh Hòe cùng ngồi đấy, chúng tôi đã bàn định tinh nghịch đùa ông một chuyến.”
1.2.4.3 Đoạn văn chuyển tiếp
Đoạn văn chuyển tiếp là đoạn văn có chức năng liên kết, chuyển tiếp ý
của đoạn văn trước với đoạn văn sau nó trong văn bản Về nội dung, đoạn văn thường có phần nêu những ý đã trình bày, sau đó giới thiệu nêu những ý tiếp
theo Các từ ngữ liên kết thường dùng là: Như đã nói, tiếp theo, sau đây sẽ,
trên đây, dưới đây, tiếp theo…Đoạn văn chuyển tiếp có tác dụng làm cho các
phần các đoạn trong văn bản gắn bó mật thiết với nhau Ví dụ:
„Trên đây, chúng ta thử phân tích một mức nào để tự giúp mình hiểu thêm; nhưng phân tích xong, lại phải tổng hợp lại; vì một tác phẩm ưu tú là một cơ thể, một sinh vật: truyện Kiều tác động như một chất sống, một vẻ mặt con người… Gấp sách lại, đi giữa đời, ta lại gặp thơ Kiều đã tự bao giờ vận chuyển nảy nở, sinh sôi trong đó.”
( “Ba thi hào dân tộc” – Xuân Diệu )
Đoạn văn chuyển tiếp là một bộ phận nằm trong phần triển khai, nhưng
có cương vị riêng Về mặt cấu trúc nội dung, đoạn văn thường có phần nêu
Trang 24những ý đã trình bày, sau đó giới thiệu, nêu ra ý tiếp theo Do đặc điểm như vậy mà đoạn văn chuyển tiếp thường có quan hệ hai chiều, với phần trước nó
và phần sau nó Nghĩa là vừa có tính hồi quy vừa có tính dự báo
1.2.4.4 Đoạn văn kết thúc
Đoạn văn kết thúc là một phần trong bố cục của văn bản, có nội dung liên quan trực tiếp chặt chẽ với các phần triển khai và mở đầu, có vị trí đứng cuối văn bản, có chức năng khép lại cả nội dung lẫn hình thức văn bản Đồng thời mở ra một hướng phát triển mới buộc người đọc phải suy nghĩ và tự đưa
ra câu trả lời
Ví dụ: “Ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ
khốn nạn Rồi khi thấy nó đã đi khuất, ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giày ra một tý Và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi nhưng hạt cát nhỏ ở giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi.”
(“ Đồng hào có ma” – Nguyễn Công Hoan)
Đoạn văn kết thúc khép lại việc báo quan vì nhà bị mất trộm Nhưng
mở ra một kết thúc bất ngờ chính người thực hiện công lý cũng là một kẻ trộm giữa ban ngày, khiến người đọc suy nghĩ về xã hội lúc bấy giờ Nhưng chính cách kết thúc bất ngờ này có sức chứng minh hùng hồn lý thuyết độc đáo mà mở đầu tác giả đã đưa ra Ông huyện Hinh biết thổi những hạt cát nhỏ
ở đế giày bám vào trước khi bỏ tiền vào túi Đúng là ông biết phép vệ sinh, sao lại nói ông thích ăn bẩn Ông huyện Hinh đã ăn không, ăn cắp, ăn cướp đồng hào đôi của bà Nuôi nghèo khổ đang cơn hoạn nạn Một cách ăn bẩn thượng hạng của thú vật, sự béo khỏe đặc biệt của ông là điều dễ hiểu
1.3 Quan niệm về đoạn văn đặc biệt
1.3.1 Vấn đề tách đoạn trong văn bản Theo các nhà nghiên cứu, khi văn bản có nhiều nội dung, nhiều ý sẽ nảy sinh vấn đề tách đoạn Đó chính là sự phân chia nội dung chủ đề của văn
bản thành các tiểu chủ đề, tạo cho văn bản có kết cấu hợp lí Đó còn là “một
Trang 25thủ pháp phong cách học, giúp việc thể hiện ý đồ của tác giả được rõ ràng, cụ thể hơn” (Đỗ Hữu Châu, 12 tr 77) Theo đó, việc tách đoạn văn bản vừa xuất
phát từ yêu cầu về lô gic ngữ nghĩa (mang tính khách quan), vừa xuất phát từ mục đích tu từ (mang tính chủ quan)
Về mặt lô gic-ngữ nghĩa, việc tách đoạn sẽ làm rõ cấu trúc chung của
toàn văn bản, tạo cho văn bản có kết cấu cân đối, hợp lí Kết quả của việc tách đoạn này sẽ tạo ra các đoạn văn, đó là các đoạn văn bình thường
Về mục đích tu từ, việc tách đoạn trong văn bản nhất là văn bản nghệ
thuật mang đậm màu sắc tu từ, mang tính chủ quan thể hiện dụng ý, ý thức của người viết: nhằm nhấn mạnh khắc sâu nêu bật một ý tưởng hay tình cảm nào
đó Kết quả của sự tách đoạn này sẽ tạo ra những đoạn văn bất thường, chúng
tôi gọi là những đoạn văn đặc biệt Đó là một đoạn của văn bản thể hiện bằng
những đơn vị ngữ pháp khác nhau Bất kỳ một từ, một câu, một nhóm câu, một chỉnh thể câu nào cũng có thể tách ra thành đoạn văn (theo Nguyễn Quang
Ninh, Trần Ngọc Thêm – Ngữ pháp văn bản và tập làm văn 4 tr 127) Theo
đó, đoạn văn đặc biệt có hình thức có thể là một từ, một cụm từ, một câu Các đoạn văn đặc biệt này có thể đứng ở bất cứ vị trí nào trong văn bản
Như vậy, kết quả của tách đoạn trong văn bản sẽ tạo ra hai loại đoạn văn: đoạn văn bình thường và đoạn văn đặc biệt Mỗi loại đoạn văn có cấu trúc, nội dung nhất định
1.3.2 Quan niệm về đoạn văn đặc biệt
Như trên đã nói, việc tách đoạn theo mục đích tu từ sẽ tạo ra đoạn văn bất thường Đoạn văn này có nhiều tên gọi khác nhau Đỗ Hữu Châu gọi là đoạn văn tối giản, Trần Ngọc Thêm gọi là chỉnh ngôn chứa yếu tố hợp nghĩa, Diệp Quang Ban gọi là đoạn văn bất thường; Phan Mậu Cảnh gọi là đoạn văn đặc biệt,… Chúng tôi gọi đây là đoạn văn đặc biệt và quan niệm như sau:
Đoạn văn đặc biệt là đoạn văn không hoàn chỉnh về hình thức và không trọn vẹn về nội dung Chúng ta có thể nhận biết về đoạn văn đặc biệt như sau:
Trang 26Về hình thức, cấu tạo: Đoạn văn nằm ở giữa hai chỗ xuống dòng, và viết lùi vào đầu dòng Đoạn văn có hình thức là một từ, một cụm từ hay một câu
Về nội dung: Đoạn văn đặc biệt thường biểu thị nội dung không trọn vẹn, tính độc lập thấp
Về chức năng: Đoạn văn đặc biệt chủ yếu để chuyển tiếp, nhấn mạnh biểu cảm, mang đậm sắc thái tu từ
Về phạm vi sử dụng: đoạn văn đặc biệt được dùng nhiều trong văn bản nghệ thuật Ví dụ:
Ví dụ 1:
Trong năm học vừa qua, từ khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng các thầy giáo và cán bộ đã cố gắng rất nhiều Các cháu học trò đã có những tiến
bộ khá Nhà trường đông đúc vui vẻ Đó là một thành tích đáng mừng
Nhưng đó mới là bước đầu
(Dẫn theo Diệp Quang Ban, 3, tr 218 )
Ví dụ 2:
Chàng nghĩ đến cái thạp gạo đã hết, mà trong túi không còn một đồng
xu nhỏ… Đã hai hôm nay, chàng và vợ chàng thổi ăn bữa gạo cuối cùng, cái đói làm chàng khốn khổ
Trang 272) Đoạn văn có nhiều cách phân loại: phân loại dựa vào cấu tạo, phân loại dựa vào cấu trúc, phân loại dựa vào ý nghĩa, phân loại dựa vào chức năng Trong đó đáng chú ý là sự phân loại dựa vào cấu tạo và phân loại dựa vào chức năng; tìm hiểu những loại này cho phép chúng ta có cơ sở tìm hiểu
về đoạn văn đặc biệt ở từng vị trí khác nhau trong văn bản
3) Đoạn văn đặc biệt là đoạn văn không hoàn chỉnh về mặt hình thức và nội dung, có giá trị nhấn mạnh biểu cảm và mang đậm sắc thái tu từ
Trang 28CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐOẠN VĂN ĐẶC BIỆT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945
2.1 Xét về cấu tạo
2.1.1 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một từ: Đoạn văn này được cấu tạo từ một câu đặc biệt có hình thức là một từ Theo thống kê của chúng tôi, tần số xuất hiện của đoạn văn đặc biệt trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là 32/391 (trong tổng số đoạn văn đặc biệt) Đoạn văn đặc biệt một
từ bao gồm các loại sau:
2.1.1.1 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một từ thuộc từ loại danh từ
Đoạn văn đặc biệt một từ do danh từ đảm nhiệm có số lượng 5/32 = 15.6% (trong tổng số đoạn văn đặc biệt một từ)
( “Truyện người hàng xóm” – Nam Cao)
2.1.1.2 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một từ thuộc từ loại động từ
Tần số xuất hiện của loại này là 12/32 = 37.5% ( trong tổng số đoạn văn đặc biệt một từ)
Ví dụ: Bà đừng theo đít nó thế Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm
Khiếp thật thôi!
Vâng!
Bà lão “vâng” thành một tiếng rên Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó; ngay xuống đất.Bà phó cất lấy con Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo:
( “ Một bữa no” – Nam Cao)
Trang 29Ở ví dụ trên, đoạn văn đặc biệt “vâng” được tách ra cộng thêm dấu chấm than và dấu ba chấm thể hiện ý nghĩa rất lớn Nó vừa thể hiện hành động đáp lời, vừa thể hiện thái độ run sợ của bà lão
Trong tiếng Việt, lớp động từ này có thể tạo lập thành loại phát ngôn đặc biệt Với khă năng này, nó có vai trò, giá trị cần thiết trong miêu tả làm tiền đề cho các phát ngôn, các đoạn kế cận Đây là lớp từ phản ánh đậm nét bản sắc ngôn ngữ dân tộc
2.1.1.3 Đoạn văn đặc biệt có hình thức một từ thuộc từ loại đại từ
Với đoạn văn này, tần số xuất hiện 5/32 = 15.6% (trong tổng số đoạn văn biệt một từ)
Ví dụ: “Bởi vì, cũng như hôm qua, và cũng như hôm kia, hôm kìa, nó đã
đi lang thang hết chỗ này đến chỗ nọ, mà chẳng kiếm được tí cháo lưng hồ
Nó?
Nó có một cái sọ đếm dược tóc Không biết một thứ bệnh gì hương hỏa của cha mẹ đã làm cho cả da chỗ ấy nhữn thín, bóng lộn, đỏ đòng đọc như cái mụn đương loét, khiến tóc nó chỉ có thể mọc lơ thơ, như vầng cỏ trên tảng
đá cằn”
( “Hai cái bụng” - Nguyễn Công Hoan )
“Nó” được tách ra nhằm nhấn mạnh thêm sự đói khát của nhân vật, không chỉ hôm qua, hôm kia, hôm kìa mà còn nhiều nữa, cái đói sẽ luôn đeo đẳng nó
2.1.1.4 Đoạn văn đặc biệt một từ thuộc từ loại tình thái từ
Đoạn văn đặc biệt thuộc từ loại tình thái từ xuất hiện với tần số 8/32 = 25% (tổng số đoạn văn đặc biệt một từ)
Ví dụ:
“ Ý thế mình mới lại cần phải tính Nếu có việc thì còn phải lo gì nữa?
Chẳng được cơm thì cũng được cháo, miễn là không chết lả… Nhưng không
có việc! Cho nên tao định lên rừng một chuyến
Eo ôi!
Trang 30Việc gì mà “eo ôi” Bây giờ người ta đi như đi chợ Nghe nói trên ấy làm ăn còn dễ Làng ta, về cánh nhà ông trương Huấn đấy, họ đi tất cả bằng
ấy anh em, mà anh nào về cũng có tiền.”
( “Một đám cưới” - Nam Cao) Đoạn văn đặc biệt “eo ôi” thể hiện thái độ ngạc nhiên, lo sợ của Dần khi bố Dần quyết định lên rừng để tìm việc còn hơn là ở nhà mà chết đói
2.1.1.5 Đoạn văn có hình thức một từ thuộc từ loại quan hệ từ
Đoạn văn đặc biệt có hình thức một từ thuộc từ loại quan hệ từ xuất hiện với tần số 2/32 = 6.3% (trong tổng số đoạn văn đặc biệt)
Trong sử dụng tiếng Việt, các hư từ chỉ có chức năng đi kèm hoặc chức năng biểu thị quan hệ Nhưng trong truyện ngắn có những hiện tượng đặc biệt như quan hệ từ được tách thành một câu, một đoạn
Ví dụ : “Thau anh vẫn không có một tiếng vang động, một xu cũng
chẳng có Một trinh to cũng chẳng có, một trinh con cũng chẳng có
Bởi vì…
Đường càng vắng ngắt Thỉnh thoảng những chiếc xe cao su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải, thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy vội vàng
( “Anh Xẩm – Nguyễn Công Hoan)
Đoạn văn đặc biệt thuộc từ loại quan hệ từ ở các ví dụ trên, chúng ta thấy rõ mục đích nhấn mạnh biểu cảm của tác giả Tác giả đã đưa ra một loạt nguyên nhân vì sao thau của anh Xẩm vẫn không một tiếng động như: đường vắng ngắt ít người qua lại, trời mưa, gió giật từng hồi, hơi lạnh thấu đến buốt xương Nhưng điều chú ý ở đây là người trong cuộc lại không trông thấy cảnh
ấy, hoặc thấy nhưng vẫn phải cố gắng kiếm chút tiền đong gạo nên “anh càng
Trang 312.1.2 Đoạn văn có hình thức cấu tạo là một cụm từ
Theo thống kê của chúng tôi, đoạn văn đặc biệt một cụm từ xuất hiện với tần số 60/391 (trong tổng số đoạn văn đặc biệt) Đoạn văn đặc biệt này có
2 loại: đoạn văn đặc biệt có hình thức cụm danh từ và đoạn văn đặc biệt có hình thức cụm động từ
2.1.2.1 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một cụm danh từ
Tần số xuất hiện đoạn văn này là 21/60 = 35% (trong tổng số đoạn văn đặc biệt là cụm từ)
để gia đình xum họp, quây quần bên mâm cơm, nhưng với kẻ nghèo, đây là
thời gian của đói khát, cô đơn và giá lạnh
2.1.2.2 Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một cụm động từ
Đoạn văn đặc biệt có hình thức là cụm động từ xuất hiện với tần số 39/60 = 65% (trong tổng số đoạn văn đặc biệt là cụm từ)
Ví dụ 2: Thuận rồi đấy!
Phải, nếu thời gian vẫn còn giữ cái nhịp thường của nó thì về rầy đêm dài, ngày ngắn; ban đêm đã có sương, người ta đắp một cái chăn đơn vừa dễ
Trang 32chịu; ban ngày thì mát mẻ, trời rất xanh, không khí trong veo, nắng dịu, heo may giãi đồng Nhưng các cụ già thường nói rằng: Thời tiết bây giờ có khác
đi, không còn được đúng như xưa Ngày xưa, thời nào tiết ấy rất phân minh, mưa gió thuận hòa Bây giờ thì các mùa liên tiếp nhau xem chừng cũng chẳng còn đúng mực.Chao ôi! ở trên đời này có cái gì bền vững mãi đâu?
( “Làm tổ” – Nam Cao)
Đoạn văn “Thuận rồi đấy” được tách ra đứng đầu văn bản, với cách
mở này sẽ thu hút được sự chú ý của người đọc: “thuận rồi đấy” là thuận về vấn đề gì? thuận cho ai? Chính sự thắc mắc này làm cho người đọc không thể
bỏ qua
2.1.3 Đoạn văn đặc biệt có hình thức cấu tạo là một câu
Qua khảo sát cấu tạo ngữ pháp, đoạn văn đặc biệt có hình thức cấu tạo
là một câu chiếm một khối lượng khá lớn 299/391 (trong tổng số đoạn văn đặc biệt mà chúng tôi khảo sát) Do đoạn văn có hình thức là một câu có nội dung tương đối trọn vẹn hơn nó có thể đứng độc lập ngoài ngữ cảnh Vì vậy, đoạn văn đặc biệt có hình thức là một câu xuất hiện nhiều hơn
Xét về cấu tạo, những câu tạo thành đoạn văn một câu có thể là câu đơn hoặc câu ghép Cụ thể:
- Đoạn văn có hình thức là câu đơn:
Ví dụ:
Ở cuốn lịch năm ấy bìa vàng nhoè nét son dấu kim ấn toà Khâm Thiên Giám có niên hiệu Duy Tân thập niên, người ta thấy tiết thu phân và ngày lập thu qua đã lâu rồi
Mùa mưa dầm tháng chín chỉ là những giọt than vãn triền miên của kỳ ngâu kéo dài mãi đến bây giờ Xứ đồng chiêm Sơn Nam đã biến thành một vùng nước rộng nhấp nhô những con đò đồng li ti…
( “Khoa thi cuối cùng” – Nguyễn Tuân )
- Đoạn văn có hình thức là một câu ghép:
Trang 33Ví dụ: Rồi…khi đã làm cỏ đủ sáu mạng người, ông sai cởi dây trói ra,
và phi ngựa về chầu Ông làm tờ khẩn bẩm với quan trên, kể công là đã đi tuần đêm, và ba thầy trò đã giết nổi một toán những sáu đứa…giặc khách
Và như thế, ông yên trí về công trạng trị an oanh liệt này, ông sẽ được đặc cách thăng tri phủ hạng nhì…
( “Sáu mạng người” – Nguyễn Công Hoan )
Tóm lại, đoạn văn có hình thức là một câu có hình thức cấu tạo đa dạng hơn đoạn văn hình thức một từ và đoạn văn có hình thức một cụm từ Nó có tính tự nghĩa cao hơn và có thể đứng độc lập ngoài ngữ cảnh
2.2 Xét về vị trí
2.2.1 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu văn bản Đoạn văn mở đầu truyện ngắn thường có vai trò nêu khái quát chủ đề, hoặc nêu bối cảnh không gian, thời gian làm nền cho truyện Ở vị trí mở đầu, đoạn văn đặc biệt chiếm tỉ lệ 11.8% Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một từ xuất hiện hạn hữu, chủ yếu là đoạn văn có hình thức một cụm từ và đoạn văn một câu
- Đoạn văn đặc biệt là một cụm từ mở đầu văn bản:
Ví dụ: 7 giờ tối
Hai chúng tôi, cơm chiều xong vừa định thắng bộ vào dạo chơi loanh quanh mấy phố thì trời bỗng đổ cơn mưa như trút
Một cái chết - Vũ Trọng Phụng
- Đoạn văn đặc biệt là một câu mở đầu văn bản:
Ví dụ: Nhưng cô có nhận cái tên ấy nữa đâu!
Kếu là nghĩa thế nào? Nghĩ bao nhiêu, cô lại oán cha trách mẹ, không đặt cho cô cái tên mĩ miều Mà chữ nho thì thiếu gì tiếng hay, sao cô chịu mang cái tên nôm na xấu xí ấy mãi? Nhất là đi ngoài phố, hay là ở chỗ đông người , mà mẹ cô gọi Kếu ơi! Thì cô đỏ mặt tía tai hậm hực, lấy làm ngượng quá! Lại còn những chị em bạn cô! Cứ những lúc ở bờ hồ, hay thấy cô gặp
Trang 34một công tử quen nào, là nhè ngay cái tên cúng cơm của cô ra mà réo quang quác, rồi cười rúc rích
(“Cô Kếu, gái tân thời” – Nguyễn Công Hoan)
2.2.2 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí triển khai
Ở vị trí này, đoạn văn đặc biệt xuất hiện tương đối nhiều (310/391 chiếm 79.3%) Ở vị trí triển khai, đoạn văn đặc biệt đầy đủ 3 loại: đoạn văn một từ, đoạn văn một cụm từ và đoạn văn một câu.Ví dụ:
- Đoạn văn đặc biệt một từ:
(1) Và ông chỉ vào một ông ký ngồi bên trong một cái bàn dây thép
Hiền chạy lại lấy được cái vé bốn xu rồi, hắn theo sau những hành khách vào sân, một cách trật tự hơn Đến đây, hắn lại trỏ nên quấn quít Hắn nhớn nhắc nhìn hết người nọ đến người kia Biết bao nhiêu là người, kẻ dưới sân, kẻ trên tàu, biết ai là người lúc ban chiều đợi hắn? Con tàu thở xì xì Hắn đi vòng quanh tàu rồi bước lên một toa Hắn đi dạo từ toa nọ đến toa kia Tàu huýt một tiếng còi Hắn mải mốt chạy ra đầu tàu, định xuống Mấy hành khách ra chậm vội vàng lên Hắn tránh ra một bên nhường lối Người sau cùng là một người đàn bà cắp thúng…
Mợ!
Hiền! Trời ơi! Hiền đấy ư?
( “ Truyện người hàng xóm” – Nam Cao)
(2) Bà đừng theo đít nó thế Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm Khiếp
thật thôi!
Vâng!
Bà lão “vâng” thành một tiếng rên Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó; ngay xuống đất.Bà phó cất lấy con Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo:
Bà xuống dưới này mà ăn cơm
( “ Một bữa no” – Nam Cao)
- Đoạn văn đặc biệt cụm từ Ví dụ:
Trang 35Thời gian cùng một tay vẽ những vết nhăn trên trán người đời, lại đem
khăn lau xóa hết những sự xấu xa ô uế trên mặt họ, để cho ai, tới lúc chết,
cũng được anh em đọc điếu văn kể công trạng và đức tính lúc còn sống
Đến một hôm dông tố
Mưa đổ Gió gào Trời lạnh buốt Quan lớn đi bắt xóc đĩa, mãi khua bì bõm mới về tới dinh Bước chân vào hiên nhà tư, quan sung sướng nghĩ tới cái giường đệm bông, cái lồng ấp thịt, thì lại quên hết nỗi khó nhọc xông pha Mưa vẫn đổ Gió vẫn gào Cơn dông mỗi lúc một dữ
( “ Đàn bà là giống yếu” – Nguyễn Công Hoan)
Đoạn văn đặc biệt có hình thức là một cụm từ ở vị trí triển khai có tính độc lập thấp, chủ yếu nhấn mạnh thời gian duy trì nội dung cốt truyện và nhấn mạnh biểu cảm
- Đoạn văn là một câu: ở vị trí triển khai, đoạn văn có thể cấu tạo bằng câu đơn hoặc câu ghép
Ví dụ 1:
Rồi đến khi được biết rằng là ngày chủ nhật, cả buổi hầu sáng, quan
không ra công đường, vì đêm trước ngài nhảy đầm trên tỉnh, ba bốn giờ sáng mới về: và đến chiều, cổng huyện đóng, vì là ngày nghỉ; thì ở nhà ông Cứu trợn mắt, kêu ru lên một tiếng, và ở cạnh lũy tre, bà Cứu ngã vật xuống đất, ngất đI đến năm phút đồng hồ
Cả làng phải chờ
Họ hàng sắp sửa việc ma chay xong, ai nấy về nhà để sáng hôm sau lại đến giúp Người không thân thích lại bắt đầu công việc như cũ, chờ lúc kèn chống nổi lên thì đưa anh Xích ra đồng Ông Cứu cho người vực bà Cứu về Hai vợ chồng già nắm chết gí ở hai giường, chờ cuộc khám xét của quan phụ mẫu Tử thi chờ chôn, mỗi lức một trương to, rập rềnh cạnh cái quan tài ngoác miệng chờ việc Cảnh vật êm ả như cũng chờ để nghe ngong tin ánh nắng cứ lẳng lặng rọi xuống Cây cối mệt nhọc, càng gục lả
( “ Thịt người chết” – Nguyễn Công Hoan)
Trang 36Ví dụ 2:
…Hơn một tháng trời, thỉnh thoảng mới trông thấy nhau, Lan với tôi thản nhiên hỏi nhau trả lời những câu không giấu một ý tứ gì thân mật hay hờn giận
Tôi cũng không để mắt đến dung nhan nàng nữa, và đôi khi tưởng tượng đến chuyện cũ, tôi ngạc nhiên như tìm thấy một tính tình dị kỳ
Rồi mùa thi tới nơi Chị Hoạt và tôi chăm chỉ luyện tập Sự ganh đua sốt sắng cuối năm là điều quan tâm hoàn toàn của người đi học ở nhà ông
Cả trong những bữa cơm, chỉ nói đến chuyện thi cử và bàn bạc đến những đầu bài khó hay dễ sẽ ra trong kỳ thi này
( “ Tình xưa” – Thạch Lam )
Hoặc:
Tháng 9 năm 1945, cách mạng tháng tám thành công, chính phủ ta cho đón các đồng chí ở Côn Đảo về
Người ấy, tuy đã bị tù mười bảy năm rưỡi, còn lái được chiếc ca-nô bị sóng gió làm rơi địa bàn xuống biển, về được đến đất liền
( “Người cập-rằng hầm xay lúa” – Nguyễn Công Hoan
2.2.3 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí kết thúc Trong khi viết văn bản, người viết có những cách thức triển khai nội dung khác nhau, tùy thuộc vào từng thể loại, mục đích, ý đồ của tác giả Dù các cách thức trình bày văn bản có đa dạng, phong phú đến đâu, thì ta có thể thấy một số kiểu nhất định, rõ nhất là phần mở và kết thúc
Ở vị trí kết thúc, đoạn văn đặc biệt chiếm tỉ lệ 9% trong tổng số đoạn văn đặc biệt Ở vị trí kết thúc, cũng thường xuất hiện 2 loại: đoạn văn một cụm từ và đoạn văn một câu Ví dụ:
- Đoạn văn một cụm từ
(1) Chính gã cũng không biết mình đã góa vợ Tôi thì tôi chỉ rõ được
rằng bây giờ gã đã khỏe, đã mạnh và hoạt động hơn khi gã có đàn bà ở chung Gã thậm thọt chạy đi chạy lại, nhanh thoăn thoắt
Trang 37Cũng chẳng có lẽ
( “Truyện gã chuột bạch” – Tô Hoài)
(2) Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai đầu lâu còn dính
vào da cổ người chết quỳ, sân pháp trường sắp giải tán bỗng nỗi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi Trận gió xoắn, giật, hút cát bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi, và đuổi theo các quan đang ra về Cái mũ trắng ở trên đầu quan Công sứ bị cơn lốc dữ dội lật rơi xuống bãi cỏ lăn lội mấy vòng Mọi người liếc trộm hai quan thủ hiến và thì thào
Khoảng giữa giờ thân
( “Bữa rượu máu” – Nguyễn Tuân )
- Đoạn văn một câu
(1) Anh xe nghiến răng , cau mặt, lủi thủi ra hè, cầm cái đệm quật
mạnh vào hòm đánh thình một cái! Anh móc túi lấy bao diêm đốt vía, rồi khoèo bàn chân, co cái càng lên, đưa tay ra đỡ, thủng thẳng dắt xe đi
Tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng, toạch toạch… (“ Ngựa người và người ngựa” – Nguyễn Công Hoan)
(2) Từ ngày kiếm được cái vốn để sinh nhai, nó được mát mặt hơn
trước, không lo chết đói nữa Nhưng mỗi khi trở trời, thì, khốn nạn thân nó,
nó thấy đau như dần các khớp xương bả vai và đầu gối Nhiều hôm, không thể gượng chống gậy mà đi được, nó phải bắt trước ông lão cóc Nó ngồi xổm, chống tay trái xuống đất mà lăng vẹo người đi dần dần Nhưng đau quá, nó nhăn nhó, nó kêu rên, không thể chịu được, đến nỗi ai trông thấy cũng phải động lòng thương
Nhưng cũng may, ngày nào như thế, nó cũng kiếm được bở hơn ngày thường
(“ Cái vốn để sinh nhai” – Nguyễn Công Hoan )
2.3 Xét về quan hệ
2.3.1 Đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu
Trang 38Cũng giống như đoạn văn mở đầu bình thường nói chung, đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu truyện có quan hệ mật thiết với các bộ phận khác trong truyện như: tiêu đề, đoạn văn triển khai, đoạn văn kết thúc Xét một cách tổng thể, mối quan hệ này là quan hệ trên hai phương diện: hình thức và nội dung Quan hệ giữa đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu và các bộ phận khác trong
truyện được thể hiện như sau:
- Quan hệ giữa đoạn văn đặc biệt mở đầu với tiêu đề
Đoạn văn đặc biệt mở đầu là vị trí đầu tiên triển khai nội dung của tiêu
đề Người đọc có thể tìm hiểu ý nghĩa của tiêu đề và liên hệ với nội dung của truyện ngay từ đoạn văn đặc biệt này Ví dụ:
Đoạn văn đặc biệt mở đầu lặp lại nguyên vẹn tiêu đề như trong truyện
ngắn Thanh!Dạ của Nguyễn Công Hoan
Thanh!
Trong nhà hôm nay tấp nập như mở hội Me cho phép cả sáu cô ra Đồ Sơn Ngay từ bảy gờ sáng, sáu chị em đã gọi nhau choàng cả dậy Các cô kệ cho đôi mắt đỏ gay nó bốc hoả, các cô tranh nhau rửa mặt, rồi thi nhau trang điểm Mùi phấn, mùi nước hoa thơm phức cả nhà Mỗi cô chọn một màu áo, rồi ngắm hết cho mình, lại ngắm cho nhay
( “Thanh!Dạ! – Nguyễn Công Hoan )
Sự lặp lại tiêu để nhằm thể hiện cho người đọc thấy: cô Thanh - người giúp việc trong gia đình bị hết người này đến người khác trong nhà sai vặt đến chóng cả mặt
Hoặc:
…Nhưng cô có nhận cái tên ấy nữa đâu!
Kêú là nghĩa thế nào? Nghĩ bao nhiêu, cô lại oán cha trách mẹ, không đặt cho cô cái tên mĩ miều Mà chữ nho thì thiếu gì tiếng hay, sao cô chịu mang cái tên nôm na xấu xí ấy mãi?
( “Cô Kếu, gái tân thời” – Nguyễn Công Hoan )
Trang 39Đoạn văn đặc biệt mở đầu này, không những trực tiếp nêu tiêu đề mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với tiêu đề thông qua quan hệ từ “nhưng” Nếu tách đoạn văn này khỏi tiêu đề chắc chắn sẽ không có ý nghĩa Nhưng đặt trong văn bản, nó vừa phủ nhận cái tên hài hước mà tiêu đề đã nêu “cô Kếu”, vừa mở ra một diễn biến mới trong tâm trạng nhân vật, đồng thời thể hiện thái
độ châm biếm của tác giả
Có thể nói, đoạn văn đặc biệt mở đầu và tiêu đề có quan hệ với nhau, chúng là những mắt xích đầu tiên tạo ra tính hoàn chỉnh về hình thức và nội dung của văn bản truyện
- Quan hệ giữa đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu với đoạn văn triển khai Đoạn văn triển khai là đoạn văn kế cận sau đoạn văn mở đầu Vì vậy giữa đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở truyện với đoạn văn triển khai có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Mối quan hệ này được thể hiện cụ thể như sau:
+ Về hình thức, đoạn văn tiếp theo có thể liên kết với với đoạn đặc biệt
mở đầu bằng các từ ngữ chuyển đoạn Ví dụ:
“Vì mới chết lần này là lần đầu, nên anh Xích chưa có lịch duyệt về
Phân tích ví dụ trên chúng ta thấy, đoạn văn tiếp theo quan hệ chặt chẽ
với đoạn mở đầu thông qua quan hệ từ “thực vậy” nhằm nhấn mạnh một lần
nữa về cái chết lần đầu của anh Xích Vì mới chết lần đầu nên anh Xích không biết chọn ngày trong tuần mà chết để có thời gian gia đình lo liệu với quan trên Đằng này, anh lại chết vào tối thức bảy để rồi khi thịt người chết bốc mùi mà vẫn chưa được mang ra đồng để chôn
+ Về nội dung, đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu giới hạn phạm vi nội dung cho đoạn văn triển khai; đoạn văn triển khai mở rộng nội dung đoạn văn
Trang 40mở đầu nhằm tăng thêm tình tiết cho câu chuyện Chẳng hạn truyện “Ngựa
người và người ngựa” của Nguyễn Công Hoan, đối tượng được giới hạn
trong đoạn văn mở đầu là anh phu xe đang lửng thửng dắt xe từ phố nọ sang
phố kia vì không có khách: “Đố ai biết anh xe đương lửng thửng dắt cái xe
không ở đằng ngã tư đầu phố kia, đi như thế từ bao giờ đấy” Đoạn văn triển
khai đã khẳng định thêm một lần nữa sự ế khách của anh xe và đưa ra các lí
do vì sao đêm nay anh xe lại ế khách như vậy: “Trông anh ấy có vẻ “đói”
khách lắm Có lẽ thế thật Vì ai lại tám giờ tối ba mươi rồi, còn lang thang phố nọ sang phố kia thế? Mà hàng phố, nhà nào nhà nấy đóng cửa cả rồi, còn mấy ai ra ngoài đường làm gì, mà còn hòng một “cuốc” tất niên?”
Hoặc trong truyện ngắn “Đánh thơ” của Nguyễn Tuân, đoạn văn đặc
biệt mở đầu đã giới thiệu đối tượng được nói đến là ba người đàn bà rất đẹp
và rất lẳng lơ: “Giữa quãng đời vua Thành Thái và đầu đời Hoàng Tôn Tuyên
hoàng đế có ba người đàn bà rất đẹp và rất lẳng lơ” Đoạn văn tiếp theo tiếp
tục giới thiệu về ba người đàn bà đó với mức độ cao hơn lúc đầu: “Bằng cái
sắc, bằng tiếng ca, bằng cái tiểu sảo, bằng cái duyên lúc kín đáo, lúc lộ liễu,
ba người đàn bà đẹp ấy đã thừa tô điểm cho xứ Huế trong một thời.”
Tóm lại, đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu văn bản và đoạn văn triển
khai có mối quan hệ chặt với nhau: đoạn văn trước tạo ý cho đoạn văn sau, đoạn văn sau triển khai mở rộng ý của đoạn văn trước Điều này cho thấy sự liên kết giữa các đoạn văn trong văn bản truyện với nhau rất chặt chẽ và theo một hướng nhất định
- Quan hệ giữa đoạn văn đặc biệt ở vị trí mở đầu với đoạn văn kết thúc
Đoạn văn kết thúc nằm ở vị trí cuối cùng văn bản, thông báo về sự hoàn chỉnh của văn bản Cũng như các đơn vị khác trong truyện, đoạn văn mở đầu
có quan hệ với đoạn văn kết thúc và chủ yếu là quan hệ gián tiếp
Chẳng hạn: mở đầu truyện ngắn “Samanji” của Nguyễn Công Hoan là
chuyện giận nhau giữa nhân vật tôi và Samanji, được thể hiện ở đoạn văn đặc
biệt một câu sau: “ Vì một chuyện cỏn con, tôi với Samanji giận nhau” Đến