KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA GIÁO DỤC MẦM NON HÀ THỊ NGUYỆN (1669010197) BIỆN PH[.]
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
HÀ THỊ NGUYỆN (1669010197)
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA CA DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2020
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆ
P KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA CA DAO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐẠI HỌC NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Sinh viên thực hiện: Hà Thị Nguyện MSSV: 1669010197
Lớp: K19D - ĐHGDMN Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Thế
THANH HÓA, THÁNG 05 NĂM 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước tiên em xin gửi đến các quý thầy,
cô giáo trường Đại học Hồng Đức lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Văn Thể – người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ long biết ơn đến Trường mầm non Thị trấn Ngọc Lặc 1 là trường
đã giúp đỡ, cung cấp những kiến thức để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp tốt
Vì kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện khóa luận này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh hóa, tháng 05 năm 2020
Sinh viên thực hiện
Hà Thị Nguyện
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4.1 Mục tiêu nghiên cứu 5
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp mới của đề tài 5
6.1 Đóng góp về mặt lý luận 6
6.2 Đóng góp về măt thực tiễn 6
7 Cấu trúc của đề tài 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Ngôn ngữ và vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm 7
1.1.1 Khái niệm về ngôn ngữ 7
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mầm non 4-5 tuổi 7
1.1.3 Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 4-5 tuổi 10
1.2 Ca dao và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non qua ca dao 11
1.2.1 Khái niệm về ca dao 11
1.2.2 Vai trò của ca dao với sự phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi 12
1.3 Vấn đề dạy học tích hợp cho trẻ mầm non 15
Tiểu kết chương 1 15
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA CA DAO 17
2.1 Nhiệm vụ, nội dung của các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi 17
Trang 52.1.1 Nhiệm vụ 17
2.1.2 Nội dung 19
2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi 21
2.2.1 Biện pháp đọc diễn cảm 21
2.2.2 Biện pháp kể lại nội dung bài ca dao 22
2.2.3 Biện pháp trò chuyện 23
2.2.4 Biện pháp đàm thoại 24
2.2.5 Biện pháp tổ chức trò chơi 26
Tiểu kết chương 2 27
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BÀI CA DAO VÀ THỂ NGHIỆM MỘT SỐ GIÁO ÁN ĐỂ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 4-5 TUỔI 29
3.1 Đề xuất nột số bài ca dao phù hợp với trẻ mầm non 29
3.2 Thiết kế và thể nghiệm một số giáo án tổ chức các hoạt động để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi 31
3.2.1 Thiết kế một số giáo án 31
3.2.2 Mục đích, đối tượng và địa bàn thể nghiệm 47
3.2.3 Kết quả thể nghiệm 47
Tiểu kết chương 3 48
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là mắt xích và là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng ban đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ trên con đường học hành cũng như trong cuộc sống Trẻ
em lứa tuổi mầm non là một thế hệ tương lai của đất nước Theo chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay, phát triển cho trẻ là phát triển ở tất cả năm mặt: nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ Và trong
đó lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục Mầm non
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ
em Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, thẩm mỹ, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá và hoàn thiện nhân cách cho trẻ Việc tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực, đúng quy tắc và văn hóa, là yêu cầu bắt buộc đối với chúng ta nó trở thành mục tiêu quan trọng không chỉ riêng ngành giáo dục Mầm non mà còn là mục tiêu là nhiệm vụ quan trọng của toàn thể ngành giáo dục nước
ta và toàn xã hội hiện nay
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng, trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn từ Âm điệu, hình tượng của các bài ca dao sớm đi vào tâm hồn tuổi thơ Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non Do vậy là một sinh viên là một giáo viên Mầm non tương lai tôi đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non nói chung và trẻ 4 đến 5 tuổi nói riêng Thực tiễn giáo dục mầm non cho thấy, ca dao đóng vai theo chủ đề đã được đưa vào hoạt động của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi nhưng việc lựa chọn và sử dụng ca dao đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng giao tiếp cho trẻ còn nhiều vấn đề có thể được tiếp tục nghiên cứu ứng dụng
Trang 7Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài “ Biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao” nhằm giúp giáo viên có thêm nhiều bài
ca dao phù hợp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Dưới nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi
thông qua ca dao trong đó có bài của nhà nghiên cứu Phạm Văn Lam sẽ cung cấp
một số điểm quy chiếu về tốc độ phát triển ngôn ngữ ở một giai đoạn hết sức quan trọng
Giai đoạn 0 - 6 tuổi là giai đoạn quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ Bởi lẽ, trong giai đoạn này, nếu trẻ không được tiếp xúc với môi trường ngôn ngữ tự nhiên thì về sau chúng không thể hoặc rất khó có năng lực ngôn ngữ như bình thường Sự phát triển ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp của trẻ trong giai đoạn này quan trọng đối với cả việc phát triển các tế bào thần kinh lẫn việc hình thành các mối liên kết giữa các tế bào thần kinh - cái cơ
sở vật chất quyết định lượng và chất ngôn ngữ và tri thức của trẻ sau này Đồng thời, đây cũng là giai đoạn trẻ tương tác ở trong môi trường gia đình nhiều nhất (trong giai đoạn này, gia đình trẻ nói bao nhiêu ngôn ngữ và nói loại ngôn ngữ nào thì trẻ có khả năng nói/ thụ đắc ngần ấy ngôn ngữ và loại ngôn ngữ một cách
tự nhiên, nhanh chóng, hiệu quả và dễ dàng nhất); trẻ chuẩn bị nhiều nhất cho việc đến trường; và các bệnh liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ và một số bệnh khác (như tự kỉ, rối loạn cảm xúc, hành vi) được bộc lộ chủ yếu ở giai đoạn này
Số lượng và phẩm chất, cách thức vận hành ngôn ngữ của trẻ trong những năm đầu đời là một chỉ số vô cùng quan trọng, rất có giá trị đối với việc tiên lượng
sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là sự phát triển về mặt trí tuệ và năng lực học hỏi, biểu đạt của trẻ về sau này Trẻ có năng lực ngôn ngữ tốt thì khả năng bộc lộ biểu đạt ý tưởng, cảm xúc, lập luận và và xử lí vấn đề mới tốt Năng lực ngôn ngữ tốt thì năng lực tư duy, thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội, năng lực phát hiện, đối mặt và giải quyết vấn đề,… cũng theo đó mà được củng cố phát triển, dẫu rằng không có sự tương ứng và song hành một - một Hơn nữa, năng
Trang 8lực ngôn ngữ còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc tương tác bằng hữu và học tập ở trường, bởi nó quyết định cả khả năng đọc hiểu, nghe hiểu và sản sinh lời nói cả dạng viết và nói về những tri thức được truyền thụ trong nhà trường
Hiểu được như vậy nên việc tác động vào cơ chế phát triển, thụ đắc ngôn ngữ tự nhiên của trẻ là việc làm vô cùng quan trọng Vì thế, bài viết này sẽ trình bày một cách khái quát theo tinh thần định tính về các giai đoạn hay mốc phát triển ngôn ngữ quan trọng của trẻ ở tuổi tiền học đường (0 – 6 tuổi) Những miêu
tả ngôn ngữ ở đây là những miêu tả của sự phát triển ngôn ngữ vốn được xem là bình thường của những đứa trẻ phát triển bình thường, và chúng ta có thể coi đó
là điểm quy chiếu để xem xem con mình phát triển ngôn ngữ nhanh hay chậm, phát triển bình thường hay không bình thường, có khuyết tật về trí tuệ hay không,…
Môn phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một khoa học thực hành
Nó dựa trên đặc điểm ngôn ngữ nói chung và đặc điểm tiếng mẹ đẻ nói riêng, dựa vào các quy luật tâm lý của quá trình tiếp thu tiếng mẹ đẻ ở từng lứa tuổi, dựa vào nguyên lý giáo dục, để xác định một cách khoa học: Mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, biện pháp, các hình thức và phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 0 đến 6 tuổi
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ có thể xem là một môn khoa học thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng Dựa trên cơ sở ngôn ngữ học và một số ngành khoa học cơ bản khác, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ cố gắng xác định phương hướng , nội dung , phương pháp trong một việc làm cụ thể là dạy nói cho trẻ
Cũng như các ngành khoa học khác, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa họ; với triết học, ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học, sinh lý học
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống con người Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín.v.v
Trang 9Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô
cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó ”.(Ngôn ngữ và
lý luận văn học – Tài liệu dùng trong các trường sư phạm mẫu giáo )
Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước , chúng ta càng thấy vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ Ngôn ngữ góp phần đào tạo các cháu trở thành những con người toàn diện
U.Sixki đã nhận định: “ tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển , là vốn quý của mọi tri thức ”( Phát triển ngôn ngữ Nguyên bản tiếng Nga NXB Matxcơva, tr.3 )
Qua quá trình tìm hiểu về việc cho trẻ Mầm non tiếp xúc với ca dao để phát triển ngôn ngữ cho trẻ nó chung và để cho trẻ 4 - 5 tuổi tiếp xúc với ca dao nhằm xây dựng một số biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ nói riêng và một số công trình ngiên cứu khoa học có liên quan đến một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non thông qua ca dao, thừa kế của những người đi trước tôi nhận thấy tầm quan trọng của ca dao đối với sự phát triển tàn diện nhân cách cho trẻ, tiếp tục khai thác một cách hệ thống và phát hiện ra cái mới tôi xin đi sâu và vấn đề: “ Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua ca dao”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho Trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao ở lớp mẫu giáo nhỡ Trường mầm non Thị trấn Ngọc Lặc 1
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có lien quan đến khóa luận
- Tiến hành khảo sát và thực nghiệm đề xuất biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao tại Trường mầm non Thị trấn Ngọc Lặc 1
- Tìm hiểu việc phát triển ngôn ngữ của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua các bài ca dao, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhằm giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
Trang 104 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở lí luận của các khoa học liên quan đến khóa luận: Tâm lý học, Giáo dục học, Biện pháp phát triễn ngôn ngữ cho trẻ mầm non,…và xuất phát từ khảo sát thực tiễn Tôi đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài tiệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến khóa luận
- Làm sáng tỏ các khái niệm công cụ liên quan đến khóa luận: ngôn ngữ, ca dao
- Tổ chức điều tra thực trạng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 đến 5 tuổi
- Xử lý kết quả nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: tìm hiểu thực trạng về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 đến 5 tuổi thông qua ca dao, thực trạng hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ thông qua biện pháp này
- Phương pháp quan sát: Quan sát và ghi chép việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
- Phương pháp thực nghiệm
+ Thực nghiệm phát hiện: Tổ chức thực nghiệm để phát hiện mức độ khả năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi Thực nghiệm tác động: Phát hiện và đánh giá hiệu quả các biện pháp và sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề phát triển khả năng giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
6 Đóng góp mới của đề tài
- Đề xuất và vận dụng được môt số biên pháp giúp trẻ mầm non phát triển ngôn ngữ qua ca dao Sự thành công của khóa luận sẽ góp phần nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non tại Trường mầm non Thị trấn Ngọc Lặc 1 nói riêng và các trường mầm non nói chung
Trang 116.2 Đóng góp về măt thực tiễn
- Khóa luận còn đóng góp thêm tư liệu về công tác nghiên cứu khoa học cho sinh viên Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức và những độc giả quan tâm đến vấn đề này Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non ở Trường Mầm non Thị trấn Ngọc Lặc 1 thông qua ca dao
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung củaKhóa luận được triển khai thành 3 chương :
Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
Chương 3: Đề xuất một số bài đồng dao và thể nghiệm một số giáo án để tổ chức hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi
Trang 12CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Ngôn ngữ và vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
1.1.1 Khái niệm về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống các kí hiệu có cấu trúc quy tắc và ý nghĩa được con người sử dụng trong giao tiếp Các kí hiệu có thể được kết hợp được tổ chức
để thay thế và sử dụng để truyền đạt một khối lượng thông điệp vô cùng đa dạng
và phức tạp Ngôn ngữ được coi là một hệ thống tín hiệu đặc biệt với những quy tắc hoạt động chung, là phương tiện giao tiếp của con người trong xã hội loài người, nó không chỉ thể hiện ý thức xã hội hiện tại mà còn luôn phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội Như vậy, ngôn ngữ xuất hiện là do nhu cầu giao tiếp và thỏa mãn nhu cầu giao lưu của con người khi họ sống trong cộng đồng xã hội Tất cả các hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực diễn ra hàng ngày, hàng giờ như: Lao động, học tập, vui chơi, giải trí đều cần có ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, kinh nghiệm cho nhau Cũng nhờ ngôn ngữ mà con người hiểu nhau hơn và cùng nhau tổ chức công tác trên mọi lĩnh vực hoạt động đang vận hành trong xã hội
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mầm non 4-5 tuổi
Lớp mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tới độ khá nhanh Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn hơn được tích lũy khá phong phú về danh từ, động
từ, tính từ,… Vốn từ phong phú, ngôn ngữ phát triển mạch lạc rõ ràng Vì thế ngôn ngữ góp phần rất lớn vào việc cảm thụ tác phẩm văn học của trẻ từ 4-5 tuổi Tuổi mẫu giáo thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hằng ngày, vì đây là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu và bồi bổ tâm hồn …
Năng lực biệu cảm và cảm xúc về ngôn ngữ của trẻ khá phát triển Trẻ có khả năng và lĩnh hội được hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ đó là ngôn ngữ bên trong và ngôn ngữ bên ngoài Ngôn ngữ bên trong tức là ngôn ngữ thầm còn ngôn
Trang 13ngữ bên ngoài tức là ngôn ngữ nói Việc phát triển ngôn ngữ này giúp trẻ nghe và hiểu được người khác nói Đây là đặc điểm tích cực để giúp chúng ta tích cực để giúp chúng ta tổ chức cho trẻ nghe thơ, cảm nhận và lĩnh hội được ngôn ngữ trong thơ, đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật, giúp trẻ có khả năng cảm thụ tác phẩm nghệ thuật đạt kết quả cao
Căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, ta thấy thơ đối với trẻ vô cùng hấp dẫn bởi ngôn ngữ có vần có điệu, ngôn ngữ thơ trong sáng giàu hình ảnh và đặc biệt rất gần gũi với trẻ, khơi gợi ở trẻ những cảm xúc thẩm mỹ Do đặc điểm tích cực của bản thân mỗi đứa trẻ, trẻ ham học hỏi tìm tòi khám phá sự vật xung quanh, trẻ dùng từ chính xác, nắm vững ngữ pháp một cách vững vàng thậm chí còn sáng tạo ra từ ngữ, những cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ và người lớn ví dụ như
từ “ đỏ choen choét ”
Điều quan trọng là trẻ 4-5 tuổi, ngôn ngữ của trẻ thể hiện tính chặt chẽ và mạch lạc, thể hiện tư duy của trẻ khá phát triển đây là điểm thuận lợi khi tổ chức cho trẻ cảm thụ tác phẩm.“ Thơ gắn với tiếng mẹ đẻ và thực chất là một hình thức được tổ chức có tình cảm của lời nói ” ( Huygo ) Việc dạy thơ cho trẻ là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ nghệ thuật Thơ làm giàu tiếng nói cho trẻ, trong khi nghe thơ ca, trẻ em học tiếng mẹ đẻ học cách phát âm chuẩn và biết sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật ở mức sơ đẳng
Tóm lại, việc nắm vững ngôn ngữ là điều kiện quan trọng để sử dụng trong hoạt động giao tiếp và hoạt động học tập
Giai đoạn đầu lứa tuổi 4-5 tuổi, khi tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề,
sự phối hợp vai chơi còn rời rạc, việc sử dụng ngôn ngữ nhiều khi chưa có tính chủ định, sử dụng câu còn lộn xộn gây khó khăn cho việc diễn đạt Dần dần, khả năng nghe của trẻ tăng lên rõ rệt, trẻ có thể nghe mọi người nói chuyện được lâu hơn, bên cạnh đó do muốn được thỏa mãn nhu cầu vui chơi cùng bạn và nhu cầu nhận thức về thế giới xung quanh mà vốn từ tăng nhanh, kết cấu ngữ pháp phát triển rõ rệt hơn, câu biểu đạt có tính linh hoạt hơn Nhìn chung, ở giai đoạn 4-5 tuổi, do phạm vi giao lưu của trẻ được mở rộng mà giao tiếp ngôn ngữ cũng có nhiều bước phát triển cả về vốn từ, cấu trúc ngữ pháp, sử dụng câu trong lời nói,
Trang 14đặc biệt là khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau Do vậy, ở giai đoạn này nhà giáo dục cần hướng trẻ đến việc liên kết thành nhóm trong vui chơi, giúp trẻ
mở rộng chủ đề và nội dung những trò chơi mang tính sinh hoạt không chỉ trong gia đình mà còn ngoài xã hội, củng cố những quy tắc ứng xử của trẻ trong tập thể,
kĩ năng giao tiếp có văn hóa, bên cạnh đó cần tổ chức tốt các trò chơi có chủ đề
về sinh hoạt xã hội là những việc làm hết sức cần thiết đối với sự phát triển giao tiếp ngôn ngữ cho trẻ
-Hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành: “Xã hội trẻ em”
Ở tuổi thì hoạt động vui chơi đã mang đầy đủ ý nghĩa của nó, tức là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ đặc điểm của hoạt động vui chơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề Có thể nói rằng hoạt động vui chơi ở lứa tuổi đang phát triển tới mức hoàn thiện, được thể hiện ở những đặc điểm sau: Thứ nhất: trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực,tự do và chủ động Trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện tính tự lực, tự dorất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Tính tự lực của trẻ biểu hiện trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi, trong việc lựa chọn các bạn cùng chơi và trong việc tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và tự
do rút ra khỏi những trò chơi mà mình đã chán
Thứ hai: trong hoạt động vui chơi, trẻ MGN đã biết thiết lập những quan hệ phong phú và rộng rãi với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em” được hình thành Ở tuổi việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức bách Nếu người lớn không thấy được nhu cầu đó của trẻ để tạo điều kiện cho chúng chơi với nhau thì đó là một sai lầm lớn trong giáo dục, vì ở lứa tuổi Mẫu giáo – đặc biệt là mẫu giáo nhỡ– nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang ở thời kỳ phát cảm, tức là đang phát triển mạnh Từ đó, những “xã hội trẻ em” thực sự được hình thành (A.P.Uxôva) Cái xã hội này bao gồm toàn thể trẻ em nhưng cấu trúc của nó không hề đơn giản Trong cái “xã hội trẻ em” ấy mỗi đứa đều có một vị trí nhất định Vị trí đó được thể hiện ở chỗ bạn bè trong nhóm đối với nó như thế nào “Xã hội trẻ em” dần dần cũng hình thành những dư luận chung Dư luận chung thường bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ em, cũng có thể do trẻ em nhận xét lẫn nhau
Trang 15Dư luận chung ảnh hưởng khá lớn đối với sự lĩnh hội chuẩn mực đạo đức của trẻ trong nhóm và qua đó mà ảnh hưởng đến nhân cách của từng đứa trẻ Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ, do đó người lớn cần
tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra một môi trường lành mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ
1.1.3 Vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 4-5 tuổi
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và vui chơi Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển
về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng, trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn từ Âm điệu, hình tượng của các bài hát ru, đồng dao, ca dao, dân
ca sớm đi vào tâm hồn tuổi thơ Những câu chuyện cổ tích, thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ Chính vì vậy cho trẻ tiếp xúc với văn học và đặc biệt là hoạt động dạy trẻ
kể chuyện sáng tạo là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất, hiệu quả nhất
Thông qua việc trẻ kể chuyện sáng tạo giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ rang mạch lạc, vốn từ phong phú Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó…bằng chính ngôn ngữ của trẻ
Trẻ 4-5 tuổi sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc chịu ảnh hưởng lớn của việc tích cực hoá vốn từ, ngôn ngữ cũa trẻ đã trở nên được mở rộng hơn, có trật tự hơn, mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện Khả năng nói trình bày ý nghĩa, hiểu ngôn ngữ hoàn cảnh của trẻ cũng đã bắt đầu phát triển
Bằng các hình tượng văn học mở ra cho trẻ cuộc sống với xã hội và thiên nhiên, các mối quan hệ qua lại của con người Những hình tượng đó giúp trẻ nhận thức được tính rõ ràng, chính xác của từ ngữ trong tác phẩm văn học
Trang 16Với nhiệm vụ khơi dậy ở trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thong qua cách đọc kể diễn cảm, cao hơn nữa là biết dung ngôn ngữ của mình để kể chuyện sáng tạo Đây là một nhiệm vụ rất phức tạp, yêu cầu khi kể chuyện sáng tạo trẻ phải tự nghĩ ra một nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể hiện trong hình nói tương ứng (lời nói kết hợp với sử dụng đồ dung trực quan)
Yêu cầu này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, các kỹ năng tổng hợp,kỹ năng truyền đạt ý nghĩ của mình một cách chính xác, tập trung chú ý và nói biểu cảm Những kỹ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình nhận thức có hệ thống bằng con đường luyện tập thường xuyên hang ngày Từ những cơ sở lý luận trên tôi đã đi sâu nghiên cưư đề tài: “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thong qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo” nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của trẻ mầm non hiện nay
1.2 Ca dao và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non qua ca dao
1.2.1 Khái niệm về ca dao
Ca dao là thể loại trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm của con người
Ca dao là loại hình văn nghệ truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát dễ thuộc, dễ nhớ Ca dao
là một bộ phận lớn của nền Văn học dân gian Việt Nam Ca dao mang tính trữ tình đậm nét Tính chất trữ tình của ca dao được thể hiện qua nhiều phương diện
rõ rệt Về phạm vi phản ánh, ca dao là nơi bộc lộ trực tiếp tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người trước hiện thực cuộc sống một cách trực tiếp Đó là những tình cảm, cảm xúc nảy sinh trong công việc lao động, trong cuộc sống, trong các mối quan hệ gia đình và xã hội Về phương thức phản ánh, ca dao bộc lộ trực tiếp cái tôi trữ tình của người sáng tác Ngoại cảnh hiện tượng tự nhiên là cái cớ và phương tiện để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, tình cảm Hoàn cảnh và môi trường diễn xướng của ca dao ở nơi đông người và ở nơi gắn bó với sinh hoạt tập thể của quần chúng nhân dân lao động Thời gian nghệ thuật trong ca dao rất gần gũi với con người và đó là thời gian của hiện tại Không gian nghệ thuật trong ca dao là không gian của trần thế vô cùng bình dị, thân thuộc, gần gũi và thân thương đối với mỗi người lao động Ca dao sân đình, bến nước, cây đa, cửa phủ, Không gian nghệ
Trang 17thuật trong ca dao được xác định có rất nhiều địa danh Vì vậy ca dao ngày càng ngắn hơn với quần chúng nhân dân lao động làng quê, lũy tre, là những không gian gắn bó rất đỗi thân thương với con người Về thể thơ ca dao chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát thể thơ đậm chất dân tộc, lời thơ được bố trí cân đối, hài hòa, về vần, hài hòa về vần, nhịp điệu để biểu đạt những cảm xúc tư tưởng tình cảm của nhân vật trữ tình Ca dao là lối nói ví von, so sánh tạo nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo Ngôn ngữ của ca dao là lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân
đã được chọn lọc, gọt dũa trở nên tinh tế, hàm xúc chứa đựng một đời sống tâm hồn vô cùng phong phú sâu sắc và không kém phần lãng mạn của người bình dân Ngôn ngữ trong ca dao sử dụng triệt để các biện pháp tu từ ngữ nghĩa khoa chương, phóng đại, so sánh, ẩn dụ,… làm cho ngôn ngữ trong ca dao rất giàu hình
ảnh và sinh động
1.2.2 Vai trò của ca dao với sự phát triển vốn từ cho trẻ 4-5 tuổi
- Ca dao giúp trẻ hình thành và phát triển nhận thức về thế giới xung quanh
Ca dao giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường xung quanh Thông qua bài ca dao, trẻ làm quen với các sự vật hiện tượng có môi trường xung quanh, hiểu được những đặc điểm, tính chất, công cụ của các sự vật cùng các từ tương ứng với nó Từ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ Nhờ có ca dao, trẻ nhận biết ngày càng nhiều các sự vật hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng và thế giới xung quanh Trên ý nghĩa đó, Ca dao là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy Điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cả những sự vật không xuất hiện trực tiếp trước mặt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai Trẻ hiểu được những lời giải thích, gợi ý của người lớn, biết so sánh khái quát và dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, hình thành những khái niệm
sơ đẳng Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh ngày càng rộng lớn hơn Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chính xác, chính xác và trí tuệ của trẻ không ngừng phát triển Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh Ngôn ngữ là phương tiện để trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình cảm
Trang 18trong lúc chơi và phát triển khả năng tư duy, trí tưởng tượng của trẻ Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh mà còn là phương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận thức được về môi trường xung quanh và tiến hành hoạt động với nó, đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu tả lại sự vật hiện tượng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người
- Ca dao là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ và còn để giao lưu xúc cảm và phát triển tình cảm
Ca dao là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, đó
là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu yếm đã đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở Những tiếng ầu ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc Những cuộc nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ vui vẻ và có những tình cảm thân thương với những người xung quanh Dần hình thành ở trẻ những cảm xúc tích cực Khi giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái tình cảm khác nhau Qua nét mặt, giọng nói, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng trong các từ, các câu nói, dần dần trẻ cũng biết thể hiện những cảm xúc khác nhau của mình Trong quá trình giao tiếp, người lớn luôn hướng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ cười khiến trẻ có thể nhận ra hành vi của mình đúng hay sai Bằng con đường đó, đứa trẻ dần dần hình thành được những thói quen tốt và học được những cách ứng
xử đúng đắn Đồng thời, thông qua ca dao trẻ nhận thức được những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh như: những bông hoa, những hàng cây, con đường, những cảnh đẹp làng quê với những từ ngữ thể hiện nó Trẻ sẽ có nhiều ấn tượng đẹp, tâm hồn trẻ trung và có ý thức gìn giữ cái hay, cái đẹp Thông qua ca dao trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tiếng mẹ đẻ, những hành vi đẹp trong cuộc sống, trẻ biết những gì nên làm và những gì không nên làm, qua đó rèn luyện những phẩm chất tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những khái niệm ban đầu về đạo đức như: ngoan – hư, tốt – xấu, thật thà – không thật thà
Trang 19- Ca dao là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên của cộng đồng
Nhờ có những lời chỉ dẫn của người lớn, trẻ dần dần hiểu được quy định chung của cộng đồng mà mọi thành viên trong cộng đồng phải thực hiện Trước hết là những nề nếp sinh hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trường Mầm non Sau đó là một số quy định ngoài xã hội Những gì trẻ có thể được phép làm và những gì không được làm Mặt khác, trẻ cũng có thể dùng ca dao của mình để bày tỏ những nhu cầu, mong muốn của mình với các thành viên trong cộng đồng Điều đó giúp trẻ dễ hòa nhập với mọi người Nhờ có ca dao, trẻ dễ dàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hòa nhập xã hội tốt hơn Tóm lại: ca dao có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách của trẻ
Thông qua ca dao trẻ được phát triển các từ ngữ có trong bài ca dao dễ hiểu trẻ nghe dễ thuộc biểu hiện được tất cả tâm hồn trẻ thơ có trong bài ca dao Những bài ca dao thân thuộc với trẻ về tình bạn, tình yêu quê hương dất nước, ca dao về thế giới động vật, thế giới thực vật Tái hiện lại đầy đủ thế giới xung quanh trẻ để trẻ cảm nhận sâu sắc cung cấp các biểu tượng từ ngữ phong phú biểu đạt một cách chính xác nhất đến trẻ
Đối với trẻ Mầm non non nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng thì những bài
ca dao giúp trẻ hiểu rõ hơn về tiếng mẹ đẻ, giúp trẻ hiểu được đặc điểm câu chữ nhịp điệu vần điệu của loại hình ca dao để từ đó trẻ biết cách đọc ca dao bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ sao cho phù hợp với từng loại bài
Thông qua ca dao thì từ ngữ của trẻ phong phú hơn trẻ biết được thêm về những danh từ, động từ, tính từ, chỉ đặc điểm của sự vật hiện tượng được nói đến trong bài
Những bài ca dao mà trẻ được học phản ánh một phần nào đó về hiện thực
xã hội xung quanh trẻ lý giải những thắc mắc mà trẻ tò mò muốn tìm hiểu mà trẻ không thể biểu thị chúng ra bằng ngôn ngữ của mình trẻ biết so sánh sủa dụng từ
Trang 20đúng lúc đúng hoàn cảnh giao tiếp trong bài thông qua ca dao không chỉ phát triển
về ngôn ngữ cho trẻ mà còn phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ
1.3 Vấn đề dạy học tích hợp cho trẻ mầm non
Việc tích hợp các môn học khác như: âm nhạc, thể chất, tạo hình, Các trò chơi vào kể chuyện sáng tạo là việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho câu chuyện thêm sinh động hơn, giáo viên phải biết cách linh hoạt, sáng tạo và lựa chọn nội dung sao cho phù hợp với chủ đề, giúp trẻ tham gia vào hoạt động một cách tích cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển nhất
Tích hợp môn học khác vào tiết dạy giúp cho sự cảm nhận của trẻ một cách chân thực nhất, lôi cuốn, thu hút sự chú ý của trẻ và trẻ tập trung vài bài dạy của
cô, để trẻ hiểu hơn về giá trị nhân văn của bài ca đao, tình cảm đạo đức một cách sâu sắc hơn Trẻ sẽ hiểu được rõ hơn giá trị được nhắc đến trong ca dao từ đó trẻ sẽ rút ra được kinh nghiệm cho bản thân
Tích hợp các môn học khác còn giúp cho vốn từ của trẻ phát triển, trẻ biết thêm nhiều từ mới, bài học mới, khả năng ghi nhớ, lắng nghe, khả năng giáo tiếp hoạt động nhóm, giao tiếp với mọi người tốt hơn
Tiểu kết chương 1
Giáo dục trẻ ở độ tuổi mầm non là một việc làm khó, giáo dục trẻ có chất lượng lại càng khó hơn Nhất là trong công tác giáo dục trẻ ở trường mầm non đặc biệt hơn nữa là vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non là một sinh viên khoa giáo dục mầm non và là một giáo viên mầm non tương lai, tôi hết sức tâm huyết với ngành giáo viên Mầm non ngành nghề tương lai mà tôi đã chọn và cố gắng tìm tòi những tài liệu hay bài giảng hay giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt đề tài của mình Có thể những giải pháp trên mà tôi đưa ra chưa phải là giải pháp có hiệu quả tuyệt đối nhưng đối với bản thân tôi nó đã mang lại kết quả tương đối tốt trong các
đề tài nghiên cứu khoa học cũng như khóa luận và địa bàn thực nghiệm mà tôi đã
áp dụng nó vào trong công tác giáo dục trẻ để phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nó làm thay đổi chất lượng hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua ca dao trong nhà trường mà tôi thực nghiệm Chất lượng đội ngũ được nâng cao, được phụ huynh quan tâm nhiều đặc biệt tới việc hết hợp giáo dục con trẻ thông qua các bài ca dao
Trang 21Trẻ hứng thú, hoạt bát, nhanh nhẹn, giao tiếp mạnh dạn hơn, sử dụng vốn từ có biểu cảm, tinh tế hơn
Từ những biện pháp đã thực hiện tôi đã rút ra một số kinh nghiệm cho bản thân mình trong hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi trong trường mầm non, thông qua các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi thông qua các bài
ca dao, là một việc làm thiết thực nhất trong chương trình đổi mới hiện nay, nó đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết Hình thành vốn hiểu biết, tính tư duy hoàn thiện ngôn ngữ, cung cấp vốn từ cho trẻ phát huy tính tích cực Để trẻ đọc đúng và hiểu được ý nghĩa của các bài ca dao thì giáo viên cần:
Xây dựng một môi trường phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non
ở mọi lúc mọi nơi và phải lựa chọn các bài ca dao phù hợp với nội dung chương trình và lứa tuổi trẻ.Tăng cường đổi mới hình thức tổ chức,cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực tính độc lập
tự chủ của trẻ hình thành ở trẻ phẩm chất tự tin, khi trẻ đọc các bài ca dao đúng và diễn cảm
Giáo viên phải có sự sáng tạo linh hoạt khi dạy trẻ,phải có sự kiên trì rèn luyện giữa cô và trẻ Cô luôn phải tâm huyết với nghề từ đó say sưa nghiên cứu tìm tòi sáng tạo các biện pháp hay áp dụng vào hoạt động sao cho phù hợp với lứa tuổi
mà đảm bảo về yêu cầu về nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ,… Vì vậy, giáo viên cần nắm vững và linh hoạt trong việc thực hiện phương pháp giáo dục Tạo môi trường an toàn hấp dẫn mang nội dung giáo dục về ngôn ngữ cho trẻ
Học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn về hoạt động phát triển ngôn ngữ có kiến thức tổ chức hoạt động cho trẻ đọc các bài ca dao đạt hiệu quả cao Có như vậy mới phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của trẻ, giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện nhất
Trang 22CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA CA DAO 2.1 Nhiệm vụ, nội dung của các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi
2.1.1 Nhiệm vụ
* Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt (Luyện phát âm chuẩn cho trẻ)
- Luyện cho trẻ nghe âm thanh ngôn ngữ
- Dạy trẻ phát âm đúng là dạy cho trẻ biết phát âm chính xác các âm vị, âm tiết, từ, câu theo chuẩn mực âm thanh tiếng mẹ đẻ
- Dạy trẻ phát âm đúng là còn phải dạy cho trẻ biết điều chỉnh âmlượng, thể hiện đúng ngữ điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp
- Sửa các lỗi phát âm cho trẻ
* Hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ
Trẻ nói được nhờ nghe người lớn nói và bắt chước Phát triển vốn từcho trẻ
là việc tổ chức có kế hoạch, có khoa học nhằm cung cấp, làm giàu vốn từ, nâng cao khả năng hiểu nghĩa của từ, củng cố và tích cực hoá vốn từcho trẻ, giúp trẻ biết vận dụng phù hợp vốn từ đó trong hoạt động giao tiếp
* Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp và nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn
- Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp:
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là dạy trẻ nói được các mô hình câu, các thành phần câu cũng như vị trí của các thành phần bằng cách cho trẻ thường xuyên được nghe, được nói theo các mô hình câu chuẩn để từ đó dần dần nắm được cách cấu tạo các loại câu của tiếng mẹđẻ
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp còn là củng cố cách sử dụng đúng một sốkiểu câu, sửa một số kiểu câu sai cho trẻ, cho trẻ làm quen với các kiểu câu mới khó hơn và cuối cùng sẽ hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp
Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn: Dạy trẻ nói các kiểu câu theo mục đích phát ngôn gồm: Câu kể (câu tường thuật, câu trần thuật), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cầu khiến, câu cảm thán
Trang 23* Phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định Đơn vị giao tiếp thấp nhất là câu và cao nhất là ngôn bản Vì thế, sựmạch lạc của lời nói rất cần thiết Nó được phát triển ngay từ khi trẻ bắt đầu học nói Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ thực chất là rèn luyện khảnăng tư duy ngôn ngữ và sử dụng lời nói để giao tiếp bởi vì sự mạch lạc của ngôn ngữ chính là sự mạch lạc của tư duy Dạy lời nói mạch lạc có hai dạng là đối thoại và độc thoại Dạy lời nói mạch lạc trong ngôn ngữ đối thoại: Dạy trẻ biết nghe và hiểu lời nói đối thoại, biết nói chuyện, trả lời câu hỏi và biết đặt ra các câu hỏi Khi nói chuyện, cần phải biết điều khiển bản thân một cách có văn hoá, cần phải lịch sự khi trả lời và đặt câu hỏi Dạy lời nói mạch lạc trong ngôn ngữ độc thoại: Dạy trẻ biết kể lại những truyện trẻ được nghe; biết kể lại những gì trẻ được chứng kiến; biết tự đặt được truyện đơn giản mà nội dung và hình thức của truyện cần phảithể hiện tính độc lập và sáng tạo của trẻ
* Giáo dục văn hoá giao tiếp ngôn ngữ
- Văn hoá giao tiếp ngôn ngữ thể hiện trong tất cả các thành tố ngôn ngữ như: + Sử dụng âm thanh, ngữ điệu sao cho phù hợp, biểu cảm
+ Sử dụng từ chính xác, phong phú, gợi cảm
+ Sử dụng các mẫu câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
+ Lời nói rõ ràng, mạch lạc, sử dụng các phương tiện biểu cảm, các phương tiện tu từ; tăng cường hiệu quả giao tiếp một cách có văn hoá
+ Chú ý rèn luyện cho trẻ biết phối hợp các phương tiện phi ngôn ngữ…
* Phát triển ngôn ngữ nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học
Qua dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học, giáo viên giúp trẻ biết nghe và hiểu được tác phẩm văn học, biết đánh giá các nhân vật trong tác phẩm; nhớ nội dung các bài thơ, biết cách đọc diễn cảm… Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là cho trẻ làm quen với phong cách ngôn ngữ văn chương Qua làm quen tác phẩm văn học, vốn từ nghệthuật của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng
từ, cách đặt câu, cách diễn đạt, lời nói có vần, nhịp, nói có ngữ điệu…
Trang 24* Chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông
Để trẻ vào lớp 1 được thuận lợi trong việc học đọc học viết, ở lứa tuổi mẫu giáo, cho trẻ làm quen với câu, từ, âm tiết, các nguyên âm, phụ âm… Luyện cho trẻ cách phát âm chuẩn, cách dùng từ, diễn đạt… Tập cho trẻ một số thao tác, kĩ năng của hoạt động học tập qua việc dạy trẻ làm quen chữ cái (Thực hiện nhiệm
vụ học tập, rèn luyện sức khoẻ, cơ tay, sự tỉ mỉ, chính xác, khéo léo…)
2.1.2 Nội dung
Nội dung của phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói chung và trẻ 4-5 tuổi nói riêng
là đưa vào vốn từ chủ động của trẻ về tên gọi của tất cả các sự vật hiện tượng mà trẻ chỉ được tiếp xúc trong cuộc sống và thế giới xung quanh của trẻ,từ những biểu thị,khái niệm (hoa, rau, củ, quả, quần áo, đồ dùng,đồ chơi,đồ dùng ăn uống )
Tiếp tục mở rộng sự hiểu biết của trẻ về các sự vật, hiện tượng gần gũi với các sự vât,hiện tượng mà trẻ nhìn thấy trên đường phố,trong công viên, những nơi khác mà trẻ đi qua và nhìn thấy được trẻ nghi nhớ lại biểu thị lại bằng ngôn ngữ của trẻ
Tiếp tục cho các cháu tìm hiểu và gọi tên những đồ dùng trong gia đình, trong lớp Trẻ cần phải biết vật là từ chất gì, tính chất của chúng, công dụng của những đồ vật ấy như thế nào Trẻ cần phân biệt sự giống nhau và khác nhau của vật Yêu cầu các cháu biết so sánh vài ba đồ vật gần gũi với nhau để nói lên được những điểm khác nhau giữa chúng ( ví dụ: so sánh cái nồi với cái niêu, cái cốc với cái tách, quần với váy, v.v )
Các cháu phải nhớ được địa chỉ trường mình học, nhận biết được môi trường xung quanh, để không bị mất phương hướng
Cần dạy cho các cháu sử dụng đúng các động từ chỉ hoạt động hàng ngày của các cháu
Ví dụ: Đội ( mũ, nón ), quàng ( khăn ), mặc, cởi, thay, cài, thắt, luồn,chải, gấp, rửa, giặt, vò, xát, giũ, vắt, phơi v.v
Trang 25Dạy cho các cháu nói đúng các màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, đen, nâu, lục, lam, tím xám, tràm, hồng trắng nõn, đen thủi đen thui, đen ngỏm đen ngòm xanh
lá cây, vàng da cam
Dạy các cháu những từ ngữ đã học đồng thời cung cấp những từ ngữ mới trên cơ sở từ ngữ cũ mà trẻ đã được học từ đó hình thành vốn từ phát triển ngôn ngữ cho trẻ Dần dần dạy trẻ biết cách ghép câu Tạo tiền đề để dạy trẻ từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập cho giai đoạn 4-5 tuổi trẻ tiếp thu dễ dàng hơn Dạy trẻ hiểu sâu về các sự vật Biết tên gọi các phần, chi tiết, biến dạng, kích thước, màu sắc, mùi vị, đặc điểm, tính chất của vật
Dạy trẻ phân biệt các nhóm đồ vật và biết khái quát bằng một từ ,không phụ thuộc vào màu sắc kích thước
Dạy trẻ ghi nhớ đúng, chính xác tên bố mẹ, địa chỉ gia đình,
Trong những từ biểu thị tính chất, đặc điểm sự vật, phân biệt các phần to hơn, nhỏ hơn và vật có khích thước của chúng ( Ví Dụ: to hơn, nhỏ hơn, rộng hơn, hẹp hơn, dài hơn, ngắn hơn, cao hơn , thấp hơn, v.v )
Dạy trẻ phân biệt mối quan hệ không gian, thời gian, các buổi trong ngày (
Ví Dụ: sáng, trưa, chiều, tối, phải, trái, trên, dưới, trước, sau v.v )
Mở rộng vốn từ biểu thị tên gọi về màu sắc, hình dáng, mùi vị của các vật với những từ biểu thị tính chất ( Ví dụ: nặng, nhẹ, nóng, lạnh, mượt, v.v ) Đặc điểm ( Ví dụ: dễ gãy, dễ vỡ, dễ nứt v.v )
Dạy trẻ phân biệt các đò quen thuộc theo dấu hiệu đặc trưng, trên cơ sở nắm vững những từ khái quát biểu thị những đồ vật
Ví Dụ :
Ghế ( ghế con, ghế nhựa, ghế đẩu, ghế sofa, ghế bành v.v ) - > Để ngồi Thìa ( to, nhỏ, nhôm, nhựa, v.v ) -> Để xúc ăn
Giày ( to, nhỏ, vải, da v v ) -> Để đi
Làm quen với các nghề nghiệp: Cô giáo, hiệu trưởng, người bán hàng, công nhân xây dựng Và đưa vào những từ chỉ tính chất lao động ( Ví Dụ: Làm việc nhanh, cẩn thận, đoàn kết, vui vẻ v.v )
Trẻ làm quen nhiều hơn với nghề nghiệp của bố mẹ,của chú lái xe,của anh phi công, bác sĩ thông qua các giờ học có chủ đích, giờ chơi, hoạt động ngoài
Trang 26giờ để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Đưa vào những từ biểu tính chất hoạt động, biểu thị mối quan hệ của con người lao động những từ biểu thị tên gọi dụng cụ lao động (Ví Dụ: cuốc, xẻng, cày, dao, v v)
Đưa vào vốn từ của trẻ những từ mang tính chất văn học,những từ ngữ mang tính hình tượng, tượng thanh, từ đồng nghĩa, trái nghĩa đơn giản (Ví dụ: cao-thấp, dài-ngắn, chìm-nổi )
Tiếp tục đưa vào vốn từ của trẻ những từ về đặc điểm, tính chất, biểu thị mức
độ đặc điểm tính chất của sự vật được rõ ràng và rõ nét hơn so với giai đoạn trước
2.2 Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4-5 tuổi
2.2.1 Biện pháp đọc diễn cảm
a Mục đích
Mục tiêu chính của việc đọc và dạy trẻ đọc diễn cảm thơ là: thông qua hoạt động đọc diễn cảm thơ để khơi gợi sự hứng thú của trẻ khi nghe thơ, gây được hiệu quả tối ưu khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học đặc biệt là cho trẻ làm quen với các bài ca dao; dạy trẻ cảm nhận nhịp điệu của thơ ca, ca dao để trẻ biết thể hiện lại ngữ điệu, giọng điệu của bài thơ, bài ca dao hoặc các nhân vật xuất hiện trong bài ca dao, dạy trẻ hiểu nội dung, ý nghĩa của bài thơ, bài ca dao, ghi nhớ nội dung bài thơ, bài ca dao qua việc đọc diễn cảm, khơi dậy ở trẻ mong muốn được nghe đọc các bài thơ, bài ca dao(đối với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn còn là khơi gợi ở trẻ sự hiểu biết, đồng cảm với các nhân vật trong tác phẩm để hướng thiện) và biết đọc diễn cảm các tác phẩm thơ, ca dao cho người khác nghe giúp trẻ cảm nhận được vần điệu, nhịp điệu của tiếng Việt Khi đọc thơ, ca dao cho trẻ nghe, cô giáo kết hợp giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ Đây là việc làm góp phần phát triển vốn từ nói riêng, phát triển ngôn ngữ nói chung cho trẻ
b Yêu cầu
Khi giáo viên đọc ca dao cho trẻ nghe và dạy trẻ đọc đọc ca dao cần đảm bảo tính chân thực và màu sắc nguyên văn của từng bài thơ bài ca dao mà cá nhân cảm thụ, thể hiện được cái thần và cái hồn của ca dao mà người đọc truyền thụ tới ngườu nghe đầy đủ ý nghĩa nội dung của bài ca dao Tận dụng được các hình thức biểu hiện, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ của người đọc, thống nhất nhất được nội tâm
và ngoại hình, từ đó chinh phục được sự chú ý và thu hút của người nghe
Trang 27c Cách thức tổ chức
Khi đọc ca dao cho trẻ nghe ở trên lớp trong tiết học hoạt động có chủ đích,
cô giáo cần kết hợp các phương pháp giảng dạy bằng nhiều hình thức khác nhau thu hút lôi cuốn trẻ vào bài học, sử dụng phương tiện trực quan, trang thiết bị tiên tiến hỗ trợ khi dạy Trong tiết học khi đọc bài ca dao giáo viên cần kết hợp giải thích các từ khó, từ xa lạ đối với trẻ những từ trẻ mới học để trẻ hiểu đúng nghĩa của từ trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau
Ví dụ bài ca dao:
“Ai lên xứ nghệ cùng anh
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rượu nắm nem Mãi vui quên hết lời em dặn dò ” Cho trẻ đọc diễn cảm bài ca dao ngắt nghỉ đúng nhịp điệu của bài ca dao
2.2.2 Biện pháp kể lại nội dung bài ca dao
a Mục đích
Khi giáo viên kể lại nội dung một bài ca dao cho trẻ nghe nhằm mục đích giúp trẻ phát triển khả năng ghi nhớ có chủ đích, khả năng tri giác, tư duy, tưởng tượng, phát triển lời nói mạch lạc Trẻ tích cực hơn khi nghe cô đọc, kể lại nội dung bài ca dao về khả năng diễn đạt rõ ràng mạch lạc, khiến cho trẻ khi nghe qua
đã có ấn tượng sâu sắc đối với bài ca dao mà cô đã đọc cho trẻ nghe
Vốn từ của trẻ tăng thêm, ngôn ngữ của trẻ từ đó hoàn thiện hơn, trẻ nhớ tên bài ca dao, trẻ nắm bắt đươc nội dung bài và kể lại được đúng, đầy đủ nội dung
bài ca dao mà cô kể cho trẻ nghe
b Yêu cầu
Khi giáo viên kể lại nội dung một bài ca dao cho trẻ nghe trên lớp cần đảm bảo tính chân thực đúng đầy đủ nội dung bài ca dao truyền đạt một cách sâu sắc nhất đến trẻ, khi kể lại nội dung bài ca dao giáo viên cần kết hợp với ngôn ngữ hình thể, nét mặt, ánh mắt, cử chỉ điệu bộ để giao lưu với trẻ tạo không khí thoải mái khi học bài trẻ cảm nhận mình không áp lực khi học mà bị lôi cuốn vào bài
ca dao cô kể Giáo viên cần thể hiện được cái thần và cái hồn của bài ca dao giúp trẻ cảm nhận đúng về bài ca dao