Con gà chọi có rất nhiều cách gọi tên khác nhau theo những trường từ vựng dựa vào đặc điểm cấu tạo, hình dáng, màu sắc, chức năng chọi, thức ăn..., thể hiện sự phong phú, linh hoạt trong
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Quang Năng – Viện
Từ điển và Bách khoa thư đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa khoa học xã hội – trường Đại học Hồng Đức tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn đến thư viện trường Đại học Hồng Đức, thư viện tỉnh Thanh Hóa, thư viện Quốc Gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Thanh Hóa, tháng 02 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Anh
Trang 3MỤC LỤC
Mục lục Trang Danh mục các bảng biểu MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Lịch sử vấn đề 3
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
7 Cấu trúc đề tài .5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
1.1 Một số vấn đề về từ tiếng Việt 6
1.1.1 Từ 6
1.1.2 Phân loại từ tiếng Việt 6
1.1.2.1 Phân loại từ ngữ theo phương thức cấu tạo 6
1.1.2.2 Phân loại từ ngữ theo nguồn gốc 8
a) Từ bản ngữ (từ thuần Việt) 8
b) Từ ngoại lai 8
b.1 Từ gốc Hán 8
b.2 Từ gốc Ấn Âu 9
1.1.2.3 Phân lớp từ theo phạm vi sử dụng 10
a Từ vựng toàn dân 10
b Từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ 10
b.1 Từ địa phương 10
b.2 Từ nghề nghiệp 10
Trang 4b.3 Thuật ngữ 11
b.4 Tiếng lóng 11
1.2 Trường từ vựng ngữ nghĩa 11
1.2.1 Khái niệm trường 11
1.2.2 Khái niệm trường nghĩa (hay còn gọi trường từ vựng, trường từ vựng ngữ nghĩa, trường ngữ nghĩa) 11
1.2.3 Phân loại trường nghĩa 13
a Trường nghĩa biểu vật 13
b Trường nghĩa biểu niệm 15
c Trường nghĩa tuyến tính 16
d Trường nghĩa liên tưởng 16
1.3 Định danh và lý thuyết định danh trong ngôn ngữ học 17
1.3.1 Khái niệm định danh 17
1.3.2 Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ học 18
1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 19
1.4.1 Khái niệm văn hoá 19
1.4.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 20
1.5 Vài nét sơ lược về gà chọi và lịch sử gà chọi ở Việt Nam 22
1.5.1 Giới thiệu về gà chọi 22
1.5.2 Gây giống và tuyển chọn 28
Tiểu kết 32
Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA GÀ CHỌI Ở VIỆT NAM 34
2 1 Kết quả thống kê 34
2.2 Đặc điểm cấu tạo các từ ngữ gà chọi ở Việt Nam 35
2.2.1 Từ đơn 35
2.2.2 Từ ghép 36
2.2.2.1 Đặc điểm cấu trúc của từ ghép chính phụ 36
2.2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ghép chính phụ 37
Trang 52.2.3 Từ ngẫu hợp 38
2.2.4 Ngữ 39
2.2.4.1 Thành ngữ 40
2.2.4.2 Ngữ chuyên môn 41
2.3 Các tiểu trường trong trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ gà chọi ở Việt Nam ……… .42
2.3.1 Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ các bộ phận cơ thể gà chọi …… 42
a Trường bộ phận chân gà chọi ………45
b Tiểu trường từ chỉ màu sắc của chân gà chọi 46
2.3.2 Tiểu trường từ vựng ngữ nghĩa biểu thị cách chăm sóc, huấn luyện và ra trường đấu của gà chọi ……… 47
b Tiểu trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ lúc chuẩn bị thi đấu 48
c Tiểu trường chỉ về chấp khi gà thi đấu………49
Tiểu kết 50
Chương 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ GÀ CHỌI Ở VIỆT NAM 51
3.1 Đặc điểm định danh của trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể và hoạt động chăm sóc huấn luyện gà chọi ở Việt Nam 51
3.1.1 Phương thức định danh xét về mặt nguồn gốc của tên gọi 51
3.1.1.1.Tên gọi có nguồn gốc thuần Việt 52
3.1.1.2 Tên gọi có nguồn gốc Hán Việt 52
3.1.1.3 Tên gọi có nguồn gốc Ấn Âu 54
3.1.2 Phương thức định danh xét về kiểu ngữ nghĩa 54
3.1.2.1 Xét theo phạm vi định danh trực tiếp - gián tiếp (hay là nguyên sinh - thứ sinh) .54
3.1.2.2 Xét theo sự đối lập về dung lượng ngữ nghĩa rộng hay hẹp của tên gọi .55
3.1.3 Phương thức định danh xét về mặt cách thức biểu thị của tên gọi 56
3.1.3.1 Mức độ hòa kết hay phân tích của các định danh 56
Trang 6a Xét về mức độ tính rõ lý do của tên gọi 56
b Cách chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở định danh 56
3.1.3.2 Phương thức định danh dựa vào đặc điểm hình thức (hình dáng, kích thước, màu sắc, cân nặng của con vật) 61
3.2 Ý nghĩa biểu trƣng của các từ ngữ chỉ gọi gà chọi ……….63
3.2.1 Ẩn dụ ……… ……….64
3.2.2 Hoán dụ ……… 66
3.2.3 So sánh ……… 67
3.2.4 Đồng nghĩa ……… ……… 68
3.2.5 Đa nghĩa ……… ….69
3.3 Đặc điểm văn hoá của trò chơi gà chọi ………70
3.3.1 Văn hoá tiêu khiển (giải trí) ……….…….71
3.3.2 Văn hoá ẩm thực ……… ………… 72
3.3.3 Văn hoá cộng đồng ……… ……… 73
3.3.4 Văn hoá nhận thức ……… ……… 74
3.3.4.1 Ngũ hành ……… 77
a Màu sắc ……… 77
b Mùa sinh khắc ………78
3.3.4.2 Can chi ……… 79
a Sự tương ứng hành can chi ……….79
b Can chi khi chọn ngày, giờ thi đấu ………80
3.3.5 Tướng gà ……… …… 81
a Tướng dòng văn võ ……….81
a.1 Gà chọi có tướng quan văn ……….82
a.2 Gà chọi có tướng quan võ ……… 82
a.3 Gà chọi có tướng văn pha trộn võ ……… 82
b Tướng đi đứng ……… 82
c Tướng ngủ ……… 83
3.3.6 Lựa gà ……… 84
Trang 7a Màu lông ……… 84
b Chân gà ……… 85
c Các yếu tố khác ……… 86
Tiểu kết ……… 87
KẾT LUẬN ……… 89
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 92 Phụ lục: TỪ NGỮ, HÌNH ẢNH GÀ CHỌI
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 Các từ chỉ gà chọi ở các vùng miền trong nước 28
2 Bảng 2.1: Bảng thống kê từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể và hoạt
động, chăm sóc, huấn luyện gà chọi ở Việt Nam
34
3
Bảng 2.2: Bảng thống kê từ loại từ ngữ tên gọi chỉ bộ phân
cơ thể gà và các từ ngữ liên quan đến hoạt động đá, chăm
sóc, nuôi dưỡng
34
4 Bảng 2.3: phân chia từ về bộ phận và các ngữ có liên quan
đến hoạt động đá, chăm sóc, nuôi dưỡng
35
5
Bảng 2.4: chia cụ thể các loại ngữ chỉ bộ phận cơ thể gà và
các ngữ có liên quan đến hoạt động đá, chăm sóc, nuôi
dưỡng
39
6 Bảng 2.5 Sự phân bố từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể gà chọi 43
7 Bảng 2.6 Các từ ngữ chỉ bộ phận chân gà chọi 45
8 Bảng 2.7 Sự phân bố từ ngữ chỉ màu sắc về chân 46
9 Bảng 2.8 Sự phân bố các từ ngữ trong trường về cách chăm
sóc, huấn luyện và ra trường đấu của gà chọi
47
10 Bảng 2.9 Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ lúc ra trận 49
12 Bảng 3.2 Thống kê cách chọn đặc trưng của đối tượng để
làm cơ sở định danh
56
Trang 9`TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA GÀ CHỌI Ở VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giáo trình ngôn ngữ học đại cương nổi tiếng F.de Saussure đã nhận xét “Ngôn ngữ có tính chất kì lạ và đáng kinh ngạc là không có những thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được, thế nhưng người ta vẫn (nhận) biết chắc chắn là nó tồn tại, và chính sự giao lưu giữa những thực thể đó làm thành
ngôn ngữ” [37, tr.181] Từ vựng cũng là một trong những thực thể được nói
đến, nó là yếu tố rất quan trọng khi tìm hiểu ngôn ngữ Bởi từ vựng là “tập hợp các từ và đơn vị tương đương với từ của một ngôn ngữ Từ vựng là một
hệ thống” [32, tr 62] Quan hệ giữa các hệ thống từ vựng được tập hợp trong một trường từ vựng ngữ nghĩa nhất định Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan được gọi tên, định danh bằng từ Hơn nữa, từ đảm nhiệm chức năng rất quan trong của cả các đơn vị khác trong ngôn ngữ như hình vị, cụm
từ, câu Nó quyết định đặc trưng, tính chất riêng biệt của các ngôn ngữ Chính vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa đã và đang được nghiên cứu trong các công trình ngôn ngữ cả trong và ngoài nước Và được nghiên cứu trong từng sự vật, hiện tượng cụ thể Trường từ vựng đã được nghiên cứu trên thế giới như trường trí tuệ (J Trier); trường nói về sự vui sướng (K Rojning), các từ chỉ quan hệ họ hàng (F.C.Loun Sbung), tên gọi thực vật (M.C Counklin), tên gọi bệnh tật (C.O Franke) Ở Việt Nam, trường từ vựng ngữ nghĩa được nghiên cứu cụ thể như trường tên gọi bộ phận
cơ thể người (Nguyễn Đức Tồn), trường tên gọi động vật (Nguyễn Thúy Khanh), trường tên gọi thực vật (Cao Thị Thu) Qua đó, có thể thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tư duy, đây là xu hướng nghiên cứu mới hiện nay của ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu kể trên tiếp cận từ vựng ngữ nghĩa ở lĩnh vực động vật chung chung, hoặc trong một số lĩnh vực
Trang 10cụ thể như Nguyễn Thúy Khanh trên cơ sở các thành ngữ có tên gọi chim chóc làm nòng cốt để xem xét trường đồng nghĩa
Hiện nay, người Việt có nhiều trò chơi giải trí như thả diều, bơi thuyền phổ biến ở khắp mọi nơi, nhất là chọi gà Không chỉ là một thú chơi giải trí, chọi
gà biểu hiện văn hóa, phong tục tập quán của con người Con gà chọi có rất nhiều cách gọi tên khác nhau theo những trường từ vựng dựa vào đặc điểm cấu tạo, hình dáng, màu sắc, chức năng (chọi), thức ăn , thể hiện sự phong phú, linh hoạt trong tư duy ngôn ngữ của người Việt qua cách định danh, gọi tên sự vật, hiện tượng Qua thực tế tìm hiểu, nghiên cứu trong nhiều năm về lĩnh vực này chúng tôi thấy đây là một kho từ vựng ngữ nghĩa đa dạng, phong phú Thế nhưng, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống về lịch sử ngôn ngữ, thống kê, phân loại, tìm hiểu ý nghĩa của các từ ngữ chỉ gà chọi một cách có hệ thống, khoa học, đầy đủ Các công trình viết
về gà chọi mới chỉ chú trọng đến ghi chép lại những tên gọi, đặc điểm về hình thức, cách chăm sóc, ghép gà của gà chọi trên mọi miền đất nước Điều đó có nghĩa là việc tìm hiểu đặc điểm tư duy, những quan niệm của người Việt trong lĩnh vực cụ thể về một loại động vật (gia cầm) chưa được nhiều người
quan tâm một cách sâu sắc Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Trường
từ vựng - ngữ nghĩa gà chọi ở Việt Nam” cho luận văn cao học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận liên quan đến việc nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và nội dung ý nghĩa của trường từ vựng ngữ nghĩa
Trang 11- Tìm hiểu về lý thuyết định danh ngôn ngữ
- Thống kê phân loại các đơn vị từ vựng về mặt cấu tạo từ, các đơn vị từ vựng thuộc nhóm từ chỉ các bộ phận của cơ thể và hoạt động, chăm sóc, huấn luyện gà chọi ở Việt Nam
- Tìm hiểu định danh các đơn vị từ vựng trên cơ sở đó bước đầu nêu rõ những đặc trưng ngôn ngữ văn hoá và tư duy của người Việt
3 Đối tượng nghiên cứu
Các từ ngữ chỉ gà chọi.( Các trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ các bộ phận cơ
thể và hoạt động, chăm sóc, huấn luyện gà chọi ở Việt Nam)
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra điền dã - để thu thập tài liệu bằng ảnh hoặc hình vẽ
- Phương pháp thống kê, phân loại và miêu tả, phân loại từ vựng
- Phương pháp phân tích nghĩa - các đặc trưng ý nghĩa và định danh
5 Lịch sử vấn đề
Như đã nói trên, vấn đề trường từ vựng ngữ nghĩa đã được nghiên cứu nhiều ở cả trong và ngoài nước Với nhiều vấn đề được đề cập, theo cách phân tách của R Mejer thì có ba kiểu trường ngữ nghĩa:
+ Trường tự nhiên (các tên gọi động vật, thực vật, bộ phận cơ thể, cảm giác )
+ Trường nhân tạo (tên gọi các hàm cấp quân đội )
+ Trường bán nhân tạo (các tên gọi từ nghề nghiệp của người đi săn hay ngư dân, các khái niệm đạo đức [ dẫn theo 26, tr 6]
Đối với tên trường tên gọi động vật (thuộc kiểu trường nghĩa tự nhiên của
R Mejer cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện trong một công trình riêng biệt nào
Hiện nay, các tên gọi động vật cũng đã được một số tác giả trong và ngoài nước xem xét ở những khía cạnh khác nhau Công trình của Nguyễn Thúy Khanh [dẫn theo 26] xem xét tính biến thể và hiện tượng đồng nghĩa từ vựng trên cơ sở các thành ngữ có tên gọi chim chóc làm nòng cốt
Trang 12Nguyễn Thế Lịch trong [32] đã nghiên cứu về các hướng chuyển nghĩa
của nhóm danh từ biểu thị tên gọi động vật trong tiếng Việt
Một điều đáng chú ý khác là các tên gọi động vật rất hay được dẫn làm thí dụ minh hoạ cho hầu như tất cả mọi vấn đề được ngôn ngữ học nghiên cứu
- từ những vấn đề lý luận đại cương như đồng đại, lịch đại, vấn đề từ nguyên
và định danh ngôn ngữ cho đến từng vấn đề riêng thuộc từng cấp độ ngôn ngữ Ở cấp độ ngữ pháp, có thể thấy các tên gọi động vật đã được làm dẫn
chứng minh hoạ cho những vấn đề ngữ pháp [dẫn theo 26, tr.7], hình thức ngữ pháp và phương thức ngữ pháp [dẫn theo 26, tr 7]
Đặc biệt, tên gọi động vật được đề cập đến nhiều nhất khi nghiên cứu
các vấn đề thuộc về cấp độ từ vựng ngữ nghĩa, cấu tạo, vấn đề sắc thái trong phong cách của từ [dẫn theo 26, tr.7] trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động
vật cũng đã được nghiên cứu
Trong nghiên cứu tâm lí ngôn ngữ học, tên gọi động vật cũng đã được dùng để minh hoạ cho vấn đề lí luận về sự phản ánh đặc trưng văn hoá dân
tộc trong các đơn vị định danh [dẫn theo 26, tr.7]
Từ những dẫn chứng cụ thể ở trên chúng tôi muốn khẳng định rằng trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi cụ thể của một loại động vật cũng rất quan trọng Thế nhưng loại trường từ vựng này vẫn chưa được quan tâm đúng với giá trị của nó, để khai thác đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của người Việt Đó cũng là lí do thôi thúc chúng tôi chọn nhóm tên gọi cụ thể của loại động vật
gà chọi làm đối tượng nghiên cứu trong công trình của mình
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống toàn diện lớp từ ngữ chỉ bộ phận của loài vật: Gà Chọi
- Những kết quả nghiên cứu góp thêm tiếng nói chỉ ra đặc trưng ngôn ngữ
và văn hoá của người Việt thông qua việc gọi tên con vật trong thú
chơi tao nhã của người phương Đông
- Thực tiễn cung cấp đầy đủ, toàn diện các từ ngữ gọi tên các bộ phận
Trang 13chỉ gà Chọi, phục vụ cho việc chăn nuôi, chăm sóc, tuyển chọn, huấn luyện
Gà Chọi của người Việt
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của trường từ vựng ngữ nghĩa gà chọi ở Việt Nam
Chương 3: Đặc trưng văn hóa của trường từ vựng ngữ nghĩa gà chọi ở Việt Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số vấn đề về từ tiếng Việt
Từ vựng của ngôn ngữ là tập hợp các từ và ngữ cố định nên khái niệm
từ vựng định nghĩa rất rộng Theo Đỗ Hữu Châu thì từ vựng là “tập hợp tất cả các từ của một ngôn ngữ, không phân biệt tiêu chuẩn tập hợp” [4, tr 9] Do
đó, khi đi tìm hiểu từ vựng trước hết phải tìm hiểu về từ và ngữ cố định
1.1.1 Từ
Ngôn ngữ không phải là một phức thể gồm các yếu tố, tồn tại lộn xộn mà
là một hệ thống lớn, chặt chẽ bao gồm các yếu tố và các yếu tố đó có quan hệ mật thiết với nhau theo trình tự từ nhỏ đến lớn là âm vị - hình vị - từ - câu - và các yếu tố trên câu Trong đó, từ là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất bởi chúng đảm nhiệm cả những chức năng của các yếu tố khác của ngôn ngữ Chúng tồn tại hiển nhiên, tất yếu của ngôn ngữ
Định nghĩa về từ không phải dễ dàng, hiện nay có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ, mỗi nhà nghiên cứu đứng trên một góc độ khác nhau Trong
đề tài của mình, chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ: “ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”
1.1.2 Phân loại từ tiếng Việt
Từ được phân chia thành nhiều loại dựa vào cấu tạo, nguồn gốc hình thành
1.1.2.1 Phân loại từ ngữ theo phương thức cấu tạo
Dựa theo phương thức cấu tạo, từ được phân loại thành các loại như sau:
- Từ đơn là những từ được cấu tạo theo phương thức từ hóa hình vị, nên cấu tạo của chúng chỉ có một hình vị như sách, vở, quần, áo, học Từ phức tiếng Việt được chia thành các kiểu từ phức đó là:
+ Từ ghép là những từ được tạo ra theo phương thức ghép hai căn tố lại với nhau như nhà cửa, xe máy, sách vở Trong đó, từ ghép lại được chia
Trang 15thành hai tiểu loại dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa hai hình vị và các kiểu ý nghĩa:
- Từ ghép chính phụ (còn gọi từ ghép phân nghĩa) như xe máy, đường nhựa, cá quả
- Từ ghép đẳng lập (còn gọi từ ghép hợp nghĩa) như ông bà, con cháu, nhà cửa
+ Từ láy là những từ được tạo ra theo phương thức láy như long lanh, sạch sành sanh, lửa lựu Chúng lại được chia thành hai tiểu loại nhỏ dựa vào sự giống nhau của hình vị gốc và hình vị láy:
Từ láy bộ phận chia thành hai loại là từ láy âm hay láy phụ âm đầu như lúng liếng, lóng lánh, lập lòe và từ láy vần như lạch bạch, lập cập
Từ láy hoàn toàn, ví dụ như trăng trắng, ùn ùn, cào cào, ba ba
- Ngoài ra, hiện nay thấy xuất hiện lớp từ trong tiếng Việt mà chúng không
có quan hệ gì về mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa được gọi là từ ngẫu hợp Theo Nguyễn Tài Cẩn trong [9, tr 139] gọi ngẫu hợp “ Kiểu từ ghép trong đó các thành tố trực tiếp được kết hợp với nhau một cách ngẫu nhiên, không dựa trên
cơ sở quan hệ ý nghĩa, cũng không dựa trên cơ sở quan hệ ngữ âm, có thể gọi
là từ ghép ngẫu hợp” Xuất xứ của lớp từ ngẫu hợp có thể từ gốc thuần Việt hoặc ngoại lai Lớp từ có nguồn gốc từ bản địa do hai từ vốn không tách riêng
thì không có nghĩa nhưng ghép lại tạo thành nghĩa chung Ví dụ, bù nhìn, bồ nông, kì nhông…
Lớp từ có nguồn gốc xuất xứ từ nước ngoài với sự du nhập ngôn ngữ rộng rãi hiện nay theo xu thế hội nhập quốc tế hóa Chia thành hai loại là những từ vay mượn từ tiếng Hán, du nhập vào bằng con đường sách vở hay khẩu ngữ
như mì chính, xủi cảo, hi sinh, kinh tế… Và những từ vay mượn
từ gốc Ấn-Âu qua con đường sách vở hoặc khẩu ngữ như, a-xít, mit tinh, sơ
mi, mùi xoa, xà phòng…
1.1.2.2 Phân loại từ ngữ theo nguồn gốc
a) Từ bản ngữ (từ thuần Việt)
Trang 16Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác Chúng có xuất xứ
từ chính các ngôn ngữ của gốc Nam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái Muốn khảo cứu nguồn gốc tiếng Việt chúng ta phải dựa vào các nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng Chúng tồn tại đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lên nhau nên rất phức tạp Chẳng hạn, tương ứng Việt - Mường có các từ như: cây, cơm, chồng, ăn, trứng… Tương ứng Môn - khmer (ở Tây Nguyên Việt Nam) có các từ như bố,
mẹ, mây, mưa, còi, kêu… Tương ứng nhóm Việt - Mường và nhóm Tày Thái như gạo, cày, bát, than, giặt, đen…
b) Từ ngoại lai
b.1 Từ gốc Hán
Ngoài bộ phận từ thuần Việt rất lớn còn có các từ gốc từ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh… Trong từ vựng tiếng Việt, số lượng từ Hán Việt có số lượng rất lớn, chúng xuất hiện do sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt qua bối cảnh lịch sử diễn ra hàng ngàn năm
Từ Hán Việt có đặc điểm cấu tạo như sau: Thứ nhất, từ Hán Việt chia
thành hai loại là từ đơn tiết (một yếu tố như phúc, đức, lợi, hại, vinh, nhục…)
và từ đa tiết chiếm số lượng chủ yếu (gồm từ hai yếu tố trở lên như bàng hoàng, phảng phất, tì bà, bồ tát…)
Thứ hai, từ Hán Việt được cấu tạo chủ yếu theo phương thức ghép và chia thành các loại đó là: Từ ghép đẳng lập là các yếu tố có vai trò ngữ pháp
ngang bằng nhau như ngôn ngữ, vĩ đại, mâu thuẫn, tàn bạo… Từ ghép chính
phụ chia thành hai tiểu loại nhỏ là từ ghép có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố
chính đứng sau và yếu tố chính có thể là yếu tố danh (như học sinh, lương tâm, cổ thụ, tác phẩm…), là yếu tố động (như ưu đãi, tôn xưng, cô lập, hậu tạ…), yếu tố chỉ tính chất (như tối tân, đại hàn, thậm tệ, dạ hương…) Và yếu
Trang 17tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau gồm hai yếu tố chính là yếu tố động
(cách mạng, vệ sinh, đả dảo, đề cao…) và yếu tố chỉ tính chất (mãn ý, lợi tiểu, yên tâm, đoản mệnh…) Từ ghép chủ - vị như nhân tạo, dân lập, địa chấn…
Ngoài ra, từ Hán Việt còn được cấu tạo theo phương thức phụ gia
Chẳng hạn, đệ (đệ nhất, đệ nhị), sĩ (họa sĩ, thi sĩ, chiến sĩ), phản (phản phong, phản đế)
Từ Hán Việt không chỉ mượn các yếu tố gốc Hán đơn thuần mà khi du nhập vào nước ta được biến đổi theo nhiều cách khác nhau Được người Việt sáng tạo ra mà trong tiếng Hán không có như phi công, tiền tố, căn tố, phản biện, phát thanh… Có khi từ Hán Việt có trong vốn từ tiếng Hán nhưng nghĩa lại khác nghĩa từ Hán Ví dụ, “tử tế” trong tiếng Hán nghĩa là “tỉ mỉ”, nhưng
đi vào tiếng Việt nghĩa là không sơ sài, hoặc đối xử tốt như “ăn mặc tử tế, đối
xử tử tế” [42, tr 151] Hoặc một số từ Hán Việt ra đời do xu thế rút gọn, nói
tắt như cử nhân - cử, văn học - văn, hồng huyết cầu - hồng cầu, tiểu tiện - tiểu…
b.2 Từ gốc Ấn Âu
Do hoàn cảnh từ ngữ của các ngôn ngữ Ấn Âu du nhập vào Việt Nam bằng nhiều hình thức như khẩu ngữ, sách vở, trường học, và một số lĩnh vực như kinh tế, hành chính… Đó là các từ có nguồn gốc từ tiếng Anh, Pháp, Nga
như mít tinh, bôn sê vích, cao bồi, ten nít, sơ mi… Khi đi vào tiếng Việt, các
từ có nguồn gốc Ấn – Âu được sử dụng chủ yếu dưới hình thức phiên âm để
phù hợp với đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt như: poste – bốt; cafe – cà phê
;carrotte – cà rốt; gare – ga; douille – đui (đui đèn) Hoặc có khi người
Việt có xu hướng rút ngắn bớt độ dài của các từ gốc Ấn - Âu Vì vậy, đối với những từ ngắn thì họ chỉ việc cấu trúc hoá lại cho thành một âm tiết theo kiểu
tiếng Việt là xong Chẳng hạn: sou – xu; chef – xếp; gare – ga; boy – bồi; valse – van; frein – phanh; gramme – gam Ngược lại, những từ dài thường
được người Việt rút ngắn bớt Đặc biệt là ở những từ vay mượn qua tiếp xúc
Trang 18khẩu ngữ như: evenloppe – lốp; essence – xăng; casserole – xoong; creme – kem; cravate – ca vát; hydrogene – hydro
1.1.2.3 Phân lớp từ theo phạm vi sử dụng
Như đã nói, từ vựng là một tập hợp các lớp từ tồn tại trong đó nên chúng bao gồm nhiều lớp từ Có rất nhiều lớp từ vựng khác nhau phân chia theo phạm vi sử dụng, ở đây chúng tôi chỉ khái quát một số lớp từ sau:
a Từ vựng toàn dân
Đó là các đơn vị từ vựng tồn tại phổ biến, được mọi người trong cộng đồng hiểu và sử dụng được Đây chính là phương tiện giao tiếp cơ bản giúp cho các thành viên trong xã hội giao lưu với nhau thuận lợi
b Từ vựng hạn chế về mặt xã hội và lãnh thổ
b.1 Từ địa phương
Là từ vựng được dùng hạn chế trong các phương ngữ, thổ ngữ nhất định
So với các từ toàn dân, chúng có thể đối lập về mặt ngữ âm hay về mặt ý nghĩa Chúng được sử dụng hạn chế trong phạm vi lãnh thổ nên khó hiểu với những người không sống tại địa phương đó, cần phải có chú thích rõ ràng Ví
dụ, phương ngữ Nam Bộ: tiêu xài (ăn tiêu), ăn hiếp (bắt nạt), cái vịm (cái
liễn)
b.2 Từ nghề nghiệp
Chúng là những từ biểu thị công cụ lao động, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghàng nghề nào đó Chính vì vậy, chúng sử dụng hạn chế trong một lĩnh vực nghề nghiệp nên chỉ có những người trong nghề mới
hiểu biết và sử dụng thường xuyên Ví dụ, nghề dệt có các từ như xa, suốt, khung cửi, sợi
Trang 191.2.1 Khái niệm trường
Trước khi tìm hiểu về trường từ vựng ngữ nghĩa chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm trường Trong ngôn ngữ học, có nhiều quan điểm về trường, mỗi người đứng trên những góc độ khác nhau Nguyễn Như Ý [53, tr 320 – 322] định nghĩa: Trường là “toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ (chủ yếu là các đơn vị từ vựng) tập hợp lại do sự đồng nhất về nội dung (đôi khi cũng có dấu hiệu đồng nhất về dấu hiệu hình thức) và sự phản ánh tương đồng về khái niệm, về đối tượng hay về chức năng của những hiện tượng mà mà các đơn vị ngôn ngữ đó biểu thị”
Đỗ Hữu Châu trong [3, tr 45] nhận xét “Khái niệm trường là khái niệm có tính chất thứ bậc, có nghĩa là một trường có thể chia thành nhiều trường nhỏ hơn Trong một trường các đơn vị sẽ bộc lộ rõ ràng các quan hệ với nhau và giá trị của chúng” Chúng khác nhau ở: trường độ âm thanh, trường liên tưởng
1.2.2 Khái niệm trường nghĩa (hay còn gọi trường từ vựng, trường từ
vựng ngữ nghĩa, trường ngữ nghĩa)
Cũng như khái niệm trường, khái niệm trường nghĩa được nghiên cứu sâu rộng, được hiểu là:
- Một mảng, một phần hiện thực khách quan được chia tách theo kinh nghiệm của con người và có sự tương xứng về mặt lý thuyết trong ngôn ngữ
Trang 20dưới dạng một nhóm từ, một tiểu hệ thống từ vựng nào đó Trường nghĩa thời gian, trường nghĩa màu sắc, trường nghĩa không gian
- Toàn bộ từ ngữ tạo thành dãy chủ đề và bao trùm một phạm vi ý nghĩa nhất định
Ngay từ thế kỉ XIX, các nhà bác học đã chú ý đến khả năng tồn tại các kiểu liên kết từ khác nhau Trong các công trình của J Trier và G Ipsen đã trình bày những hiểu biết tuy còn nguyên sơ có tính chất lý thuyết về khái niệm trường và họ gọi là “trường ngữ nghĩa”
Cơ sở để tập hợp các từ vào một trường nghĩa là sự tồn tại một đặc trưng ngữ nghĩa chung để liên kết tất cả các đơn vị trong một trường nghĩa, còn những đặc trưng ngữ nghĩa riêng của từng từ trong một trường là dấu hiệu khu biệt chúng với nhau Chẳng hạn, trong trường nghĩa các động từ chuyển động thì đặc trưng ngữ nghĩa chung là “sự di chuyển trong không gian”, còn các đặc trưng ngữ nghĩa riêng, có giá trị khu biệt nghĩa là “tốc độ”, “phương thức chuyển động”, “hướng chuyển động”, “môi trường chuyển động” Cũng theo Đỗ Hữu Châu thì “mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là một tập hợp đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành các quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa
và các quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” [4, tr.170]
Đái Xuân Ninh [34, tr 305 – 306] “Một loạt các từ được liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa; còn gọi là xêri từ vựng, dãy từ vựng Các đơn vị
từ của một hệ thống ngôn ngữ nào đó phủ kín lên khu vực khái niệm nhất định và được cấu trúc hoá theo mối quan hệ về nghĩa tạo nên một trường từ vựng Như vậy một đơn vị từ được coi như phủ kín một khu vực khái niệm nào đó và đến lượt nó cái khu vực này có thể được cấu trúc hoá thành một trường từ vựng với một tập hợp từ khác (Ví dụ: Cái khu vực mà từ “ đỏ” phủ
lên sẽ được cấu trúc hoá với những từ như: hồng điều, tía, đỏ sẫm, đỏ son)
Nghĩa của một đơn vị từ như là một khu vực khái niệm trong lòng trường
Trang 21khái niệm Mỗi khu vực khái niệm gắn bó với một đơn vị từ là một khái niệm” Theo [17, tr 353-362] đã đưa ra quan điểm của Igor A Melcuk và một
số nhà ngôn ngữ học khi phân biệt rõ khái niệm trường nghĩa và trường từ vựng “Trường nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có chung một thành tố nghĩa có giá trị nhận diện một trường nghĩa” Còn “trường từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc loại trường nghĩa này”
Như vậy, hiểu một cách đơn giản “trường nghĩa là toàn bộ từ ngữ tạo thành một dãy chủ đề và bao trùm một phạm vi ý nghĩa nhất định”
1.2.3 Phân loại trường nghĩa
F.de Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ tộc tuyến, quan hệ hệ hình) Đỗ Hữu Châu đã chia trường nghĩa tiếng Việt thành: dựa vào quan hệ ngang có trường nghĩa tuyến tính, dựa vào trường nghĩa dọc có trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang có trường nghĩa liên tưởng
a Trường nghĩa biểu vật
Theo Đỗ Hữu Châu trong [4, tr.171] thì “Một trường biểu vật là một
tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật” Ví dụ: trong trường nghĩa biểu vật về chân có bắp chân, khửu chân, đầu gối, ngón chân, móng chân, đi, chạy… Đây đều là các đơn vị từ vựng có cùng phạm vi biểu vật về chân
Để xác lập trường nghĩa biểu vật thường dùng danh từ làm trung tâm
“các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm
trù biểu vật, như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu Các danh từ này
cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ” [4, tr 171]
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ Và từ các trường nghĩa biểu vật nhỏ này sẽ phân chia thành các
Trang 22tiểu trường nhỏ hơn nữa Chẳng hạn, trong trường từ vựng nghĩa biểu vật tay
chia thành trường nghĩa nhỏ là trường nghĩa biểu vật về bàn tay (như ngón tay, vân tay, mu bàn tay, đốt ngón tay ), trường nghĩa biểu vật về cánh tay (như cổ tay, cùi chỏ, xương cánh tay, da tay ), trường nghĩa biểu vật về ngoại hình tay (như ngón tay búp măng, dùi đục, bàn tay mỏng, dày, thô, cứng, mềm mại )
Số lượng từ ngữ và về tổ chức các trường nghĩa biểu vật rất khác nhau khi so sánh các trường lớn với nhau cũng như so sánh các trường nhỏ trong một trường lớn (như trường biểu vật của tay so với chân) Nếu so sánh các trường cùng một tên gọi (tức cùng danh từ) trong các ngôn ngữ với nhau thì
sự khác nhau càng rõ hơn nữa “Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ) là một "miền" của trường, thì thấy, các miền trong các trường thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau Có những miền trống - tức không có từ ngữ - ở ngôn ngữ này nhưng không trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ này nhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia Điều này khẳng định tính ngôn ngữ và tính dân tộc của các trường biểu vật” [4, tr 173]
Giữa từ và nghĩa biểu vật có mối liên hệ với nhau, khi các từ có chỉ số trường biểu vật thấp là những từ bị quy định về biểu vật rất mạnh Ngược lại, những từ càng đi vào nhiều trường thì tính bị quy định về biểu vật càng yếu, ý nghĩa càng khái quát
Bởi vì từ có nhiều nghĩa biểu vật cho nên từ có thể nằm trong nhiều trường nghĩa biểu vật khác nhau Do đó, các trường biểu vật có thể "thẩm thấu vào nhau “giao thoa” với nhau trong trường hợp khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia Chẳng hạn, xét trong trường biểu vật về
"người" và "động vật" sẽ thấy rõ Trường nghĩa biểu vật “người” có các từ :
chân, tóc, mắt, mũi, miệng, chạy, nhảy, đi, ngồi, nằm, bé, lớn… Trường nghĩa động vật có các từ: sừng, đuôi, chân, mắt, mũi, chạy, nhảy, bé, lớn… Như
vậy, các trường nghĩa biểu vật của người hầu như đều nằm trong trường biểu
Trang 23vật động vật như chân, mắt, mũi, chạy, nhảy, bé, lớn Đó chính là những điểm
thẩm thấu, giao thoa nhau của hai trường biểu vật này
Dựa vào tính chất quan hệ giữa từ ngữ với trường nên các trường biểu vật có một cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường gồm những từ ngữ điển hình cho nó
b Trường nghĩa biểu niệm
Trường biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm” [4, tr 178] Ví dụ, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo) (thay thế
hoặc tăng cường công tác lao động) (bằng tay) gồm các từ: dao, kéo, búa, khoan, đục, rìu
Giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các tiểu trường nhỏ và cũng có những "miền" với mật độ khác nhau Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi
Nói tóm lại, vì các ý nghĩa biểu niệm tuy có nguồn gốc ở các khái niệm nhưng không đồng nhất với khái niệm, cho nên các trường biểu niệm cũng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm, không phải là những sự kiện tư duy thuần túy mà là những sự kiện ngôn ngữ
Những từ điển hình cho cấu trúc biểu niệm sẽ là căn cứ để xem xét hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm Chúng tạo thành những cái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm Nhờ đó, sự tồn tại của một trường biểu niệm mới được khẳng định và nhờ sự đối chiếu chúng với nhau nên mới biết một từ có thể thuộc về bao nhiêu đường biểu niệm khác nhau
c Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ có thể kết hợp với một từ gốc để tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ Đây
Trang 24cũng là những căn cứ để xác lập trường nghĩa tuyến tính Ví dụ: Trường nghĩa
tuyến tính của từ đi là nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng ra, vào, lên, xuống chợ, làm, học, buôn, giày, dép, găng, tất
Từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó
Thí dụ: Các từ nằm trong trường tuyến tính của từ cắt là dao, kẻo bánh, vải, giấy đứt, không đứt và không có các từ chi "nơi chốn" Trái lại, trong trường tuyến tính của các từ như chạy, đứng, nằm, ở thường gặp những từ chỉ nơi chốn như ngoài sân, trong làng, giữa nhà, trên đường Nói một cách khác, các từ chỉ nơi chốn có quan hệ cú pháp chặt với các từ chỉ hoạt động dời chỗ, chỉ tư thế nhưng lại có quán hệ cú pháp lỏng với các động
từ chỉ hành động phá vỡ, tạo tác Các từ có quan hệ cú pháp chặt thường hiện thực hóa các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của từ
Như vậy, cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ
d Trường nghĩa liên tưởng
Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra Ví dụ: trường nghĩa liên tưởng của từ xanh gồm có
các từ : xanh da trời, xanh thẫm, xanh nước biển, xanh lơ, xanh lục, người lính, sinh viên tình nguyện, cây cối, bầu trời, tuổi trẻ…
Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng
từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Nhưng trong trường liên tưởng còn có
Trang 25nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân
Do những tính chất trên, các trường liên tưởng thường không ổn định, nên từ có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ
và từ vựng
Như vậy, trường liên tưởng có hiệu lực lớn để giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ… Và dùng để nói hay viết, sự tránh né đến kiêng kị những từ nhất định Không nói đến những sự sai biệt về chủ đề, về tư tưởng, về các chi tiết thực tế hình tượng chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ cùng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại này với tác phẩm văn học của thời đại khác
1.3 Định danh và lý thuyết định danh trong ngôn ngữ học
1.3.1 Khái niệm định danh
Thuật ngữ “định danh” có nguồn gốc từ tiếng La tinh có nghĩa là “tên
gọi” Có nhiều cách hiểu khác nhau về định danh Theo Nguyễn Đức Tồn
“nói một cách “nôm na” thì định danh chính là đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng ”[45, tr.165] Như vậy “Định danh là chức năng tên gọi sự vật, hiện tượng của đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, đó là từ Trong đó chức năng định danh được coi là một trong các tiêu chí để xác định từ Sự hình thành của những đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh nghĩa là dùng để gọi tên sự vật và chia tách những khúc đoạn của thực tại khách quan để tạo nên những khái niệm tương ứng về sự vật, hiện tượng dưới hình thức là các từ, tổ hợp từ,
thành ngữ, câu”[45, tr.165]
Nguyễn Như Ý quan niệm định danh là “Sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ
có chức năng dùng để gọi tên, chia tác các đoạn của hiện thực khách quan trên
cơ sở đó hình thành các khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm
từ, ngữ cú và câu” [53, tr 89]
Trang 26Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau, trong luận văn này chúng tôi theo quan điểm của G.V.Cônsansky thì định danh là “ sự cố định cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm- biểu niệm (signifikat) phản ánh đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat)- các thuộc tính phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” [dẫn theo
45, tr 164-165]
1.3.2 Lý thuyết định danh trong ngôn ngữ học
Đối tượng của lí thuyết định danh là nghiên cứu mô tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về động tác qua lại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh Tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu cơ sở cho sự định danh xuất phát từ mối quan hệ hiện thực - khái niệm - tên gọi
Lí thuyết định danh nghiên cứu, mô tả cấu trúc của đơn vị định danh từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác Hiện thực khách quan được hình dung như cái biểu vật của tên gọi, nghĩa là như toàn bộ các thuộc tính được chia tách ra trong các hành vi định danh ở tất cả các lớp sự vật do tên gọi đó biểu thị khái niệm, khi lựa chọn những thuộc tính có tính chất phạm trù tham gia như cái biểu hiện ý nghĩa của tên gọi, còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn trong nhận thức tương ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó Chính cái tương quan giữa cái biểu hiện ý nghĩa, cái biểu vật và xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh
cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của định danh
Tóm lại, định danh biểu hiện đặc điểm tư duy dân tộc của con người về một sự vật, hiện tượng nào đó Bởi chính “tên gọi là cái để hình dung đối tượng trong tính chỉnh thể của nó” [45, tr.311] Và các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tồn tại dưới nhiều hình thức nên mang nhiều đặc điểm khác nhau Do đó, cần phải “quy loại khái niệm được định danh”, sau đó
Trang 27tiến hành “lựa chọn đặc trưng của đối tượng để làm cơ sở cho tên gọi của nó” Cũng cần phải có những “kĩ thuật ngôn ngữ” trong việc định danh [Theo Nguyễn Đức Tồn]
1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
1.4.1 Khái niệm văn hoá
Khái niệm văn hoá xuất hiện rất sớm ở phương Đông và phương Tây Trong thời kì cổ đạt Trung Quốc văn hoá được hiểu là cách thực hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hoá để cảm hoá con người Ở phương tây khái
niệm văn hoá bắt nguồn từ chữ La tinh cultus có nghĩa là trồng trọt, tạo ra
những sản phẩm phục vụ con người, về sau khái niệm văn hoá phát triển đa dạng và phong phú hơn, rộng hơn về nghĩa
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hoá, theo Hoàng
Phê trong [36, tr 1100] định nghĩa văn hoá như sau:
1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Kho tàng văn hoá dân tộc Văn hoá phương đông Nền văn hóa cổ
2 Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần( nói tổng quát) Phát triển văn hoá Công tác văn hoá
3 Tri thức, kiến thức khoa học( nói khái quát) Học văn hoá Trình độ văn hoá
4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Sống có văn hoá ăn nói có văn hoá
5 Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở của một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau Văn hoá rìu hai vai Văn hoá gốm màu Văn hoá Đông Sơn
Trong luận văn này chúng tôi khai thác khái niệm văn hoá với nghĩa thứ nhất, theo đó hiện tượng được coi là văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật chất (văn hoá vật chất) và những sản phẩm tinh thần (văn hoá tinh thần)
do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện taị và mang tính giá trị
Trang 28Văn hoá vật chất có thể được hiểu là toàn bộ cơ sở vật chất được sử dụng trong cuộc sống, được xem như một nhu cầu của cuộc sống do chính con người tạo ra Văn hoá tinh thần là sản xuất, phân phối và tiêu dùng các giá trị tinh thần Tính giá trị của văn hoá được hiểu là những sản phẩm do cpn người sáng tạo ra phải là cái có ích cho con người (còn những sản phẩm cũng do con người sáng tạo ra nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá) Với hướng tiếp cận trên về văn hoá như vậy, chúng tôi sẽ ứng dụng vào luận văn khi xem xét các từ ngữ, trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi gà chọi ở Việt Nam theo những khía cạnh văn hoá ẩn chứa trong nó
1.4.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Như đã trình bày ở trên, văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật chất (văn hoá vật chất) và những sản phẩm tinh thần (văn hoá tinh thần) Nội hàm của văn hoá tinh thần bao chứa nhiều thành tố, trong đó có ngôn ngữ Giữa ngôn ngữ và văn hóa không phải tồn tại biệt lập, tách bạch nhau mà “giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau chúng tác động qua lại lẫn nhau, ngôn ngữ gần như là cơ sở, là nền tảng của văn hoá Văn hoá dân tộc không tồn tại ngoài ngôn ngữ’’[45, tr 10] Hay nói chính xác Ngôn ngữ là hiện tượng văn hoá, nằm trong văn hoá, văn hoá có ngoại diên lớn, trong khi ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng có đặc tính nội hàm lớn hơn Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng
có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau
Ngôn ngữ là thành tố quan trọng nhất của văn hoá, “sự liên quan giữa ngôn ngữ và văn hóa mật thiết tới mức không bộ phận nào thuộc về văn hóa của một dân tộc lại có thể được nghiên cứu tách rời khỏi ngôn ngữ” [16, tr 90] Ngôn ngữ thuộc phạm trù văn hoá, là một hiện tượng văn hoá nên tất cả những gì là đặc tính, thuộc tính của văn hoá cũng đều tương tự như đặc tính, thuộc tính của ngôn ngữ, ẩn chứa trong ngôn ngữ Mặt khác ngôn ngữ là hiện tượng văn hoá đặc thù bởi vì ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá nhưng lại là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự phát sinh, phát triển và hoạt động
Trang 29của các thành tố trong văn hoá Đó vừa là chỗ bảo lưu lâu dài và truyền đạt các truyền thống văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác
Xét về mặt dân tộc học thì ngôn ngữ và văn hóa là đặc trưng thống nhất của một tộc người, xét về chức năng thì chúng có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời Cùng thực hiện chức năng là công cụ của tư duy và làm phương tiện giao tiếp xã hội với những hệ thống kí hiệu Trong đó, ngôn ngữ
là hệ thống kí hiệu duy nhất mang tính phổ quát xã hội và có vai trò quan trọng để lưu giữ các thông tin xã hội, cũng như lưu giữ giá trị của văn hóa
Hay nói như Phạm Đức Dương “nếu như văn hoá là tổng thể những hệ thống các tín hiệu khổng lồ mang tính thiết chế xã hội, bao trùm lên mọi hoạt động của một cộng đồng người nhất định, thì ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu quan trọng bậc nhất được xây dựng trên quan hệ biểu trưng văn hoá của loài người” [12]
Thế nhưng ngôn ngữ lại là thành tố độc lập với văn hoá, bởi đây là hai ngành khác nhau nên cũng có những chức năng và nhiệm vụ khác nhau Như vậy, giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ qua lại, chúng có mối quan hệ khăng khít và bổ trợ nhau nhưng chúng tồn tại độc lập, bình đẳng với nhau
1.5 Vài nét sơ lƣợc về gà chọi và lịch sử gà chọi ở Việt Nam
1.5.1 Giới thiệu về gà chọi
Ở khu vực Đông Nam châu Á có rất nhiều giống gà chọi nổi tiếng như Thái Lan, Indonesia, Malaysia,Việt Nam, Trung Quốc Trong đó gà chọi Việt Nam nổi tiếng bởi thế đánh, miếng đánh rất “độc”, độ bền cao, nhưng tính đến thời điểm này chưa có một nhà khoa học, một nhà nghiên cứu nào khẳng định gà chọi ( gà nòi) của Việt Nam có nguồn gốc xuất xứ ở đâu
Theo các nhà nghiên cứu của Nhật Bản gà chọi là giống gà đã được thuần hoá cách đây 8000 năm tại Đông Nam Á trong phạm vi bao gồm Việt Nam, Thái Lan, nơi mà loại gà rừng đỏ hiện nay đang còn sinh sống
Hiện nay nguồn gốc của gà chọi là chưa xác định chúng có và xuất hiện từ bao giờ, minh chứng cụ thể ghi lại trong bài “ hịch tướng sĩ của Trần Quốc
Trang 30Tuấn vào thế kỉ XIII:
"Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp
Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu."
( cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng mưu lược nhà binh) [24] Một nguồn tư liệu khác gần đây hơn hướng dẫn về cách lựa chọn và nuôi
gà đá xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ XVII, một trong những người đi tiên phong trong việc biên soạn và để lại cho các thế hệ sau tài liệu mà ông nghiên cứu được là Tả Quân Lê Văn Duyệt ( 1763 – 1832), một công thần dưới thời vua Gia Long đã nuôi 5000 con chiến kê để nghiên cứu về ngũ hành luận dựa trên sắc lông, phép xem tướng và phép xem vảy chân Công trình nghiên cứu
tiêu biểu của ông được các sư kê truyền tụng đến ngày nay là “ Kinh kê”
Các triều đại vua chúa Việt Nam ngày xưa thường dùng động vật để thi đấu hoặc biểu diễn trong những dịp lễ hội đặc biệt Trong đó ba loại chính được dùng trong thể loại thi đấu là: Hổ Quyền, Chọi Trâu và Đá Gà
Trong khi "Hổ Quyền" là một nghệ thuật biểu diễn võ thuật được tổ chức trong giới hạn của cung đình cho các bậc vua chúa thưởng ngoạn thì "Chọi trâu" và "Đá gà" là hai thú vui dân gian Những bậc như vua, chúa và các quan cận thần chơi gà phải kể đến Tả Quân Lê Văn Duyệt và NguyễnNhạc Chuyện được dân gian lưu truyền kể lại rằng Nguyễn Nhạc là người rất mê
gà chọi, chính ông là người đã bỏ công ra sưu tầm môn "Kê Quyền" Nó là môn võ dựa trên các thế đánh và ra đòn của gà nòi (gà chọi) Ngày nay những thế võ này vẫn được lưu truyền lại tại vùng Bình Định thuộc Miền Trung Việt Nam
Gà chọi khác nhau, mỗi địa phương tuy có những từ ngữ và tên gọi khác
Trang 31nhau nhưng cũng có sự thống nhất từ Nam đến Bắc Chẳng hạn, ở miền Bắc
trước năm 1945 trong truyện ngắn “Con mã mái” của nhà văn Kim Lân có
nói về cách tuyển chọn gà mái, gà trống để phối giống, chăm sóc gà con, hoặc xem tướng gà:
“Đầu Công mình cốc cánh vỏ chai Quản ngắn đùi dài đá chẳng sai”
Hay:
“Chân trì mắt ếch đếch sợ ai
Quản ngắn đùi dài đá chẳng sai”
Khi các sư kê cho gà tham dự hội làng ở địa phương, nhà văn Kim Lân nói đến cách ghép gà, thủ thuật ghép gà để tránh những đối thủ khó chơi như
nhân vật Tư Méo trong truyện và cách cá độ như “mười đồng ăn tám hoa
mơ”
Ở miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, hầu hết các trường gà đều giành riêng cho gà đòn hay gà cựa Có rất nhiều trường gà nổi tiếng quanh vùng Sài Gòn, Biên Hòa, Hóc Môn v.v Các đại gia giầu có ở miền Nam thường thích đá gà cựa (gà thả cựa hoặc cựa làm bằng sắt lắp vào đầu cựa của con chiến kê) nên thắng bại một cách nhanh chóng Hoặc gà cựa thường ra trận với cặp cựa thật của nó Rất nhiều câu chuyện trong các sách truyện kể lại những trận gà cựa nổi tiếng trong những vùng như Cao Lãnh, Bến Tre và Bạc Liêu
Năm 1975 đánh dấu một giai đoạn lịch sử mới của Việt Nam, đất nước hoàn toàn độc lập Lịch sử đã thay đổi, thú chơi đá gà cũng không thoát khỏi những thay đổi về cách thức và luật lệ, các tay chơi đá gà không dùng cân để cân trọng lượng của gà nhưng sau khi đất nước được giải phóng điều đó đã thay đổi Tuy nhiên, cũng có xới dùng cân, chẳng hạn như xới gà của cựu Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ thì có dùng cân khi qua cổng Thường thì các sư
kê định lượng con gà đối phương bằng cách dùng mắt quan sát để cáp độ Những người cáp độ gà sẽ mang gà ngồi vào trong xới (vòng – trong xới) có
Trang 32nơi đào lỗ sâu xuống đất để làm đấu trường, để so kè chiều cao và bề ngang của lưng gà để bắt chặng (khoán hồ) Mỗi trường đá gà có những luật lệ riêng
do chủ trường gà (chủ xới) đặt ra Có nơi cho phép chủ kê được đụng chạm,
sờ tay vào con gà đối phương Có nơi cấm không cho vì lý do an toàn cho gà của khách mang đến
Nhiều trường gà cho phép chủ kê được phép lấy tay để đo lưng con gà đối phương để đoán chừng "mấy phân xương" lưng, còn được gọi là "cái ngang" tức là chiều ngang của lưng gà Những nơi không cho phép đụng chạm gà đối phương thì chủ kê phải dùng mắt để phỏng đoán chiều ngang cũng như cân nặng của con gà kia Trong trường hợp này chủ kê có quyền yêu cầu chủ kê phía bên kia kéo cánh xuống để quan sát kích thước lưng của con gà đối phương Chiều cao của hai con gà được xem xét rất kỹ, thường thì hai con gà được chủ kê đâu lưng lại để so kè chiều cao và chiều ngang của lưng gà
Chủ trường gà (Chủ xới) sẽ đóng góp ý kiến thêm về cáp trạng để cho ghép đúng và công bằng trước khi gà đá Gà có chiều cao hơn thường có lợi thế khi ra đòn, do đó các tay chơi gà có câu "một phân vai bằng hai phân xương" (hay “một phân cao bằng hai phân nặng” hay cách gọi khác “một thành cao bằng hai thành dày”) có nghĩa nếu con gà có 2 hoa nặng bằng con
gà tuy kém 2 thành nặng nhưng hơn 1 phân về chiều cao Tuy nhiên trong vấn
đề cáp độ, hai đơn vị đo lường về chiều cao và chiều nặng như thế bù qua bớt lại thì vẫn được coi là đồng trạng gà và có thể cáp độ được Ngày nay, các dân chơi gà nòi (chọi) có thể tham khảo về những kỹ thuật nuôi, tập luyện và chuẩn bị gà ra trường từ các dân chơi gà nòi (chọi) đầy kinh nghiệm và lão luyện đã từng sống tại Hà Nội với dòng gà Mã Lai vào những năm của thập niên 30 của thế kỉ XX Một số tài liệu, ấn bản về nghệ thuật và văn chương truyền khẩu qua cách chơi gà nòi đã được ghi nhận lại vào thời kỳ tiền chiến (1945) Vào thời kì này ở miền Bắc có nhiều trường gà (xới) cho các tay chơi gà nòi so tài cao thấp với số người tham dự lên đến cả nghìn người
Trang 33Một phương pháp khác được gọi là "vô tay" Vô tay là thủ thuật dùng tay
để nâng dưới lườn con gà đối phương lên để ướm chừng sức nặng Các sư kê
có kinh nghiệm có thể đoán chính xác trọng lượng con gà trên tay bằng cách này Khi vô tay, sư kê cũng có thể đoán biết được thêm về gân cốt và quá trình tôi luyện của gà cũng như sức chịu đựng của nó Chẳng hạn một con gà
có lườn dài và sâu hình chữ V (như lườn tàu đi biển) là loại gà có sức chịu đựng bền bỉ Nhưng phép vô tay không phải trường gà nào cũng cho phép
Sự cẩn trọng này rất cần thiết để đề phòng những kẻ ma quái áp dụng xảo thuật điểm huyệt hãm hại gà đối phương trong lúc vô tay Thường thì phép vô tay chỉ được áp dụng ở những trường gà mà mọi người đều là bạn bè thân quen Trong những trận gà ăn thua lớn phương pháp "vô tay" không được áp dụng
Ở miền Trung, đá gà là thú tiêu khiển của người lam lũ, khi hết mùa đồng áng mới bắt tay vào việc chơi gà Bởi lẽ tiền bạc khó kiếm nên người dân miền Trung thích chơi gà đòn - một độ dù ăn hay thua cũng kéo dài suốt mấy giờ đồng hồ, có khi suốt ngày Vì chuyên về gà đòn nên dân miền Trung tuyển chọn gà cựa mọc chậm và ngắn Nếu con nào có cựa mọc dài cũng sẽ bị cưa hoặc mài ngắn Khi cựa mới nhú cũng bị chủ gà bấm cựa khiến cựa bị tầy đầu, không nhú ra được Nghệ thuật chơi gà cựa không được phổ thông ở miền Trung và miền Bắc Theo truyền thống xa xưa thì gà cựa được thả cho
đá với cựa tự nhiên mọc ra nhưng ngày nay các tay chơi đá gà cựa đã biến hóa
và làm cựa căm (cựa nhọn làm bằng xích căm xe máy), hay cựa dao cho các trận gà sinh tử
Trong nghệ thuật chơi gà chọi, các tay chơi mới vào nghề tỏ sự kính trọng và khâm phục đến các sư kê và lớp đàn anh trong nghề lâu năm là một trong những đặc tính “bất di bất dịch” trong võ thuật và truyền thống chơi gà chọi của người Việt Nam Người chủ kê chỉ được các tay chơi gà biết đến nếu con gà lập được công trạng Qua kinh nghiệm và cách săn sóc luyện tập mỗi con gà chọi ra trường đều mang niềm tự hào cho người chủ kê Các tay chơi
Trang 34gà thường bỏ nhiều thời gian chăm sóc gà chọi và đôi khi dẫn đến sự ham mê thái quá Khi nghe tiếng một con chiến kê tài giỏi thì dầu xa xôi đến đâu cũng tìm đến và nài mua cho bằng được Người chủ kê có chiến kê quý thì ngoài vấn đề tiền bạc bỏ ra, chủ kê còn giành nhiều thời gian để chăm sóc con gà của mình
Người Việt Nam nói riêng và các dân tộc Á Châu nói chung đã đúc rút kinh nghiệm từ thực tế những trận đánh của mỗi con gà từ đó đúc kết và rút kinh nghiệm lưu truyền lại cho thế hệ sau từ đó đạo kê được thành hình và
ra đời Nó là văn hoá của giới thượng lưu biết chữ vì họ thông suốt những tài
liệu đá gà được viết bằng Hán văn hoặc Hán Việt như Kinh Kê Những tài liệu
quý báu thường chỉ được lưu truyền trong giới thượng lưu và có tính chất bí truyền không được phép cho người ngoài biết Những người trẻ tuổi chập chững bước vào thú chơi đá gà thường "tầm thầy học đạo" trong quan hệ sư phụ và đệ tử Đối với một sư kê thì nỗi sung sướng và tự hào lớn nhất của họ
là khi dòng gà của mình ra trường đá thắng một con gà lừng danh khác đã có tên tuổi trong làng gà Những trận gà "để đời" như thế được kể lại và truyền miệng trong giới mộ điệu, tên tuổi của họ
Các sư kê thường giữ dòng gà riêng cho mình và không muốn thất thoát
ra ngoài, đây là lý do tại sao gà mái gốc không được bán ra Họ lo ngại khi dòng gà lọt ra ngoài sẽ giúp cho các đối thủ khám phá ra thế đá riêng của dòng gà đó và tìm cách khắc chế Câu thành ngữ của ông bà ngày xưa “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” không những chỉ áp dụng trong binh nghiệp mà còn được áp dụng trong phép đá gà Các dòng gà nổi tiếng vô địch thường vô giá và không thể nào mua cho dù ngay cả từ bạn bè thân
Ngày nay, người Việt vẫn tổ chức các buổi thi đá gà vào những dịp tết đầu năm để giữ tập tục cổ truyền của cha ông Các nông gia trong làng cũng thường tổ chức những buổi đá gà để giao lưu và phát triển dòng gà của mình
Hiện nay ở mỗi miền khác nhau thì dùng những từ ngữ chỉ gà chọi
Trang 35cũng khác nhau Ở miền Bắc người ta gọi là “gà chọi”, trong khi miền Trung thì gọi là “gà đá”, miền Nam lại gọi là “gà nòi” Do cách gọi khác nhau cho nên ngôn ngữ chỉ gà chọi cũng có nhiều từ ngữ khác nhau như ở bảng sau:
1.1 Các từ chỉ gà chọi ở các vùng miền trong nước STT Từ miền Bắc Từ Miền
Trung
Từ Miền Nam
1.5.2 Gây giống và tuyển chọn
Cách thức nuôi gà chọi đòi hỏi nhiều công phu Một cẩm nang trọn bộ
về cách săn sóc và tuyển lựa gà nòi là một đề tài sâu rộng mà luận văn này không thể đề cập hết được Trong luận văn này chúng tôi chỉ trình bày những điểm căn bản để có một hiểu biết khái quát về gà chọi và những kinh nghiệm
sẽ được đề cập đến trong những chương sau
Việc gây giống, những con gà mái gốc vừa bền vừa dữ cộng với một số
đặc tính trổi vượt khác về ngọai hình và diện mạo như đầu mỏ, đòn, vai vóc
Trang 36và sâu lườn sẽ được tuyển chọn Gà mái gốc được chọn trong khoảng từ 1 đến
6 năm tuổi Gà trống để đổ dòng là những con đã có thành tích vẻ vang nơi xới gà, ít nhất là đã ăn từ 2 độ trở lên, tuổi từ 1 năm rưỡi đến 5 năm và thuộc dòng gà khác Thời gian để thả gà phối giống là từ cuối tháng mười hai trở đi cho đến đầu tháng giêng Các phần dinh dưỡng cao được thêm vào khẩu phần của cặp gà giống gồm có rau, tạp chất, thóc lúa, các hợp chất vôi và tôm tép hay cá Các dinh dưỡng này thường được vỗ cho gà khoảng một tháng trước khi cho chúng phối giống Gà sẽ bắt đầu ấp và nở vào đầu mùa xuân
Vòng loại đầu, cách thức loại gà trong vòng này tùy thuộc vào mỗi
kinh nghiệm riêng của các sư kê Tuy nhiên dựa theo “Kinh kê”, một số sư kê
đã loại bỏ gà con vào lúc 2 tháng tuổi nếu những con gà con này có vảy xấu
Có khoảng 13 vảy xấu mà các sư kê dựa vào đó để “xem gà xét vảy” để loại
bỏ chúng
Vòng loại hai, khi được 7 tháng tuổi, các con gà tơ sẽ phải vượt qua
vòng hai Những con bị vẹo lườn, vẹo cổ, và hở xương ghim (xương chậu bên dưới gần hậu môn) sẽ bị loại bỏ
Hớt lông, có nhiều loại gà chọi có đặc điểm lông khác nhau do đặc tính
di truyền riêng của mỗi dòng Có loại gà nòi ít lông và trần trụi hơn loại khác
Để chuẩn bị gà trước khi mang ra trường thì các tay chơi gà thường hớt lông đầu, lông tơ và lông dưới cánh Thông thường thì gà chọi không cần phải hớt lông nhiều vì các phần như cổ, đầu và đùi thường trụi sẵn Lông đầu và cổ của gà chọi ròn và dễ gẫy nên sau một vài lần xổ (vần) là gà thường trụi lông nơi đầu và cổ
Đối với những loại gà có nhiều lông thì cần tỉa lông và có thể tỉa như sau: Lông đầu thường được tỉa và hớt sát để các sư kê dễ bề mổ xẻ hút máu bầm và khâu vá Ngoài ra, sự tỉa hớt cũng giúp cho gà không bị gà đối phương túm lông để đá Lông ở cổ và đùi gà nòi thường được hớt để vào nghệ và thuốc cho da gà dầy dạn chịu được những cú đá hay cào (bằng
móng) của gà đối phương vào những phần dễ bị trúng đòn như cổ, đầu, đùi
Trang 37và ngực Gà còn được tắm nghệ để teo mỡ
Lông tơ – loại lông này mọc dưới cánh bên trong nách gà và hai phía
bên hông cũng như dưới bụng gà Khi ra trận gà được hớt lông tơ mềm để sư
kê hay vào nước dễ dàng trong lúc làm nước, lau rửa làm gà mát gà vì thời tiết vào những tháng mùa hè nắng nóng, hơn nữa sẽ không làm gà thấm nước vào lông khó bay nhảy trong lúc thi đấu Phần lông ở ngực gà thường giữ nguyên không hớt
Các phương pháp tập luyện:
- Đi hơi (vần): Phương pháp này còn được gọi dưới nhiều tên khác như
vần hơi, xoay hơi, xổ hơi, quần hơi… Gà tơ vào khoảng 7 hay 8 tháng tuổi trở
lên là bắt đầu vào việc tập luyện Gà được bịt mỏ và cựa (nếu có) và chỉ có thể dùng cổ để xoay, đè đối phương vì không dùng mỏ để cắn để ra đòn Phương pháp này giúp gà quen dần với sức chịu đựng, bền sức và giúp chủ kê khám phá ra tính nết và nước đá của gà nhà, xem nó thiện nghệ một mé hay hai mé khi xoay sở
- Chạy lồng: Một con gà mồi sẽ được nhốt trong một cái lồng (bội) tre,
phía bên ngoài chụp thêm một cái lồng tre lớn hơn để gà không thể mổ hay cắn lẫn nhau Con gà bên ngoài sẽ chạy quanh lồng gà vì tức khí và muốn tìm cách chui vào bên trong gặp đối thủ Phương pháp này có thể tập luyện cả giờ
và giúp cho gà phát triển bắp thịt nơi đùi và chân
- Vô nghệ: Tất cả gà chuẩn bị ra trường đều được vào nghệ có pha lẫn với
các vị thuốc để giúp cho phần da lộ ra không những mau đỏ da thắm thịt mà còn giúp cho lớp da được chai sạn lại để chịu đòn
- Dầm cán: Chân gà được ngâm vào một dung dịch thuốc pha với nước
tiểu hay muối để giúp cho chân gà săn chắc lại Có thể ngâm chân gà ngày hai lần sáng và tối mỗi lần 30 phút Phương pháp này giúp cho các ngón chân và quản gà rắn chắc khi ra đòn đá đau và chắc hơn
- Quần sương (phơi sương): Các sư kê tin rằng sương buổi sáng sớm tinh
khiết giúp cho gà khỏe mạnh trong lúc tập luyện Mỗi sáng khi gà cất
Trang 38tiếng gáy đầu tiên là gà được thả ra sân sớm trong lúc trời còn đang tờ mờ
để vươn vai, đập cánh gáy đi lại trong sân khi sương chưa tan
- Om: Gà được tắm rửa và xông hơi hằng ngày bằng khăn ấm với một nồi
nước nấu bằng các vị thuốc Nam như trà xanh, gừng, ngải cứu… để giúp gà khỏe mạnh
- Sổ (khảo): Gà được cáp với gà cùng chặng, cùng tuổi để “đá thử sức” và
tập cho quen dần với cách giao nạp( buông, đá), nhập trận thế và cách làm nước của sư kê Mỗi lần xổ gà thường là một đến hai hiệp
Gà chọi có bộ xương rất lớn do đó muốn gà phát triển đúng mức cần phải
có thời gian và đủ kiên nhẫn để gà lớn lên một cách bình thường Trung bình vào một năm tuổi (12 tháng) là lúc gà đã cứng cáp và bắt đầu vào chương trình tập luyện chuẩn bị cho việc ra trường Sau 6 tháng áp dụng những phương pháp huấn luyện trên, khi được 1 năm rưỡi (18 tháng) là gà đã rắn chắc như một thỏi sắt tôi luyện và có nội lực và ngoại hình sung mãn sẵn sàng
ra trường đụng gà khác Các sư kê dày dạn kinh nghiệm thường nuôi và tập luyện gà đúng giấc(độ) mới mang ra thi đấu, trong khi các tay chơi gà trẻ tuổi không có nhiều kinh nghiệm và háo thắng hay ép gà đá non chưa đủ lực thường chịu thảm bại dưới tay các bậc đàn anh trong nghề
Luật trường gà khác nhau tùy từng địa phương, vùng miền Ở miền Bắc, trong bản nội quy trường gà ở xới Yên Sở thì mỗi hiệp đấu được ấn định là 15 phút, nghỉ và làm nước là 5 phút Không có giới hạn mỗi trận đấu gà là bao nhiêu hiệp, số hiệp của một trận đá gà có thể được thỏa thuận giữa hai chủ kê Các chi tiết như khớp mỏ, chắp lông, may mắt v.v có thể khác biệt giữa các trường gà
Luật trường gà ở miền Trung thì tại tỉnh Bình Định quy định mỗi một hiệp (ôm, hồ)) được ấn định là 20 phút Gà ra nghỉ giữa hồ( hiệp, ôm) làm nước cho nghỉ 5 phút Gà nòi ra trường cáp độ được phân loại theo sức nặng như sau:
- Hạng nhẹ - dưới 3 kg
Trang 39- Hạng trung - từ 3 đến 3,5 kg
- Hạng nặng - trên 3,5 kg
Luật trường gà tại miền Nam, ở Sài Gòn thì quy định mỗi hiệp là 15
phút, làm nước nghỉ cũng 5 phút như các nơi khác Các tay chơi gà thường dùng chữ "chặng" (đọc trạng thành chặng) để phân loại gà thành 3 cỡ như sau:
để tránh sự theo dõi và bắt bớ của lực lượng công an, cảnh sát Trước đây những trận gà cựa đá bằng cựa thật thường được cáp( cá độ) tại trường gần giống như lối cáp( cá độ) của gà đòn nhưng sau này không thông dụng do lệnh cấm của nhà nước nên hiện nay các trận gà cựa được tổ chức tại các
Đấu trường là nơi gà tranh tài trong những trận đá được gọi là "xới gà" (tiếng miền Bắc) hay "trường gà" (tiếng miền Nam, miền Trung) Các đấu trường ở miền Bắc và Trung đặc biệt dành riêng cho gà đòn Thú vui đá gà ở Việt Nam mặc dầu vi phạm luật pháp và không được chấp nhận nhưng nhà nước cũng dễ dãi cho thể loại đá đòn
Như vậy, gà chọi không chỉ là thú chơi mà xung quanh con gà chọi
có rất nhiều vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, đến văn hóa và mối quan hệ
Trang 40giữa ngôn ngữ và văn hóa
Tiểu kết
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bản thân nó có tính chất hoàn chỉnh
cả về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa Vì là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất nên khả năng độc lập khi hành chức là một điều hiển nhiên Đây là một đặc điểm nổi bật để phân biệt từ với các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ
Ngữ được hiểu là những cụm từ( từ tổ) được tạo bởi mối quan hệ ngữ pháp nhất định và luôn thể hiện hai đặc trưng cơ bản là tính cố định và tính thành ngữ, có giá trị về mặt ngữ nghĩa
Nghĩa, hiểu một cách khái quát là hiện thực được phản ánh vào trong nhận thức, tạo nên mối liên hệ thường trực, liên tục với một hình thức âm thanh nhất định, nhờ đó sự phản ánh này được hiện thực hoá bằng ngôn ngữ
Trường từ vựng - ngữ nghĩa là dựa trên cơ sở chung nghĩa nhất định, các đơn vị từ vựng được tập hợp lại với nhau tạo thành các trường nghĩa trong đó các đơn vị ngôn ngữ tập hợp lại do sự đồng nhất về nội dung và có quan hệ với nhau mang tính chất thứ bậc, có thể chia thành nhiều trường nhỏ hơn Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá được hiểu là mối quan hệ gắn bó hữu cơ, ngôn ngữ là thành tố của văn hoá và ngược lại ngôn ngữ là phương tiện để cho văn hoá hoá được bộc lộ, không có văn hoá năm ngoài ngôn ngữ
Từ việc tìm hiểu ngôn ngữ ở một góc độ nhất định, chúng ta đã đi khám phá những giá trị văn hoá ẩn chứa trong nó
Vài nét về lịch sử ra đời và tồn tại đến ngày nay vừa mang đặc trưng của văn hoá Hội làng của Người Việt Đồng thời nó cũng thể hiện cách chăm sóc, tuyển chọn và huấn luyện gà chọi một cách công phu, một thú chơi tao nhã của người Việt