TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Quang Linh Tên luận văn: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Yên M
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUANG LINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Văn Nhạ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực
và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Quang Linh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Văn Nhạ đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Quy hoạch Đất đai, Khoa Quản lý Đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức huyện Yên Mô, phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Yên Mô, các phòng, ban, cán bộ và nhân dân các phường, xã nơi có dự án GPMB đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Lê Quang Linh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục đồ thị, hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4.1 Những đóng góp mới của đề tài 3
1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở lý luận của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 4
2.1.2 Đặc điểm, những yếu tố tác động đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5
2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ ở một số nước trên thế giới 11
2.2.1 Trung Quốc 11
2.2.2 Thái Lan 12
2.2.3 Hàn Quốc 14
2.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 15
2.3.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 15
2.3.2 Một số quy định về công tác GPMB ở Việt Nam hiện nay 20
Trang 52.4 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại Việt Nam và
tỉnh Ninh Bình 24
2.4.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 24
2.4.2 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Ninh Bình 27
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Địa điểm nghiên cứu 34
3.2 Thời gian nghiên cứu 34
3.3 Đối tượng nghiên cứu 34
3.4 Nội dung nghiên cứu 34
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình 34
3.4.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai 34
3.4.3 Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mô 34
3.4.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại các dự án 35
3.5 Phương pháp nghiên cứu 36
3.5.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 36
3.5.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.5.3 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 37
3.5.4 Phương pháp so sánh, đánh giá 38
3.5.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu 38
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 39
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Yên Mô - tỉnh Ninh Bình 39
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 43
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 49
4.2 Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Yên Mô 50
4.2.1 Tình hình quản lý đất đai 50
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 55
Trang 64.3 Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mô 56
4.3.1 Kết quả bồı thường hỗ trợ, táı định cư trên địa bàn huyện Yên Mô từ năm 2016 đến đầu năm 2019 56
4.3.2 Kết quả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 02 dự án nghıên cứu 58
4.3.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 74
4.4 Giải pháp về thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án 84
4.4.1 Giải pháp về tăng giá bồi thường về đất và tài sản gắn liền trên đất 84
4.4.2 Giải pháp giảm bớt các trình tự, thủ tục trong công tác GPMB 85
4.4.3 Giải pháp về tăng cường, nâng cao và tuyên truyền công tác quản lý đất đai 85
4.4.4 Giải pháp về tăng mức hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất 87
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Kiến nghị 89
Tài liệu tham khảo 90
Phụ lục 98
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BT – HT - TĐC Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư BTN&MT Bộ Tài nguyên và Môi Trường CNH - HĐH Công nghịêp hoá - Hiện đại hoá
XD - TM - DV Xây dựng - Thương mại - Dịch vụ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Biến động đất đai giai đoạn 2016 - 31/12/2019 của huyện Yên Mô 55
Bảng 4.2 Kết quả bồi thường GPMB các dự án trên địa bàn huyện Yên Mô từ năm 2016 năm 2019 57
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CCN Khánh Thượng 62
Bảng 4.4 Kết quả bồi thường về đất dự án xây dựng CCN Khánh Thượng 63
Bảng 4.5 Kết quả bồi thường Cây cối, hoa màu có trên đất dự án đầu tư xây dựng CCN Khánh Thượng 64
Bảng 4.6 Kết quả bồi thường tài sản, vật kiến trúc dự án CCN Khánh Thượng 64
Bảng 4.7 Kết quả bồi thường mộ đất tại dự án CCN Khánh Thượng 65
Bảng 4.8 Kết quả bồi thường tại dự án CCN Khánh Thượng 65
Bảng 4.9 Bảng Tổng hợp kết quả hỗ trợ tại dự án CCN Khánh Thượng 67
Bảng 4.10 Bảng thống kê diện tích thu hồi đất ở dự án CCN Khánh Thượng 68
- Vị trí giao đất tái định cư: 68
Bảng 4.12 Kết quả bồi thường về đất và cây cối, hoa màu có trên đất dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện 70
Bảng 4.13 Kết quả bồi thường Tài sản, vật kiến trúc tại dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện 71
Bảng 4.14 Kết quả bồi thường tại dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện 72
Bảng 4.15 Bảng Tổng hợp kết quả hỗ trợ tại dự án dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện 72
Bảng 4.16 Kết quả phỏng vấn về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các hộ dân tại 2 dự án 74
Bảng 4.17 Kiến nghị của hộ dân về giá bồi thường đất 76
Bảng 4.18 Đánh giá sự minh bạch đối với việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước 77
Bảng 4.19 Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân thuộc 02 dự án 78
Bảng 4.20 Đánh giá việc thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 79
Trang 9Bảng 4.21 Kết quả phỏng vấn về mức phù hợp đơn giá bồi thường, hỗ trợ tại
02 dự án 80 Bảng 4.22 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất tại 02
dự án 81
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Yên Mô năm 2019 43
Hình 4.1 Trích lục vị trí dự án xây dựng Cụm Công nghiệp Khánh Thượng 59
Hình 4.2 Trích lục vị trí dự án Xây dựng Trụ sở bảo hiểm huyện Yên Mô 60
Hình 4.3 Mặt bằng bố trí tái định cư xã Khánh Thượng 68
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Lê Quang Linh
Tên luận văn: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình”
Ngành: Quản lý đất đai; Mã số: 88 501 03
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp Khánh Thượng tại xã Khánh Thượng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; Dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện Yên Mô tại Thị trấn Yên Thịnh, huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp để bổ sung, góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trong dự án
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, sử dụng kết hợp 2 nhóm phương pháp chính đó là thu thập tài liệu
số liệu và xử lý số liệu và được chia thành 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sau khi thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp, sơ cấp tiến hành chọn dự án và điều tra 100 phiếu trong đó có 84 phiếu điều người dân là đại diện của các hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi, 16 phiếu cán bộ trực tiếp tham gia trực tiếp công tác thu hồi đất Giai đoạn 2: Sử dụng phương pháp phân tích định lượng và định tính (thống kê
mô tả) trong SPSS để thống kê đặc tính của các đối tượng điều tra theo nhóm; phương pháp thống kê so sánh; phương pháp so sánh, đánh giá
Kết quả chính và kết luận
1 Huyện Yên Mô hiện có 16 xã và thị trấn Yên Thịnh với tổng diện tích tự nhiên
là 14.609,77 ha và dân số 118.693 người (2019) Có vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới cơ
sở hạ tầng của huyện tương đối hoàn thiện, nhất là hệ thông đường giao thông khá tốt Đây là lợi thế lớn để huyện phát triển sản xuất hàng hoá, mở rộng giao thương với các địa phương Hiện nay trong cơ cấu kinh tế của Huyện Yên Mô tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm cao nhất là 46,5%; ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 27,3%; ngành dịch vụ chiếm 26,2% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp
2 Công tác quản lý đất đai của huyện Yên Mô đã thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật Tính từ năm 2016 đến hết năm 2019, để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất phục
Trang 12vụ vào phát triển kinh tế, huyện Yên Mô đã thực hiện thu hồi đất tại 54 dự án bao gồm: Dự
án Đấu giá quyền sử dụng đất cho nhân dân làm nhà ở (24 dự án); Dự án xây dựng Trụ sở
cơ quan làm việc (04 dự án); Dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội (26 dự án)
3 Việc thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số
dự án trên địa bàn huyện Yên Mô cụ thể như sau:
Công tác thu hồi đất được thực hiện theo đúng trình tự, quy trình và đảm bảo tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch Kết quả thu hồi đất tại dự án Đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp Khánh Thượng là 505.520,6 m2 của 330 hộ gia đình và UBND xã quản lý (bao gồm 133.312,8 m2 đất màu; 42.132,7 m2 đất lúa màu; 296.719,3 m2 đất 2 lúa; 825 m2 đất ở, 10.858 m2 đất giao thông; 15.026,8 m2 đất thủy lợi; 5.169 m2 đất nghĩa địa; 1.477 m2 đất chưa sử dụng); tại dự án Xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện là 3.020,7 m2 của 24 hộ gia đình (bao gồm 3.020,7 m2 đất màu, 116 m2 đất ở) Trong quá trình triển khai thực thi các dự án thì các chính sách hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng của các dự án nhìn chung khá tốt, thực thi nghiêm túc, giảm bớt khó khăn và góp phần giúp cho người dân khắc ổn định lại đời sống, kinh tế Tuy nhiên vẫn còn một số hộ dân cho rằng các khoản hỗ trợ là còn thấp hơn so với thị trường hiện hành, qua đó phần nào đã gây không ít thiệt thòi cho người dân Bên cạnh đó, chính sách tái định cư chỉ đáp ứng chỗ ở mới nhưng lại chưa đề cập đến quyền lợi và trách nhiệm của người bị thu hồi đất cho nhu cầu vào ở khu tái định cư, các dự án trong khi triển khai thường không khảo sát hết các nhu cầu về tái định cư của người dân trong diện phải di dời khi bị thu hồi đất, do vậy công tác này còn gặp nhiều khó khăn
4 Để khắc phục những tồn tại, nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư huyện Yên Mô cần thực hiện đồng bộ nhóm các giải pháp sau:Giải pháp về tăng giá bồi thường về đất và tài sản có trên đất; Giải pháp giảm bớt các trình tự, thủ tục trong công tác GPMB; giải pháp về tăng cường, nâng cao và tuyên truyền công tác quản
lý đất đai; Giải pháp về tăng cường hỗ trợ cho người dân bị mất đất
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Le Quang Linh
Thesis title: “Evaluation of compensation, support and resettlement when the State
recovers land to implement a number of projects in Yen Mo distric, Ninh Binh province”
Major: Land Management; Code: 88 501 03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- To assess the status of compensation, support and resettlement when the State recovers land to implement the project of constructing Khanh Thuong industrial cluster in Khanh Thuong commune, Yen Mo district, Ninh Binh province; Project on building bases
of Yen Mo district social insurance office in Yen Thinh town, Yen Mo district, Ninh Binh province
- To propose a number of solutions to supplement and contribute to the completion
of compensation, support and resettlement policies when the State recovers land to ensure the lawful interests of organizations, households and individuals with land was revoked in the project
Stage 2: Using quantitative and qualitative analysis methods (descriptive statistics)
in SPSS to statistic the characteristics of the surveyed objects in groups; Comparative statistical methods; Comparative methods, evaluation
Main findings and conclusions
1 Yen Mo district currently has 16 communes and Yen Thinh town with a total natural area of 14,609.77 ha and a population of 118,693 people (2019) Having favorable geographical position, the district's infrastructure network is relatively complete, especially quite good road system This is a great advantage for the district to develop
Trang 14commodity production, expand trade with localities Currently in the economic structure
of Yen Mo district, the highest proportion of industry, handicraft and construction accounts for 46.5%; agriculture, forestry and fishery accounted for 27.3%; service sector accounted for 26.2% The economic structure has shifted towards increasing the proportion of industry and services, reducing the proportion of agriculture
2 The land management of Yen Mo district has complied with legal documents From
2016 to the end of 2019, in order to meet the demand of land use for economic development, Yen Mo district has implemented land acquisition in 54 projects including: Auction project of land use right for people build houses (24 projects); Construction project of Head office (04 projects); Projects for socio-economic development (26 projects)
3 Implementation of land acquisition, compensation, support and resettlement in some projects in Yen Mo district is as follows:
Land acquisition was carried out in the right order, process and assurance of public principles, transparent The result of land acquisition at Khanh Thuong Industrial Cluster investment project is 505,520.6 m2 of 330 households and The People’s Committee of the commune manages (including 133,312.8 m2 of rich soil; 42,132.7 m2 of rich rice land; 296,719.3 m2 of two rice soil; 825 m2 of residential land; 10,858 m2 of traffic land; 15,026.8 m2 of irrigation land; 5,169 m2 of cemetery land; 1,477 m2 of unused land); at the District Social Insurance Headquarters Building project is 3,020.7 m2 of 24 households (including 3,020.7 m2 of rich soil and 116 m2 of residential land)
In the process of implementing projects, the support policies for the affected people of the projects are generally quite good, seriously implemented, reducing difficulties and contributing to help people stabilize their lives, economy However, there are still some households who believe that the support is lower than the current market, thereby partly causing disadvantages for people Beside, the resettlement policy only satisfies new accommodation but does not mention the rights and responsibilities of people whose land is recovered for demand to enter resettlement areas and projects during the implementation not fully surveying the needs of resettlement of people who have to be relocated when their land
is acquired, so this work still faces many difficulties
4 In order to overcome these shortcomings, to improve the efficiency of the work of compensation, support and resettlement in Yen Mo district, it is necessary to synchronously implement the following groups of solutions: Solutions to increase compensation prices for land and properties above land; Solutions to reduce the order and procedures in land clearance work; solutions to strengthening, improving and propagating land management work; Solutions to increase support for people losing land
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa bàn để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh; là nguồn vốn, nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây, việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới đã phát triển nhanh đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, một diện tích lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất tại các khu vực nông thôn được thu hồi sử dụng vào mục đích phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng Việc thu hồi đất diễn ra trên diện rộng trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống nhân dân và tình hình kinh tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực
Chính sách bồi thường của Nhà nước, việc thực thi chính sách, pháp luật của các địa phương còn một số nơi chưa thực sự thỏa đáng cũng là nguyên nhân gây nên những bất hợp lý, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người, kéo dài tạo
ra những điểm nóng về chính trị, xã hội Một chính sách hợp lý phải bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng phải có tác dụng ngăn chặn những người có tư tưởng cơ hội, lợi dụng nhu cầu bức thiết của Nhà nước để đưa ra những đòi hỏi bất hợp lý
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã xây dựng, ban hành và triển khai nhiều văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất
bị thu hồi Những bất cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế Tuy nhiên, công tác thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi vẫn là những vấn đề nóng, gây nên sự chú ý của xã hội; Thu hồi đất là vấn đề khó khăn, phức tạp do nó tác động trực tiếp đến đời sống, việc làm, sản xuất, kinh doanh… của hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
có đất bị thu hồi (Phạm Phương Nam và cs., 2013) Việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi không đúng giá trị thị trường đã phát sinh nhiều khiếu kiện đông người kéo dài, mang tính chất điểm nóng (Lê Thị Hương Giang, 2014; Nguyễn Tiến
Sỹ và cs, 2018)
Trang 16Huyện Yên Mô là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội phía Nam của tỉnh Ninh Bình Huyện có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng, có nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đang phát triển Để đáp ứng yêu cầu đó huyện đã kêu gọi đầu tư các
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ phát triển đời sống và kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Những năm qua, công tác GPMB của huyện luôn nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự giúp đỡ của các
sở, ban, ngành của tỉnh, cấp ủy, chính quyền các cấp trong huyện đã chỉ đạo quyết liệt, vào cuộc tích cực để chỉ đạo thực hiện các bước trong công tác bồi thường - giải phóng mặt bằng, triển khai thực hiện các dự án đường cao tốc, xây dựng các khu, cụm công nghiệp, tiêu biểu như: Đường kết nối cao tốc Cầu giẽ - Ninh Bình với Quốc lộ 1A; tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam; Cụm công nghiệp Mai Sơn, Cụm công nghiệp Khánh Thượng, Cụm công nghiệp Yên Lâm, đặc biệt là trong 2 năm 2017, 2018 và đầu năm 2019, Huyện đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực đất đai, bồi thường GPMB, quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng Qua đó, đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ và nhân dân về lĩnh vực đất đai, bồi thường GPMB, tạo thuận lợi trong quá trình triển khai các dự án, bàn giao mặt bằng đúng thời hạn Kết quả cụ thể: Tính đến tháng 6/2019, Huyện đã thực hiện GPMB được 317,48/377,17
ha (đạt 84,17% so với kế hoạch) Trong đó, Đường kết nối cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình với Quốc lộ 1A 0,9ha; Cụm công nghiệp Khánh Thượng đã GPMB được 50,5ha; Cụm công nghiệp Mai Sơn được 49,7ha; các dự án đấu giá quyền sử dụng đất đã GPMB được 136,3/186,7ha; và tại một số thôn đã hoàn thành xong chi trả tiền đất bồi thường, hỗ trợ cho nhân dân Góp phần đẩy nhanh tiến độ đầu tư của các doanh nghiệp vào huyện
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người
có đất bị thu hồi cần phải có nhiều nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách quan thực trạng công tác bồi thường GPMB; nắm rõ bản chất của các vấn đề còn bất
cập Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” là cần thiết trong thời điểm hiện nay
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất thực hiện một số dự án trên địa bàn huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
Trang 17- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án trên địa bàn huyện Yên Mô
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở xác định được những vấn đề tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Yên Mô, từ đó đề xuất một số giải pháp để công tác quản lý đất đai hiệu quả hơn
1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Góp phần bổ sung những cơ sở khoa học về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn nghiên cứu; bổ sung cơ sở thực tiễn về việc thực hiện chức năng quản lý đất đai, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)
Giải phóng mặt bằng (GPMB) là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phần đất nhất định được quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó Trong thực tế có thể thấy quá trình bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để GPMB nhằm phục vụ thực hiện các dự án đầu tư đó là quá trình giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể được Nhà nước giao đất với các hình thức bồi thường có thể bằng tiền hoặc các vật chất khác tùy theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhằm bù đắp lại những lợi ích đã bị mất mát trong quá trình thu hồi đất và quá trình này phải được thực hiện dựa trên những chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được bắt đầu từ khi thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cho tới khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư
Trang 19Có 4 loại hỗ trợ, cụ thể:
- Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;
- Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
- Hỗ trợ khác
Như vậy, khác với bồi thường là việc chi trả lại một cách tương xứng những giá trị bị thiệt hại, thì hỗ trợ mang tính chính sách, trợ giúp thêm của nhà nước đối vợi sự mất mát của người dân phải chịu khi bị thu hồi đất thực hiện những lợi ích chung của đất nước, cộng đồng
* Tái định cư: (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để
sinh sống và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi đất hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản;
di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó
Như vậy, tái định cư nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế, xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở;
- Bồi thường bằng giao đất ở mới;
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
2.1.2 Đặc điểm, những yếu tố tác động đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.1.2.1 Đặc điểm của quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
a Tính đa dạng
Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung
Trang 20dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
b Tính phức tạp
Đất đai là tài sản có giá trị, có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn, do
đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn Bởi vậy, để đảm bảo ổn định đời sống dân cư cần thiết phải thực hiện tốt việc hỗ trợ, chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân
- Đối với đất ở phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở
+ Nguồn gốc với chế độ quản lý khác nhau qua nhiều thời kỳ, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép
+ Thiếu quỹ đất để xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định
cư thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân
+ Ở một số vùng, người dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám sát vào các trục đường giao thông, nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển (Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2014)
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
a Việc ban hành thực thi các văn bản quy phạm pháp luật đất đai
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền KT-XH Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế
Tất cả các quốc gia trong quá trình phát triển đều có nhu cầu sử dụng đất đai
để xây dựng công trình hạ tầng, công trình phúc lợi xã hội, thực hiện các quy hoạch
Trang 21chi tiết để phục vụ lợi ích công cộng Do có tính chất đặc thù nên việc cung ứng đất đai không thể dựa vào cơ chế thị trường, mà phải thông qua biện pháp mang tính bắt buộc gọi là trưng thu, trưng dụng có bồi thường (Đào Trung Chính, 2014) Bên cạnh ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng vai trò rất quan trọng Nhận thức của người dân
và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các
cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ GPMB
b Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai có hạn về không gian sử dụng, để tồn tại và duy trì cuộc sống của mình con người phải dựa vào đất đai, khai thác và sử dụng đất đai để sinh sống Quy hoạch sử dụng đất đai là biện pháp quản lý không thể thiếu được trong việc tổ chức sử dụng đất của các ngành kinh tế - xã hội và các địa phương, là công cụ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tác dụng quyết định để cân đối giữa nhiệm
vụ an toàn lương thực với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và các địa phương nói riêng
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ tạo cung cho thị trường
mà còn là phương tiện quan trọng nhất để thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh trong đền bù có tổ chức tái định cư và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường
c Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013,
Trang 22người sử dụng đất đai phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất
Trong công tác bồi thường, GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai Cấp GCNQSDĐ thì công tác bồi thường, GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn (Tôn Gia Huyên & Nguyễn Đình Bồng, 2007)
- Do UBND các Tỉnh, Thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công khai ngày 01 tháng 01 hàng năm
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Định giá đất gắn liền với việc gắn liền với việc xác định thuế và mức thuế nhà đất/ bất động sản, thuế thừa kế đánh vào di sản của người đã chết, thuế trước bạ, thuế hiến tặng, tiền đền bù phải trả hoặc truy thu, tiền thuế nhà đất/BĐS, ngoài ra còn liên quan đến các dịch vụ công, quản lý đất TĐC…Định giá đất là cơ sở của quản lý giá đất, tiêu chuẩn giá đất được định ra một cách khoa học là yêu cầu của việc sử dụng hợp lý đất đai, quản lý đất đai và giá đất cả ở tầm vĩ mô, vi mô Định giá đất cung cấp tiêu chuẩn thị trường cho việc hoạch định chính sách quản lý giá đất, đồng thời các tài liệu thị trường về tiêu chuẩn, quy phạm quản lý giá đất thúc
Trang 23đẩy hệ thống hóa phương pháp định giá và nâng cao độ chính xác của công tác định giá Có sự quan hệ rất mật thiết của việc giữa việc định giá đất với việc quản lý đất đai và thị trường BĐS Quản lý tốt giá đất sẽ mang đến những tác động tích cực sau đây: đề phòng được giá cả đất đai tăng đột biến; đề phòng được nạn đầu cơ đất đai, thúc đẩy sử dụng đất hợp lý; quy phạm hóa được hành vi giao dịch của hai bên, góp phần xây dựng một thị trường đất đai có quy phạm, định giá đất được khách quan và chính xác; ngăn chặn được thất thoát thu lợi của đất đai quốc hữu (Tôn Gia Huyên & Nguyễn Đình Bồng, 2007)
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện
Luật Đất đai năm 2013, ngoài việc tiếp tục quy định khung giá các loại đất, bảng giá đất, còn bổ sung quy định giá đất cụ thể Bên cạnh đó, Luật Đất đai quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất Bỏ việc công bố bảng giá đất vào ngày 1/1 hàng năm Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay thế cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định tại Luật Đất đai 2003
e Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng
Trong quá trình phát triển của mỗi địa phương, Nhà nước thu hồi những vùng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cấp thoát nước; cơ sở hạ tầng xã hội: bệnh viện, trường học, khu vui chơi giải trí, thể dục thể thao; các cơ sở sản xuất lớn và nhỏ: khu công nghiệp; mở rộng đô thị, sắp xếp lại hệ thống dân cư…là quy luật tất yếu của sự phát triển Tỷ lệ dân số đô thị cũng cao, đặc biệt ở các đô thị phát triển Như vậy xu hướng đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, quy hoạch các khu dân cư, khu kinh tế… sẽ đáp ứng cho nhu cầu phát triển quốc gia
Giải phóng mặt bằng có vai trò tất yếu của quá trình đổi mới
Cùng với quá trình đô thị hoá, dân số ngày một gia tăng do hai nguyên nhân chính là sự tăng tự nhiên và tăng cơ học Đáp ứng nhu cầu này cần GPMB nhằm tạo
ra quỹ đất sạch để xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội và phục
vụ đời sống
Trang 24Công tác giải phóng mặt bằng góp phần đẩy nhanh công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một công cụ quản lý của Nhà nước nhằm quản lý thống nhất toàn bộ đất đai trên phạm vi cả nước, đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả…Quy hoạch sử dụng đất là việc bố trí, sắp xếp, phân bổ lại quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng cụ thể phù hợp với giai đoạn phát triển cả nước và từng địa phương Kế hoạch sử dụng đất là việc lập ra các chương trình, dự án, mục tiêu nhằm thực hiện quy hoạch sử dụng đất đã đề ra
Thực tế các khu dân cư, khu công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp hình thành
và phát triển tự nhiên nên manh mún, nhỏ lẻ và thiếu đồng bộ dẫn tới một lượng đất đai bị sử dụng lãng phí, kém hiệu quả Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước đã tiến hành bố trí, sắp xếp lại quy mô cũng như cơ cấu sử dụng đất trong
cả nước nhằm sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực đất đai
Công tác GPMB góp phần sử dụng nguồn lực đất đai một cách có hiệu quả, là yếu tố không thể thiếu trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổng thể cũng như chi tiết
* Bồi thường GPMB
Bồi thường GPMB có thể hiểu là việc chi trả, bù đắp những tổn thất về đất đai
và tài sản gắn liền với đất, những chi phí tháo dỡ, di chuyển nhà cửa, vật kiến trúc, công trình hạ tầng kỹ thuật, cây cối hoa màu và chi phí để ổn định đời sống, chuyển đổi nghề nghiệp cho người sử dụng đất đai khi Nhà nước thu hồi đất đó để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng cộng, phát triển kinh tế
* Đặc điểm quá trình bồi thường
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính đa dạng và phức tạp
Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực đô thị, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
Trang 25Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất Công tác tuyên truyền, vận động Người dân tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống Người dân sau này
2.2 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Trung Quốc
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng,
an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc là cho thuê đất
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường
và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ được chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước
Trang 26Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000-2.175.000 nhân dân tệ/ha
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất
Về nguyên tắc bồi thường: các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho người
dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn nhà mới Còn đối với người dân khu vực vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn nhà cùng một nơi
Tuy nhiên, ở thành thị cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua được căn nhà để ở Những đối tượng trong diện giải tỏa mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải tỏa mặt bằng: Cục quản lý tài nguyên đất
đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải tỏa mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn
vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải tỏa
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và tái định cư của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà sức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì luật về tái định cư của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện tái định cư”
2.2.2 Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá
Trang 27trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù
Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường
Pháp luật đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về đất đai Do vậy nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ một dự
án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án và chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng
Năm 1987 Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh quốc phòng Luật BE 2530 quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế hoạch bồi thường trình các cấp phê duyệt Luật còn quy định thủ tục thành lập các
cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường tái định cư, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án
Ở Thái Lan việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị di dời được thực hiện rất tốt, gần như ngay từ đầu, xấp xỉ 100% các hộ dân đã hiểu và chấp hành các chính sách bồi thường, GPMB của Nhà nước
Bên cạnh đó việc bố trí cán bộ có phẩm chất, năng lực chuyên môn được quan tâm nhiều Và việc thống nhất chỉ đạo, tổ chức rất rõ ràng, nhất quán đã góp phần quan trọng để đẩy nhanh tiến độ
Về giá đất làm căn cứ bồi thường thiệt hại: căn cứ vào giá do một Uỷ ban của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất động sản Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt Nếu phải di chuyển nhà đến nơi mới, Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần, được cho thuê hay mua trả góp Tuy nhiên cũng có trường hợp bên bị thu hồi không chấp nhận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, xem xét một lần nữa xem đã hợp lý chưa và
dù đúng hay không nếu người bị thu hồi không chuyển đi sẽ bị cưỡng chế thực hiện Việc khiếu nại sẽ tiếp tục do toà án giải quyết
Việc chuẩn bị khu tái định cư được Nhà nước quan tâm đúng mức, luôn đáp
Trang 28ứng đầy đủ các yêu cầu TĐC, cho nên họ chủ động được công tác này
Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng được di dời thực hiện rất tốt, việc bố trí cán bộ có thẩm chất, năng lực phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng rất được quan tâm, các tổ chức chuyên trách thực hiện công tác này
Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quá trình giải quyết vấn đề, cũng góp phần đẩy mạnh tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
2.2.3 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, những năm gần đây, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Seoul đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như bồi thường, hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư
Việc bồi thường cũng có quy định như sau: Đối với thửa đất được sử dụng thông qua đàm phán hoặc xét xử của toà án, khoản bồi thường sẽ được tính dựa trên mức giá công bằng, có tính tới giá thuê, mục đích sử dụng, thời gian sử dụng và giá của những thửa đất tương tự gần đó Việc định giá để bồi thường sẽ do chuyên gia định giá tư nhân thực hiện, mức bồi thường sẽ được tính là mức trung bình của các giá trị định giá Nếu giá trị định giá cao nhất và thấp nhất chênh lệch 10% hoặc nhiều hơn sẽ có chuyên gia định giá khác thực hiện tiếp việc định giá, sau đó việc bồi thường sẽ được tính toán lại
Hình thức bồi thường: Bồi thường được trả bằng tiền mặt Các chủ sở hữu tài sản bị thu hồi có thể lựa chọn các hình thức khác, không phải tiền mặt, bao gồm đất thay thế hoặc nhà ở xã hội
Mức bồi thường: Đối với đất nông nghiệp, nếu như đất bị thu hồi trước khi thu hoạch hoa màu, giá trị hoa màu đó sẽ đươc bồi thường Khoản bồi thường được tính dựa trên số hoa màu thực tế được trồng tại thời điểm dự án được công bố Khoản bồi thường cũng tính để đủ hỗ trợ người nông dân phục hồi lại việc sản xuất của mình Khoản bồi thường được tính trên cơ sở 2 lần tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp Đất
ở và các loại đất khác được bồi thường theo giá thị trường
Đối với công trình xây dựng hợp pháp sẽ được bồi thường, công trình xây dựng sau thời điểm công bố dự án sẽ không được bồi thường Bồi thường ảnh hưởng cho
Trang 29hoạt động kinh doanh được tính dựa trên thiệt hại về thu nhập hoặc lợi nhuận, không dựa trên tài sản hiện có Để được bồi thường, cơ sở kinh doanh cần có những trang thiết bị cần thiết và có mặt bằng sản xuất hợp pháp trước ngày công bố dự án Không bồi thường cho các cơ sở sản xuất kinh doanh không phép Bồi thường cho các chi phí lắp đặt các trang thiết bị của cơ sở sản xuất sẽ được tính riêng
Mặc dù không có quy định rõ ràng trong Luật thu hồi và bồi thường về việc phục hồi thu nhập Tuy nhiên, luật mới ban hành đưa ra một số căn cứ để hỗ trợ sinh hoạt, bao gồm:
Đào tạo nghề và ưu tiên tuyển dụng trong các dự án xây dựng khu đô thị
Về tái định cư: Khu tái định cư phải bao gồm các cơ sở hạ tầng thiết yếu như đường xá, hệ thống cấp nước và nước thải Chi phí cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng này sẽ do chủ đầu tư chi trả
2.3 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
2.3.1 Những văn bản pháp quy của Nhà nước về chính sách bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1993
Văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam là Nghị định 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất
Về mức và cách tính bồi thường, Nghị định 151/TTg có quy định:
- Đối với ruộng đất nếu không thể đổi bằng đất thì sẽ bồi thường bằng một số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của đất bị trưng dụng
- Đối với nhà cửa và kiến trúc thì được giúp đỡ xây dựng cái khác
- Đối với hoa màu đã trồng mà chưa thu hoạch phải bồi thường thiệt hại đúng mức
- Đối với mồ mả căn cứ và tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển
Sau đó, Thông tư liên bộ số 1424/TTLB ban hành ngày 06 tháng 07 năm 1959 hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg đã nêu rõ “Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền Nhưng bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và chủ yếu”
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số
Trang 301792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân" Tuy nhiên Thông tư này mới chỉ dựng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất đai
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất, quản lý Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất
cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà
có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định" Trong thời kỳ này, những quan hệ đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng (Phạm Phương Nam, 2013) Quyết định 201/CP có quy định về chính sách thu hồi, bồi thường, cụ thể “Cấp nào có quyền giao đất thì cấp ấy có thẩm quyền thu hồi đất” đồng thời cũng quy định rõ người có đất bị thu hồi, trưng dụng mà cần có đất sử dụng thì được cấp đất khác Ngoài ra, tài sản được bồi thường một cách thích đáng Luật Đất đai năm 1987 ra đời nhưng không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): "Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật"
Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác, cụ thể: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng
để sử dụng vào mục đích khác phải đền bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường tài sản trên đất Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất Mức bồi thường còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời quy định việc miễn giảm tiền bồi thường đối với việc
sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thủy lợi
2.3.1.2 Giai đoạn từ 1993 - 2003
Luật Đất đai 1993 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thay thế cho Luật
Trang 31Đất đai 1987 Đây là văn bản pháp luật quan trọng đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai 1993 quy định các loại đất
sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ được cấp GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà Chính điều này làm căn cứ cho quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Điều 27 của Luật Đất đai năm 1993 có quy định việc thu hồi đất và việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, việc thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án bồi thường thiệt hại Tại điều 73 và 79 Luật Đất đai quy định cụ thể, chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, một trong những quyền và nghĩa
vụ là được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi Bồi thường cho người có đất bị thu hồi để giao cho mình và giao lại cho Nhà nước khi có quyết định thu hồi
Sau khi Luật Đất đai 1993 có hiệu lực, Chính phủ và các bộ ngành có liên quan đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cụ thể:
- Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường GPMB theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất
để sử dụng và mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;
- Nghị định 87/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chinh phủ về việc ban hành khung giá các loại đất;
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14 tháng 11 năm 1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998, thay thế Nghị định 90/CP;
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền
tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp thực tế;
Trang 32- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định
hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác;
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 2001 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 ngày 6 năm 2001 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và GPMB
2.3.1.3 Giai đoạn từ 2003 đến 2013
Sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 thay thế Luật Đất đai 1993, Luật sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001, chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta đã có nhiều thay đổi
và ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường đặt ra Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cụ thể hóa thông qua quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai 2003: “Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; phát triển kinh tế” và Điều 42 Luật Đất đai 2003: “Nhà nước
sẽ phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi
Trang 33- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/06/2007 của Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tư số 57/2010/TT-BTC ngày 16/04/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
Các văn bản pháp luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã thể hiện được tính khả thi trong quá trình áp dụng pháp luật vào hoạt động bồi thường, GPMB của Nhà nước
2.3.1.4 Giai đoạn từ 2013 đến nay
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội
đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013 Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, GPMB, Luật Đất đai 2013 tiếp tục kế thừa những những quy định còn phù hợp của
Luật đất đai 2003 đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào
cuộc sống (Nguyễn Kỳ Sanh, 2014)
Sau khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn
Trang 34bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cụ thể:
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai 2013;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.3.2 Một số quy định về công tác GPMB ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, các quy định của pháp luật về bồi thường GPMB ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Luật Đất đai
2013 quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định
cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết mà Nhà nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
2.3.2.1 Chính sách bồi thường
a Nguyên tắc bồi thường
Luật Đất đai 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều 74 và Điều 88) Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, nghành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện
Cụ thể, Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định các nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất:
Trang 35“1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường
2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.”
Điều 88 Luật Đất đai 2013 quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản,
ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất:
“1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất
bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường
2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.”
Luật Đất đai 2013 đã thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông nghiệp, đất ở, đất phi công nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81) Quy định chi tiết được nêu rõ trong Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Việc xác định mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi đối với đất sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó
b Điều kiện được bồi thường về đất
Điều 75 Luật Đất đai 2013 đã quy định rõ về điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có GCNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở
Trang 36hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện
để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền
sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự
án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Trang 372.3.2.2 Chính sách hỗ trợ
Các nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
- Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai 2013)
Theo Điều 83 Luật Đất đai 2013, các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
- Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: các đối tượng, điều kiện được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất được quy định tại Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở (được quy định cụ thể tại Điều 84 Luật Đất đai 2013 và Điều 20, 21 Nghị định 47/2014/NĐ-CP);
- Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
- Hỗ trợ khác
2.3.2.3 Chính sách tái định cư
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất Khu tái định cư tập trung phải xây dựng CSHT đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc CSHT của khu tái định cư (Điều
85 Luật Đất đai 2013)
Theo Điều 86 Luật Đất đai 2013, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, GPMB được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất
là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân
cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư Nội dung thông báo gồm địa điểm,
Trang 38quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi
Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất
có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân
cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư
Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định
cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở, nhà ở thì diện tích đất ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa tại địa phương và diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng nhà ở thì diện tích nhà ở tái định cư không nhỏ hơn diện tích căn hộ tối thiểu theo quy định của pháp luật về nhà ở Trường hợp suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu tương đương với giá trị một suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở, nhà ở tại nơi bố trí tái định cư Căn cứ điều này và tình hình cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định suất tái định cư tối thiểu bằng đất ở nhà ở, bằng nhà ở và bằng tiền (Điều 27 Nghị định 47/2014/NĐ-CP)
2.4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH
CƯ TẠI VIỆT NAM VÀ TỈNH NINH BÌNH
2.4.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Nhờ những thay đổi hợp
Trang 39lý của quy định pháp luật về phương pháp tổ chức và năng lực cán bộ thực thi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân bị thu hồi đất cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã giúp cho đất nước xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho con người có đất bị thu hồi
Theo báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728.000 ha (trong
đó có 536.0000 ha đất nông nghiệp) để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế Trong đó, các tỉnh, thành phố có diện tích đất thu hồi lớn là Đắk Lăk, Điện Biên, Sơn La, Ninh Bình, Bình Phước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012a)
Nhìn chung, diện tích đất được thu hồi đã đáp ứng được mục tiêu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương; các quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của ban quản lý
dự án bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này trong thời gian qua cũng còn những tồn tại, vướng mắc, và hiện nay vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đang trở thành một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai, làm phát sinh nhiều khiếu nại của công dân
- Về chính sách: Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian trước đây chưa thoả đáng, làm thiệt hại lợi ích chính đáng của người có đất bị thu hồi Tuy nhiên hiện nay chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được điều chỉnh ngày càng thoả đáng hơn và về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thực tế
- Về tổ chức thực hiện: Trong tổ chức thực hiện đã để xảy ra nhiều sai phạm,
là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, đáng chú ý là các sai phạm sau:
+ Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên trong rất nhiều trường hợp thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường
Trang 40không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không
đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Nhiều trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để nhận chuyển nhượng đất ở hoặc mua lại nhà ở mới tại khu tái định cư (theo kết quả kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai 2003, 2013 trong số đơn khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư có tới 70% số trường hợp khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường, giá đất ở được giao tại nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi) Đa số các tỉnh đã giải quyết tốt công tác khiếu nại, tố cáo, bên cạnh đó cũng có một số địa phương chưa thực sự quan tâm trong công tác giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong gần 7 năm, các địa phương đã quyết định thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai Những tỉnh thu hồi nhiều đất do vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước, Phú Yên, Đắk Nông,
Quảng Nam, Gia Lai, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Hà Nội
+ Chưa có sự liên kết giữa các quy định trong việc xác nhận tính hợp thức về quyền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi tính toán mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Từ đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật ở các địa phương
để giải quyết vấn đề này cũng khác nhau, nhiều trường hợp mang tính chủ quan, không công bằng trong xử lý giữa những trường hợp có cùng điều kiện
+ Nhiều dự án chưa có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng không bảo đảm yêu cầu “tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”
+ Trong việc thu hồi đất tại một số dự án còn có những biểu hiện tiêu cực như: thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền; trong khu tái định cư bố trí cả những đối tượng không thuộc diện tái định cư, trong đó có cả những trường hợp là người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo trong khi nhiều người thuộc diện tái định cư không được bố trí + Một số địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết,