Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới lao động di cư, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của dịch
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Hà Nội, 2020
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Tên sinh viên : Nguyễn Hà My
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài là trung thực và
chưa từng được sử dụng trong bất kì nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong bài đề được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hà My
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo của Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam nói chung, các thầy cô giáo của Khoa Kinh Tế và Phát Triển Nông Thôn nói riêng đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
bổ ích trong quá trình học tập và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này
Đặc biệt, vui lòng biết ơn sâu sắc gửi lời cảm ơn tới cô giáo Trần Hương Giang , người hướng dẫn đề tài Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, cô
đã hướng dẫn và giúp tôi giải quyết các vấn đề trong quá trình làm đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo, người dân và cán bộ xã Đông Tiến
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian thực hành ở địa phương Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình đã ủng hộ và chăm sóc, động viên tôi và toàn thể bạn bè đã luôn bên cạnh giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như thời gian thực hiện chuyên đề thực hành nghề nghiệp của mình Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình nghiên cứu, thực hành nghề nghiệp
và làm báo cáo không tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy cô giáo, gia đình và bạn bè thông cảm Kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để nội dung chuyên đề được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hà My
Trang 5
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, dòng người lao động di cư đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là dòng người lao động di cư từ nông thôn đến thành thị, khu công nghiệp Sự di cư lao động phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: môi trường chính trị, sự phát triển kinh tế -
xã hội, cũng như các chính sách xã hội đối với người lao động di cư
Dịch Covid -19 xuất hiện từ đầu năm 2020 tại Việt Nam và có diễn biến phức tạp, có ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực và đối tượng trực tiếp chịu tác động của dịch bệnh chính là người lao động
Để khái quát rõ hơn về sự tác động của dịch Covid-19 tới người lao
động, tôi nghiên cứu đề tài :” Tác động của dịch bệnh Covid-19 tới lao
động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh”
Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn về
ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới lao động di cư, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của dịch Covid-19 tới người lao động di cư xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới Đối tượng
nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của dịch Covid-19
tới người lao động di cư xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Đề tài sử dụng tài liệu đã được thu thập từ các kết quả nghiên cứu, số liệu đã được công bố phù hợp với phạm vi yêu cầu của đề tài và từ kết quả
điều tra người lao động di cư bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19
Tài liệu thu thập được tổng hợp bằng các phương pháp tổng hợp và xử
lí số liệu, phân tích bằng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh
Về kết quả tác động của dịch bệnh Covid-19 tới lao động di cư xã Đông Tiến cho thấy: tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam có 3 giai đoạn dịch bùng phát, ở giai đoạn 1 Việt Nam có 372 ca mắc Covid-19, giai đoạn 2 ca lâu nhiễm cộng đồng từ Đà nẵng không tìm được nguồn lây nhiễm, cuối cùng
Trang 6là giai đoạn 3 do một nam tiếp viên hàng không Vietnam Airline gây ra sự lây nhiễm trong cộng đồng Đến nay Nhà nước đã thực hiện tiêm thử vaccine và đang trên đà đàm phán mua vaccine Covid-19 Dịch bệnh Covid-19 tác động lên nền kinh tế Việt nam và tỉnh Bắc Ninh, dịch bệnh gây ra thiệt hại về ở các ngành kinh tế nhất là ngành dịch vụ và hàng không
Qua khảo sát 85 lao động ở xã Đông Tiến trong đó có 57 người lao động di cư và 28 người lao động không di cư Tỉ lệ người lao động đăng kí hộ khẩu ở người lao động di cư có 85,96% đăng kí tạm trú và 75% người lao động không di cư đăng kí dài hạn Người di cư tới xã để làm việc và sinh sống chủ yếu là người di cư từ nông thôn tới, trong thời gia sinh sống tại xã người lao động di cư có những thuận lợi và khó khăn về công việc cũng như mức sống tại địa phương Các tác động của dịch bệnh Covid-19 tới việc làm, thu nhập, chi tiêu, sức khỏe, tinh thần và mối quan hệ gia đình của người lao động
di cư
Về các yếu tố ảnh hưởng tới tác động của dịch Covid tới người lao động di cư xã Đông Tiến như chính sách Nhà nước về các gói hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp, chính sách của chính quyền địa phương về việc triển khai các gói hỗ trợ của Chính phủ và các biện pháp phòng chống dịch, yếu tố thuộc bản thân người lao động phản ánh qua giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, khu vực kinh tế, lao động di cư chủ yếu làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài 59,64% Qua phân tích các yếu tố thuộc chính sách nhà nước , chính sách chính quyền địa phương, yếu tố thuộc bản thân người lao động từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện tác động của dịch bệnh Covid-19: Giải pháp cho doanh nghiệp, giải pháp cho người lao động di cư, giải pháp đối với Nhà nước
NLĐ di cư cần linh hoạt hơn trong việc tìm kiếm việc làm và thu nhập, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 Đối với chính quyền địa phương cần có những giải pháp để giải quyết việc
Trang 7làm cho NLĐ trong tình hình dịch bệnh, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh tới người dân địa phương Đẩy nhanh tiến độ triển khai các gói hỗ trợ mà Chính phủ chỉ đạo như gói hỗ trợ 62 nghìn tỷ, bảo hiểm thất nghiệp, Đối với Nhà nước tăng cường đầu tư cho y tế dự phòng để nghiên cứu sản xuất vaccine Covid-19, tiếp tục thực hiện mở rộng đối tượng thụ hưởng các gói hỗ trợ NLĐ và doanh nghiệp trong điều kiện dịch bệnh, nghiên cứu để khôi phục lại nền kinh tế đất nước,
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
MỤC LỤC vii
DANH MỤC HỘP Ý KIẾN x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 14
1.1Tính cấp thiết của đề tài 14
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 15
1.2.1 Mục tiêu chung 15
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 15
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 16
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 16
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH BỆNH COVID 19 TỚI LAO ĐỘNG DI CƯ 17
2.1 Cơ sở lý luận 17
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 17
2.1.2 Lý luận về lao động di cư 21
2.1.3 Lý luận về đại dịch Covid-19 24
2.1.4 Lý luận về đánh giá tác động 26
2.1.5 Nội dung tác động dịch bệnh Covid-19 tới lao động di cư xã Đông Tiến 2.1.6 Tác động của đại dịch Covid – 19 tới lao động di cư 29
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới tác động của đại dịch Covid – 19 tới lao động di cư 34
Trang 92.2 Cơ sở thực tiễn về tác động của dịch Covid-19 tới người lao động 38
2.2.1 Trên thế giới 38
2.2.2 Tại Việt Nam 43
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho đề tài 49
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 51
3.1.1 Đặc địa bàn nghiên cứu 51
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội của xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 54
3.2 Phương pháp nghiên cứu 57
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 57
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 57
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 58
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 58
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 58
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 60
4.1 Tình hình dịch bệnh Covid – 19 tại Việt Nam tính đến ngày 31.12.2020 60 4.1.1 Tác động của dịch bệnh đến nền kinh tế Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh 60
4.2 Tình hình lao động di cư tại xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 64
4.2.1 Thông tin cơ bản của đối tượng điều tra 64
4.2.2 Tình hình di chuyển của đối tượng điều tra 66
4.2.3 Tình hình việc làm của lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến , huyện Yên Phong 71
4.2.4 Thu nhập và mức sống của người di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 78
4.3 Tác động của dịch bệnh Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 78
Trang 104.3.1Tác động tới việc làm của lao động di cư 78
4.3.2 Tác động tới thu nhập của lao động di cư 80
4.3.3 Tác động tới chi tiêu của lao động di cư 82
4.3.4 Tác động tới sức khỏe, tâm lý và mối quan hệ gia đình 4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tác động của dịch Covid – 19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 88
4.4.1Diễn biến dịch bệnh 88
4.4.2Chính sách của nhà nước 90
4.4.3Chính sách của chính quyền địa phương 91
4.4.5 Yếu tố thuộc bản thân lao động di cư 92
4.5 Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện tác động của dịch Covid-19 tới người lao động di cư tại xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 97
4.5.1 Định hướng 97
4.5.2 Giải pháp 98
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
5.1 Kết luận 102
5.2 Kiến nghị 103
5.2.1 Đối với lao động di cư 103
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 103
5.2.3 Đối với Nhà nước 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 106
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phản ứng chính sách của một số quốc gia 40
Bảng 2.2 Các khoảng thời gian của đại dịch Covid-19 Việt Nam Bảng 2.3 Các chính sách của chính phủ Việt Nam nhằm khắc phục hậu quả của dịch bệnh Covid - 19 49
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai xã Đông Tiến giai đoạn 2018-2019 53
Bảng 3.2 Số người điều tra trong nghiên cứu 58
Bảng 4.1 Thông tin cơ bản của đối tượng điều tra 65
Bảng 4.2 Người lao động đăng kí hộ khẩu 66
Bảng 4.3 Các thông tin về sự di chuyển của đối tượng điều tra 68
Bảng 4.4 Thời gian sinh sống bình quân 69
Bảng 4.5 Lý do chọn sinh sống ở xã 70
Bảng 4.6 Tình hình việc làm của đối tượng điều tra 72
Bảng 4.7 Khu vực kinh tế của đối tượng điều tra 73
Bảng 4.8 Sự ràng buộc về hợp đồng lao động 74
Bảng 4.9 Thời gian trung bình làm việc trong một ngày 75
Bảng 4.10 Thuận lợi khi làm việc 76
Bảng 4.11 Khó khăn khi làm việc 77
Bảng 4.12 Thu nhập bình quân 78
Bảng 4.13 Tác động của dịch Covid-19 đến việc làm của đối tượng điều tra xã Đông Tiến 79
Bảng 4.14 Tác động của dịch Covid-19 tới thu nhập của đối tượng điều tra xã Đông Tiến 81
Bảng 4.15 Chi tiêu của người lao động 82
Bảng 4.16 Dịch Covid-19 ảnh hưởng tới chi tiêu của đối tượng điều tra xã Đông Tiến
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của dịch Covid-19 tới các khoản chi tiêu trong gia đình 85
Trang 12Bảng 4.18 Tác động dịch Covid-19 tới tinh thần NLĐ di cư 86 Bảng 4.19 Tác động của dịch Covid-19 sức khỏe, tinh thần, mối quan
hệ của đối tượng điều tra 87 Bảng 4.20 Yếu tố ảnh hưởng tới tác động dịch bệnh Covid-19 thuộc bản thân lao động di cư xã Đông Tiến 95
Trang 13DANH MỤC HỘP Ý KIẾN
Hộp 4.1 Người lao động chưa nhận được trợ cấp 63 Hộp 4.2 Lao động di cư không được qua đào tạo 93 Hộp 4.3 Dịch bệnh làm giảm thu nhập, giảm giờ làm 96
Trang 14DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CN-XD Công nghiệp xây dựng THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở
ĐTĐT Đối tượng điều tra
Trang 15PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong năm 2020 vừa qua, cả nhân loại đã phải hứng chịu một cơn đại dịch đến từ Trung Quốc mang tên Covid-19 cho đến nay Dịch bệnh nguy hiểm này đã làm cả thế giới thiệt hại nặng nề về kinh tế - xã hội và Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn gần 3% năm 2020, khoảng 84.4% doanh nghiệp chịu tác động của Covid – 19 mặc dù Việt Nam đã cơ bản khống chế được dịch bệnh
Dịch Covid -19 hiện nay vẫn diễn biến phức tạp trên thế giới, khó đo lường làm ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực và đối tượng trực tiếp chịu tác động của dịch bệnh chính là người lao động Tại Việt Nam, khu vực dịch vụ chịu tác động nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 72,0% lao động bị tác động, tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng với 67,8% lao động bị tác động;
tỷ lệ lao động bị tác động trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
là 25,1% Lực lượng lao động giảm sâu kỷ lục, lao động nữ là nhóm chịu tác động nặng nề hơn so với lao động nam trong bối cảnh dịch Covid-19 (Tổng cục thống kê 2020)
Huyện Yên Phong nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Ninh, là một huyện nằm ven sông Cầu, là nơi có nhiều khu công nghiệp đang hoạt động Các lao động
ở đây ít nhiều đều bị tác động bởi dịch Covid -19 ở trong cả lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ Công nhân bị giảm giờ làm, nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên hay thậm chí là buộc phải nghỉ việc do doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động Người lao động ở khu vực dịch vụ cũng vì thế mà ít việc hơn, thậm chí tạm thời đóng cửa do công nhân thắt lưng buộc bụng trong chi tiêu Cuộc sống của người lao động gặp khó khăn khi bị giảm thu nhập do tác động của dịch bệnh
Xã Đông Tiến, huyện Yên Phong là một xã trọng điểm của tỉnh Bắc Ninh với nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty được xây dựng trên địa bàn đã tạo
Trang 16điều kiện cho xã phát triển về mặt kinh tế, thu nhập của người dân luôn được đảm bảo Nhưng do đợt dịch Covid -19 vừa qua kéo dài cùng với sự giãn cách
xã hội của Nhà Nước, các hàng quán, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đóng cửa và giải thể đã khiến cho người lao động tại nơi đây bị mất đi nguồn thu nhập, thậm chí mất cả việc làm Đặc biệt là những người lao động di cư từ nơi khác đến Đông Tiến làm công nhân ở các khu công nghiệp hoặc bán hàng quán phục vụ công nhân các khu công nghiệp cũng bị tác động nặng nề và gặp nhiều khó khăn do họ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất
Hiện nay, các nghiên cứu về lao động di cư khá phong phú, được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, nghiên cứu về sự tác động của dịch Covid – 19 tới đời sống, thu nhập, việc làm, tinh thần và mối quan hệ gia đình của lao động di cư trên một địa bàn cụ thể thì gần như chưa có một nghiên cứu nào
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của dịch bệnh Covid-19 tới
lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” để khái quát rõ hơn về sự tác động của dịch Covid-19 tới lao động di
cư ở Đông Tiến làm khóa luận tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở tìm hiểu lý luận và thực tiễn về tác động của đại dịch
Covid-19 tới lao động di cư, đánh giá thực trạng tác động của dịch Covid – Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư
Trang 17Đánh giá thực trạng tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di
cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian vừa qua
Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tác động của đại dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tác động của dịch Covid-19 tới lao động di cư trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Đối tượng phỏng vấn: (1) Người dân gốc Bắc Ninh; (2) Người dân di cư; (3) Chính quyền địa phương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của dịch Covid-19 tới lao động di
cư (lao động nhập cư) trên địa bàn xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Trang 18PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
DỊCH BỆNH COVID 19 TỚI LAO ĐỘNG DI CƯ
Các nhân tố chủ yếu của quá trình lao động là:
+ Mục đích hoạt động của con người: Trong cơ chế thị trường đâychính là thể hiện “cầu” của xã hội đối với một loại sản phẩm, nó có tác dụnghướng hoạt động lao động của con người vào mục đích cụ thể, bảo đảm laođộng là hữu ích và sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận
+ Đối tượng lao động: Là những thứ mà lao động của con người tácđộng vào nhằm làm thay đổi hình thái vật chất của nó và tạo ra những sảnphẩm mới phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội
2.1.1.2.Người lao động
Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 định nghĩa:
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động
Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ đủ 15 trở lên Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối với một số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuê người lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng những điều kiện nhất định (Thư viện pháp luật, 2020)
Trang 19Người lao động làm việc trong nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhautrong xã hội, phụ trách nhiều vị trí công việc nhờ đảm nhiệm những chức vụkhác nhau trong một tổ chức Tựu chung lại người lao động được phân loạithành hai nhóm chính:
Lao động phổ thông: công nhân, thợ, nông dân làm thuê, người giúp việc, osin…
Lao động tri thức: nhân viên, viên chức, công chức, cán bộ, người quản lý
2.1.1.3 Di cư
Trong nghiên cứu về nhân khẩu học cũng như địa lý dân cư chưa có một định nghĩa thống nhất về di cư Tuy nhiên cũng có một số ý kiến khác nhau về khái niệm di cư:
“Di dân (di cư) là một sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này tới một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc sự di chuyển về khoảng cách tối thiểu quy định Sự di chuyển này diễn ra trong một khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi nơi cư trú thường xuyên” (Liên hợp quốc, 1958)
Theo tổ chức di dân quốc tế (IMO) định nghĩa di cư là sự dịch chuyển dân số bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quốc gia hay trong một quốc gia Là một sự
di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mục đích khác (trong đó có đoàn tụ gia đình)
Theo Ủy ban kế hoạch Nhà nước đã định nghĩa: Di cư là sự di chuyển dân cư trong nước (từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại từ vùng này sang vùng khác) và từ nước này sang nước khác Di cư là biểu rõ nét của
sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, lãnh thổ Như vậy di cư cũng phản ánh sự phát triển chậm chạp hơn hoặc sự lạc hậu về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng này so với vùng khác, miền này so với miền khác
Trang 20Đây là một xu hướng ít nhiều có tính phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn
ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Như vậy, về cơ bản, di cư là sự di chuyển nơi ở đến một nơi khác trong một thời gian tương đối dài
2.1.1.4 Lao động di cư
Công ước số 97 Công ước về người lao động di trú (xét lại năm 1949, ngày có hiệu lực: 22/1/1952): Từ “lao động di trú” là chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác nhằm làm thuê cho người khác; từ này bao gồm mọi người nào đã được thường xuyên chấp nhận là có tư cách người lao động di trú (Khoản 1 Điều 11)
Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền của người lao động di trú
và các thành viên trong gia đình họ, ngày 18/12/1990 khoản 1 Điều 2 ghi nhận: Thuật ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân
Các văn bản quốc tế nói trên đều đưa ra các quan niệm liên quan đến lao động di trú có tính quốc tế tức là từ nước này đến nước khác
Trong các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam thì di cư được định nghĩa là
sự di chuyển của con người một đơn vị hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, đó là chuyển đến một xã khác, huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh khác trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, điều kiện để xác định một người là người di cư cũng có sự khác nhau nhất định Theo các tác giả của cuốn sách Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2014 – Di cư và đô thị hóa
ở Việt Nam thì:
- Di cư giữa các vùng: bao gồm những người 5 tuổi trở lên đang sống ở Việt Nam và cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống ở vùng khác với vùng hiện đang cư trú
Trang 21- Di cư giữa các tỉnh: bao gồm những người 5 tuổi trở lên đang sống ở Việt Nam và cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống ở tỉnh khác với tỉnh hiện đang cư trú
- Di cư giữa các huyện: bao gồm những người 5 tuổi trở lên, cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng một tỉnh nhưng ở huyện khác với huyện hiện đang cư trú
- Di cư trong huyện: bao gồm những người 5 tuổi trở lên, cách đây 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng một huyện nhưng ở xã/phường khác với xã/phường hiện đang cư trú
- Không di cư bao gồm những người từ 5 tuổi trở lên và 5 năm trước thời điểm điều tra sống trong cùng xã với nơi thực tế thường trú hiện tại (không di cư giữa các xã)
Trong cuốn sách Điều tra di cư nội địa Việt Nam năm 2015: Người di
cư nội địa được định nghĩa “là người di chuyển từ huyện/ quận này sang huyện/quận khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra và thỏa mãn một trong ba điều kiện sau:
i Đã cư trú ở nơi điều tra từ 1 tháng trở lên;
ii Cư trú ở nơi điều tra mới dưới 1 tháng nhưng có ý định ở từ 1 tháng trở lên;
iii Cư trú ở nơi điều tra mới dưới 1 tháng nhưng trong vòng 1 năm qua
đã rời khỏi nơi thường trú đến ở một quận/huyện khác với thời gian tích lũy
từ 1 tháng trở lên để lao động kiếm tiền”
Tóm lại, lao động di cư là người di chuyển từ địa phương này sang địa phương khác trong một thời gian nhất định với mục đích lao động, làm việc 2.1.1.5 Tác động
Tác động là kết quả của quá trình phát triển, quá trình này phụ thuộc vào bối cảnh và những can thiệp cụ thể Tác động là sự khác biệt giữa các chỉ
Trang 22số của những kết quả có liên quan với một chương trình (can thiệp) và những chỉ số khi không có chương trình (can thiệp)
Đánh giá là hệ thống lại toàn bộ thông tin để nâng cao khả năng ra quyết định và tính tổ chức của các thông tin đó
Đánh giá tác động là phân tích có hệ thống sự thay đổi nào đó (cả tích cực và tiêu cực, cả trực tiếp và gián tiếp) đối với đời sống kinh tế - xã hội và con người do một hoặc một số hành động can thiệp gây ra
2.1.2 Lý luận về lao động di cư
2.1.2.1 Phân loại lao động di cư
Di cư là hiện tượng KT-XH phức tạp, vì thế để phân tích rõ hơn các nguyên nhân, xu hướng, tác động của di cư, người ta đưa ra một số cách phân
loại chính như sau:
a Phân loại theo địa bàn di cư
+ Lao động di cư quốc tế
Là người lao động có sự di chuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia, tức là người lao động di cư từ nước này sang nước khác Trong đó bao gồm
cả các dòng di chuyển của dân tị nạn, hợp tác và xuất khẩu lao động
Theo Liên Hiệp Quốc thì lao động di cư quốc tế ngắn hạn với thời gian dưới một năm, còn lao động di cư quốc tế theo kiểu dài hạn được tính từ hơn một năm trở lên
+ Lao động di cư trong nước
Là người lao động di cư giữa các vùng trong nội bộ của một quốc gia hay một đơn vị hành chính Tùy theo đơn vị hành chính của mỗi nước mà phân chia khác nhau Ở Việt Nam có thể phân chia: di cư nội vùng, sự di cư ngoại vùng, nội tỉnh, liên tỉnh
Lao động di cư nội địa có liên quan rất chặt chẽ với sự mất cân đối trong cung, cầu về lao động giữa các địa phương, sự phân bố lại lực lượng sản xuất
Trang 23trong phạm vi đơn vị hành chính, vùng hay cả nước, sự khai thác các vùng đất mới, sự chênh lệch trong phát triển vùng, sự phát triển của các đô thị…
b Phân loại theo tính chất của tổ chức di cư
Di cư có tổ chức là một dạng di cư theo kế hoạch để thực hiện các chính sách hoặc các chiến lược do Nhà nước vạch ra nhằm đạt được mục đích phát triển KT-XH Di cư có tổ chức thường được Nhà nước chịu trách nhiệm
tổ chức thực hiện và những người di cư thường được nhận tài trợ về tài chính
và các điều kiện ưu đãi khác nhằm ổn định cuộc sống ở những vùng đất mới trong một khoảng thời gian ban đầu Trong lịch sử, di cư có tổ chức đã từng diễn ra kéo dài nhiều năm, qui mô lớn Tuy nhiên, mặc dù có tổ chức, có sự
hỗ trợ của chính quyền, nhưng không phải mọi cuộc di cư đều thành công, và người di cư vẫn phải mất một thời gian mới có thể hòa nhập vào hoàn cảnh ở nơi ở mới
+ Lao động di cư tự phát (còn gọi là lao động di cư "tự do")
+Đây là dạng di cư không tổ chức mà hoàn toàn do cá nhân người di cư tự quyết định Các nhân tố KT-XH hay sự biến đổi môi trường đều chỉ là các tác nhân để người chuyển cư cân nhắc và quyết định Người di cư chịu tác động của "lực hút" ở nơi họ định đến và chịu tác động của "lực đẩy" ở nơi họ xuất
cư (theo mô hình lý thuyết của Lee) Tuy nhiên quan hệ giữa lực hút và lực đẩy hết sức phức tạp và quan hệ này là rất động, và tác động này có tính chất rất cá thể và cũng có đặc điểm địa lí rất rõ nét Điều này giải thích tại sao trong một nhóm người di chuyển từ vùng A đến vùng B, thì có một bộ phận trụ lại được, còn một bộ phận thì không trụ lại được, có thể trở lại quê cũ hay lại đến một vùng C nào đó… Trong xã hội hiện đại thì di cư tự phát (tự do) chiếm vai trò ngày càng lớn hơn
+ Lao động di cư bắt buộc (cưỡng bức)
Diễn ra trong hoàn cảnh bắt buộc do các biến cố về chính trị, quân sự, hoặc do thiên tai…
Trang 24Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác, trong đó đáng chú ý là cách phân loại dựa vào nguyên nhân chính của di cư Dựa vào ngyên nhân chính, một số tác giả phân ra lao động di cư công nghiệp (thực ra đó là di cư nông thôn-thành thị), lao động di cư nông nghiệp (là di cư nông thôn-nông thôn) hay lao động di cư tôn giáo…Căn cứ vào hướng chuyển dịch của dòng
di cư có thể phân ra: Di cư nông thôn-nông thôn, di cư nông thôn-đô thị, di
cư đô thị-nông thôn, di cư đô thị-đô thị
2.1.2.2 Đặc điểm lao động di cư
Theo Tổng cục Thống kê, người lao động di cư là “những người lao động có nơi thường trú tại thời điểm 5 năm trước thời điểm điều tra khác với nơi thường trú hiện tại” Tỷ suất xuất cư là tỷ lệ phần trăm của số người di cư với dân số trung bình trong kỳ Tỷ suất nhập cư là tỷ lệ phần trăm của số người nhập cư với dân số trung bình trong kỳ Trong những năm gần đây, người lao động di cư ở nước ta có một số đặc điểm chủ yếu sau (Tổng cục thống kê, 2015):
- Số lượng người lao động di cư ngày càng tăng Người lao động di cư giữa các tỉnh sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ so với tỷ lệ gia tăng dân số
- Số lượng người lao động di cư không đồng đều giữa các vùng các tỉnh
có tỷ lệ người lao động di cư cao là các tỉnh nghèo, có mật độ dân số cao, thu nhập bình quân đầu người thấp Xét về nơi đến, các địa phương cũng có sự thu hút lao động nhập cư khác nhau
- Người lao động di cư đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế nơi
họ nhập cư Rõ ràng lực lượng lao động di cư lớn đã đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội Người lao động di cư có nhiều tác động tích cực; họ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất, dịch vụ, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo Tại các khu công nghiệp, khu chế xuất có đến 95% lực lượng công nhân là người lao động di cư từ nông thôn chuyển đến, họ là nguồn lực quan trọng quyết định sự thành bại
Trang 25trong hoạt động sản xuất kinh doanh Số tiền hằng năm của người lao động di
cư chuyển về gia đình khá lớn, trung bình mỗi người lao động di cư ở các khu công nghiệp, chế xuất chuyển tiền về cho gia đình ở nông thôn khoảng 1,42 triệu/tháng
- Người lao động di cư là đối tượng gặp nhiều khó khăn, dễ bị tổn thương Người lao động di cư thường gặp những khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời gian đầu của di cư Khó khăn mà họ thường gặp là khó khăn về nhà ở, phương tiện đi lại, nuôi dạy con cái, hưởng thụ sự trợ giúp từ phía Nhà nước, tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội cho người nghèo, hộ khẩu Người lao động di cư thường không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp hay tai nạn lao động; không thể tự bảo vệ mình khỏi những rủi ro về sức khỏe và an toàn bản thân Nhiều người lao động di cư do không có hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng không rõ ràng và bất lợi cho họ, ít có cơ hội bảo vệ bản thân trước những tranh chấp kinh tế với chủ thuê lao động Nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, đã thuê lực lượng lao động không có nghề theo mùa vụ để làm việc mà không ký hợp đồng
Nhiều lao động nữ di cư ở độ tuổi thấp Hầu hết đối tượng lao động di
cư nhỏ tuổi làm giúp việc gia đình hoặc có người nhà đã di cư đến nơi đến và kéo theo quyết định di cư của những người ở độ tuổi này Độ tuổi thấp nhất trong lần di cư lao động đầu tiên phản ảnh một thực trạng đáng lo ngại vì quãng tuổi dưới 15 là độ tuổi đi học trung học cơ sở
2.1.3 Lý luận về đại dịch Covid-19
2.1.3.1 Nguồn gốc của đại dịch Covid - 19
Là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2, đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm
2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân
Trang 26Giới chức y tế địa phương xác nhận rằng trước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng coronavirus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV, có trình tự gen giống với SARS-CoV trước đây với mức tương đồng lên tới 79,5% (Theo wikipedia.org, 2020)
Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng
12 năm 2019 Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm 2020 Các ca nhiễm virus đầu tiên được xác nhận bên ngoài Trung Quốc bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020 Ngày
23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc quyết định phong tỏa Vũ Hán, toàn bộ hệ thống giao thông công cộng và hoạt động xuất - nhập khẩu đều bị tạm ngưng
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi "COVID-19" là "Đại dịch toàn cầu"
Những tác động trên toàn thế giới của đại dịch COVID-19 hiện nay bao gồm: thiệt hại sinh mạng con người, sự bất ổn về kinh tế và xã hội, tình trạng bài ngoại và phân biệt chủng tộc đối với người gốc Trung Quốc và Đông Á
2.1.3.2 Đặc điểm của dịch Covid-19
a Cấu trúc, hình thể của virus
Các virus corona là các virus RNA có cấu trúc bao ngoài (envelope) thuộc bộ Nidovirales Với cấu trúc bề mặt đặc trưng, dưới kính hiển vi điện tử chúng có ngoại hình như những chiếc vương miện, và đó là lý do vì sao tên Latin của chúng là corona (có nghĩa là “vương miện”) Phân họ Orthocoronavirinae của họ Coronaviridae được phân sâu hơn thành bốn loại
Trang 27là alpha, beta, delta và gamma coronavirus Riêng betacoronavirus lại tiếp tục được phân sâu hơn nữa thành Embecovirus, Hibecovirus, Merbecovirus, Nobecovirus và Sarbecovirus Các virus corona được phát hiện từ giữa những năm 1960 và được xác nhận có thể lây nhiễm cho người cũng như nhiều loài động vật (bao gồm các loài chim và thú có vú) Các tế bào biểu mô của đường
hô hấp và đường tiêu hóa là mục tiêu chính của các virus corona Vì lý do này,
sự phát tán và lây truyền của virus sẽ diễn ra thông qua các hệ cơ quan này, bằng các con đường: vật lây nhiễm (fomite), không khí hoặc đường phân miệng
b Đường lây truyền
Một số lượng rất lớn các virus corona khác nhau đã được tìm thấy ở loài dơi (được cho là đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự tiến hóa của virus, đặc biệt là với alpha và beta coronavirus), tuy nhiên còn có nhiều loại động vật khác có thể là vật chủ trung gian hoặc là nguồn dự trữ mầm bệnh Thời gian ủ bệnh của các virus corona rất thay đổi, từ 2 tới 14 ngày SARS-CoV có thời gian ủ bệnh từ 3 tới 10 ngày, còn MERS-CoV có thể lên tới 14 ngày
Đối với COVID-19, nguồn lây nhiễm bệnh, động vật chủ và động vật
dự trữ mầm bệnh cho đến nay chưa được xác định rõ Việc lây nhiễm trực tiếp
từ người sang người thông qua giọt bắn đã được xác nhận
Người mắc virus Corona thường có các triệu chứng như sốt, ho, mệt mỏi Các triệu chứng ít gặp hơn như đau nhức, đau họng, tiêu chảy, viêm kết mạc, đau đầu, mất vị giác hoặc khứu giác, da nổi mẩn hay ngón tay hoặc ngón chân bị tấy đỏ hoặc tím tái (Báo điện từ www.vinmec.com, 2020)
2.1.4 Lý luận về đánh giá tác động
2.1.4.1 Các phương pháp đánh giá tác động
a Phương pháp so sánh trước - sau
Phương pháp so sánh sự khác biệt về các kết quả ở đối tượng chính sách trước và sau khi có sự can thiệp của chính sách Đại diện đối chứng
Trang 28chính là nhóm tham gia trước khi có can thiệp chính sách Số liệu điều tra ban đầu trước khi chính sách được thực hiện là cần thiết Giả định chính sách là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến sự thay đổi của kết quả
Các bước áp dụng: (i) Thu thập dữ liệu ban đầu đối với mỗi nhóm trước khi chính sách có hiệu lực; (ii) Thu thập dữ liệu theo dõi đối với mỗi nhóm sau khi chính sách có hiệu lực; (iii) Tính toán hiệu số trước - sau đối với mỗi nhóm; (iv) Làm phép trừ hiệu số của nhóm tham gia với hiệu số của nhóm được đối chứng
c Phương pháp so sánh điểm xu hướng
Là phương pháp xây dựng nhóm đối chứng thống kê dựa trên mô hình xác suất tham gia can thiệp bằng các dữ liệu thống kê có được Đối tượng tham gia được so sánh dựa trên xác suất này, hay được gọi là điểm xu hướng, với đối tượng không tham gia Hiệu quả can thiệp bình quân của chính sách sau đó được tính toán bằng sai biệt trung vị trong kết quả giữa hai nhóm Các bước áp dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng:
Bước 1: Thu thập thông tin đặc điểm về đối tượng tham gia chính sách
và những người không tham gia chính sách (nhóm đối chứng)
Bước 2: Ước lượng hàm số tham gia chính sách bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy cho mô hình probit Giá trị dự báo của việc tham gia có thể ước lượng từ hàm số này Mỗi đối tượng tham gia và không tham gia sẽ
có một xác suất dự báo (điểm xu hướng) riêng
Trang 29Bước 3: Xác định vùng hỗ trợ chung và kiểm định thuộc tính cân bằng Bước 4: Dựa trên điểm xu hướng, nối một đối tượng thuộc nhóm tham gia với một hoặc một số đối tượng trong nhóm không tham gia mà có xác suất ước lượng gần giống nhau nhất, rồi so sánh sự khác biệt trong kết cục của hai nhóm này Sử dụng các kỹ thuật như: So sánh cận gần nhất, phạm vi hay bán kính… để so sánh đối chiếu hai nhóm đối tượng Tính ra chênh lệch, đây chính là tác động của chính sách với từng đối tượng tham gia
- So sánh cận gần nhất: Mỗi đối tượng tham gia sẽ được so sánh với các đối tượng không tham gia dựa trên điểm xu hướng gần tương đồng nhất;
- Phạm vi hay bán kính: Kỹ thuật này tạo ra một phạm vi khoảng cách điểm xu hướng tối đa, được gọi là phạm vi hay bán kính Do đó, kỹ thuật này được tiến hành bằng cách có thay thế, giữa các điểm xu hướng trong cùng phạm vi/bán kính
Bước 5: Tính toán giá trị trung bình của tất cả giá trị chênh lệch của từng đối tượng tham gia để tìm ra giá trị trung bình tổng thể, đây chính là tác động của chính sách với tất cả các đối tượng tham gia
Bước 6: Kết quả gặp vấn đề đó chính là sai số chuẩn bị ước lượng thiếu chính xác Để khắc phục vấn đề này, áp dụng ước lượng sai số chuẩn bằng bẫy kích hoạt
d Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế
Đánh giá hiệu quả kinh tế nhằm xem xét chi phí có nhiều hơn so với những lợi ích mà chính sách đem lại hay không Các loại đánh giá hiệu quả kinh tế bao gồm:
- Phân tích Chi phí - Hiệu quả (CEA), là loại phân tích định giá các chi phí của việc thực thi chính sách và so sánh giữa tổng chi phí đó với tổng số các kết quả đạt được để ước tính “chi phí cho mỗi kết quả”;
- Phân tích Chi phí - Lợi ích (CBA), là loại đánh giá sâu hơn so với CEA trong việc đánh giá giá trị tiền tệ đối với các thay đổi trong kết quả (ví
Trang 30dụ, đánh giá giá trị của việc tăng thêm số lượng người có việc làm) Điều này
có nghĩa là CBA có thể kiểm tra các minh chứng tổng thể về một chính sách (“Liệu lợi ích có lớn hơn các chi phí bỏ ra?”) cũng như so sánh các chính sách liên quan tới các lợi ích kết quả khác nhau CBA xác định số lượng các chi phí và lợi ích mà một chính sách có thể có và khả thi, bao gồm cả các tác động tới môi trường và xã hội rộng hơn
Đánh giá hiệu quả kinh tế rất phức tạp và cần được lên kế hoạch kỹ lưỡng với đầu vào từ nhà kinh tế, luật kinh tế, hoặc chuyên gia nghiên cứu chính sách định lượng trong giai đoạn lập kế hoạch đánh giá
là một tập hợp các hành động kiểm soát nhiễm trùng phi dược phẩm nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm sự lây lan của một bệnh truyền nhiễm Mục tiêu của sự cách ly xã hội là giảm khả năng tiếp xúc giữa những người bị nhiễm trùng và những người khác không bị nhiễm bệnh, để giảm thiểu lây truyền bệnh, nhiễm bệnh và cuối cùng là tử vong Nó bao gồm việc giữ khoảng cách
ít nhất hai mét giữa người với người và tránh tụ tập đông người thành những nhóm lớn Cách ly thời gian là một hình thức của cách ly xã hội, khi mọi người bị phân cách bởi các khoảng thời gian khác nhau để tránh tiếp xúc Tại Việt Nam, chỉ thị ban hành sáng ngày 31 tháng 3 năm 2020 về phòng chống COVID-19, Thủ tướng Việt Nam đã yêu cầu cách ly toàn xã hội được thực hiện theo nguyên tắc "gia đình cách ly với gia đình, thôn bản cách
Trang 31ly với thôn bản, xã cách ly với xã, huyện cách ly với huyện, tỉnh cách ly với tỉnh" Các phân xưởng, nhà máy sản xuất phải bảo đảm khoảng cách an toàn, đeo khẩu trang, khử trùng, diệt khuẩn đúng quy định từ ngày 01/04/2020 Tiếp sau đợt cách ly toàn quốc, còn một số đợt cách ly nhỏ khác, chủ yếu từ cách tỉnh có dịch bệnh
Cách ly xã hội đã thành công trong việc khống chế dịch bệnh nhưng đồng nghĩa với nó là người lao động bị mất hoặc thiếu việc làm Người lao động trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là giáo dục tư thục không có việc làm
do việc đóng cửa trường học và nơi làm việc Mọi người bị hạn chế di chuyển nên không phát sinh các nhu cầu phục vụ việc đi lại, vì vậy lao động ngành giao thông vận tải không làm việc hết công suất, phải nghỉ việc luân phiên Một số ngành dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí đều ngừng hoạt động do lệnh cấm tụ tập đông người và lao động trong ngành này đã đối mặt với nguy cơ mất việc làm
Khi xã hội bị cách ly, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ hết nên các doanh nghiệp không bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp chủ động giảm giờ làm cho công nhân hoặc bỏ mặc công nhân do bị phá sản
Một số lao động đã nhanh nhạy trong chuyển dịch việc làm nhằm ứng phó với dịch bệnh như làm việc online, bán hàng qua mạng, giao hàng tận nơi… Tuy nhiên, tỷ lệ lao động bị mất việc làm và có việc làm mới thay thế không nhiều
Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu tác động lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm
về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam Chính vì vậy lao động di cư, đặc biệt là lao động di cư ở các khu công nghiệp thì tác động của dịch bệnh Covid – 19 tới việc làm còn nghiêm trọng hơn do họ là đối tượng dễ bị tổn thương Nếu như các lao động định cư có thể tìm việc làm
Trang 32khác một cách nhanh chóng để thay thế công việc bị mất thì lao động di cư với trình độ thấp, ít mối quan hệ, công việc trước đây chủ yếu làm theo hướng chuyên môn hóa nên rất khó thích ứng nhanh trong tìm kiếm việc làm, dẫn tới khả năng thất nghiệp cao Một số lao động di cư sẽ chuyển cư đến một số vùng khác để tìm kiếm cơ hội việc làm, hoặc một số khác sẽ về quê đợi hết dịch sẽ quay trở lại làm việc
Giải quyết vấn đề việc làm cho lao động di cư dưới tác động của dịch bệnh không dễ dàng, nhiều biện pháp được áp dụng từ chính phủ, chính quyền địa phương và cơ bản đã phát huy tác dụng
2.1.5.2 Tác động tới thu nhập
Nguyên nhân chính khiến lao động di cư tìm đến những thành phố lớn, những vùng kinh tế phát triển là tìm kiếm việc làm, gia tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Khi lao động di cư bị mất việc làm, nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm… khiến cho thu nhập của đối tượng này bị giảm thì khó đảm bảo cuộc sống
Tuy nhiên không phải tất cả lao động di cư đều chịu tác động của đại dịch Covid – 19 Trái ngược với lao động di cư của khu vực lưu trú ăn uống, vận tải kho bãi, hành chính, công nghiệp và xây dựng có thu nhập giảm… thì một số lao động di cư trong ngành thông tin truyền thông, y tế, kinh doanh qua mạng Internet và hoạt động trợ giúp xã hội lại có thu nhập tăng
Cuộc khủng hoảng dịch bệnh cũng có tác động đặc biệt nghiêm trọng với người lao động di cư là nữ, nhất là những phụ nữ là người kiếm tiền chính hoặc duy nhất trong gia đình Nữ lao động di cư thường làm các nghề như bán hàng ăn, hàng tạp hóa, làm giúp việc, làm lao công… có thu nhập đều bị tác động nặng nề từ dịch bệnh
Trang 332.1.5.3 Tác động tới chi tiêu
Khi việc làm và thu nhập bị giảm hoặc mất đi, lao động di cư cũng giống như những lao động khác đều phải cắt giảm chi tiêu
Có rất nhiều loại chi tiêu và tùy thuộc vào quy mô, lối sống, tập quán
mà mỗi gia đình sẽ có những khoản chi tiêu khác nhau Về cơ bản, chi tiêu gia đình được phân thành các nhóm sau:
Chi phí thiết yếu: chi phí thuê nhà, chi phí đi lại, chi phí ăn uống, chi phí chăm sóc con cái, chi phí thuốc men…
Chi phí cá nhân: chi phí đi du lịch, chi phí làm đẹp, chi phí phát triển các mối quan hệ…
Chi phí tài chính: trả lãi vay hoặc chi phí đầu tư…
Lao động di cư có đặc điểm là chỗ ở chưa ổn định, chủ yếu phải thuê nhà nên khoản chi phí này như gánh nặng với họ và là khoản chi phí không thể cắt giảm Chi phí thuốc men tương tự như chi phí thuê nhà, rất khó để tiết kiệm loại chi phí này
Tuy nhiên, các khoản chi tiêu khác, người lao động đều có thể cắt giảm
để phù hợp với thu nhập của mình Nhìn chung, dịch bệnh Covid – 19 khiến cho người lao động và đặc biệt lao động di cư sẽ phải sống tiết kiệm hơn, giỏ hàng hóa cũng vì thế mà thay đổi
2.1.5.4 Tác động tới sức khỏe tinh thần và mối quan hệ gia đình
Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona được phát hiện lần đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào tháng 12-2019 Bệnh này cực kỳ nguy hiểm tới sức khỏe của mọi người
vì hiện nay chưa có bất kỳ loại thuốc nào tiêu diệt được virut này Các triệu chứng của bệnh nhân mắc Covid-19 từ nhẹ đến nặng bao gồm: sốt, ho và khó thở Các triệu chứng này có thể xuất hiện từ 02 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc nguồn bệnh Tới khi khởi phát, Covid-19 gây sốt và có thể tổn thương đường
Trang 34hô hấp Trường hợp nặng, gây viêm phổi và có thể nhiều cơ quan khác trong
cơ thể khiến bệnh nhân tử vong, nhất là các trường hợp có bệnh nền
Bệnh vi-rút Corona 2019 (đại dịch COVID-19) có thể gây căng thẳng cho mọi người Sợ hãi và lo lắng về một căn bệnh mới và những gì có thể xảy
ra có thể choáng ngợp và gây ra cảm xúc mạnh mẽ ở người lớn và trẻ em Các hành động y tế công cộng, chẳng hạn như cách ly giao tiếp xã hội, có thể khiến mọi người cảm thấy bị cô lập và cô đơn và có thể làm tăng sự căng thẳng và lo lắng Khi lao động bị mất việc làm, giảm thu nhập, thì sự căng thẳng còn diễn ra nghiêm trọng hơn Ảnh hưởng của dịch bệnh tác động trực tiếp tới các mối quan hệ trong gia đình, nhiều vụ li hôn diễn ra sau dịch bệnh
do các cặp vợ chồng ở nhà cùng nhau quá lâu khi thực hiện giãn cách xã hội Cắt giảm chi tiêu cũng khiến mối quan hệ gia đình trở nên lục đục do mâu thuẫn vì tiền bạc
Sự căng thẳng trong khi diễn ra bùng phát bệnh truyền nhiễm đôi khi có thể gây ra những điều sau đây:
Sợ hãi và lo lắng cho sức khỏe của chính mình và sức khỏe của người thân, tình hình tài chính hoặc công việc của mình, hoặc mất các dịch vụ
hỗ trợ dành cho mình
Thay đổi về giấc ngủ hoặc các thói quen ăn uống
Khó ngủ hoặc mất tập trung
Các bệnh mãn tính trở nên xấu hơn
Các bệnh tâm thần trở nên tồi tệ hơn
Gia tăng sử dụng thuốc lá, và/hoặc rượu và các chất kích thích khác
Để giảm lo lắng về dịch bệnh, các bác sĩ và chuyên gia tâm lý đã khuyến khích: Cách tốt nhất để chống lại virus là có hệ thống miễn dịch khỏe mạnh Tăng cường tập thể dục, ăn uống khoa học và sạch sẽ, sinh hoạt điều độ, ngủ
đủ giấc, và giữ tinh thần thư giãn là những biện pháp hữu hiệu để tăng sức đề kháng cho cơ thể Bên cạnh đó, tự tạo cho mình thói quen vệ sinh để tránh lây
Trang 35nhiễm dịch bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế khuyến cáo như: rửa tay với xà phòng, hạn chế chạm vào mặt, che miệng khi ho, ở nhà khi ốm, giữ khoảng cách với người bị bệnh
Thông tin không chính xác về dịch bệnh hiện có thể tràn ngập trên các mạng xã hội Cách tốt nhất để hạn chế khủng hoảng từ nguồn tin không chính xác là chỉ cập nhật tin tức từ những nguồn chọn lọc và đáng tin cậy, như Bộ Y
tế, WHO hay CDC
Nên cập nhật thông tin một lần duy nhất trong ngày và suy nghĩ về những vấn đề hiện hữu khác của cuộc sống, như chăm lo cho công việc hoặc dành thời gian nhiều hơn cho bản thân, con cái và gia đình
Khi cảm thấy lo lắng, hãy tìm đến người thân, bạn bè hoặc đồng nghiệp
để tìm nguồn động viên, giúp đỡ, nhưng hạn chế bàn tán về dịch bệnh với những người hoang mang thái quá vì điều đó có thể làm gia tăng nỗi lo lắng cho cả hai
Tìm cách ứng phó hiệu quả khi có dịch bệnh xảy ra để gia đình và bản thân chịu ảnh hưởng ít nhất như tìm việc làm mới, thay đổi phong cách chi tiêu, tập cách hài lòng về cuộc sống, học cách sống chậm
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới tác động của đại dịch Covid – 19 tới lao động di cư
2.1.6.1 Diễn biến của dịch bệnh
Đa phần tác động của dịch bệnh Covid – 19 tới lao động di cư là những tác động tiêu cực như mất việc làm, giảm thu nhập, tâm lý căng thẳng, tinh thần lo lắng, gia đình lục đục Diễn biến dịch càng phức tạp thì mức độ nghiêm trọng của những tác động tiêu cực này càng tăng mạnh
Kiểm soát, khống chế tốt dịch bệnh là nhiệm vụ hàng đầu mà nhiều quốc gia đã và đang hướng tới Không lơ là, chủ quan trước sự phức tạp của dịch bệnh Hiện nay chủng virus Corona đã có nhiều biến thể khác nhau với tốc độ lây lan ngày càng nhanh yêu cầu mỗi người dân và cả nhà nước phải
Trang 36tuân thủ chặt chẽ quy định về phòng chống dịch Song hành với đó, các nhà nghiên cứu, các y bác sĩ tiếp tục tìm kiếm ra vaxin phòng bệnh và thuốc chữa căn bệnh đặc biệt nguy hiểm này
Khi dịch bệnh được khống chế thì mọi chính sách của nhà nước mới phát huy tác dụng
2.1.6.2 Nhóm yếu tố thuộc chính sách nhà nước
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong bối cảnh dịch Covid, BHTN là
loại bảo hiểm ngắn hạn, có vai trò như “bà đỡ” của Nhà nước, giúp cho người lao động nói chung và lao động di cư nói riêng khi không có việc làm được nhận những hỗ trợ Tham gia nộp hồ sơ hưởng BHTN, lao động di cư được
hỗ trợ như: Trợ cấp thất nghiệp; tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề;
hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm
Chính sách tiền tệ - tín dụng nhằm cơ cấu lại, giãn - hoãn nợ và xem
xét giảm lãi đối với tổng dư nợ chịu tác động Đại dịch khiến các chuỗi cung ứng dừng đột ngột, dãn cách xã hội khiến cầu về nhiều loại dịch vụ gần như trở về số không, đồng thời tác động mang tính phân phối của đại dịch đòi hỏi các gói kích thích tài khóa cần được thực thi sớm, nhanh và đủ liều Trong bối cảnh đại dịch gây ra sự dừng lại đột ngột trong sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ, chính sách tiền tệ có thể có tác dụng rất ít để bù đắp ngay Tuy nhiên, do đại dịch kéo dài và quy mô tác động lớn hơn nhiều so với dự kiến đã dẫn đến sự kéo dài về thời gian và quy mô của các gói hỗ trợ, sự phối hợp lẫn nhau và việc đồng thời phải triển khai các gói hỗ trợ của các cơ quan hoạch định chính sách tài khóa và tiền tệ đã làm cho "sự khác biệt giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trở nên mờ nhạt"
Chính sách tài khoá, hoãn thuế phí, miễn giảm thuế phí, hoãn hoặc miễn đóng BHXH, sử dụng ngân sách Nhà nước cấp tiền hoặc cho vay ưu đãi
để các DN có đủ vốn vượt qua khó khăn Rà soát lại các quy định, điều kiện, nới lỏng các yêu cầu về điều kiện thụ hưởng, đổi mới công tác triển khai cũng
Trang 37như xoá bỏ các quy định cồng kềnh để DN có thể thụ hưởng chương trình hỗ trợ bằng tiền từ ngân sách và gói hỗ trợ tín dụng, chấp nhận thà giúp nhầm còn hơn
bỏ sót để hỗ trợ thực sự đến được những doanh nghiệp dễ bị tổn thương
Chính sách kích cầu tiêu dùng, dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là trong hoạt động xuất khẩu Vì vậy, thời điểm này rất cần có các hoạt động kích cầu tiêu dùng, phát triển thị trường trong nước, quảng bá, tiêu thụ hàng Việt Nam để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn Nên tổ chức thêm nhiều các hoạt động để quảng bá, giới thiệu, tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy, hải sản đặc trưng vùng miền và giới thiệu các sản phẩm làng nghề truyền thống Thay đổi thói quen kinh doanh truyền thống sang kinh doanh online để thuận tiện cho người tiêu dùng trong điều kiện bắt buộc cách ly hoặc giãn cách xã hội
Hỗ trợ các doanh nghiệp để họ giảm giá sản phẩm hoặc đưa ra nhiều chương trình khuyễn mại kích thích tiêu dùng
2.1.6.3 Nhóm yếu tố thuộc chính quyền địa phương
Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các chính quyền địa phương đưa ra các biện pháp phòng chống dịch hiệu quả, từ đó phần nào giảm bớt tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid – 19 tới mọi mặt đời sống của người lao động nói chung và lao động di cư nói riêng
Các địa phương cần đề cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện nghiêm phương châm “bốn tại chỗ” và các biện pháp chiến lược
“kiểm soát chặt chẽ từ bên ngoài, khoanh vùng dập dịch triệt để từ bên trong, chữa trị hiệu quả, có trách nhiệm” để phòng dịch trong giai đoạn mới, đồng thời thực hiện tốt mục tiêu kép về phòng, chống dịch gắn với phát triển kinh tế
- xã hội và bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn Trong đó, tập trung thực hiện nghiêm túc thông điệp 5K, trước hết là đeo khẩu trang, khử khuẩn và khai báo
y tế người từ vùng dịch trở về Đồng thời, tập trung rà soát các phương án, kịch
Trang 38bản chống dịch Covid-19 ở các quy mô khác nhau, bảo đảm các khu cách ly phục vụ cho công tác phòng, chống dịch trong tình hình hiện nay
Ngoài ra, chính quyền địa phương phải nhanh chóng giải ngân gói hỗ trợ của chính phủ
Chính quyền địa phương tạo mọi điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động bình thường trong điều kiền dịch bệnh chưa dập tắt
Chính quyền quan tâm hơn tới lao động di cư, đặc biệt là lao động di cư
tự do bằng việc tổ chức hội chợ việc làm
2.1.6.4 Nhóm yếu tố thuộc bản thân lao động di cư
Nhân tố đầu tiên phải kể đến đó là trình độ văn hóa của người lao động Hiện nay, mặt bằng chung có thể nhận thấy trình độ văn hóa của người lao động di cư còn thấp Do vậy mà nó không chỉ có tác động rất lớn đến chất lượng nguồn lao động hay ý thức tránh lây lan dịch bệnh trong thời điểm này
mà còn ảnh hưởng tới khả năng tìm kiếm việc làm, khả năng kiểm soát chi tiêu và giữ gìn mối quan hệ gia đình trong thời kỳ dịch bệnh
Nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến nhận thức của lao động di cư trong việc giảm thiểu tác động của dịch bệnh Covid – 19 là độ tuổi của người di cư Những người trẻ tuổi thường sống lạc quan và có nhiều cơ hội thích ứng với dịch bệnh bằng cách di chuyển chỗ ở hoặc tìm kiếm việc làm mới Bản thân người trẻ tuổi cũng có sức đề kháng tốt hơn để không bị nhiễm bệnh Người lớn tuổi thường có tâm lý sợ rủi ro và ngại thay đổi nên khi có biến cố xảy ra như dịch bệnh Covid – 19, họ có xu hướng lo lắng nhiều hơn và phát sinh nhiều bệnh liên quan tới tinh thần
Giới tính cũng phản ánh mức độ tác động của dịch bệnh tới người lao động di cư Đối với người lao động di cư là nam, họ thường là trụ cột kinh tế trong gia đình nên khi mất việc làm, thu nhập giảm khiến mức độ ảnh hưởng tới gia đình là cao Tuy nhiên, đối với nữ giới với bản tính của phụ nữ, khi có bất cứ biến động nào cũng khiến cho họ bi quan và lo lắng nhiều hơn
Trang 39Dịch bệnh Covid – 19 không trừ một ai và mọi người đều chịu ảnh hưởng từ nó Loại hình nghề nghiệp và khu vực kinh tế mà lao động di cư đang làm việc quyết định đến mức độ tác động của dịch bệnh này Những người có công việc tự do, không cố định thường bị ảnh hưởng nhiều hơn những người có công việc ổn định Trong bối cảnh Covid – 19 ở Việt Nam thì những người làm việc ở các doanh nghiệp địa phương ít bị ảnh hưởng như những lao động làm việc ở các doanh nghiệp nước ngoài có yếu tố xuất khẩu Ngoài ra, các yếu tố như độ tuổi, quê quán… của lao động di cư cũng chi phối một phần tới sự tác động của dịch bệnh và sự thích ứng của họ khi dịch bệnh xảy ra
2.2 Cơ sở thực tiễn về tác động của dịch Covid-19 tới người lao động
Trong số những lĩnh vực kinh tế bị tác động bởi dịch Covid-19, các ngành nghề có liên quan đến thương mại bán buôn, bán lẻ; sản xuất; dịch vụ lưu trú và ăn uống; bất động sản, hoạt động liên doanh và hành chính bị tác động nặng nề nhất; trong khi đó một số ngành nghề có sự bảo trợ của nhà nước như giáo dục, y tế, nông nghiệp chịu sự tác động ít hơn Ước tính, có khoảng 2 tỷ người lao động phi chính thức (tự do) đang bị tác động bởi dịch Covid-19, đa số họ ở các nước thuộc khu vực có nền kinh tế mới nổi, đang phát triển Những người lao động này thường khó tiếp cận với các dịch vụ y
tế, an sinh xã hội, đồng thời đối mặt với những nguy cơ lây nhiễm cao và nguy cơ bị tác động bởi các biện pháp phong tỏa Một số nghề nghiệp của những người này như giúp việc gia đình, bán hàng rong, công nhân xây
Trang 40dựng…Tại Ấn Độ, nơi gần 90% tổng số lao động là lao động phi chính thức, với khoảng 400 triệu người đang phải đối diện với nguy cơ rơi vào tình trạng nghèo đói
Theo báo cáo thống kê, thị trường lao động của nhiều nước chịu nhiều tác động chưa có tiền lệ Tại Mỹ, trong tháng 6/2020, khoảng 40,4 triệu lao động bị tác động do đại dịch Covid-19 Số lao động thất nghiệp trong tháng 6/2020 là 17,8 triệu người, trong khi con số này là vào khoảng 5-7 triệu trong
5 năm trở lại đây Tại Liên hiệp châu Âu (EU), trong tháng 5/2020, tỷ lệ thất nghiệp là 6,7%, số lượng lao động bị thất nghiệp là 14,366 triệu người Tại Hàn Quốc, số người thất nghiệp trong tháng 5/2020 là 1,172 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,5% Đây là mức cao nhất trong 10 năm qua của Hàn Quốc Tại Nhật Bản, tỷ lệ thất nghiệp tháng 6/2020 ở mức 2,9%, tăng 0,3% so với tháng 5/2020 Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia và nhà khoa học, thống kê thất nghiệp chưa bao gồm hàng triệu lao động, đặc biệt là lao động nữ, đã phải bỏ việc và rời khỏi thị trường lao động để chăm lo cho gia đình trước tác động của đại dịch
Ngoài ra, con số này cũng chưa bao gồm khoảng 4,2 triệu lao động bị ngừng việc, tương đương khoảng 6% tổng lực lượng lao động Tại Malaysia,
tỷ lệ thất nghiệp lên tới mức 5,3% vào tháng 5 và sẽ ở mức 6-8% vào tháng 6; đây là mức cao nhất trong vòng 30 năm qua ở Malaysia Bên cạnh đó, số người bị ngưng việc ở Malaysia là 4,87 triệu người vào thời điểm tháng 4/2020 Con số này giảm xuống 2,27 triệu vào tháng 5/2020 Ở Thái Lan, tỷ
lệ thất nghiệp của Thái Lan trong tháng 5/2020 lên tới 9,6%, trong khi tỷ lệ chính thức của Chính phủ trung bình vào khoảng 0,7% trong mười năm trở lại đây Khoảng 95,5% hộ gia đình bị tác động; 52,5% hộ gia đình bị giảm thu nhập Thái Lan có lực lượng lao động phi chính thức, chiếm 54,3% lực lượng lao động, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực chịu tác động nặng nề của dịch như dịch vụ ăn uống, lưu trú, nghỉ dưỡng, xây dựng và vận tải