LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp ”Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn L
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
- -
NGÔ THỊ MAI CHI
NGHIÊN CỨU MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THỊ TRẤN LANG CHÁNH, HUYỆN LANG CHÁNH,
TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CHO
CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THU GOM VÀ
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI
DÂN TẠI THỊ TRẤN LANG CHÁNH, HUYỆN LANG
CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
Sinh viên thực hiện : NGÔ THỊ MAI CHI
Chuyên ngành đào tạo : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : ThS HOÀNG THỊ HẰNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp ”Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho
cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong bài khóa luận là trung thực và
chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi việc giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong bài đã được ghi rõ nguồn gốc và tên tác giả
Hà Nội, ngày tháng năm 202
Sinh viên
Ngô Thị Mai Chi
Trang 4Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô ThS Hoàng Thị Hằng đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi có những hướng đi cụ thể và đóng góp cho tôi nhiều
ý kiến bổ ích giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ tại UBND Thị trấn Lang Chánh và các hộ gia đình tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ và động viên tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này
Hà Nội, ngày tháng năm 202
Sinh viên
Ngô Thị Mai Chi
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo thống kê của Viện Môi trường Nông Nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt, trong đó có khoảng 1,3 triệu m3 nước thải và có tới 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật Lượng chất thải rắn từ sinh hoạt thải ra càng nhiều làm gia tăng sức ép với môi trường tự nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của người dân Trong khi đó, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt ở nông thôn chỉ đạt từ 40% đến 55% Tình trạng này khiến các bãi rác mỗi ngày một lớn hơn và là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường cục bộ, tạo áp lực lớn cho
cả người dân và chính quyền địa phương
Trên địa bàn thị trấn Lang Chánh hiện nay chỉ có một đơn vị thực hiện thu gom và vận chuyển rác thải về bãi tập kết cách trung tâm thị trấn 4km, và tiến hành thu gom theo từng phố Tuy nhiên, việc thu gom rác thải này đã không đảm bảo được lượng rác thải sinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dân không chờ được tới khi thu gom rác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải của gia đình mình theo nhiều hình thức khác nhau đốt tại vườn hay vứt rác trực tiếp xuống các ao, sông, ven đường Bên cạnh đó, năng lực thu gom của thị trấn còn hạn chế về cả tài chính, thiết bị lẫn nhân lực nên tỷ lệ thu gom và xử lý vẫn chưa đạt yêu cầu, lượng rác thải sinh hoạt để quá lâu và quá nhiều tại các bãi tập kết dẫn đến tình trạng môi trường trong thị trấn bị ô nhiễm gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân trong
thị trấn Trước tình hình đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu mức sẵn
lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt của người dân Thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (2) Đánh giá thực trạng môi trường và thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt
và xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Lang Chánh trong thời gian qua (3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân
Trang 6đối với cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở thị trấn Lang Chánh (4) Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức sẵn lòng chi trả
để cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thị trấn Lang Chánh
Về cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân.
Đề tài đã tiến hành sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: (1) Phương pháp thu thập số liệu (2) Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu (3) Phương pháp phân tích số liệu (4) Phương pháp tạo dựng thị trường CVM, phương pháp này được sử dụng nhằm đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt rên địa bàn thị trấn Lang Chánh
Về kết quả nghiên cứu và thảo luận, đề tài tìm hiểu thực trạng môi trường tại thị trấn và tình hình thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở nơi đây Hiện nay lượng rác khu vực là rất lớn, việc thu gom và xử lý không triệt để làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống của người dân và cảnh quan khu vực Qua quá trình điều tra tìm hiểu thông qua 120 hộ đã đánh giá được thực trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn và xác định được mức WTP của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương Mức WTP trung bình của người dân là 10644 đồng/người/tháng, trong đó, mức WTP cao nhất là 18000 đồng/người/tháng, mức WTP thấp nhất là 5000 đồng/người/tháng mức đóng góp này thấp hơn mức đóng góp hiện tại đang thu gom ở thị trấn Nghiên cứu đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP của người dân đối với việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương, các yếu tố ảnh hưởng đến mức WTP bao gồm: thu nhập, lượng rác, nhân khẩu, nghề nghiệp (công nhân viên chức và về hưu)
Sử dụng các số liệu đã thu thập phân tích, đồng thời nghiên cứu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả là: Thu nhập, trình độ, nghề
nghiệp, giới tính, lượng rác, nơi sinh sống của người dân
Trang 7Để khắc phục tình trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường và làm mất cảnh quan trọng khu vực nghiên cứu ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dân, đề tài đưa ra các giải pháp: chính quyền địa phương có các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng bao gồm giải pháp về vai trò của giới và giải pháp tuyên truyền giáo dục; xây dựng hệ thống thu gom quản lý rác thải phù hợp với điều kiện địa phương; xây dựng quy định về quản lý bảo vệ môi trường; có chế tài quản lý quỹ phí và đưa ra mức phí hợp lý
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ xi
DANH MỤC HỘP xi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Vai trò của việc chi trả cho cải thiện chất lượng dịch thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 14
2.1.3 Nội dung về mức sẵn lòng chi trả 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sử dụng dịch vụ thu gom rác thải 16
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới 17
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam 20
2.2.3 Các chính sách của chính phủ có liên quan 22
Trang 92.3 Bài học kinh nghiệm 23
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 26
3.2 Phương pháp nghiên cứu 37
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 37
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 37
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 38
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 39
3.2.5 Phương pháp tạo dựng thị trường CVM- Đánh giá ngẫu nhiên (contingent valuation method (CVM) 39
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
3.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện kinh tế xã hội và thực trạng thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt 41
3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả nghiên việc mức sẵn lòng trả của các hộ dân trong thị trấn 41
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Thực trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Lang Chánh 43
4.1.1 Thông tin chung của các hộ điều tra 43
4.1.2 Thực trạng chất thải rắn sinh hoạt 44
4.1.3 Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở thị trấn Lang Chánh 45
4.1.4 Đánh giá của người dân đối với công nhân vệ sinh 51
4.1.5 Đánh giá của công nhân vệ sinh 53
4.2 Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt thị trấn Lang Chánh 57
4.2.1 Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân 57
4.2.2 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện tần suất thu gom 61
4.2.3 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện thời gian thu gom 62
Trang 104.2.4 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện hình thức đóng quỹ 63
4.2.5 Xác định nhu cầu trong việc cải thiện thời gian đóng quỹ 64
4.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của các hộ dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Lang Chánh 64
4.3.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức WTP 64
4.3.2 Ảnh hưởng của số nhân khẩu của hộ đến mức WTP 65
4.3.3 Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến mức WTP 66
4.3.4 Ảnh hưởng của thu nhập đến mức WTP 68
4.3.5 Ảnh hưởng của lượng rác thải hàng ngày đến mức WTP 71
4.3.6 Ảnh hưởng của nơi sinh sống đến mức WTP 72
4.4 Một số giải pháp nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của các hộ dân 74
4.4.1 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế phân loại, thu gom và xử lý CTRSH 74
4.4.2 Quản lý mức thu phí hợp lý 76
4.4.3 Nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân và cán bộ trong thị trấn 76
4.4.4 Nâng cao thu nhập về mức sống của người dân trong thị trấn 78
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 11Bảng 4.9: Nhận xét của công nhân vệ sinh môi trường về ý thức của người
dân trong công tác thu gom, phân loại RTSH 56 Bảng 4.10: Lý do người dân đồng ý sẵn lòng chi trả 57 Bảng 4.11: Lý do không đồng ý sẵn lòng chi trả 58 Bảng 4.12: Mức sẵn lòng chi trả của các hộ cho cải thiện dịch vụ thu gom
Bảng 4.13: Các mục đích của quỹ cho dịch vụ thu gom và xử lý rác thải sinh
hoạt tại thị trấn Lang Chánh 61 Bảng 4.14: Mong muốn của người dân về cải thiện tần suất thu gom 62 Bảng 4.15: Mong muốn của người dân về cải thiện thời gian thu gom 62 Bảng 4.16: Mong muốn của người dân về cải thiện hình thức đóng quỹ 63
Trang 12Bảng 4.17: Mong muốn của người dân về cải thiện thời gian đóng quỹ 64 Bảng 4.18: Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức WTP 64 Bảng 4.19: Mối quan hệ giữa nghề nghiệp và mức WTP 67 Bảng 4.20 Ảnh hưởng của mức thu nhập đến WTP cho việc cải thiện chất
lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 68 Bảng 4.21: Mối quan hệ giữa lượng rác và mức WTP 71 Bảng 4.22: Mối quan hệ giữa nơi sinh sống và mức WTP 73
Trang 13DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Đường cầu 9
Hình 2.2: Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất 10
Sơ đồ 4.1 Hình thức thu gom rác thải 46
Đồ thị 4.1 Mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình 60
Đồ thị 4.2: Ảnh hưởng của nhân khẩu/ hộ đến mức WTP 66
Đồ thị 4.3: Mối quan hệ giữa thu nhập và mức WTP trung bình của các hộ gia đình cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt 70
Đồ thị 4.4: Mối quan hệ giữa lượng rác và WTP 72
DANH MỤC HỘP Hộp 4.1: Ý kiến của người dân trong việc phân loại rác thải 48
Hộp 4.2: Ý kiến của người dân về thực trạng bãi rác thị trấn Lang Chánh 50
Trang 14DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CVM Phương pháp tạo dựng thị trường
CS Thặng dư người tiêu dùng GTSX Giá trị sản xuất
HTX Hợp tác xã MWTP Sẵn lòng chi trả mỗi cá nhân
MP Chi phí theo giá thị trường PET polyethylene terephthalate
PS Thặng dư người sản xuất TN&MT Tài nguyên và môi trường UBND Ủy ban nhân dân
WTP Willingness To Pay – sự bằng lòng trả BVMT Bảo vệ môi trường
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt NĐ-CP Nghị định- Chính phủ
Trang 15PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống người dân tăng lên Các nhu cầu thiết yếu của con người cũng tăng vì vậy các nhu cầu, dịch vụ cũng phát triển, không chỉ ở các khu vực thành thị mà còn cả ở nông thôn Đồng hành với những đòi hỏi, yêu cầu về đáp ứng nhu cầu về nhà ở, sinh hoạt… lượng chất thải rắn từ sinh hoạt thải ra ngày càng nhiều làm gia tăng sức ép với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Theo thống kê của Viện Môi trường Nông nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước ta phát sinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt và có tới 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vât, mỗi người dân nông thôn thải 1,5kg rác/ngày Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt mặc dù ngày càng được chính quyền các cấp quan tâm, nhưng năng lực thu gom vẫn còn hạn chế Mặt khác do nhận thức của người dân còn chưa cao nên lượng rác bị vứt bừa bãi ra môi trường ngày càng nhiều, việc thu gom phân loại tại nguồn vẫn chưa được
áp dụng rộng rãi do thiếu đầu tư cơ cơ hạ tầng
Theo báo cáo từ Sở TN&MT tỉnh Thanh Hóa, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt ở tỉnh năm 2019 phát sinh khoảng 20.131 tấn/ngày Toàn tỉnh có 18 khu xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh , 23 khu xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ đốt với công suất 250-500kg/giờ và 2 khu xử lý bằng công nghệ hỗn hợp với công suất 500kg/giờ Ngoài 3 đô thị là Thành phố Thanh Hóa, Thành phố Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn được trang bị xe cuốn, ép rác chuyên dụng, ở các huyện còn lại phương tiện thu gom rác chủ yếu là các xe ô tô tải nhỏ, xe công nông và xe thu gom đẩy tay Các khu xử lý rác thải sinh hoạt chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý toàn bộ lượng rác thải sinh hoạt phát sinh, hiệu quả xử lý rác thải chưa cao
Thị trấn Lang Chánh cũng nằm trong những thực trạng trên, là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh Cơ cấu kinh tế của thị trấn những năm gần đây có
Trang 16sự chuyển dịch mạnh theo hướng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm, công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh Kinh tế càng phát triển thì chất lượng môi trường ngày càng đi xuống, đặc biệt là lượng rác thải phát sinh hàng ngày có chiều hướng gia tăng cả về
số lượng và thành phần gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và đời sống người
dân nơi đây
Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, năm 2014 công ty CP xây dựng và tự động hóa Đức Anh thông qua đề án thành lập công ty môi trường đi vào hoạt động Công ty được giao nhiệm vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải của thị trấn Tuy nhiên, việc thu gom đã không đảm bảo được lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dân không chờ được tới khi thu gom rác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải của gia đình mình theo nhiều phương thức khác nhau Lượng chất thải rắn sinh hoạt để quá lâu và quá nhiều dẫn đến tình trạng môi trường trong thị trấn bị ô nhiễm
Vấn đề tồn tại ấy đã và đang đặt ra một loạt câu hỏi để giải quyết: Người dân tại thị trấn có sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện dịch vụ thu gom rác hay không? Mức sẵn lòng của họ là bao nhiêu? Những yếu tố nào tác động ảnh hưởng đến mức
độ sẵn lòng chi trả của họ? Chính vì vậy, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm do rác thải tại khu vực thị trấn Lang Chánh chúng ta phải có cái nhìn nhận đánh giá nghiêm túc vấn đề ô nhiễm ở khu vực này trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để cải thiện môi trường tại thị trấn Để góp phần làm rõ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu
gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý chất thải rắn ở thị trấn Lang Chánh huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa; từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng chi trả dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
Trang 17- Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương;
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả của hộ nông dân với việc thu gom và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
b Đối tượng điều tra
- Các hộ gia đình: nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt chủ yếu tở địa phương
- Công nhân vệ sinh môi trường: những người chịu trách nhiệm trực tiếp thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
- Cán bộ quản lý môi trường: những người chịu trách nhiệm trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Trang 18c Phạm vi về thời gian:
Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu của đề tài được thu thập trong giai đoạn 2017-2019
Số liệu sơ cấp tiến hành thu nhập năm 2020 để phục vụ nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 1 năm 2021
Trang 19PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
a Khái niệm về chất thải
Chất thải là những vật chất, trong một quá trình sản xuất nào đó, không còn khả năng sử dụng nữa và bị loại ra từ quá trình sản xuất đó Chất thải ra từ hoạt động đời sống từ khu dân cư cũng đều là chất thải Chất thải có thể ở dạng khí, rắn, lỏng Chất thải rắn còn được gọi là rác Chỗ nào càng tập trung nhiều sinh vật, con người thì chỗ đó càng có nhiều chất thải
Chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí mùi hoặc ở tất cả các dạng khác thải ra từ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hoặc các hoạt động khác của con người (Điều 2 của luật BVMT năm 2005 của Quốc hội, NXB Chính trị Quốc gia)
b Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt có thể được hiểu là chất thải phát sinh do các hoạt động của con người tồn tại ở dạng rắn được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không muốn dùng nữa
Theo nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn định nghĩa như sau: Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt
có thành phần bao gồm: kim loại, sỏi đá, cao su, thủy tinh, giấy vụn, thực phẩm tre thừa…
c Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
Thứ nhất: ảnh hưởng đến môi trường nước
Những loại chất thải sinh hoạt có ảnh hưởng đến đời sống của các loài động vật trong nước khiến hệ sinh thái đa dạng của sông ngòi và biển đang dần mất đi Đặc biệt nước ta là quốc gia giáp biển và có hệ thống sông dày đặc, một bộ phận người dân sống nhờ vào việc đánh bắt thủy, hải sản hay nuôi tôm, cá trên cá vùng
Trang 20nước ngọt cũng ngày càng cạn kiệt, cá tôm chết hàng loạt ở các đập vì môi trường nước bị ô nhiễm
Thứ hai: Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Rác thải trong quá trình phân hủy tự nhiên thường có mùi hôi thối khó chịu
và dễ làm lan nhanh trong không khí thông qua gió, mùi hôi thối phát tán rộng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân Khi đốt rác cũng có thể dẫn đến ô nhiễm không khí do những sản phẩm trong quá trình đốt tạo ra các chất độc hại như điôxin, SO2…khói nơi đốt rác có thể làm giảm tầm nhìn, nguy cơ gây cháy nổ, hỏa hoạn
Thứ ba: Ảnh hưởng đến môi trường đất
Rác thải lâu ngày không được thu gom, xử lý và thải trực tiếp vào môi trường sẽ bị lưu giữ lại trong đất Các loại rác thải khó phân hủy sinh học hoặc hoàn toàn không phân hủy tồn tại lâu dần dẫn đến chúng trộn lẫn vào đất làm thay đổi thành phần đất, giảm lượng chất hữu cơ, mất môi trường sống của các loại vi sinh vật đất,…từ đó đất sẽ bạc màu, khó canh tác hoặc mất khả năng canh tác Còn các thành phần rác dễ phân hủy sinh học thường phân hủy thành những chất có khả năng kết hợp với nhau tạo thành các chất độc theo nước ngấm dần xuống đất làm ô nhiễm môi trường đất Đặc biệt hiện nay, túi ni lông được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt và đời sống, chúng cần tới 50 – 60 năm mới phân hủy trong đất Yếu tố này tạo thành các bức tường ngăn cách trong đất hạn chế mạnh quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút
Thứ tư: Ảnh hưởng đến cảnh quan
Không chỉ gây ảnh hưởng đến môi trường, rác thải sinh hoạt cũng gây mất
mỹ quan sống, nó được phản ánh qua sự nhìn nhận của chính những người dân Rác thải vứt bừa bãi, không được thu gom gây ra những cái nhìn không thiện cảm, sự khó chịu lên người dân Điều này còn ảnh hưởng đến những hoạt động phát triển kinh tế xã hội, giao thông…
Thứ năm: rác thải sinh hoạt cũng là nguồn dịch bệnh
Trang 21Các mối nguy cơ gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước nói trên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, đặc biệt khu dân cư quanh khu vực có chứa chất thải rắn Việc ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn thức ăn: các chất ô nhiễm
có trong đất, nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm của con người: rau, động vật…qua lưới và chuỗi thức ăn, những loại chất gây ô nhiễm này tác động xấu đến sức khỏe con người
d Phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu
➢ Phương pháp chôn lấp chất thải hợp vệ sinh
Phương pháp này chi phí rẻ nhất, bình quân ở các khu vực Đông Nam Á là 1-2 USD/tấn, phương pháp này thường phù hợp với các nước đang phát triển Chôn lấp đơn thuần không qua xử lí, đây là phương pháp phổ biến nhất theo thống
kê, nước ta có khoảng 149 bãi rác cũ không hợp vệ sinh,trong đó 21 bãi rác thuộc cấp tỉnh - thành phố, 128 bãi rác cấp huyện – thi trấn Được sự giúp đỡ của nước ngoài đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang Nếu chôn lấp mà không được kiểm soát, chất thải rắn cũng sẽ gây ra nhiều nguy cơ khác đối với sức khoẻ cộng đồng
và đối với môi trường Vì công nghệ tương đối đơn giản khá linh hoạt, chôn lấp hợp vệ sinh có nghĩa là chôn lấp chất thải rắn khó kiểm soát, được xem là phương pháp quản lý việc thải bỏ chất thải rất phù hợp đối với các nước đang phát triển Chôn lấp hợp vệ sinh giúp hạn chế sự tiếp xúc của con người và môi trường với các ảnh hưởng có hại của chất thải rắn bị đổ bỏ trên mặt đất Thông qua chôn lấp hợp vệ sinh, chất thải được tập trung vào 1 khu vực được thiết kế cẩn thận sao cho sự tiếp xúc giữa chất thải và môi trường giảm đáng kể (Thu Trang, 2014)
➢ Phương pháp đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác không thể xử lý bằng các phương pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó các rác độc hại được chuyển hóa thành khí
và các chất thải rắn khác không cháy Phương pháp này chi phí cao, thông thường
từ 20-30 USD/tấn nhưng chu trình xử lý ngắn, chỉ từ 2-3 ngày, diện tích sử dụng chỉ bằng 1/6 diện tích làm phân hữu cơ có cùng công suất Chi phí cao nên chỉ có
Trang 22các nước phát triển áp dụng, ở các nước đang phát triển nên áp dụng phương pháp này ở quy mô nhỏ để xử lý chất độc hại như: Chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, chất thải nông nghiệp Tuy nhiên đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh đioxin nếu việc xử lý khói không tốt (phần xử
lý khói là phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác) (Thu Trang, 2014)
➢ Phương pháp ủ sinh học
Đây là hình thức xử lý được coi là đơn giản nhất và với quy mô nhỏ nhất Rác được ủ thành đống hoặc luống, nổi trên mặt đất hoặc chìm dưới hố, hoặc nửa nôỉ nửa chìm Đống ủ có thể được trát kín bằng bùn Trong trường hợp này, suốt quá trình ủ, oxy sẽ được tiêu thụ dần đến hết, và điều kiện chuyển từ hiếu khí sang
kị khí; nhiệt độ có thể tăng lên đến 60-70oC Nếu đống ủ không được trát kín, nó cũng có thể được đảo xới định kỳ để được cung cấp oxy vào bên trong Với thao tác sản xuất và có kiểm soát khoa học, tạo môi trường tối ưu (nhiệt độ: 40 - 55 oC, độ ẩm: 50 - 52%), quá trình ủ cũng tự tạo ra nhiệt riêng nhờ sự ô xy hóa các chất thối rữa Quá trình này là sự phân giải phức tạp gluxit, lipit và protein với sự tham gia của các vi sinh vật kị khí Nguyên lý ủ sử dụng các vi sinh vật được bổ sung chọn lọc Các chủng vi sinh dự án sử dụng là vi khuẩn lactobacillus và saccaromyces, nhằm phân giải các hợp chất hữu cơ Thời gian ủ dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào quy
mô đống ủ, tuỳ nguyên liệu ủ và điều kiện hiếu khí hay kị khí Có thể kết hợp một giai đoạn hiếu khí với một giai đoạn kị khí (Minh Phúc, 2015) Hiện nay, ở Việt Nam sản xuất phân compost đã được thực hiện ở một số nhà máy được xây dựng gần các khu đô thị, nơi cung cấp chính các loại chất thải hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào
2.1.1.2 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
a Cầu người tiêu dùng
Theo David Begg (2009): cầu của người tiêu dùng về một hàng hóa được định nghĩa như là mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và lượng cầu của hàng hóa tại một thời điểm Mọi điểm trên đường cầu (D) của hàng hóa biểu diễn quan hệ giữa giá
cả và lượng cầu tương ứng thể hiện tất cả các mức độ sẵn sàng trả tiền của người
Trang 23tiêu dùng đối với hàng hoá đó Giá cả và lượng cầu tồn tại mối quan hệ nghịch biến, lượng cầu hàng hóa tăng lên khi giá cả hàng hóa thấp đi
Xem xét đường cầu của sản phẩm A tại hình 2.1, người tiêu dùng sẽ mua Q1 đơn vị sản phẩm với mức giá 1 đơn vị sản phẩm là P1 Người tiêu dùng sẽ mua Q2 đơn vị sản phẩm nếu mức giá 1 đơn vị sản phẩm là P2 Người tiêu dùng sẽ mua thêm lượng hàng hóa là (Q2 – Q1) đơn vị nhưng giá bán sản phẩm cũng đã giảm từ P1 xuống P2
Hình 2.1: Đường cầu
Như vậy, khi số lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên, sự sẵn sàng trả tiền của người tiêu dùng cho mỗi đơn vị hàng hóa mua thêm sẽ giảm xuống Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật về hữu dụng cận biên giảm dần
b Nhu cầu của con người
Theo Philip Kotler, chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: “ Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được” Nhu cầu của con người đa dạng và phức tạp nhu cầu ăn uống, nhu cầu về tài sản, về dịch vụ…khi nhận thức được nhu cầu con người sẽ tìm cách để thỏa mãn Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người lại có một nhu cầu khác nhau
Nhu cầu của con người được hình thành trong quá trình đấu tranh với tự nhiên và đấu tranh giai cấp, nên mang tính chất xã hội và có giai cấp Nhu cầu của con người trong xã hội một mặt phản ánh những điều kiện vật chất và tinh thần có trong xã hội, mặt khác phản ánh nguyện vọng của người tiêu dùng Điều đó cũng có nghĩa là nhu cầu gắn liền với tiêu dùng bởi vì mỗi nhu cầu cụ thể nào đó của con người đều phản ánh khả năng tiêu dùng, vừa phản ánh nguyện vọng tiêu dùng
Trang 24c Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
Hình 2.2: Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
Xem xét sản phẩm A có đường cầu (D) và đường cung (S) như hình 2.2 Tại điểm cân bằng thị trường M là điểm cắt của đường cung và đường cầu, mức giá cân bằng thị trường của sản phẩm A là P* và sản lượng cân bằng thị trường là Q*
Phần thặng dư của nhà sản xuất là chênh lệch giữa tổng doanh thu (diện tích hình P*MQ*O) và tổng chi phí (diện tích hình P2MQ*O), là diện tích tam giác P2MP*
Đối với người tiêu dùng, họ nhận được lợi ích (quy ra tiền) khi mua 1 sản phẩm A bằng đúng số tiền họ bằng lòng bỏ ra để mua nó Như vậy, tại hình 2, khi người tiêu dùng mua Q* sản phẩm A thì lợi ích họ nhận được là diện tích hình OP1MQ* Chi phí thực tế bỏ ra để mua Q* sản phẩm A là diện tích hình P*MQ*O Lợi ích ròng mà người tiêu dùng nhận được khi sử dụng sản phẩm A là diện tích tam giác P*MP1 Lợi ích ròng này chính là thặng dư tiêu dùng Thặng dư tiêu dùng
là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng nhận được khi tiêu dùng hàng hóa
và những chi phí thực tế để có được lợi ích đó (Mankiw, 2003)
Ngày nay khi nhu cầu ngày càng lớn, lượng rác thải sinh hoạt cũng tỷ lệ thuận với nhu cầu của người dân thì chính quyền triển khai các dịch vụ thu gom và
Trang 25xử lý Chính quyền hỗ trợ và người dân đóng góp một phần để người dân có ý thức tránh ỷ lại vào chính quyền các cấp
Việc chi trả cho dịch vụ làm cho môi trường thông thoáng hơn, sạch sẽ hơn
và tăng tính thẩm mỹ hơn Do lượng rác thải sinh hoạt đã được tập trung về một bãi tập kết cách xa khu dân cư Tuy nhiên vẫn còn nhiều rủi ro do chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa đáp ứng được hết lượng rác thải sinh hoạt (Ánh Hoa, 2018)
d Mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
Người tiêu dùng thường chi tiêu cho sản phẩm A họ muốn tiêu dùng với mức giá thị trường là P* Tuy nhiên, tùy thuộc sở thích tiêu dùng của cá nhân người tiêu dùng, họ chấp nhận chi tiêu với mức giá cao hơn giá thị trường để có được sản phẩm A Mức giá cao nhất người tiêu dùng chấp nhận bỏ ra để mua sản phẩm A là P1 Như vậy, mức sẵn lòng chi trả (WTP) chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng, là thước đo sự thỏa mãn của khách hàng Người tiêu dùng mua Q* sản phẩm A với giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm A chính là giá trị của sản phẩm cuối cùng là Q* Người tiêu dùng được hưởng thặng dư tiêu dùng vì họ chỉ phải trả một lượng giá trị
là Q* đồng đều cho từng đơn vị hàng hóa đã mua Theo quy luật về hữu dụng cận biên giảm dần, mức độ thỏa mãn của khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm A giảm dần từ đơn vị sản phẩm thứ 1 đến đơn vị sản phẩm thứ Q* Mức thỏa dụng thặng
dư người tiêu dùng sẽ nhận được từ đơn vị sản phẩm thứ 1 đến đơn vị sản phẩm thứ Q*-1 Do vậy, đường cầu được mô tả giống như đường sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng Miền nằm dưới đường cầu, bao gồm chi phí người tiêu dùng bỏ ra để mua sản phẩm theo giá thị trường và thặng dư người tiêu dùng nhận được khi sử dụng sản phẩm, đo lường tổng giá trị của WTP Hay nói cách khác:
Trang 26SP*MP1: là diện tích hình P*MP1, biểu thị thặng dư người tiêu dùng nhận được khi mua sản phẩm (David Begg, 2009)
⁕ Các phương pháp xác định mức sẵn lòng chi trả:
Đối với nhà sản xuất, trước khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng họ thường xem xét sẽ bán hàng hóa, dịch vụ của mình với mức giá là bao nhiêu tiền Để tránh việc định giá hàng hóa một cách trực quan, không có sự tính toán chính xác, dẫn đến những sai lầm về giá cả ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận, nhà sản xuất phải cân nhắc về giá bán, số lượng bán ra và lợi nhuận kì vọng thu được
Đối với người tiêu dùng, khi mua một hàng hóa hay sử dụng một dịch vụ, họ quan tâm đến mức độ thặng dư tiêu dùng mà họ nhận được khi sử dụng Vì ngân sách của người tiêu dùng là hữu hạn nên họ luôn lựa chọn mua các sản phẩm mang lại cho họ nhiều thặng dư tiêu dùng hơn
Do đó, việc xác định mức sẵn lòng chi trả cần được áp dụng trong quá trình định giá bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và xác định đặc điểm cần có của hàng hóa, dịch vụ (trong quá trình xây dựng sản phẩm) của nhà sản xuất Mục đích của việc xác định mức sẵn lòng chi trả là xác định thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, xác định mức chi phí khách hàng sẵn sàng bỏ ra để xây dựng giá bán tối ưu nhằm tối đa hóa lợi nhuận thu được
Mức sẵn lòng chi trả được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau Theo Turner, Pearce và Bateman (1993) có 02 nhóm phương pháp cơ bản để xác định là: phương pháp đánh giá hàng hóa thông qua đường cầu (cách của Marshall hoặc Hicks) và phương pháp đánh giá hàng hóa không thông qua đường cầu
- Các phương pháp không thông qua đường cầu: phương pháp này không thể cung cấp thông tin đánh giá, các đo lường về lợi ích thực nhưng vẫn là công cụ tìm tòi hữu ích để thẩm định chi phí lợi ích của các dự án sản xuất Bao gồm các phương pháp:
+ Phương pháp thay đổi năng suất (Changes in Productivity): được sử dụng
để xác định giá trị kinh tế của sự thay đổi sản lượng Ưu điểm của phương pháp này
là đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện vì có thể xác định được trực tiếp giá trị kinh tế,
Trang 27dựa trên các thông tin dễ thu thập và quan sát được về giá và các mức sản lượng trên thị trường Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này gặp phải vấn đề nhất định chẳng hạn như sản lượng, giá trị hàng hóa có thể bị phản ánh sai trong một số tình huống thay đổi hoặc hàng hóa sử dụng đa mục đích cần có sự đánh đổi về giá trị…
+ Phương pháp chi phí thay thế (Substitue Cost Method): được sử dụng để tính các chi phí để sử dụng biện pháp thay thế hoặc phục hồi để loại bỏ hoặc giảm lược các tác động bất lợi chẳng hạn như tác động của ô nhiễm không khí đối với cơ
sở hạ tầng là cầu đường, nhà cửa… Phương pháp này khá đơn giản trong ứng dụng
do không phải thực hiện các cuộc điều tra chi tiết nhưng việc xác định các biện pháp thay thế hoặc phục hồi đôi khi rất khó khăn dẫn đến tính toán chi phí không chính xác
+ Phương pháp chi phí phòng ngừa (Preventive Cost Method): Để tránh các thiệt hại có thể nhìn thấy trước, các biện pháp phòng ngừa thường được sử dụng với chi phí thấp hơn thiệt hại thực tế xảy ra Chi phí phòng ngừa này được dùng làm cơ sở tính toán chi phí thiệt hại Phương pháp này đơn giản và có chi phí thấp hơn thực tế thiệt hại nhưng chi phí phòng ngừa luôn bị hạn chế bởi thu nhập Chẳng hạn như việc tiêm chủng phòng bệnh, chi phí xây dựng đê điều,…
+ Phương pháp chi phí y tế (Cost of Illness): được sử dụng trong trường hợp phát sinh chi phí do sức khỏe con người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường Chi phí về dịch vụ y tế chẳng hạn như chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, chi phí do năng suất lao động giảm… được tính là chi phí do ô nhiễm môi trường tác động đến sức khỏe con người
- Phương pháp thông qua đường cầu: cung cấp các thông tin đánh giá và các
đo lường về lợi ích, giá trị thặng dư tiêu dùng Bao gồm các phương pháp:
+ Phương pháp đo lường mức thỏa dụng (Hedonistic Pricing Method): được
sử dụng để ước tính giá trị của môi trường ẩn trong giá trị của các hàng hóa, dịch
vụ thông thường như giá trị của khung cảnh bờ sông ẩn trong giá bán của mảnh đất ven sông Giá bán của mảnh đất ven sông sẽ cao hơn giá bán của mảnh đất không
có khung cảnh bờ sông, mức chênh lệch giữa hai mảnh đất này là cơ sở để tính giá trị kinh tế của khung cảnh bờ sông
Trang 28+ Phương pháp chi phí du lịch (Travel Cost Method): được sử dụng để đánh giá giá trị giải trí tại các địa điểm có khách tham quan như công viên, khu bảo tồn thiên nhiên, bãi biển… Giá vé vào cửa mà khách tham quan phải bỏ ra khi đến thăm công viên, khu bảo tồn… thường rất rẻ, không phản ánh đúng giá trị giải trí nơi đó nhưng có thể dùng dữ liệu tổng chi phí du lịch khách tham quan phải chi trả
để đến khu bảo tồn, công viên… để xem xét Ưu điểm của phương pháp này là dễ được chấp nhận vì dựa trên sự chấp nhận chi trả thực tế của khách tham quan nhưng việc này đòi hỏi phải có điều tra quy mô rộng, phân tích thống kê phức tạp
và vấn đề đa mục đích khi du khách tham quan nhiều địa điểm trong cùng một chuyến đi
+ Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method): là phương pháp thực hiện khảo sát, đưa tra nhiều câu hỏi về sản phẩm cũng như các đặc điểm kinh tế xã hội, tạo nên tình huống giả định, đề xuất một hoặc nhiều phương án bán sản phẩm với nhiều mức giá khác nhau cho người tiêu dùng lựa chọn Phương pháp này phức tạp và tốn kém hơn, đòi hỏi thực hiện phân tích thống
Ngày nay khi nhu cầu ngày càng lớn, lượng rác thải sinh hoạt cũng tỷ lệ thuận với nhu cầu của người dân thì chính quyền triển khai các dịch vụ thu gom và
xử lý Chính quyền hỗ trợ và người dân đóng góp một phần để người dân có ý thức tránh ỷ lại vào chính quyền các cấp
Việc chi trả cho dịch vụ làm cho môi trường thông thoáng hơn, sạch sẽ hơn
và tăng tính thẩm mỹ hơn Do lượng rác thải sinh hoạt đã được tập trung về một bãi
Trang 29tập kết cách xa khu dân cư Tuy nhiên vẫn còn nhiều rủi ro do chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa đáp ứng được hết lượng rác thải sinh hoạt (Ánh Hoa, 2018)
* Vai trò của việc chi trả dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đối với người dân
Chi trả cho dịch vụ thu gom và xử lý rác thải cũng giống như chi trả cho dịch vụ điện, nước Người dân đều bỏ một mức phí nào đó cho dịch vụ đổi lại lượng rác thải sinh hoạt được xử lý sạch sẽ, không ù đọng, bừa bãi gây ô nhiễm môi trường
Ngoài ra với mức chi trả cho dịch vụ thu gom và xử lý còn đảm bảo chất lượng vệ sinh, tăng thẩm mỹ quan và quan trọng nhất là sức khỏe của người dân tránh các bệnh về da, mắt, nhiễm khuẩn… (Ánh Hoa, 2018)
2.1.3 Nội dung về mức sẵn lòng chi trả
Mức sẵn lòng chi trả chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng của khách hàng
mà cụ thể trong đề tài này là việc mà người dân sẽ tự nguyện chấp nhận bỏ ra một khoản tiền nào đó cao hơn với mức hiện tại để được hưởng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt đã được cải thiện chất lượng
Thông thường, khách hàng thông qua giá thị trường (MP) để thanh toán các hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng Nhưng có nhiều trường hợp tự nguyện chấp nhận chi phí cao hơn giá thị trường để được tiêu dùng và mức này cũng khác
nhau Mức WTP chính là thước đo của sự thỏa mãn và mức bằng lòng chi trả mỗi
cá nhân (MWTP) cho mỗi đơn vị thêm là giảm xuống khi khối lượng tiêu dùng tăng thêm Đây chính là quy luật về độ thỏa dụng cận biên giảm dần Do vậy, đường cầu được mô tả giống như đường “sẵn lòng chi trả” và mức MWTP cũng được coi như thước đo của lợi ích và đường cầu là cơ sở xác định lợi ích cho xã hội
từ việc tiêu dùng một loại hàng hóa nhất định Miền nằm dưới đường cầu đo lường tổng giá trị của mức WTP Mối quan hệ này được thể hiện như sau:
Trang 30CS: Thặng dư người tiêu dùng
Kỳ vọng của người dân sau khi chi trả phí là chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ tốt thì người dân sẽ sẵn lòng chi trả cao Còn chất lượng dich vụ trung bình hoặc kém thì người dân sẽ sẵn lòng chi trả tương ứng Dù người dân có tiền hoặc có nhận thức tốt thì sẽ không chi trả cao cho một dịch vụ không tốt Người xưa có câu
“tiền nào của nấy” điều này hoàn toàn đúng với mọi dịch vụ thu gom rác thải Hình thức chi trả thuận tiện hay làm cho người dân tin tưởng thì người dân sẽ yên tâm hơn khi đóng góp (Hoàng Thị Hương, 2008)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân cho sử dụng dịch vụ thu gom rác thải
Theo Nick Hanley và Clive L Spash (Cost–Benefit Analysis and the Environment;1993) Mức sẵn lòng chi trả của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau: Trình độ học vấn, số nhân khẩu, nghề nghiệp, thu nhập, lượng rác, vị trí chỗ ở
2.1.4.1 Trình độ học vấn
Trình độ học vấn của người được phỏng vấn: liên quan trực tiếp tới nhận thức của người dân về vấn đề rác thải, môi trường và sức khỏe Khi trình độ học vấn càng cao con người sẽ nhận thức được tầm quan trọng của môi trường và hiểu biết ảnh hưởng trực tiếp của rác thải tới sức khỏe của họ như thế nào Thế nên trình
độ học vấn càng cao thì mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải càng cao (Nguyễn Thị Hồng Mai, 2018)
2.1.4.2 Số nhân khẩu
Số nhân khẩu của hộ điều tra: số lượng nhân khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến mức sẵn lòng chi trả của người dân Một hộ gia đình có nhiều nhân khẩu thì mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ càng thấp do mức đóng góp được tính dựa trên số đầu người của mỗi hộ (Nguyễn Thị Hồng Mai, 2018)
2.1.4.3 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp của người được phỏng vấn: yếu tố này nhằm so sánh những hộ
có nghề nghiệp khác nhau thì họ cũng có mức sẵn lòng chi trả khác nhau (Nguyễn Thị Hồng Mai, 2018)
Trang 312.1.4.4 Thu nhập
Thu nhập của người dân: Khi mức thu nhập cao người dân sẽ hướng tới những nhu cầu cao hơn trong cuộc sống Từ những nhu cầu thiết yếu như ăn mặc tới những nhu cầu cao hơn như có một môi trường trong lành để có sức khỏe đảm bảo Những người có thu nhập thấp nhu cầu đầu tiên của họ không phải là môi trường mà là các nhu cầu trước mắt để phục vụ cuộc sống hằng ngày Đối với những người có thu nhập thấp họ sẽ không quan tâm nhiều đến vấn đề môi trường
vì đó chưa phải là nhu cầu thiết yếu của họ Đây thường là xu hướng chung của con người vì thế mức sẵn lòng chi trả của người dân cho dịch vụ thu gom rác thải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thu nhập Khi thu nhập cao mức sẵn lòng chi trả cho dịch
vụ thu gom rác thải sẽ cao Thu nhập thấp mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sẽ thấp (Nguyễn Thị Bích Hồng, 2020)
2.1.4.5 Lượng rác
Tổng lượng rác thải hàng ngày của hộ điều tra: khi lượng rác thải ngày càng cao thì người dân càng mong muốn dịch vụ thu gom và xử lý rác diễn ra thường xuyên hơn cũng sẵn lòng chi trả mức cao hơn để đảm bảo an toàn sức khỏe cho gia đình và cảnh quan môi trường sống ( Nguyễn Thị Bích Hồng, 2020)
2.1.4.6 Nơi sinh sống
Vị trí chỗ ở của người được phỏng vấn: Những nhà người dân sống ở ngoài mặt đường thì mức sẵn lòng chi trả của họ cao hơn so với những người dân sống trong ngõ xóm ( Đào Thị Vân, 2015)
Trang 32khảo sát được đưa ra hai kịch bản giả thuyết, một liên quan đến thể thao và một liên quan đến nghệ thuật Kịch bản về thể thao cho rằng chính quyền Alberta dường như
đề nghị mở rộng các chương trình giải trí và thể thao không chuyên, nhưng cũng đòi hỏi gia tăng thuế thu nhập địa phương Kịch bản về nghệ thuật cũng được đưa ra tương tự Mỗi kịch bản được khảo sát trên 50% đối tượng khảo sát của nghiên cứu
Mô hình WTP đối với các chương trình giải trí và thể thao tại Alberta được các tác giả xây dựng:
WTP = f($TAX, SCOPE, FIRST, MALE, RURAL, INCOME, MORAL) với $TAX: mức gia tăng thuế thu nhập hàng năm đối tượng khảo sát bị yêu cầu trả; SCOPE: điểm phần trăm gia tăng khi tham gia, FIRST: biến giả chỉ ra rằng kịch bản giải trí và thể thao được giới thiệu trước, MALE: giới tính (nam hoặc nữ), RURAL: khu vực sống, INCOME: thu nhập hàng năm các hộ gia đình, MORAL: là biến tỷ lệ chỉ sự gia tăng độ ổn định đạo đức khi sử dụng tiền cá cược để gây quĩ chương trình giải trí và thể thao Kết quả khảo sát ước tính mức sẵn lòng chi trả ước tính hàng năm là 18.33$ trên một hộ dân cho việc nâng cấp nhỏ các chương trình giải trí và thể thao không chuyên vượt xa mức sẵn lòng chi trả ước tính của các hộ gia đình tại Mỹ để tránh gây tổn hại cho các đội tuyển thể thao tham gia giải chuyên nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận xét các tiêu chuẩn đạo đức cá cược không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân
* Công viên quốc gia Taman Negara - Malaysia
Zaiton Samdin (2008) thực hiện nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả giá vé của khách du lịch khi đến tham quan Công viên quốc gia Taman Negara (TNNP) tại Malaysia để sử dụng các hàng hóa phi thị trường là vẻ đẹp phong cảnh, rừng nhiệt đới và cuộc sống hoang dã Khảo sát sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, thu thập số liệu bằng cách đưa ra bảng câu hỏi phỏng vấn 180 khách du lịch tại công viên Khảo sát sử dụng lấy mẫu phân tầng với các mẫu được đặt trong 2 nhóm dựa trên quốc tịch là người Malaysia (gồm có 80 khách) và quốc tế (gồm có
100 khách) Kết quả khảo sát thu được: (1) về đặc điểm chi trả: khảo sát cho rằng khách tham quan sẵn lòng cho trả mức phí vào cửa cao hơn Tỷ lệ đồng ý chi trả của khách giảm dần khi phí vào cửa tăng lên 80.6% khách đồng ý trả phí vào cửa ở
Trang 33mức phí thấp (3RM), chỉ có 15% khách đồng ý mức phí vào cửa cao (30RM), 23.9% khách tham quan trả tiền để vào cửa và sử dụng các thiết bị giải trí, 11.1% trả tiền để sử dụng các thiết bị giải trí tốt hơn, 56.1% trả tiền vào cửa để tham quan
và hướng đến việc bảo tồn công viên; (2) về giá trị sẵn lòng chi trả trung bình: mức sẵn lòng chi trả trung bình của khách tham quan là 13.06RM, khách quốc tế sẵn lòng chi trả phí vào cửa 18.47 RM, con số của khách Malaysia là 6.32 RM; (3) về đặc điểm nhân khẩu học của khách tham quan, kết quả khảo sát thu được là 60% khách tham quan nam giới, 53.3% đã kết hôn, khách tham quan có độ tuổi từ 26 đến
35 chiếm 41.7%, độ tuổi từ 18 đến 25 chiếm 31.7%, 55,6% là khách quốc tế, 27.2% khách tham quan có trình độ tốt nghiệp trung học, 26.7% tốt nghiệp đại học và 23.9% có trình độ học vấn sau đại học, 52.8% khách tham quan có thu nhập dưới
1000 đô la, 17.2% khách có thu nhập từ 1001 - 2000 đô la; (4) về đặc điểm của chuyến tham quan: thông tin về TNNP được tìm hiểu thông qua sách hướng dẫn du lịch có 95 phản hồi, 91 phản hồi thông qua gia đình và bạn bè, hầu hết khách tham quan (158 phản hồi) liên tưởng TNNP với rừng nhiệt đới, 93 phản hồi liên tưởng với sự đa dạng động vật thực vật, 93 phản hồi liên tưởng với cuộc sống hoang dã 25.4% khách tham quan đến TNNP bằng xe cá nhân, 23% bằng xe tham quan, 21% bằng xe công cộng và 12.2% bằng thuyền (Zaiton Samdin, 2008)
* Thành phố Boston - New England
Richad D.Carson và Robert Cameron Mitchell (1993) đã sử dụng phương pháp CVM để xác định mức sẵn lòng chi trả hay giá trị của công việc làm sạch nước tại các khu đua thuyền, câu cá bơi công cộng tại Boston Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức sẵn lòng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước đối với các đối tượng đua thuyền vào khoảng 93$, các đối tượng câu cá vào khoảng 70$ và các đối tượng bơi vào khoảng 78$ Tổng mức sẵn lòng chi trả này được sử dụng cho các hoạt động bình quân khoảng 242$/năm Mức sẵn lòng chi trả này được sử dụng là cơ sở
để thiết lập làm sạch nước tại các khu vực cộng đồng ở Boston
* Sông Mississipi - Châu Mỹ
Diane Hite, Darren Hudson và Walaiporn Intarapapong (2002) đã sử dụng phương pháp CVM để đánh giá giá trị kinh tế của việc sử dụng nước sông
Trang 34Mississipi do ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp Theo nghiên cứu, chất lượng nước sông Mississipi tại các vùng đồng bằng Châu Mỹ la tinh đã trở nên xấu đi do tác động của sản xuất nông nghiệp Dẫn tới hậu quả về môi trường và sức khỏe con người cũng như các loài sinh vật sinh sống phụ thuộc vào dòng sông này Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tổng chi phí của chương trình cải thiện môi trường nước
ở sông Mississipi ở các điểm nghiên cứu nên được thực hiện trong khoảng từ 59 triệu đô la cho đến 119 triệu đô la và đó cũng là giá trị kinh tế mà chương trình mang lại nếu được thực hiện trong thực tế
2.2.2 Những kết quả nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam
* Thị trấn Trâu Qùy và xã Kiêu Kỵ - Gia Lâm - Hà Nội
Nguyễn Văn Song & cộng sự (2011) đã thực hiện nghiên cứu:” Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội" Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, thực hiện điều tra trên 116 hộ dân đang sinh sống trên địa bàn Nghiên cứu giả định chất lượng hàng hóa dịch vụ môi trường sẽ được cải thiện đáng kể như có nhiều chuyến chuyên chở chất thải rắn sinh hoạt hơn, đường phố có thêm nhiều cây xanh và luôn sạch đẹp nhằm tạo cảnh quan, môi trường xanh sạch thì mức sẵn lòng chi trả cho sự cải thiện dịch vụ đó là bao nhiêu Bên cạnh đó, các hộ dân còn được hỏi về mức sẵn lòng chi trả của mình khi tham gia mua hàng hóa dịch vụ môi trường có cảnh quan xanh sạch đẹp Nghiên cứu đưa ra các mức chi trả được của 1 người với mức chi trả thấp nhất là 0 đồng, cao nhất là 20.000 đồng/tháng Nghiên cứu đã tính toán được mức sẵn lòng chi trả bình quân của một hộ nông dân cho dịch vụ thu gom, quản lý, xử lý rác thải là 6.000 đồng/tháng Biến thu nhập có ảnh hưởng lớn nhất, tỷ lệ thuận với mức sẵn lòng chi trả của cá nhân Các cá nhân có thu nhập 3 triệu đồng trở lên có mức sẵn lòng chi trả là 20 nghìn đồng, các cá nhân có thu nhập
dưới 1 triệu đồng có mức sẵn lòng chi trả bằng 0 chiếm 50% Tùy thuộc từng nghề
nghiệp khác nhau mà mức WTP của người dân khác nhau Người làm trong khu vực nhà nước có mức WTP là 8.500 đồng/tháng, kế đến là người làm buôn bán có mức WTP là 6.800 đồng/tháng, người làm sản xuất nhỏ là 6.400đồng/tháng và có
Trang 35mức WTP thấp nhất là những người làm nông nghiệp với 3.800 đồng/ tháng Trình
độ học vấn càng cao thì mức WTP càng cao, nam giới có mức WTP cao hơn nữ giới (6.673 đồng so với 5.390 đồng), người có độ tuổi càng cao càng có ý thức bảo
vệ môi trường, hộ gia đình nào có nhiều người thì người được phỏng vấn có mức WTP thấp hơn với các yếu tố khác như nhau là những nhận xét mà nghiên cứu tiếp theo được đưa ra
* Xã An Đồ - Bình Lục - Hà Nam
Nguyễn Thị Hồng Mai (2015) với đề tài: “Xác định mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt của người dân xã An Đồ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, thực hiện điều tra phỏng vấn 172 mẫu ngẫu nhiên là các hộ gia đình đang sống trên địa bàn xã An Đồ Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để phân tích, đánh giá, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình Kết quả phân tích hồi quy của nghiên cứu
đã chỉ ra rằng một số biến độc lập như giới tính của chủ hộ (GT), tuổi của chủ hộ (TUOI), nghề nghiệp của chủ hộ (NN) không có ý nghĩa thống kê Các biến độc lập còn lại có ảnh hưởng (58%) đến biến phụ thuộc là mức sẵn lòng chi trả của người dân WTP Nghiên cứu cũng đưa ra kết quả khảo sát về mức WTP trung bình là 4.956 đồng/người/tháng, mức WTP cao nhất là 20,000 đồng/người/tháng So sánh kết quả nghiên cứu và thực tế tại địa phương, tác giả đã đề xuất các chính sách
và giải pháp để nâng cao mức sẵn lòng chi trả và nhận thức của người dân đối với dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt, chống ô nghiễm môi trường
*Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Phan Đình Hùng (2011) thực hiện nghiên cứu “Mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với dịch vụ cấp nước sạch tại Thành phố Cao Lãnh” Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM, thực hiện điều tra phỏng vấn 172 mẫu ngẫu nhiên là các hộ gia đình đang sống trên địa bàn thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) ở khu vực chưa có hệ thống cấp nước Nghiên cứu dùng phương pháp định lượng xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính sử dụng phương pháp bình
Trang 36phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để phân tích, đánh giá, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình Kết quả phân tích hồi quy của nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số biến độc lập như giới tính của chủ hộ (GT), tuổi của chủ hộ (TUOI), nghề nghiệp của chủ hộ (NN) không có ý nghĩa thống kê Các biến độc lập còn lại có ảnh hưởng (58%) đến biến phụ thuộc là mức sẵn lòng chi trả của người dân WTP Nghiên cứu cũng đưa ra kết quả khảo sát về mức sẵn lòng chi trả của chủ hộ cho 1m3 nước sạch khi cấp đến từng hộ gia đình, mức sẵn lòng chi trả trung bình là 4.956 đồng/m3 , hơn 50% số người dân có mức sẵn lòng trả dưới mức 5.000 đồng/m3 nước sạch So sánh kết quả nghiên cứu và thực tế tại địa phương, tác giả đã đề xuất các chính sách và giải pháp để nâng cao mức sẵn lòng chi trả và nhận thức của người dân đối với dịch vụ nước sạch, giữ gìn và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước, chống ô nghiễm môi trường
2.2.3 Các chính sách của chính phủ có liên quan
Mặc dù quản lý rác thải ở nước ta là một lĩnh vực còn mới nhưng trong suốt thời gian qua nhà nước và các cơ quan quản lý các cấp đã rất nỗ lực phối hợp để ban hành một số văn bản và xây dựng một khung pháp lý phù hợp làm cơ sở cho các hoạt động BVMT nói chung và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói riêng như sau:
- Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2021 và định hướng đến năm 2030 với những mục tiêu cụ thể là tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đạt 90%, xử lý và tiêu hủy 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế, cơ quan chủ quản và triển khai thực hiện là Bộ TN&MT
- Luật BVMT (sửa đổi) 2020 cũng đưa ra quy định về kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH được tính dựa trên khối lượng phát sinh, quy định khuyến khích phân loại CTRSH tại nguồn thành 5 loại là chất thải rắn có khả năng tái chế; chất thải thực phẩm, chất thải hữu cơ dễ phân hủy; chất thải nguy hại; chất thải cồng kềnh; và chất thải rắn sinh hoạt thông thường khác
- Chỉ thị số 36-CP/TW của Ban chấp hành Trung ương về việc: tăng cường BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, góp phần đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Bộ chính trị yêu cầu các cấp, các
Trang 37nghành cần đổi mới nhận thức, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, nắm vững và quán triệt các mục tiêu, quan điểm, giải pháp về BVMT Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng ban hành các chính sách hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm:
- Quyết định số 236/2019/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh về ban hành chính sách hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2020-2025
- Quyết định số 21/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Kế hoạch số 144/KH-UBND của UBND tỉnh thực hiện Chiến lược quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
2.3 Bài học kinh nghiệm
So với các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này được thực hiện theo phương pháp định giá ngẫu nhiên CVM để định giá mức sẵn lòng chi trả cho thu gom và xử lý chất thải rắn của các hộ gia đình thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp người dân dựa trên bảng câu hỏi đã xây dựng, khi hỏi người dân về mức sẵn lòng chi trả cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt của họ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân, hộ gia đình
Bài học đầu tiên, điều quan trọng nhất là giúp người dân nhận thức đúng về
vấn đề bảo vệ môi trường Qua đó, họ thấy được tầm quan trọng của môi trường, ý thức tự giác tự nguyện tham gia sẵn lòng trả phí cho việc thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Bài học thứ hai, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện và quản
lý, giám sát dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt và kịp thời xử lý những việc làm sơ suất làm ảnh hưởng tới quá trình dịch vụ này Bên cạnh đó cần có sự kết hợp giữa các hộ nông dân với các tổ chức, cơ quan chính quyền có liên quan
Trang 38Bài học thứ ba, là cần có tính sáng tạo và hiệu quả trong việc cung cấp dịch
vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Áp dụng các biện pháp xử lý rác, chất thải rắn hợp lý
Bài học thứ tư, là cần hoàn thiện hành lang pháp lý, quản lý mức phí phù
hợp cho hoạt động của dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, tạo mọi điều kiện để các hộ nông dân sẽ tham gia tích cực, cải tạo được cảnh quan môi trường sống
Bài học cuối cùng, dịch vụ thu gom và xử lý chất thải rắn có thể được phát
triển và lâu dài thì cần phải nâng cao và đảm bảo chất lượng dịch vụ thu gom tốt, đồng hành với nó là sự tham gia tích cực của người dân
Trang 39PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Lang Chánh nằm ở phía đông huyện Lang Chánh, bên bờ sông Âm, một chi lưu sông Chu Thị trấn Lang Chánh có diện tích 26,82 km2, dân số tính đến giữa năm 2020 là 4.538 người, mật độ dân số đạt 353 người/km2 Quốc lộ 15 chạy qua trung tâm thị trấn Có địa giới hành chính:
- Phía đông giáp huyện Ngọc Lặc và xã Đồng Lương
- Phía tây giáp xã Trí Nang
- Phía nam giáp xã Giao An
- Phía bắc giáp xã Tân Phúc (UBND thị trấn Lang Chánh, 2020)
3.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
a Địa hình
Thị trấn Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400-500 ở phía đông lên tới 700–900 m ở phía tây Đỉnh cao nhất là núi Bù Rinh cao 1.291 m (Nơi Lê Lợi bị bao vây và Lê Lai đã liều mình cứu chúa) Độ dốc trung bình từ 20-30°, có nơi tới 40–50° Thị trấn có hệ đất feralit với các loại sau: Đất feralit phát triển trên đá macma bazơ và trung tính, đất feralit phát triển trên đá macma chua, có mùn vàng đỏ trên núi, đất feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất Ngoài ra còn có đất dốc tụ và đất lầy thụt, phân bố ở vùng thấp bị ngập nước, nhờ thủy lợi hoá có thể trồng lúa (UBND thị trấn Lang Chánh, 2020)
b Khí hậu
Khí hậu của thị trấn Lang Chánh nhìn chung không quá nóng, mưa nhiều, lắm sương mù (bình quân mỗi năm có tới 70-80 ngày sương mù), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn Thiên tai cần đề phòng là rét đậm, lũ, sương muối, sương giá Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây Phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500-8.000 °C, lượng mưa trung bình năm là
Trang 402.200 mm (có nơi 2.500 mm); mùa mưa kéo dài 6- 7 tháng, bắt đầu từ giữa tháng tư
và kết thúc vào cuối tháng mười Hàng năm có 20–25 ngày có giá tây khô nóng lúa
Ðặc điểm khí hậu được thể hiện rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông (UBND thị trấn Lang Chánh, 2020)
c Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái, rừng cây cung cấp nước ngọt và thực phẩm cho đồng bào các dân tộc, là con đường vận chuyển lâm sản về đồng bằng ngoài ra còn có nguồn nước ngầm phong phú
Tài nguyên rừng hiện nay có 11.632 ha rừng tự nhiên và 9.732 ha rừng trồng Độ che phủ là 72% Có nhiều loại gỗ quý như lim, lát hoa, pơ mu, dổi, vàng tâm, luồng, tre nứa và có nhiều dược liệu quý như quế, xa nhân, nấm hương, trầm hương, cùng một số loại động vật quý hiếm: lợn rừng, khỉ v.v