Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu ích giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu không làm ảnh hưởng đến năng suất của con vật
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI F1 (LANDRACE ×
YORKSHINE) PHỐI VỚI LỢN ĐỰC DUROC NUÔI TẠI CHUỒNG 1 TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY JAPFA CHI NHÁNH XUÂN NINH - XUÂN TRƯỜNG - NAM ĐỊNH”
HÀ NỘI - 2022
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA CHĂN NUÔI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
“NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI F1 (LANDRACE ×
YORKSHINE) PHỐI VỚI LỢN ĐỰC DUROC NUÔI TẠI CHUỒNG 1 TRẠI LỢN CÔNG TY JAPFA CHI NHÁNH XUÂN NINH - XUÂN TRƯỜNG - NAM ĐỊNH”
Người thực hiện : PHẠM QUỲNH ANH Lớp : K63CNTYB
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận này là trung thực, chính xác
và chưa được ai công bố trong bất kỳ khóa luận nào khác
Các kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những số liệu trong bản luận văn này Các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 2021
Sinh viên
PHẠM QUỲNH ANH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, rèn luyện tại trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp, tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa chăn nuôi Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập và thực tập tốt nghiệp Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám đốc Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, các thầy cô là cán bộ giảng dạy trong Khoa Chăn nuôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn đề tài Ths.Trần Bích Phương đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt bài khoá luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới anh Hồ Đình Hùng và tập thể tại trang trại đã hướng dẫn, đồng hành trong thời gian tôi thực tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏa lòng biết ơn đến gia đinh và bạn bè đã cổ vũ tinh thần, giúp đỡ tôi suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Sinh viên
PHẠM QUỲNH ANH
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH 3
2.1.1 Giống lợn Duroc 3
2.1.2 Giống lợn Landrace 4
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.2.1 Ưu thế lai 5
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai 6
2.2.3 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn 7
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN 8
2.3.1 Sự thành thục về tính 8
2.3.2 Sự thành thục về thể vóc 12
2.3.3.Chu kì động dục 12
2.3.4 Sự điều hòa hoạt động chu kỳ tính 16
2.5 QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN Ở GIAI ĐOẠN MANG THAI 17
Trang 62.5.1 Sinh lý của gia súc mang thai 17
2.5.2 Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể mẹ khi có thai 19
2.5.3 Sinh lý đẻ 20
2.5.4 Sinh lý tiết sữa và nuôi con 20
2.5.5 Chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 21
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 32
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 34
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 36
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 36
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 36
3.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.2.1 Tình hình chung của trang trại nghiên cứu 36
3.2.2 Năng suất sinh sản của đàn lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc 36
3.2.3 Theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản 37
3.2.4 Xác định tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa 38
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu và cách tính toán các chỉ tiêu 38
3.3.2 Xử lý số liệu 39
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TẠI TRANG TRẠI NGHIÊN CỨU 40
4.1.1 Đặc điểm chung về cơ sở chăn nuôi 40
4.1.2 Cơ cấu đàn lợn tại trại 41
4.1.3 Chăm sóc và nuôi dưỡng tại trại 41
Trang 74.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ SINH DỤC CỦA NÁI F1 (L x Y) 47
4.3 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI (LY) PHỐI VỚI ĐỰC DUROC 48
4.3.1 Năng suất sinh sản 48
4.3.2 Năng suất sinh sản qua các lứa đẻ 55
4.4 TIÊU TỐN THỨC ĂN CỦA LỢN CON CAI SỮA 61
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 KẾT LUẬN 63
5.2 ĐỀ NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhu cầu năng lượng cho lợn nái ngoại 26
Bảng 2.2 Nhu cầu protein cho lợn nái 26
Bảng 2.3 Nhu cầu vitamin của lợn trong 1 tấn thức ăn hỗn hợp khô 27
Bảng 2.4 Nhu cầu hàng ngày về khoáng cho lợn nái ngoại (ĐVT %) 28
Bảng 2.5 Kết quả nghiên cứu trên lợn nái Yorkshire và Landrace 34
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 39
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn tại trại trong 3 năm gần đây (2020-2022) 41
Bảng 4.2 Các loại thức thức ăn hỗn hợp đang sử dụng 42
Bảng 4.3 Thành phần giá trị dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp 42
Bảng 4.4 Quy trinh tiêm Vaccine 45
Bảng 4.5 Chỉ tiêu sinh lí sinh dục của lợn nái F1 (LY) 47
Bảng 4.6 Năng suất sinh sản chung của lợn nái lai F1 (LY) phối với đực Duroc 49
Bảng 4.7 Năng suất sinh sản theo lứa đẻ của lợn nái (LY) phối với đực Duroc 55
Bảng 4.8 Số lượng sơ sinh qua các lứa đẻ 55
Bảng 4.9 Khối lượng lợn sơ sinh qua các lứa 58
Bảng 4.10 Khối lượng lợn con cai sữa qua các lứa đẻ 59
Bảng 4.11 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (n=30) 61
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Số con sơ sinh/ổ qua các lứa đẻ (con) 56
Biểu đồ 4.2 Số con sơ sinh sống/ổ qua các lứa đẻ (con) 56
Biểu đồ 4.3 Số con cai sữa/ổ qua các lứa đẻ (con) 57
Biểu đồ 4.4 Khối lượng sơ sinh/con (kg) qua các lứa đẻ 58
Biểu đồ 4.5 Khối lượng sơ sinh/ổ qua các lứa đẻ (kg) 59
Biểu đồ 4.6 Khối lượng cai sữa/con qua các lứa đẻ (kg) 60
Biểu đồ 4.7 Khối lượng cai sữa/ổ qua các lứa đẻ 60
Trang 10TRÍCH YẾU KHÓA LUẬN
Tên tác giả: Phạm Quỳnh Anh Mã sinh viên: 639202
Tên đề tài: "Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1 LY(Landrace × Yorkshire) phối với lợn đực Duroc nuôi tại trại lợnXuân Ninh-Xuân Trường-Nam Định"
Ngành: Chăn nuôi
Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá được năng suất sinh sản của nái F1(Landrace x Yorkshire) khi phối với đực Duroc
- Đánh giá tình hình dịch bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ
- Xác định được tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu qua sổ sách tổng hợp của trang trại
và trực tiếp theo dõi, cân, đếm, ghi chép hàng ngày
Kết quả chính và kết luận:
- Tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc cho năng suất sinh sản tương đối cao:
+ Số con sơ sinh sống/ổ đạt :11,7 con
+ Số con cai sữa/ổ đạt : 11,52 con
+ Khối lượng sơ sinh/con đạt : 1,28 kg
+ Khối lượng sơ sinh/ổ đạt : 15,02 kg
+ Khối lượng cai sữa/con đạt : 6,7
+ Khối lượng cai sữa/ổ đạt : 77,5 kg
Trang 11Chăn nuôi lợn ở nước ta thịt lợn chiếm từ 75 - 85% trong tổng lượng thịt tiêu thụ Theo chăn nuôi Việt Nam 1/1/2021 tổng đàn lợn trên cả nước đạt 22 triệu con, tăng 1,8 triệu con so với 1/1/2020 Việt Nam đã nhập 1 số giống lợn ngoại nhằm dùng nhân giống , lai tạo giống, từ đó cung cấp con giống cho năng suất, chất lượng cao, thích nghi tốt với điều kiện Việt Nam
Hiện nay các cơ sơ chăn nuôi thường sử dụng tổ hợp lai giữa lợn nái F1 (Landrace × Yorkshire) phối với đực giống Duroc tạo ra con lai thương phẩm lấy thịt phục vụ cho thị trường.Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh sản của tổ hợp lai này là rất cần thiết để đưa ra những khuyến cáo cho ngành chăn nuôi lợn trong những năm tiếp theo
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhằm nâng cao kiên thức cũng như góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực Duroc Nuôi tại trại lợn công ty Japfa chi nhánh Xuân Ninh- Xuân Trường – Nam Định
1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Đánh giá năng suất sinh sản của tổ hợp lai LY ( Landrace x Yorkshine)
x Duroc nuôi tại trại Xuân Ninh
Trang 12 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Đưa ra khuyến cáo, lời khuyên cho trang trại nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản
Nắm được quy trình chăn nuôi, chăm sóc và quản lí tại trại
Hiểu biết nâng cao tay nghề học hỏi kinh nghiệm để áp dụng thực tế 1.2.2 Yêu cầu
Thu thập số liệu đầy đủ và chính xác, phản ánh đúng thực tế kết quả về năng suất sinh sản lợn nái tại trại
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH
2.1.1 Giống lợn Duroc
a Nguồn gốc
Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ và vùng Corn Belt Dòng Duroc được tạo ra ở vùng New York năm 1823, bởi Isaac FrIngelavac PRRS MLVink Giống Duroc-Jersey có nguồn của hai dòng khác biệt Jersey đỏ của New Jersey và Duroc của New York Còn dòng Jersey đỏ được tạo ra vào năm 1850 vùng New Jersey bởi Clark Pettit Chủ yếu được nuôi ở vùng New Jersey và vùng New York, nước Mỹ
Đây là giống có nguồn gốc từ Mỹ, nhưng hiện nay đã hiện diện khắp nơi trên thế giới vì chúng cho năng suất cao và tỷ lệ nạc khá lớn, ít mỡ Lợn Duroc được coi
là giống lợn tốt trên thế giới hiện nay và được nuôi rất phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt nuôi theo hướng nạc
b Đặc điểm ngoại hình
Lợn toàn thân có lông màu hung đỏ hoặc nâu đỏ, đầu to vừa phải, mõm dài, tai to và dài, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai, lưng, mông, đùi rất phát triển Lợn thuần chủng có sắc lông đỏ nâu, bốn móng ở mỗi chân màu đen huyền, khi lai
có màu vàng nhạt và xuất hiện đốm bông đen (thường ở đùi, mông, bụng) Chúng có tai nhỏ, xụ nhưng gốc tai đứng, lưng còng, ngắn đòn, bụng thon, chân thấp Giống Duroc là giống tiêu biểu cho hướng nạc, có tầm vóc trung bình Chúng có bốn móng chân và mõm đen Thân hình vững chắc, tai xụ từ nửa vành phía trước, dài đòn, chân chắc và khỏe
c Đặc điểm sinh trưởng
Trọng lượng trưởng thành con đực trên 300 kg/con, con cái 200–
300 kg/con, tỷ lệ nạc cao Chúng là giống lợn cho nhiều nạc, mỡ lưng mỏng (10
Trang 14– 12 mm), nạc có sớ cơ dai, ít vân mỡ nên không ngon lắm, tỷ lệ nạc quầy thịt
có thể 65% Chúng tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt Có khả năng tăng trọng từ 750-800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt 105–125 kg Duroc trưởng thành con đực nặng tới 370 kg, con cái 250–
280 kg Ở 6 tháng tuổi lợn đạt trọng lượng trung bình 70 – 80 kg, nọc nái trưởng thành có thể đạt 200 – 250 kg
Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao Trung bình đạt 1,7 – 1,8 lứa/năm Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, lợn con trung bình đạt 1,2 – 1,3 kg, khối lượng cai sữa từ 12 – 15 kg Sức tiết sữa của lợn đạt 5 – 8 kg/ngày Khả năng sinh trưởng tốt Tuy nhiên khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi con kém Lợn nái đẻ mỗi năm 1,8 lứa, mỗi lứa 8 – 9 con, nái tiết sữa kém, nuôi con kém, nhu cầu dinh dưỡng cao, sức kháng bệnh kém
Hiện nay ở một số nước, giống lợn này thường được nuôi thuần và chỉ để tạo dòng đực cuối để phối với nái sinh sản để sản xuất lợn con nuôi thịt Sử dụng làm nguyên liệu dòng đực để lai tạo với lợn nái lai F1 (Yorkshire x Landrace) tạo lợn thịt thương phẩm cho tỷ lệ nạc cao (54-56%)
2.1.2 Giống lợn Landrace
a.Nguồn gốc
Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch bằng cách lai giữa giống Youtland có nguồn gốc từ Đức, giống Yorkshire của Anh với các giống trắng địa phương của Đan Mạch
Trang 15c.Đặc điểm sinh trưởng
Giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,7- 3,01 kg Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800g, tỷ lệ thịt nạc thịt xẻ từ 56-60% Khi trưởng thành con đực nặng khoảng 280 - 320 kg/con, con cái đạt khoảng 220 - 250 kg/con 2.1.3 Giống lợn Yorkshire
a Nguồn gốc
Giống lợn Yorkshire được hình thành ở vùng Yorkshire của nước Anh Trong thời gian đầu của quá trình tạo giống lợn trắng lớn, xương to, trường mình, có các chấm đen trên da được nuôi nhiều tại nước Anh Các nhà chọn giống đã chọn lọc giống lợn này và cho lai tạo với giống lợn trắng Leicester và hình thành nên giống lợn Yorkshire trắng lớn (Large White)
b Đặc điểm ngoại hình
Lợn Yorkshire có lông trắng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn 4 chân dài chắc chắn, có 14 vú
c Đặc điểm sinh trưởng
Khả năng sinh trưởng: Cao, khối lượng sơ sinh 1,2 - 1,3kg, khối lượng 5 -
6 tháng 100kg, chất lượng thịt 53% nạc Tiêu tốn thức ăn: 2,5 - 3,2 kg TĂ/kg tăng trọng Lợn Yorkshire thành thục sớm, sinh trưởng nhanh, khối lượng lợn cái trưởng thành 250-280kg, khối lượng lợn đực trưởng thành 350 - 380kg, 12 -
Trang 16Lai khác dòng: Là cho các cá thể đực và cái của những dòng khác nhau trong cùng một giống giao phối với nhau, nhưng không đồng huyết
Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau
Lai khác giống làm cho tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên là phương pháp nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc
Ưu thế lai có thể được giải thích bằng một số giả thuyết:
Thuyết trội: Theo thuyết này thì sự tiến hóa của một quần thể xảy ra dưới tác động của chọn lọc tự nhiên theo cách nào đó để cho các nhân tố di truyền tác động có lợi lên sự sinh trưởng và sức sản xuất là trội không hoàn toàn, có những nhân tố tác động bất lợi lên những tính trạng này là gen lặn Cho nên khi cho các cá thể lai với nhau, đời sau sẽ tập hợp được nhiều gen trội có lợi dẫn đến ưu thế lai
Thuyết siêu trội: Thuyết này cho rằng tính dị hợp theo nhiều gen chính là
cơ sở của hiện tượng ưu thế lai
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai
Công thức lai: Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai Theo Trần Đình Miên & cs.(1994), mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể, ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng tới số con trên ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con, đặc biệt là giai đoạn cai sữa Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lượng con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai ba giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng từ 10 - 15% Số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998)
Tính trạng: Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di truyền cao nhưng cũng có tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất Những tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai
Trang 17cao Vì thế để cải tiến tính trạng này so với chọn lọc, lai giống là biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn
Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể là 9% ưu thế lai của mẹ là 11% (Richard, 2000)
Sự khác biệt giữa bố và mẹ: Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai Lai hai giống càng khác biệt với nhau về mặt di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Các giống càng khác nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới năng suất cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện ưu thế lai
2.2.3 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế chăn nuôi lợn cho thấy việc lai giống
đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Hiện nay trên thế giới, những nước phát triển chăn nuôi lợn có tới 90% lợn thương phẩm là con lai Tuy nhiên, việc kết hợp lai hai giống nào cho ưu thế lai cao phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên giá trị giống Trong lai giống đang sử dụng một số công thức lai “ba máu”, “bốn máu” Như là đực Duroc × cái F1(Landrace × Yorkshire), đực F1(Pietrain × Duroc) × cái F1(Landrace × Yorkshire)…
TheoWilliam (1997), ở lợn có ba loại ưu thế lai:
Ưu thế lai của mẹ: có lợi cho các cá thể đời con là ưu thế lai quan trọng nhất bởi vì năng suất sinh sản phụ thuộc vào số đầu con cai sữa/lứa Đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất
Ưu thế lai cá thể: có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở sự tăng khối lượng, sức sống đặc biệt là sau cai sữa
Ưu thế lai của bố: được tạo thành từ bố thông qua con đực từ kết quả giao phối, ưu thế lai của đực giống được thể hiện rất hạn chế
Trang 18Để tạo ưu thế lai ở giống vật nuôi, chủ yếu người ta dùng phép lai kinh tế tạo ra giống thương phẩm Lai kinh tế 3 hoặc 4 giống đang ngày càng phổ biến trên thế giới vì bằng cách này ưu thế lai về sinh sản cũng như sinh trưởng được khai thác tối đa và tạo được sản phẩm đồng đều về chất lượng Tại trại của chú Nguyễn Thanh Lịch, lợn nái bố mẹ được tạo lập từ 2 giống cơ bản là lợn Landrace và lợn Yorkshine gọi là lợn nái 2 máu LY Lợn nái LY có nhiều ưu điểm vượt trội hơn như tốc độ tăng trọng cao, sức khoẻ tốt, dễ nuôi, đẻ nhiều hơn, nuôi con giỏi hơn Sau đó con nái LY được đem phối với đực Du tạo con lợn thịt thương phẩm 3 giống
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN
Sinh sản là một quá trình ở đó con đực và con cái đã thành thục về tính dục, con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng Sau đó tinh trùng
và trứng được thụ tinh với nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, hình thành hợp
tử, di chuyển và phát triển thành phôi thai trong tử cung con cái
Trong chăn nuôi vấn đề sinh sản được đặc biệt quan tâm, nhằm mục đích làm sao cho gia súc sinh sản trong thời gian ngắn, từ đó đem lại hiệu quả cao cho người chăn nuôi
2.3.1 Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ về tính dục và
có khả năng sinh sản Khi con vật đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh như tuyến vú, tử cung, âm đạo, trứng bắt đầu rụng và
có khả năng thụ thai Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng
có thể sinh sản của lợn nái
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kì biểu hiện bằng những triệu chứng động dục gọi là chu kì tính Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:
Trang 19+ Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện, con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh Lúc này, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: Bẹ vú phát triển và lộ rõ hai hàng vú, âm hộ to lên hồng hào
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: Lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối
Một cơ thể thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể đã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, các kích thích bên ngoài (nhiệt độ, ánh sáng, mùi ) con vật xuất hiện các hiện tượng hưng phấn sinh dục Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
- Giống lợn: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính khác nhau Các giống lợn nội thành (4-5 tháng tuổi ) thục về tính sớm hơn so với lợn ngoại (6-7 tháng tuổi )
- Chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản lý: trong cùng một giống nếu những cá thể được nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý tốt thì tuổi thành thục sớm hơn
và ngược lại
- Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự thành thục của lợn nái Những giống lợn nuôi ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu lạnh Việc chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng làm cho gia súc cái thành thục sớm hơn Đối với lợn cái hậu bị nếu như nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu chậm hơn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi chăn thả sẽ có thời gian trao đổi, tổng hợp các chất, có dịp được tiếp xúc với lợn đực nên sẽ có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
Thời gian của chu kì động dục được tính từ lần động dục trước đến động dục sau Lợn có chu kì động dục 18 – 24 ngày; trung bình 21 ngày Thời gian động dục kéo dài 3 – 7 ngày; trung bình 5 ngày và chia ra làm 4 giai đoạn: Giai đoạn
Trang 20trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn trước động dục (kéo dài 1 – 2 ngày)
Đây là giai đoạn đầu của chu kì sinh dục và tính từ khi thể vàng chu kì động dục trước thoái hóa đến lần động dục tiếp theo Nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục, trong đó có sự phát triển của bao noãn Bao noãn thành thục nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường Đường sinh dục xung huyết, nhu động của tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy của âm đạo tiết ra niêm dịch, cổ tử cung hé mở Tất cả những biến đổi này đều chuẩn bị cho tế bào trứng tách ra khỏi bao trứng Đầu giai đoạn đường kính của bao noãn là 4 mm, đến cuối giai đoạn tăng 8 – 12mm
Giai đoạn này cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm đạo sưng đỏ, có một ít nước nhờn, con vật bồn chồn không ăn, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác hay thành chuồng nhưng không cho con khác nhảy lên lưng hoặc bỏ chạy khi người dẫn tinh ấn vào mông Ở giai đoạn này không nên phối ép vì trứng chưa rụng không có khả năng thụ thai
Giai đoạn động dục (kéo dài 2 – 3 ngày)
Gồm 3 thời kì liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, giai đoạn này tế bào trứng tách khỏi noãn bao Toàn bộ cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt các biến đổi sinh lý Lượng estrogen tiết ra đạt mức cao nhất
112 mg% trong đó bình thường chỉ có 64 mg% do đó gây hưng phấn nhanh chóng mạnh mẽ toàn thân
Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: Âm hộ xung huyết, tấy sung lên, chuyển
từ màu hồng đỏ sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần keo dính và loãng có tác dụng làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn
Các biểu hiện về thần kinh: Thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ
ăn, bồn chồn không yên tĩnh, hoặc kêu rít lên phá chuồng, nhảy lên lưng con
Trang 21khác Lúc đầu chưa cho con đực nhảy sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng im cho con đực nhảy
Trứng rụng: Ở lợn sau khi động dục 24 – 30 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng rụng kéo dài 10 – 15 giờ Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sản xuất có hiệu quả thụ thai cao
Các biểu hiện về sinh lý khi trứng rụng: Thân nhiệt tăng 0,8 – 1,20C, nhịp tim tăng, bạch cầu trung tính tăng, sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì chuyển sang thời kỳ chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang thời kì sau động dục
Giai đoạn sau động dục (thường kéo dài 2 ngày)
Đặc điểm của giai đoạn này là toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần được khôi phục ở trạng thái hoạt động sinh dục bình thường, âm hộ bắt đầu teo lại, tái dần, lợn ăn uống tốt hơn Bên trong trứng xuất hiện thể vàng Thể vàng tiết hormone progesterone làm ức chế trung khu sinh dục vùng dưới đồi (hypothalamus) ức chế tuyến yên giảm tiết hormone oestrogen, làm giảm hưng phấn thần kinh và ngừng tiết dịch ở tử cung
Khi gia súc cái mang thai thể vàng tồn tại trong suốt quá trình mang thai (từ 2 – 3 ngày trước khi đẻ) Nếu không mang thai thể vàng sẽ tiêu biến thì 1 chu
kì mới bắt đầu
Giai đoạn yên tĩnh
Đây là giai đoạn kéo dài nhất (từ 12 - 14 ngày) thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi rụng trứng mà được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Đây là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho chu kì tiếp theo
Trong thực tế ta còn gặp các trường hợp lợn cái động dục bất thường như động dục thầm lặng và hiện tượng lưỡng tính Cần phát hiện ra những con này
để loại bỏ sớm, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái
Trang 222.3.2 Sự thành thục về thể vóc
Thành thục về thể vóc là tuổi mà khi đó toàn bộ cơ quan, bộ phận cơ thể
đã phát triển hoàn thiện Khi đó ngoại hình và thể vóc của con vật đạt tới mức hoàn chỉnh, xương đã cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với thành thục về tính, có nghĩa là khi con vật thành thục về tính thì con vật vẫn tiếp tục phát triển, tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây chính là
lí do người ta không cho con vật phối giống ở lần động dục đầu tiên Do đó, việc quy định tuổi phối giống lần đầu đối với lợn có ý nghĩ quan trọng trong chăn nuôi Tuổi phối giống lần đầu đối với lợn nội là 7 – 8 tháng tuổi, khối lượng đạt
60 – 70 kg, lợn nái ngoại là 9 – 10 tháng tuổi, khối lượng đạt 90-100 kg
Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất Việc xác định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) không làm ảnh hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau.Ngược lại nếu đưa gia súc vào khai thác quá muộn sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao
2.3.3.Chu kì động dục
Sự thay đổi về tính có tính chất chu kỳ gọi là Chu kỳ động dục Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình rụng trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu.Chu
kì động dục chỉ tạm dừng khi lợn có thai trong đường sinh dục và tiếp tục xuất hiện sau khi đẻ 1 thời gian
Trang 23Khi gia súc thành thục thì cơ thể con cái và cơ quan sinh dục có sự biến đổi kèm theo quá trình rụng trứng Trứng phát triển dưới sự điều khiển của một hoocmon thùy trước tuyến yên, làm cho trứng chín và rụng theo một chu kỳ nhất định, sự lặp đi lặp lại theo chu kì này gọi là chu kì sinh dục
Chu kỳ động dục của lợn cái là khoảng thời gian giữa 2 lần động dục liên tiếp Khoảng thời gian đó thường từ 18 – 21 ngày Lợn cái hậu bị chu kỳ động dục thường ngắn hơn từ 17 – 18 ngày đôi khi còn ngắn hơn nữa (ITP, 2000) Thời gian của mỗi chu kỳ trung bình là 21 ngày, có thể dao động từ 18-25 ngày
và chia làm 4 giai đoạn :
Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kì sinh dục,kéo dài từ 1-2 ngày ở giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao nhưng xuất hiện đầy đủ các biến đổi sinh lý, tính thành thục, bao gồm cả sự phát triển của noãn bao thành thục nổi rõ lên bề mặt trứng Buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào có vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục sung huyết, sừng tử cung nhu động tăng cường Mạch quản trong màng nhầy tử cung cũng tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo nhiều hơn, cổ tử cung hé mở Các tuyến sinh dục cũng hoạt động mạnh hơn Dần dần noãn bao chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chưa mở hoàn toàn, niêm dịch chảy ra nhiều nhất khi con vật xuất hiện tính dục
Giai đoạn này cơ quan sinh dục có những biểu hiện:
Âm đạo sưng, đỏ hồng, không có dịch nhầy hoặc rất ít, con vật bồn chồn biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác trèo lên lưng mình Khi người thử lợn sờ hai tay lên mông thì bỏ chạy Ở giai đoạn này không nên phối ép vì trứng chưa rụng, tinh trùng không thể gặp được
tế bào trứng
Tất cả những sự biến đổi này là điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đường sinh dục cái để kết hợp với tế bào trứng
Trang 24b Giai đoạn động dục:
Giai doạn này tế bào trứng tách rời khỏi noãn bao Toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt thay đổi sinh lý Trong gia đoạn này, những biến đổi về bên ngoài cơ thể rõ ràng hơn:
Âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết, niêm dịch chảy ra từ âm đạo nhiều và đặc Trong giai đoạn này, tính hưng phấn của con vật cao độ, lợn biếng
ăn, phá chuồng con vật đi lại nhiều và đái dắt… Lúc này cổ tử cung mở và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang màu mận chín Bắt đầu cho con đực nhảy lên lưng, khi người thử lợn dùng tay ấn mạnh lên lưng thì con vật có biểu hiện như: hai chân dạng ra, đứng lỳ, cong đuôi về một phía, sẵn sàng cho quá trình giao phối Sau khi bắt đầu chịu đực khoảng 20-30 giờ thì trứng bắt đầu rụng
c Giai đoạn sau động dục:
Đặc điểm của giai đoạn này là toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục dần dần hồi phục về trạng thái sinh lý bình thường Âm hộ teo lại, tái dần, lợn bắt đầu ăn uống tốt hơn Bên trong, buồng trứng xuất hiện thể vàng Thể vàng tiết progesterone ức chế trung khu sinh dục vùng dưới đồi, ức chế tuyến yên, do đó
mà làm giảm hưng phấn thần kinh, ngưng tiết dịch
Khi gia súc cái mang thai, thể vàng tồn tại trong suốt thời gian chửa Nếu không mang thai, thể vàng sẽ tiêu biến sau 14-15 ngày Sau khi thể vàng tiêu biến thì một chu kì mới lại bắt đầu.Giai đoạn sau động dục kéo dài 3 – 4 ngày, thời gian này toàn bộ cơ thể và cơ quan sinh dục dần khôi phục về trạng thái sinh lí bình thường Tất cả các phản xạ động dục, tính hưng phấn cũng dần dần biến mất hẳn, lợn chuyển sang giai đoạn yên tĩnh
d Giai đoạn nghỉ ngơi:
Thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không thụ tinh, kết thúc khi thể vàng tiêu hủy, giai đoạn này kéo dài 10 – 12 ngày, không có biểu hiện về hành vi sinh dục Đây là giai đoạn nghỉ ngơi để khôi phục lại cấu tạo chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo
Trang 25Trong chăn nuôi cần quan tâm đến chu kỳ động dục để phát hiện sớm thời điểm phối giống phù hợp Mục đích của việc phối giống là tạo điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng Để làm được điều này cần phải tìm hiểu thời gian sống trung bình của trứng và tinh trùng trong đường sinh dục cái Với tinh trùng sau khi phối giống được 3 – 4 giờ, tinh trùng mới đến được 1/3 phía trên ống dẫn trứng, sống được ở đó trong 30 giờ nhưng chỉ có khả năng thụ thai 15 giờ đầu Với tế bào trứng, sau khi lợn cái chịu đực 2 giờ, thì bắt đầu có hiện tượng rụng trứng, khoảng 18 – 20 trứng rụng, trứng không rụng tập trung cùng một lúc mà rụng rả rác kéo dài từ 10 – 15 giờ Trứng sống 12 giờ sau khi rụng, khả năng thụ thai tốt nhất là 10 giờ đầu Do vậy mà đa
Thời gian phối giống thích hợp:
Căn cứ vào chu kỳ động dục, thời gian rụng trứng và thời gian sống cũng như thời gian cần thiết để tinh trùng vận động đến điểm thụ thai thích hợp trong ống dẫn trứng để có thể xác định được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn cái
Thời gian rụng trứng của lợn cái thường bắt đầu vào khoảng 16 giờ sau động dục và có thể kéo dài đến 70 giờ Tỷ lệ rụng trứng trong thời gian động dục
kể từ 0 giờ chịu đực như sau:
Trang 262.3.4 Sự điều hòa hoạt động chu kỳ tính
Khi gia súc hình thành về tính, dưới sự kích thích hay ức chế của các nhân tố như: pheromon của lợn đực, ánh sáng, nhiệt độ, chế độ dinh dưỡng thì vùng dưới đồi (hypothalamus) tiết hormone GnRH Hormone này kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH và LH FSH có tác dụng kích thích bao noãn phát triển LH có tác dụng thúc đẩy quá trình rụng trứng và hình thành thể vàng LH và prolactin thúc đẩy thể vàng tiết prosteron Hai loại hormone này luôn có tác dụng hỗ trợ nhau FSH tiết ra trước, LH tiết ra sau Trứng rụng khi tỉ lệ LH/FSH = 2/1 – 3/1
Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục Tế bào hạt trong thượng
bì bao noãn tiết ra estrogen chứa đầy trong xoang bao noãn rồi đổ vào máu Hàm lượng hormone trong máu tăng từ 64µg% đến 112µg%, từ đó kích thích toàn thân, lúc này con vật biểu hiện động dục: cơ quan sinh dục biến đổi, tử cung hé
mở, âm đạo xung huyết, niêm dịch đặc, keo dính, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tổ của hợp tử sau này
Đến cuối chu kì động dục estrogen lại kích thích lên tuyến yên tiết LH và giảm tiết FSH Khi LH tiết ra nó kích thích làm cho bao noãn chín và rụng Tại
vị trí trứng rụng mạch quản và tế bào sắc tố vàng phát triển thành thể vàng Thể vàng tiết ra progesteron giúp cho quá trình tiếp nhận hợp tử ở thành tử cung, đồng thời ức chế sự phân tiết FSH và LH của tuyến yên Từ đó ức chế quá trình phát triển của bao noãn, làm cho con cái ngừng động dục
2.4 SỰ THỤ TINH
Sự thụ tinh là sự kết hợp giữa tế bào tinh trùng và tế bào trứng để tạo thành hợp tử, sau đó hợp tử phát triển thành phôi thai và thành một cơ thể hoàn thiện
Trong cơ thể lợn cái, trứng bắt đầu rụng sau khoảng 20 - 30 giờ khi có biểu hiện chịu đực và trứng được phóng vào ống dẫn trứng Trong ống dẫn trứng, chúng sớm được thụ tinh ( 1/3 phía trên ống dẫn trứng) và phát triển thành hợp tử trước khi chúng được vận chuyển đến sừng tử cung để làm tổ
Trang 27Tế bào trứng được cấu tao và bao bọc bởi ba lớp mang đó là:
+ Màng phóng xạ: Màng này bao bọc phía ngoài cùng, có tác dụng bảo
vệ trứng khỏi các tác động cơ học Tinh trùng của tất cả các loài gia súc đều
có thể phá vỡ được lớp màng phóng xạ này, bởi lẽ đó mà ta có thể pha thêm tinh dịch của loài khác vào để làm tăng hiệu quả phá màng
+ Màng trong suốt: Màng này nằm phía trong màng phóng xạ, chỉ có tinh trùng của loài đó mới có thể xuyên qua màng này được, vì nó có enzyme đặc hiệu, đặc trưng cho loài
+ Màng nguyên sinh chất: Là lớp màng trong cùng của tế bào trứng, trên màng có những hố lõm để đầu tinh trùng đính vào, chỉ có tinh trùng khỏe nhất mới có cơ hội tiến vào và kết hợp với nhân của tế bào trứng Tất cả các tinh trùng chết trong quá trình phá hai lớp màng sẽ là dinh dưỡng ban đầu cho hợp tử phát triển
2.5 QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỢN Ở GIAI ĐOẠN MANG THAI
2.5.1 Sinh lý của gia súc mang thai
Thời kỳ đầu có thai lợn ăn uống tốt, quá trình trao đổi chất tăng nên lợn thường béo và mượt lông hơn khi chưa có thai Khi có thai thời kỳ cuối, thai phát triển mạnh, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, do đó nếu chăm sóc kém, khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng và các nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ của con mẹ giảm sút Đặc biệt nếu thiếu Ca và P nghiêm trọng thì con mẹ
bị bại liệt trước khi đẻ
Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục: Khi lợn có thai, trên bề mặt buồng trứng suất hiện thể vàng, ở lợn số lượng thể vàng nhiều hơn số lượng bào thai Tử cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dầy lên tuần hoàn máu tăng cường lượng máu đến tử cung nhiều, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ (Theo Trần Tiến Dũng 2005) Lợn nái chửa kỳ cuối tử cung nặng 2,5 – 6 kg (không kể thai) bình
Trang 28thường chỉ nặng 0,2 - 0,5 kg Sau khi trứng được thụ tinh, hợp tử hình thành và phát triển qua 3 thời kì Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con
a Giai đoạn phôi thai
Thời kì phôi thai (từ ngày thứ 1 – 22)
Bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng, 20 giờ sau khi thụ tinh, hợp tử bắt đầu phân chia chuyển dần vào hai bên sừng tử cung và làm
tổ ở đó, trong sừng tử cung hợp tử lại tiếp tục phân chia thành hàng trăm tế bào phôi Túi phôi được hình thành sau đó 5 – 6 ngày, túi phôi chứa chất lỏng Màng ối hình thành sau 7 – 8 ngày, đây là màng ngoài cùng bao bọc lấy bào thai trong có chứa dịch ối Dịch ối có tác dụng giúp cho bào thai nằm thoải mái, đệm đỡ cho bào thai không bị va chạm với các cơ quan xung quanh của cơ thể lợn mẹ
Màng niệu được hình thành sau khoảng 10 ngày, là màng giữa có chứa dịch niệu, chứa nước tiểu của bào thai, chứa kích tố nhau thai, trong dịch niệu cũng chứa một số chất dinh dưỡng cung cấp cho bào thai
Màng đệm được hình thành sau khoảng 12 ngày là màng ngoài cùng tiếp giáp với niêm mạc tử cung của lợn mẹ, trên bề mặt của màng đệm có nhiều lông nhung để hút các chất dinh dưỡng từ cơ thể lợn mẹ Cuối thời kì này thì trọng lượng của phôi đạt 1 – 2 g, hình dáng và các cơ quan bộ phận như: đầu, hố mắt, tim, gan được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, sự gắn kết giữa cơ thể mẹ và bào thai chưa chắc chắn nên dễ bị sảy thai
b Giai đoạn tiền thai
Thời kì tiền thai (từ ngày thứ 23 – 39)
Thời kì này nhau thai được hình thành, sự gắn kết giữa nhau thai và cơ thể
mẹ chắc chắn hơn nên ít xảy ra hiện tượng sảy thai Thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ qua nhau thai Cuối thời kì này hầu hết các cơ quan bộ phận đã được hình thành nhưng khối lượng còn nhỏ, chỉ đạt khoảng 6 – 7 g/thai
Trang 29c Giai đoạn bào thai
Thời kì bào thai (từ ngày thứ 40 đến khi đẻ)
Ở thời kì này quá trình trao đổi chất của bào thai diễn ra mạnh mẽ để hoàn thành nốt những bộ phận còn lại như: da, lông, răng, thể hiện đặc điểm của giống Thai phát triển mạnh nhất là từ ngày thứ 90 trở đi và thường 60% khối lượng bào thai tăng lên ở giai đoạn này Đến cuối thời kì, mỗi thai nặng khoảng
1300 – 1400 g Khi các cơ quan đã phát triển hoàn chỉnh thì cơ thể mẹ đẩy thai
ra ngoài
Thực tế người ta chia 84 ngày đầu là chửa kì 1, 30 ngày sau là chửa kì 2
do khối lượng bào thai trong thời kì đầu thấp, cơ thể mẹ chưa cần nhiều chất dinh dưỡng Chửa kì 2 thai phát triển nhanh nên nhu cầu dinh dưỡng của lợn mẹ
sẽ tăng lên
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể lợn mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng từ
110 – 114 ngày) Thời gian đẻ trung bình từ 2 – 6 giờ Nếu có hiện tượng khó đẻ (do thể trạng lợn mẹ yếu, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu, ) thì cần có những biện pháp can thiệp ngay để giảm thiểu tối đa thiệt hại
2.5.2 Những biến đổi sinh lý chủ yếu của cơ thể mẹ khi có thai
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động một số tuyến nội tiết khác Thời kỳ đầu có thai lợn ăn uống tốt, quá trình trao đổi chất tăng nên lợn thường béo và mượt lông hơn khi chưa có thai Khi có thai thời kỳ cuối, thai phát triển mạnh, nhu cầu cung cấp dinh dưỡng cao, do đó nếu chăm sóc kém, khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng và các nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường mà sức khoẻ của con mẹ giảm sút Đặc biệt nếu thiếu Ca và
P nghiêm trọng thì con mẹ bị bại liệt trước khi đẻ Sự thay đổi ở cơ quan sinh dục: Khi lợn có thai, trên bề mặt buồng trứng xuất hiện thể vàng, ở lợn số lượng thể vàng nhiều hơn số lượng bào thai Tử cung phát triển, niêm mạc tăng sinh dầy lên tuần hoàn máu tăng cường lượng máu đến tử cung nhiều, niêm mạc tử cung hình thành nhau mẹ
Trang 302.5.3 Sinh lý đẻ
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp, khi lợn mẹ kết thúc thời gian mang thai thì cổ tử cung mở kết hợp với sự co bóp của cơ tử cung, cơ thành bụng cùng với sự rặn toàn thân của cơ thể mẹ làm cho thai, màng thai và dịch thai được tống ra ngoài Quá trình sinh đẻ được chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ mở cổ tử cung: Được tính từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn kéo dài khoảng 2 - 12 giờ
- Thời kỳ đẻ: Tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi thai cuối cùng được đẩy ra ngoài, giai đoạn này kéo dài 1-4 giờ Nếu dài quá 6 giờ là hiện tượng không bình thường gây nguy hiểm cho con mẹ và con con nên ta phải kiểm tra can thiệp kịp thời
- Thời kỳ sổ nhau: Giai đoạn này kéo dài 1 - 4 giờ, nếu dài quá gây hiện tượng sót nhau dẫn đến viêm tử cung
Đến kỳ chửa cuối dưới ảnh hưởng của hormone cocticosteroit của vỏ tuyến trên thận, nhau thai sản sinh prostaglandin, PGF2a làm thái hoá thể vàng nên hàm lượng progesteron trong máu giảm xuống rất thấp Đồng thời nhau thai tiết ra relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết estrogen làm tăng độ mẫn cảm cổ tử cung với oxytocin trước khi đẻ Thai phát triển thành thục có khối lượng nhất định một mặt sẽ kích thích cơ giới và áp lực lên tử cung truyền hưng phấn
về vỏ não rồi theo xung động thần kinh truyền tới trung khu sinh dục ở tuỷ sống vùng chậu gây phản xạ đẻ Mặt khác, khi thai thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ
và thai không còn cần thiết, mối quan hệ này chấm dứt, khi đó thai trở thành một vật
lạ trong tử cung và tất nhiên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ
2.5.4 Sinh lý tiết sữa và nuôi con
Đặc điểm sinh lý nổi bật của lợn nái nuôi con là sản xuất sữa, tiết sữa và nuôi con Lợn là loài động vật đa thai có khả năng tiết sữa, trung bình 2-3 lít/ngày Hàm lượng protein sữa khoảng 6% Sữa lợn là loại thức ăn lý tưởng cho lợn con Sữa thường được tiết ra trong tuần lễ đầu tiên của chu kỳ tiết sữa
Trang 31thì gọi là sữa đầu, sữa được tiết ra trong khoảng thời gian còn lại được gọi là sữa thường Sữa đầu có chất lượng cao hơn (hàm lượng protein, khoáng, vitamin.) sữa thường Đặc biệt trong sữa đầu còn có 1 hàm lượng γ-globulin rất cao giúp lợn con có thể chống được một số bệnh và giảm dần qua các ngày tiết, có MgSO4 có tác dụng tẩy nhẹ đường tiêu hóa của lợn con
Trong một chu kỳ tiết sữa, sự phân tiết sữa không đồng đều, tăng dần từ ngày tiết thứ nhất và đạt cực đại vào cuối tuần tiết thứ 3 (ngày 21), sau tuần tiết thứ 3 sản lượng sữa giảm dần
Tuyến vú của lợn cấu tạo không có bể sữa, việc tiết sữa được điều khiển bằng cơ chế thần kinh – thể dịch Dinh dưỡng để tạo sữa được lấy từ máu, để tạo
1 lít sữa cấn có 540 lít máu thông qua bầu vú
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiết sữa của lợn nái cũng như sản lượng sữa tiết ra như: giống, tuổi, lứa đẻ, số con đẻ ra, số vú của lợn mẹ, dinh dưỡng, thời tiết và tình trạng sức khỏe của lợn nái
2.5.5 Chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản và yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau Tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà ta có thể chọn nhiều hoặc ít chỉ tiêu Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: Có 2 nhóm chỉ tiêu chính là nhóm chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn
2.5.5.1.Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của lợn nái:
- Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên, tùy theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau Tùy theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau như Yorskhire nhập vào Việt Nam có tuổi động dục lần đầu
là 203 - 208 ngày, Landrace có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày
Trang 32-Tuổi phối giống lần đầu
Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít, do
đó nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi Tuổi phối giống lần đầu thích hợp với lợn nội là 7,5 – 8 tháng tuổi, với lợn ngoại là 8 – 8,5 tháng tuổi -Tuổi đẻ lứa đầu
Là thời gian lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối giống và kết quả phối giống Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn -Số con đẻ ra/ổ
Là tổng số con đẻ ra trên một lứa của một nái, tính cả những con chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của con lợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi
- Số con đẻ ra còn sống đến 24h/ổ
Được tính bằng số con sống đến 24h kể từ khi đẻ xong con cuối cùng Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ, đánh giá trình độ chăn nuôi lợn nái và kỹ thuật đỡ đẻ
- Khối lượng sơ sinh/ổ
Là khối lượng cân được sau khi lợn con được cắt rốn, lau khô và chưa cho
bú sữa đầu Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng nói lên trình độ chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ
-Số con cai sữa/ổ
Là chỉ tiêu sinh sản quan trọng nhất có liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn mẹ và phòng bệnh cho lợn con -Khối lượng cai sữa/ổ
Là tổng khối lượng toàn ổ lúc cai sữa có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng xuất chuồng, vì tốc độ tăng trọng từ lúc cai sữa đến khi xuất chuồng có hệ
số di truyền ℎ = 0,29
Trang 33- Thời gian cai sữa
Là khoảng thời gian lợn mẹ nuôi con Thời gian cai sữa có liên quan đến khối lượng toàn ổ và khoảng cách lứa đẻ
- Thời gian động dục trở lại
Là khoảng thời gian lợn nái động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con hay phối giống không đạt Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện dinh dưỡng và thời gian cai sữa lợn con…
-Tổng số con cai sữa/nái/năm
Là chỉ tiêu sinh sản tổng quát nhất đối với lợn nái phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số con để nuôi, thời gian cai sữa, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái nuôi con…
Theo Nguyễn Thiện và Hoàng Kim Giao (1996), trong các trang trại chăn nuôi lợn hiện đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất ra trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ tiêu này được tính chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa đẻ 1 đến lứa đẻ cuối cùng) -Số lứa đẻ/nái/năm
Đây là chỉ tiêu quan trọng nó được coi như một hệ số đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Số lứa đẻ/nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian lợn nái mang thai, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại hoặc tuổi phối giống lần đầu (đối với lợn nái hậu bị) Trong các yếu tố đó thì thời gian mang thai là ổn định, còn các yếu tố khác đều thay đổi
- Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Được tính bằng thời điểm phối giống đạt lần trước đến thời điểm phối giống đạt lần sau hay có thể tính bằng tổng thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian phối giống có chửa trở lại sau cai sữa
2.5.5.2 Chỉ tiêu về sinh sản của lợn nái
Số con sơ sinh/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong 1 ổ, bao gồm cả số con
đẻ ra sống và số con sơ sinh chết
Trang 34Số con sơ sinh sống/ổ (con): là số con sống được đến khi con mẹ đẻ ra con cuối cùng Đây là chỉ tiêu thể hiện khả năng đẻ sai hay đẻ ít của giống, đồng thời đánh giá được kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai cũng như kỹ thuật phối giống
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa:
Số con sống đến cai sữa
Số con để lại nuôi Khối lượng cai sữa/ổ (kg): đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, khả năng tiết sữa của lợn mẹ và kỹ thuật cho ăn của người chăn nuôi Đây là chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất đối với người chăn nuôi, khối lượng cai sữa trên toàn ổ ảnh hưởng đến khối lượng khi xuất bán
Thời gian cai sữa: Thời gian cai sữa thể hiện trình độ, kỹ thuật chăn nuôi Chỉ tiêu này liên quan đến khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa ngắn sẽ
Trang 35rút ngắn khoảng cách lứa đẻ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm Thời gian cai sữa trung bình từ 21 - 28 ngày
Khoảng cách hai lứa đẻ (ngày): khoảng cách 2 lứa đẻ = thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời gian mang thai
2.5.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái nói chung và của nái lai Landrace x Yorkshire nói riêng đều chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố quan trọng là yếu tố di truyền và ngoại cảnh
+Phương pháp nhân giống: Phương pháp nhân giống cũng có ảnh hưởng rất rõ rệt đến năng suất sinh sản của lợn nái Nhân giống gồm có nhân giống thuần chủng và lai giống
+ Hệ số di truyền: Cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản
b Yếu tố ngoại cảnh
Các yếu tố ngoại cảnh cũng tác động rất rõ ràng và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái như: Chế độ dinh dưỡng, bệnh tật, phương thức nuôi nhốt, mùa vụ, thời gian chiếu sáng
+ Dinh dưỡng và chăm sóc: Để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thì dinh dưỡng là một trong các yếu tố quan trọng Chế độ dinh dưỡng bao gồm dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, khoáng chất, các nguyên tố đa lượng vi lượng và các vitamin Lợn nái chửa và lợn nái mang thai cần được cung cấp đủ về số và chất lượng để có khả năng sinh sản tốt
Trang 36Các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống có ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ thai Nuôi dưỡng lợn nái hạn chế trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỉ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ Nuôi dưỡng tốt lợn nái trước thời gian động dục có thể làm tăng số trứng rụng
+ Nhu cầu năng lượng: Năng lượng là một đơn vị không thể thiếu được cho
sự duy trì của cơ thể mẹ trong thời gian nuôi thai, tiết sữa và nuôi con Nhu cầu năng lượng ở mỗi giai đoạn của lợn là khác nhau Vì vậy việc cung cấp đủ năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản
Bảng 2.1: Nhu cầu năng lượng cho lợn nái ngoại Nái Khối lượng lợn (kg) Năng lượng trao đổi (ME, kcal)
(Strach, 1990) + Nhu cầu protein: Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần cung cấp thức ăn cho lợn nái, là thành phần không thể thay thế được, cần thiết trước tiên cho hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô Nhu cầu protein của lợn nái ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau như giai đoạn chửa kỳ I và chửa kỳ II là 13 – 14%, ở giai đoạn nuôi con là 15 – 16%, protein là nguyên liệu cho tổng hợp sữa và kháng thể vì vậy nhu cầu protein cho lợn nái ở giai đoạn nuôi con là rất cần thiết
Bảng 2.2: Nhu cầu protein cho lợn nái Nái Khối lượng lợn (kg) Protein thô (%)
(CP – GROUP)
Trang 37+ Nhu cầu về các axit amin: ở lợn, 10 axit amin không thể thay thế là lysine, methionine, threonine, phenylalanine, histidine, tryptophanne, leucine, isoleucine, valine và arginine Cung cấp thừa hay thiếu các axit amin đều ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa và kéo theo ảnh hưởng đến năng suát sinh sản
- Ảnh hưởng của vitamin: Vitamin rất cần thiết cho cơ thể lợn nái, nó tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi và hoạt động của cơ thể Tuy vitamin chỉ cần một lượng nhỏ nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn đến khả năng sinh trưởng, phát dục của cơ thể Vitamin như những chất xúc tác sinh học, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng Vitamin không tham gia vào thành phần cấu trúc mà thường dùng làm coenzim trong các phản ứng trao đổi Đặc biệt cần chú
ý vitamin A, D, E và vitamin nhóm B đối với lợn Nếu thiếu các vitamin trong khẩu phần ăn sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái:
Thiếu vitamin A: Lợn có hiện tượng sảy thai, đẻ non, chậm động dục, teo thai, khô mắt
Thiếu vitamin D: Lợn con đẻ ra còi cọc, trọng lượng thấp Lợn mẹ sau khi
đẻ dễ bị bại liệt, hấp thu Ca và P kém
Thiếu vitamin E: Lợn chậm động dục, không động dục, chết phôi thai Thiếu vitamin nhóm B: Dẫn tới hiện tượng thần kinh yếu, bại liệt tứ chi…
Bảng 2.3: Nhu cầu vitamin của lợn trong 1 tấn thức ăn hỗn hợp khô Loại vitamin Lợn sơ sinh đến 20 kg Lợn nái
Vũ Đình Tôn (2009)
Trang 38+ Nhu cầu về khoáng chất: Trong cơ thể lợn, khoáng chất chiếm 3% trong
+ Mùa vụ: Theo Gaustad - Aas và cs (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng lớn đến số con đẻ ra/ổ Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm lợn nái có tỉ lệ sinh sản thấp, tỉ lệ chết ở lợn con cao, nhiệt độ làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp, tỉ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỉ lệ động dục sau cai sữa giảm Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỉ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống và giảm khả năng sinh sản từ 5 – 20%
+ Tuổi và khối lượng phối lần đầu: Tuổi động dục lần đầu khác nhau tùy theo giống lợn Ví dụ lợn nội động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại Còn tuổi phối giống lần đầu thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa cho phối giống vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc và tính dục chưa ổn định Thành thục sinh dục tức là lợn nái hậu bị phải có biểu hiện về động dục và rụng trứng Tuổi thành thục về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý của cơ sở chăn nuôi Lợn nái nội như Ỉ, Móng Cái,… có tuổi thành thục về sinh dục từ 4 – 5 tháng tuổi Lợn nái ngoại như Landrace, Yorkshire có tuổi thành thục về sinh dục từ 7 – 8 tháng tuổi
+ Lứa đẻ và khoảng cách lứa đẻ: Khả năng sinh sản của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn nái đẻ ở lứa thứ nhất số lượng con thấp hơn, ở lứa thứ 2 trở đi số lượng con/ổ tăng dần cho đến lứa thứ 5, thứ 6,
7 thì giảm dần Cũng có thể dùng các biện pháp kỹ thuật, chăm sóc để duy trì chỉ tiêu số con đẻ ra/ổ từ lứa thứ 6 trở đi
Trang 39Khoảng cách lứa đẻ là số ngày tính từ ngày đẻ lứa trước đến ngày đẻ lứa tiếp theo bao gồm: Thời gian chờ động dục trở lại sau thời gian cai sữa và phối giống có chửa, thời gian chửa, thời gian nuôi con Nếu khoảng cách lứa đẻ ngắn thì số lứa đẻ/nái/năm tăng Trong 3 yếu tố cấu thành khoảng cách lứa đẻ thời gian có chửa không thể rút ngắn được, vấn đề đặt ra là cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để rút ngắn khoảng cách còn lại Hiện nay người ta đã cai sữa sớm cho lợn con ở 21 ngày tuổi
Nhìn chung hiệu quả chăn nuôi lợn nái được đánh giá bởi số lợn con cai sữa Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra/ổ, số lứa đẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống Giữa các chỉ tiêu trên có mối liên hệ với nhau (Đinh Văn Chỉnh, 2006) + Thời gian nuôi con và số con cai sữa/ổ: Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng đến khoảng cách lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Theo Phạm Hữu Doanh (1995) cho biết đối với lợn nái cai sữa sớm hơn 10 – 15 ngày so với cai sữa truyền thống vẫn động dục trở lại trong vòng 5 – 7 ngày sau khi cai sữa lợn con Tỉ lệ hao mòn lợn mẹ thấp hơn (7,5% và 8,72%
so với 15,08%)
Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ thì phải cai sữa sớm cho lợn con Để làm được như vậy trại đã cho lợn con sớm từ 4 ngày tuổi để đến cai sữa lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp không cần sữa mẹ
+ Số con cai sữa/ổ: Chỉ tiêu này cùng với số lứa đẻ/nái/năm quyết định số lợn con cai sữa/nái/năm Đây là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng suất sinh sản
Số con đẻ ra/ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng tốt, tình trạng sinh lý của lợn mẹ bình thường Tuy nhiên số con đẻ ra/ổ có sự biến động với mức độ khác nhau Phần lớn lợn nái đẻ 11 con/lứa chiếm tỷ lệ cao nhất (29,68%) số nái đẻ trên 13 con/lứa không nhiều (15,25%) còn số lợn đẻ dưới 10 con/lứa chiếm tỷ lệ tương đối cao (34,64%)
+ Yếu tố bệnh tật: Bệnh tật ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái các bệnh như truyền nhiễm, nội khoa, ngoại khoa, kí sinh trùng Trong chăn
Trang 40nuôi lợn nái sinh sản hiện nay thường gặp: “Hội chứng viêm vú, viêm tử cung,
….” Chủ yếu là bệnh viêm tử cung gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, lợn kém ăn, sữa tiết ra kém dẫn đến lợn con còi cọc, dễ mắc các bệnh tiêu chảy
và chết nhanh Lợn sau cai sữa chờ phối nếu mắc bệnh viêm tử cung thì tỉ lệ thụ thai thấp
Bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh (2008), viêm tử cung là một hội chứng thường xuất hiện trên lợn nái sau sinh Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết prostaglandine PGF2α và làm xáo trộn chu kì động dục làm tăng tình trạng chậm vô sinh và vô sinh Trong đó biểu hiện chậm động dục khi sảy ra sẽ làm giảm sức sinh sản của lợn nái , giảm số vòng quay lứa đẻ trong năm Ngoài ra phải tốn chi phí thuốc điều trị, phải loại thải sớm lợn nái do động dục làm giảm hiệu quả kinh tế của trại chăn nuôi Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), tỉ lệ lợn mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại hướng nạc đang được nuôi tại các địa phương vùng đồng bằng Sông Hồng là tương đối cao (7,1%) và có
sự khác nhau giữa các địa phương Bệnh thường tập trung ở lợn nái mới đẻ lứa đầu
và những lợn nái đẻ nhiều lứa
Nguyên nhân:
- Trong quá trình chửa lợn nái ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến đẻ khó, sẩy thai, thai chết lưu gây viêm tử cung
- Trong quá trình đẻ, đặc biệt là quá trình đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ làm sây sát niêm mạc tử cung
- Do kế phát của một số bệnh như sát nhau không can thiệp kịp thời làm cho nhau thai bị phân huỷ, thối rửa trong tử cung nên nhiễm trùng tử cung gây viêm
- Do vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo như nơi sinh tay người đỡ đẻ, dụng cụ dẫn tinh không vô trùng hoặc dụng cụ quá cứng dẫn đến làm sây sát niêm mạc tửcung gây viêm