1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng

107 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng
Tác giả Đinh Thị Hải Vân, Võ Hữu Công, Phan Thị Thuý, Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. GIỚI THIỆU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG1 1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN (28)
    • 1.1.1. Khái niệm tài nguyên (7)
    • 1.1.2. Phân loại tài nguyên (7)
    • 1.2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG (9)
      • 1.2.1. Khái niệm cộng đồng (9)
      • 1.2.2. Đặc tính của cộng đồng (11)
    • 1.3. QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ QUYỀN SỞ HỮU (12)
      • 1.3.1. Quản lý tài nguyên (12)
      • 1.3.2. Các loại quyền sở hữu (13)
      • 1.3.3. Quyền sở hữu tài sản và sự suy thoái tài nguyên (16)
    • 1.4. CƠ SỞ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (19)
      • 1.4.1. Khái niệm, nguyên tắc và các yếu tố cấn thiết của quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (19)
      • 1.4.2. Kiến thức bản địa (24)
      • 1.4.3. Phong tục tập quán (25)
  • Chương 2. QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM (0)
    • 2.1. HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM (28)
    • 2.2. QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM (30)
    • 2.3. LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN (32)
      • 2.3.1. Khái niệm về tập quán và luật tục (32)
      • 2.3.2. Vai trò của tập quán và luật tục trong quản lý tài nguyên (32)
    • 2.4. QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THEO PHONG TỤC VÀ LUẬT TỤC (33)
      • 2.4.1. Quyền sở hữu tài nguyên (33)
      • 2.4.2. Cách thức quản lý tài nguyên theo phong tục và luật tục (34)
    • 2.5. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM (42)
  • Chương 3. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (0)
    • 3.1. QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (46)
      • 3.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng (46)
      • 3.1.2. Các hình thức quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng (49)
      • 3.1.3. Quy trình xây dựng mô hình quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng (55)
    • 3.2. QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (62)
      • 3.2.1. Hiện trạng tài nguyên nước (62)
      • 3.2.2. Các hình thức quản lý tài nguyên nước trên cơ sở cộng đồng (66)
    • 3.3. QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VĂN HOÁ TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (73)
      • 3.3.1. Hiện trạng tài nguyên văn hoá (73)
      • 3.3.2. Các hình thức quản lý tài nguyên văn hoá trên cơ sở cộng đồng (77)
  • Chương 4. KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (0)
    • 4.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TẠI CỘNG ĐỒNG (84)
      • 4.1.1. Cách chọn điểm nghiên cứu (84)
      • 4.1.2. Cách chọn mẫu điều tra (84)
      • 4.1.3. Phương pháp thu thập số liệu (89)
    • 4.2. LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (95)
      • 4.2.1. Mục đích lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (96)
      • 4.2.2. Nguyên tắc lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (96)
      • 4.2.3. Ý nghĩa của việc lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (97)
      • 4.2.4. Phương pháp tiếp cận trong lập kế hoạch (97)
    • 4.3. HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG (101)
      • 4.3.1. Xác định mục đích (101)
      • 4.3.2. Nội dung đề cương (101)
      • 4.3.3. Đánh giá đề cương (102)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (102)

Nội dung

Bắt đầu từ những năm 2000, cộng đồng đã được đề cập đến trong một số văn bản luật ví dụ như Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, sau này được thay thế bằng

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐINH THỊ HẢI VÂN | VÕ HỮU CÔNG PHAN THỊ THUÝ | NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

Chủ biên: ĐINH THỊ HẢI VÂN

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Theo mục tiêu đào tạo ngành Khoa học Môi trường bậc Đại học, Khung chương trình, nội dung đề cương chi tiết môn học đã được thông qua, Bộ môn Quản lý Môi

trường biên soạn giáo trình Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng Giáo trình này

nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về quản lý tài nguyên nói chung, tài nguyên thiên nhiên nói riêng; Đặc tính cơ bản của cộng đồng, vai trò và thách thức của cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên; Giải pháp bảo vệ môi trường và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng, đồng thời giúp sinh viên hiểu thêm một số công cụ trong lập kế hoạch quản lý tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng

Giáo trình này gồm 4 chương: Chương 1 và Chương 2 cung cấp kiến thức cơ sở

về tài nguyên, các hình thức sở hữu và quản lý tài nguyên, cộng đồng và lý do cần phải quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng, các nguyên tắc, điều kiện để đảm bảo quản lý tài

nguyên hiệu quả Chương 3 phân tích sâu các nghiên cứu trường hợp để minh họa cho

kiến thức trong 2 chương đầu Chương này tập trung vào các trường hợp nghiên cứu điển hình về quản lý có sự tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên rừng, tài nguyên nước

và tài nguyên văn hoá Chương 4 tổng hợp các phương pháp đánh giá nhanh hiện trạng

của một địa bàn nghiên cứu cũng như những biện pháp nâng cao năng lực của cộng đồng

trong quản lý tài nguyên

Khi sử dụng giáo trình, sinh viên cần có thêm những kiến thức về luật, các văn

bản dưới luật đã ban hành liên quan đến tài nguyên môi trường, lao động, hình sự và các chính sách đối với phụ nữ

Tham gia biên soạn gồm các giảng viên được đào tạo có kinh nghiệm giảng dạy

về Quản lý tài nguyên và môi trường Nội dung các chương được phân công như sau:

TS Đinh Thị Hải Vân (Chủ biên), biên soạn một phần chương 1 và chương 4, TS Phan Thị Thuý biên soạn chương 1 và chương 2, TS Võ Hữu Công biên soạn toàn bộ chương 3, TS Nguyễn Thị Hồng Ngọc biên soạn một phần chương 2

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề mới và hiện còn có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhóm biên soạn đã rất cố gắng, song chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các chuyên gia và

đông đảo bạn đọc

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Khoa Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á (The Asian Development Bank) BQL Ban Quản lý

BVMT Bảo vệ môi trường

CBNRM Quản lý Tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (Community Based

Natural Resources Management) GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Products)

HTX Hợp tác xã

KCN Khu công nghiệp

KHĐT Kế hoạch đầu tư

KLN Kim loại nặng

LTQD Lâm trường quốc doanh

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PES Chi trả dịch vụ môi trường (Payment of Environmental Service) PTBV Phát triển bền vững

REDD Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính do mất rừng và suy

thoái rừng (Reduced Emission from Deforestation and forest Degradation)

RPH Rừng phòng hộ

RSX Rừng sản xuất

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

Chương 1 GIỚI THIỆU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG1 1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN 1

1.1.1 Khái niệm tài nguyên 1

1.1.2 Phân loại tài nguyên 1

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG 3

1.2.1 Khái niệm cộng đồng 3

1.2.2 Đặc tính của cộng đồng 5

1.3 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ QUYỀN SỞ HỮU 6

1.3.1 Quản lý tài nguyên 6

1.3.2 Các loại quyền sở hữu 7

1.3.3 Quyền sở hữu tài sản và sự suy thoái tài nguyên 10

1.4 CƠ SỞ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 13

1.4.1 Khái niệm, nguyên tắc và các yếu tố cấn thiết của quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng 13

1.4.2 Kiến thức bản địa 18

1.4.3 Phong tục tập quán 19

CÂU HỎI ÔN TẬP 21

Chương 2 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM 22

2.1 HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM 22

2.2 QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM 24

2.3 LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN 26

2.3.1 Khái niệm về tập quán và luật tục 26

2.3.2 Vai trò của tập quán và luật tục trong quản lý tài nguyên 26

2.4 QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THEO PHONG TỤC VÀ LUẬT TỤC 27

2.4.1 Quyền sở hữu tài nguyên 27

2.4.2 Cách thức quản lý tài nguyên theo phong tục và luật tục 28

2.5 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM 36

CÂU HỎI ÔN TẬP 39

Chương 3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 40

3.1 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 40

3.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng 40

Trang 6

3.1.2 Các hình thức quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng 43

3.1.3 Quy trình xây dựng mô hình quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng 49

3.2 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 56

3.2.1 Hiện trạng tài nguyên nước 56

3.2.2 Các hình thức quản lý tài nguyên nước trên cơ sở cộng đồng 60

3.3 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VĂN HOÁ TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 67

3.3.1 Hiện trạng tài nguyên văn hoá 67

3.3.2 Các hình thức quản lý tài nguyên văn hoá trên cơ sở cộng đồng 71

CÂU HỎI ÔN TẬP 77

Chương 4 KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 78

4.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TẠI CỘNG ĐỒNG 78

4.1.1 Cách chọn điểm nghiên cứu 78

4.1.2 Cách chọn mẫu điều tra 78

4.1.3 Phương pháp thu thập số liệu 83

4.2 LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 89

4.2.1 Mục đích lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng 90

4.2.2 Nguyên tắc lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng 90

4.2.3 Ý nghĩa của việc lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng 91

4.2.4 Phương pháp tiếp cận trong lập kế hoạch 91

4.3 HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 95

4.3.1 Xác định mục đích 95

4.3.2 Nội dung đề cương 95

4.3.3 Đánh giá đề cương 96

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

Chương 1

GIỚI THIỆU QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG

Chương 1 trình bày những kiến thức cơ bản về Quản lý Tài nguyên trên cơ sở cộng đồng gồm các khái niệm về tài nguyên, tài nguyên thiên nhiên, cộng đồng và đặc tính của cộng đồng và các nội dung cũng như cách thức tiếp cận trong Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng Đặc biệt chương này phân tích các kiến thức về đặc điểm

và điều kiện để công tác quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng được thành công, giải thích cơ sở để xây dựng và quản lý các kế hoạch quản lý tài nguyên một cách hiệu quả

1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN

1.1.1 Khái niệm tài nguyên

Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất được sử dụng để tạo ra của cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người (Zimmermann, 1933) Trong kinh tế, tài nguyên được định nghĩa là một dịch vụ hoặc tài sản khác được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của con người (Mc Connell & cs., 2011) Trong sinh học và sinh thái, tài nguyên được định nghĩa là vật chất cần thiết cho sinh vật sống phát triển, duy trì và sinh sản bình thường Ví dụ, nguồn tài nguyên thiết yếu cho động vật là thức ăn, nước và nơi ở Đối với thực vật, tài nguyên chính bao gồm ánh sáng mặt trời, chất dinh dưỡng nước và khí carbonic (CO2) Một cách đơn giản, tài nguyên còn là các yếu tố vô sinh, hữu sinh và văn hoá tồn tại trên trái đất Gần đây, các khái niệm mới ra đời không chỉ tập trung vào chức năng và giá trị sử dụng của tài nguyên mà còn nhấn mạnh về cách thức quản lý tài nguyên đó

1.1.2 Phân loại tài nguyên

Tài nguyên có thể được phân loại theo những cách khác nhau, tùy thuộc vào từng bối cảnh cụ thể như tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân tạo hoặc tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội Tài nguyên thiên nhiên lại được phân thành các loại như tài nguyên có khả năng tái tạo và tài nguyên không có khả năng tái tạo (Miller & cs., 2011)

- Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người đã và đang sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống Dù mỗi loại tài nguyên thiên nhiên đều có các đặc điểm riêng nhưng chúng luôn có 2 đặc điểm chung đó là: (1) Phân bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất

và (2) Có giá trị kinh tế cao Chính 2 đặc điểm này đã tạo nên tính quý hiếm của tài nguyên thiên nhiên và lợi thế phát triển của các quốc gia giàu tài nguyên

Trang 8

Theo phương pháp phân loại truyền thống, tài nguyên thiên nhiên được phân loại dựa vào trữ lượng, chất lượng, công dụng hoặc khả năng tái tạo Tuy nhiên, trong từng trường hợp cụ thể, người ta có thể sử dụng một hoặc tổ hợp nhiều phương pháp phân loại tài nguyên thiên nhiên

Hình 1.1 Phân loại tài nguyên

Phân loại tài nguyên theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên được chia

ra làm 2 loại đó là tài nguyên có khả năng tái tạo và tài nguyên không có khả năng tái tạo + Tài nguyên có khả năng tái tạo bao gồm nước, đất, sinh vật là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung, làm mới một cách liên tục khi được quản lý hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên có khả năng tái tạo có thể bị suy thoái và không thể tái tạo được, ví dụ tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn

+ Tài nguyên không có khả năng tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất

đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng, điển hình như dầu mỏ, than đá

Tuy nhiên, việc phân chia giữa tài nguyên có khả năng tái tạo và không có khả năng tái tạo chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với quá trình diệt vong của các loài sinh vật quý hiếm

- Tài nguyên xã hội

Tài nguyên

Tài nguyên có khả

năng tái tạo

Tài nguyên không có khả năng tái tạo

Di sản văn hóa

Sở sở pháp luật, xã hội, làng xóm, nhà nước …

Khí đốt

triều, khí hậu

Nguồn gen

Rừng và sinh vật Đất

Trang 9

Tài nguyên xã hội (tài nguyên con người) là một dạng tài nguyên có khả năng tái tạo đặc biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người Khi đề cập đến tài nguyên xã hội người ta sẽ không thể không nhắc đến những di sản văn hóa, cơ sở luật pháp xã hội, làng xóm, nhà nước… Loại tài nguyên này chi phối rất lớn đến việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhất là xét về khía cạnh cộng đồng, xã hội

Con người chịu tác động của nền văn hoá nơi họ sinh sống Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, con người đều có những quan điểm, nền tảng giá trị, niềm tin và những hành

vi mong đợi Từ đó, nguồn tài nguyên xã hội được xem như là tất cả những gì làm cho con người thích ứng với môi trường về mặt tinh thần

Nguồn tài nguyên xã hội được chi phối bởi hành vi của từng cá nhân trong xã hội, các chuẩn mực xã hội hoặc các giá trị khác như sự ủng hộ hay chống đối về cách xử sự của con người với tự nhiên

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TÍNH CỦA CỘNG ĐỒNG

1.2.1 Khái niệm cộng đồng

Khái niệm cộng đồng được đề cập từ rất sớm dựa trên vị trí địa lý (Galpin, 1915) Tuy nhiên, sau này nó được định nghĩa lại đầy đủ hơn trên phương diện tập hợp những quan tâm chung và mối quan hệ giữa các thành viên trong một vùng nhất định

Cộng đồng là những nhóm người có đặc điểm về thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau, cùng sống trong bối cảnh về tự nhiên, kinh tế, xã hội (Stone & Nyaupane, 2014) Nói cách khác, cộng đồng là tất cả những người sống hay làm việc trong khu vực địa lý nhất định, không phân biệt nam, nữ, già hay trẻ (Godelier, 2010)

Một cách tổng quát, cộng đồng là một tập hợp công dân cư trú trong một khu vực địa lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trị văn hoá chung

Đó có thể là lợi ích, nghĩa vụ, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng Những giá trị này có vai trò rất quan trọng đối với nhận dạng, thực tiễn và vai trò của cộng đồng

Trong các cuốn từ điển tiếng Việt, không có khái niệm cộng đồng dân cư mà chỉ

có khái niệm về cộng đồng hay cộng đồng xã hội Theo từ điển tiếng Việt, cộng đồng được hiểu là “chung nhau và công khai” Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, cộng đồng

xã hội là một tập đoàn người, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, nghề nghiệp, địa điểm sinh tụ và cư trú Tuy nhiên, có những cộng đồng

xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc

Khái niệm “cộng đồng” được dùng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên có thể khái quát thành 2 loại phổ biến gồm: (1) Cộng đồng tương đương với dân cư thôn bản, được

Trang 10

công nhận trong một số văn bản luật gần đây và (2) Nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau

Loại thứ nhất, “cộng đồng” là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thường có ranh giới không gian trong một thôn bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn bản” Khái niệm này được sử dụng khá phổ biến Ví dụ cộng đồng được đề cập là nhóm người sống trong phạm vi thôn, bản, các xã, phường của khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa Cộng đồng có những điểm giống nhau, có chung các mối quan hệ nhất định và cùng chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động và là đối tượng cần được quan tâm trong sự phát triển kinh tế

- xã hội hiện nay” (Lê Văn An & cs., 2016)

Bắt đầu từ những năm 2000, cộng đồng đã được đề cập đến trong một số văn bản luật ví dụ như Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, sau này được thay thế bằng Luật Lâm nghiệp 2017, tại Điều 3 đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục, tập quán” Như vậy, trong quản lí tài nguyên, cộng đồng có thể hiểu là toàn bộ các

hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn

vị tương đương chia sẻ chung nguồn tài nguyên

Thứ hai, “cộng đồng” được dùng trong quản lý tài nguyên chính là nói đến các nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống Như vậy, theo quan niệm này, “cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn Cùng loại khái niệm này trong Luật Đất đai năm 2003, cộng đồng được định nghĩa

là “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”

Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm nhiều yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát Đó là những cộng đồng có đặc điểm chung về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính

ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn

Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu; ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác Cộng đồng có sự liên kết, cố kết nội tại không phải do các quy tắc rõ ràng thành văn, mà do các quan hệ sâu hơn, được coi như là một hằng số văn hóa

Trang 11

1.2.2 Đặc tính của cộng đồng

Cộng đồng dân tộc Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đều có những đặc tính đặc trưng Một số đặc trưng cơ bản của cộng đồng gồm tính lịch sử, tính xã hội, tính kinh tế và tính văn hoá Đặc trưng của dân tộc thể hiện qua việc lựa chọn sinh kế của cộng đồng Các dân tộc thường có nhận thức tương đồng dựa vào kinh nghiệm và kiến thức bản địa

Quan hệ xã hội là các mối quan hệ giữa các cá nhân tạo thành nền tảng cho cộng đồng Các loại mối quan hệ bao gồm gia đình, cha mẹ, anh chị em ruột, họ hàng, bạn bè, hàng xóm, cộng sự, đồng nghiệp, người quen Các điểm tương đồng trong những khía cạnh này có tác dụng phát triển tinh thần cộng đồng Mối quan hệ khăng khít, tương đồng giữa các thành viên trong cộng đồng được củng cố trong quá trình lịch sử Một số đặc tính cơ bản của cộng đồng gồm tính lịch sử, tính xã hội, tính kinh tế và tính văn hoá

- Tính lịch sử

Cộng đồng chính là một thực thể, kế thừa những đặc tính vốn có của nó từ một quá trình phát triển lâu dài Tuy nhiên, đây cũng là một yếu tố có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm các chương trình, chính sách mới đối với quản lý tài nguyên Trong đó, các yếu tố như dân số, quá trình định canh định cư và lịch sử xung đột là đáng quan tâm nhất trong quá trình quản lý tài nguyên

Tính lịch sử về dân số thể hiện quá trình phát triển về dòng tộc của cộng đồng Nó thể hiện sự đồng nhất về con người hoặc quá trình di cư, nhập cư hay quá trình hình thành nên các hệ gia đình mới trong cộng đồng Một cộng đồng đã trải qua nhiều xung đột thì cách thức giải quyết xung đột là những kinh nghiệm quý báu có ý nghĩa rất lớn trong quá trình quản lý tài nguyên

- Tính xã hội

Có rất nhiều vấn đề liên quan đến cấu trúc xã hội của cộng đồng ảnh hưởng đến

sự thống nhất và những mối quan tâm của các nhóm khác nhau trong việc giải quyết các vấn đề quản lý tài nguyên Trong đó, các vấn đề như dân tộc và ngôn ngữ, cấu trúc gia đình, giai cấp và địa vị xã hội, các mối quan hệ giới đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý tài nguyên

- Tính kinh tế

Tính xã hội đã chỉ ra rằng các thành viên cộng đồng sẵn lòng hay không sẵn lòng

để cùng nhau giải quyết các vấn đề quản lý tài nguyên Tính kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nhóm người có cùng quan tâm hay không quan tâm về vấn đề tài nguyên được quản lý như thế nào Qua đó, có 2 vấn đề quan trọng trong tính kinh tế là chiến lược sinh kế và mức độ phân tầng sinh kế trong cộng đồng

Nhận thức và thái độ của con người về tài nguyên sẽ khác nhau tùy thuộc vào chiến lược sinh kế của từng cá nhân Cùng một số loại cây, một số người sẽ sản xuất

Trang 12

thuốc thảo dược hay chè, người dùng làm hàng rào hay củi hoặc những người chơi cây cảnh lại sử dụng cùng loại cây trên cho mục đích giải trí Chính vì những mục đích khác nhau, mỗi đối tượng có cách tiếp cận riêng trong việc bảo vệ loại cây đó Mức độ phụ thuộc vào tài nguyên cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế của hộ gia đình Đối với những người nghèo khó, họ không đủ khả năng tài chính sử dụng khí ga để đun nấu, vậy nên hàng ngày họ phải dùng củi từ cây rừng

- Tính văn hoá

Trải qua nhiều thế hệ, người dân bản địa đã phát triển các tri thức về sinh thái, mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, do đó văn hóa trở nên “thích nghi với hệ sinh thái” Văn hóa, luật tục và mối quan hệ giữa chúng đã được nhiều học giả giải thích

và định nghĩa

Merry trong Tyler, 2006 định nghĩa “Luật tục như là cấu trúc văn hóa với ý nghĩa chính trị, một tập hợp các ý tưởng bao gồm các mối quan hệ được biến đổi trong lịch sử” Nâng cao vị thế của tri thức địa phương, thể chế truyền thống và luật tục sẽ đóng góp tích cực vào việc bảo vệ và quản lý tài nguyên Để phối hợp tốt giữa hoạch định chính sách và những người ngoài cộng đồng thì cần phải nâng cao vai trò của lãnh đạo cộng đồng và tiếng nói của địa phương (Tyler, 2006)

Tính văn hoá ảnh hưởng đến việc khuyến khích người dân trong cộng đồng tham gia, bảo vệ và khai thác tài nguyên Văn hoá thường có mối quan hệ chặt chẽ đến tín ngưỡng và tôn giáo Nhiều người còn tin tưởng vào các yếu tố thần linh và quan niệm rằng nếu khai thác quá mức hay động chạm đến những vấn đề linh thiêng thì họ sẽ bị các vị thần linh trừng phạt

Tuy nhiên, mỗi cộng đồng có đặc tính khác nhau nhưng họ có những tính chất tương tự đó là:

+ Đoàn kết: Sự hoà hợp, tinh thần đồng đội

+ Liên kết: Phối hợp, hợp tác trong công việc và đời sống

+ Cơ cấu: Có tính tổ chức và cơ cấu của một tổ chức xã hội

1.3 QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ QUYỀN SỞ HỮU

1.3.1 Quản lý tài nguyên

Quản lý có thể được định nghĩa là quá trình đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn nhân lực, vật chất, tài chính và thông tin của tổ chức một cách hiệu quả (Bovée & cs., 1993)

Quản lý tài nguyên thiên nhiên (NRM) đề cập đến việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính như đất, nước, không khí, khoáng sản, rừng, thủy sản và động thực vật hoang dã

Trang 13

Như vậy, quản lý tài nguyên thiên nhiên liên quan đến quá trình lập kế hoạch, phương hướng chiến lược cụ thể, biện pháp quy hoạch và cùng với đó là các chế tài phù hợp, nghiêm khắc nhằm giúp cho công việc khai thác, sử dụng và tái tạo tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đúng đắn để mang lại lợi ích tối ưu cho đất nước và toàn cầu, đồng thời hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm tới môi trường trong việc sử dụng tài nguyên Chính vì vậy, quản lý tài nguyên gắn liền với quyền sở hữu

Các hình thức quản lý tài nguyên thiên nhiên khác nhau nằm trong hai hình thức

cơ bản là quản lý hành chính nhà nước (đối với sở hữu chung, tiếp cận mở hoặc sở hữu toàn dân như ở Việt Nam) và quản lý cộng đồng Ngoài ra, đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là hình thức quản lý kết hợp giữa hai hình thức trên Quản

lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích (Pomeroy, 1995)

Cụ thể, nhà nước đã chia sẻ quyền quản lý tài nguyên cho cộng đồng Cách tiếp cận quản lý tài nguyên thiên nhiên có thể phân theo loại tài nguyên và quyền sở hữu của các bên tham gia vào việc quản lý

1.3.2 Các loại quyền sở hữu

Sở hữu trong kinh tế chính trị là một phạm trù cơ bản, chỉ mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm dụng của cải, vật chất Nó là hình thức xã hội của sự chiếm hữu tài sản Nó có thể được luật hóa thành quyền sở hữu và được thực hiện theo cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu hay quyền sở hữu

Theo bộ luật dân sự quyền sở hữu bao gồm 3 quyền cơ bản là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu (điều 158, bộ luật dân sự 2015) Theo đó: (1) Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ tài sản trong tay, kiểm soát và loại trừ; (2) Quyền sử dụng là quyền sử dụng tài sản theo ý muốn; (3) Quyền định đoạt

là quyền quyết định cho mượn, cho thuê, bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy hay gần giống như quyền quản lý

Nhiều loại quyền sở hữu liên quan đến tài sản Các quyền có thể được chia và kết hợp theo nhiều cách tuỳ thuộc vào các mục đích khác nhau Do đó, quyền sở hữu có thể ảnh hưởng đến các ưu đãi đối với chủ sở hữu trong việc quản lý lâu dài một tài nguyên

cụ thể

Trong thựa tế, có nhiều loại sở hữu tài sản, trong đó thông thường có 2 nhóm chính đó là:

(1) Tài sản riêng, thuộc sở hữu của cá nhân hoặc nhóm cá nhân,

(2) Tài sản chung hoặc tài sản công cộng, tài sản do tiếp cận

a Tài sản riêng

Tài sản riêng bao gồm tài sản thuộc sở hữu của cá nhân hoặc một nhóm cá nhân

và tài sản này thuộc sở hữu cá nhân Nghĩa là cá nhân hoặc nhóm người đó có toàn

Trang 14

quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản do họ sở hữu Quyền sở hữu tư nhân là một phạm trù pháp lý được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt những tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân hoặc những quyền dân sự cụ thể của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản thông qua các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản

Theo điều 211, Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam đưa ra khái niệm về sở hữu tư nhân như sau: “Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình” Cũng theo điều này, chủ thể của sở hữu cá nhân chính là từng cá nhân Nếu một tài sản hoặc một tập hợp tài sản thuộc quyền sở hữu của hai hay nhiều người thì chủ sở hữu là từng người trong số họ; họ được gọi là những đồng chủ sở hữu

Tài sản được sở hữu bởi một nhóm cá nhân là dạng tài sản mà trong đó các đồng chủ sở hữu có thể loại trừ người không thuộc nhóm trong việc tiếp cận và sử dụng tài sản đó Bên cạnh đó, những người trong nhóm được quyền tiếp cận và sử dụng tài sản theo các quy định chung của nhóm Trong trường hợp nhóm không có đủ khả năng và nguồn lực để loại trừ những đối tượng không thuộc nhóm sử dụng, khai thác thì tài sản

đó cũng dễ dàng bị suy thoái giống như các loại tài sản chung Về khía cạnh quản lý tài sản, hình thức sở hữu này gần giống với quản lý tài nguyên dựa trên cơ sở cộng đồng hoặc cộng đồng cùng quản lý tài nguyên Khi đó nhóm ở đây là cộng đồng và cộng đồng chỉ được giao quyền quản lý và sử dụng tài nguyên, còn chủ sở hữu vẫn là nhà nước hoặc toàn dân

Tài sản riêng thuộc sở hữu bởi một nhóm người nào đó khác với tài sản riêng của một cá nhân là tài sản này thuộc quyền chung của một nhóm các cá nhân Tùy theo đóng góp, khả năng và sự phân công mà mỗi cá nhân hoặc nhóm cá nhân có vai trò nhất định trong quản lý, sử dụng tài nguyên Các nhóm này giữ quyền sở hữu theo phong tục tập quán của một số tài nguyên nhất định như đất nông nghiệp, đất chăn thả, nguồn nước và các thành viên cùng chia sẻ quyền lợi, nghĩa vụ

Cách thức quản lý tài nguyên thuộc sở hữu loại này có thể là cả nhóm, một hội đồng hoặc cá nhân được lựa chọn để quản lý Chẳng hạn, quyền sở hữu một mảnh đất nông nghiệp có thể được giao cho một nhóm, sau đó lãnh đạo nhóm có thể phân bổ từng phần cho các cá nhân hoặc gia đình khác nhau sử dụng Nhưng người được giao sử dụng đất đó chỉ nắm giữ quyền sử dụng và không thể chuyển nhượng hoặc chuyển giao quyền sở hữu đó cho cá nhân khác Khi cần, nhóm có quyền lấy lại mảnh đất đó Để tài sản thuộc một nhóm quản lý có hiệu quả cũng cần những điều kiện nhất định Trong trường hợp nhóm không có khả năng thì tài sản thuộc nhóm cũng đứng trước nguy cơ bị khai thác không có kế hoạch và dẫn đến suy thoái

b Tài sản chung

Tài sản chung thì mọi người đều được sử dụng với ranh giới quản lý không rõ ràng Tài sản được quản lý chung nhằm đảm bảo sự công bằng cho tất cả mọi người

Trang 15

trong việc tiếp cận Những tài sản chung bao gồm: (1) Tài sản thuộc quyền quản lý nhà nước hoặc (2) Tài sản công cộng và tài sản tiếp cận mở

- Tài sản thuộc quyền quản lý nhà nước

Tài sản công cộng hay tài sản của Nhà nước là một loại tài sản chung và thuộc sở hữu của tất cả công dân của nước đó Tài sản này được kiểm soát bởi lãnh đạo của các

tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước Theo nghĩa này, tài sản giống như tài sản của một nhóm người nhưng ở đây nhóm người rất rộng lớn, là một quốc gia Nếu xem xét 8 điều kiện quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng có hiệu quả thì tài sản quản lý thuộc cấp quốc gia hoặc nhà nước có quy mô quá rộng, cần phải có các phương thức để thu hẹp quy mô cho phù hợp

Trong chế độ sở hữu nhà nước, quyền sở hữu và kiểm soát việc sử dụng nằm trong tay nhà nước Cá nhân và các nhóm có thể tận dụng các nguồn lực nhưng chỉ ở mức độ nhất định Rừng, các khu bảo tồn, khu vực quân sự hoặc đất đai, sông suối biển, không khí… là ví dụ về chế độ tài sản nhà nước

Nhà nước có thể trực tiếp quản lý việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua các cơ quan chính phủ hoặc cho nhóm hoặc cá nhân được hưởng quyền sử dụng các tài nguyên đó trong một khoảng thời gian nhất định (có thể hiểu là hình thức phân quyền, giao khoán hay cho thuê) Trong một vài hoàn cảnh, thông qua các cơ chế như giao quyền quản lý, tài sản của nhà nước có thể được chuyển đổi thành quyền quản lý của nhóm cá nhân, cộng đồng và sẽ được quản lý như của nhóm cá nhân Tuy nhiên, điều cần lưu ý là nếu không được giao quyền quản lý lâu dài, cộng đồng không có động lực

để bảo vệ tài nguyên một cách bền vững

Tùy theo chủ trương của chính phủ, tài sản nhà nước có thể được chuyển sang các loại khác hoặc ngược lại Ví dụ là sự hợp tác hóa đất đai và tư liệu sản xuất của nước ta khi tất cả những nguồn lực này được chuyển từ sở hữu tư nhân sang hợp tác xã, sau đó lại chuyển sang sở hữu tư nhân sau Khoán 10

Thường thì chế độ sở hữu toàn dân hoặc nhà nước không rõ ràng, mờ nhạt, vì vậy dẫn đến việc quản lý tài sản không có hiệu quả, dễ bị suy thoái Trong một số trường hợp, tài sản được chuyển sang các hình thức sở hữu cá nhân thì nó được quản lý hiệu quả hơn Đây là một trong những phương thức để quản lý tài nguyên thiên nhiên hiệu quả Chẳng hạn như rừng của nhà nước được giao cho các nhóm, cộng đồng quản lý

- Tài sản công cộng/tài sản tiếp cận mở

Tài sản mở hoặc tiếp cận mở là một hình thức khác của tài sản chung, đề cập đến tình huống mà tài nguyên không có chủ sở hữu, mọi người đều được tự do sử dụng và không ai có quyền ngăn cấm người khác Những tài nguyên đó bao gồm không khí, nguồn nước, bãi biển… đều thuộc loại tài sản mở Do mọi người đều có quyền tự do khai thác, không có người quản lý nên loại tài sản này thường bị khai thác kiệt quệ và suy thoái nhanh Trong một số trường hợp khi chủ sở hữu không có khả năng quản lý

Trang 16

một cách có hiệu quả thì tài sản riêng cũng bị người ngoài khai thác, sử dụng Do đó, tài sản này cũng bị xuống cấp không khác gì tài sản thuộc quyền quản lý nhà nước Do không có quyền sở hữu rõ ràng trong tài sản mở nên nhiều người thường cho rằng “tài sản của mọi người không phải là tài sản của ai”, như vậy không ai có ý thức giữ gìn và trách nhiệm quản lý Thậm chí, không ai có quyền nhắc nhở khi người khác khai thác quá mức, phá hủy tài sản này Chính vì vậy, việc quản lý giữ gìn các loại tài nguyên sở hữu chung cần phải tập trung vào khía cạnh thể chế nhằm mang lại hiệu quả Nếu tài sản và cách thức quản lý không được xác định thì cơ chế tiếp cận mở sẽ làm suy giảm giá trị tài sản

Một số trường hợp, tiếp cận mở là hậu quả từ sự thiếu vắng hoặc sự đổ vỡ của một

hệ thống sở hữu, quản lý Các nguồn tài nguyên có giá trị trở thành tài sản tiếp cận mở thông qua một loạt thất bại về thể chế đã làm suy yếu các chế độ quản lý tập thể cũ Điều này làm hạn chế khả năng quản lý của các cơ quan thẩm quyền và tài sản thuộc sở hữu nhà nước hoặc các nhóm sẽ không được quản lý và chuyển thành tài sản tiếp cận mở Mặt khác, tài sản của từng nhóm cá nhân được chính quyền chuyển thành tài sản nhà nước hoặc sở hữu bởi các nhóm lớn hơn nhưng lại không có cơ chế quản lý hiệu quả, điều này đã dẫn đến các chủ sở hữu mới không quản lý được và tài sản trở thành không ai quản lý Như việc Chính phủ lấy lại rừng từ cơ quan quản lý cấp địa phương (chủ yếu là các thôn hoặc cộng đồng) chuyển thành tài sản nhà nước hoặc công cộng, nhưng lại thiếu cơ chế và nguồn lực quản lý khiến tài sản trở thành tài sản mở

Sự thiếu vắng cơ chế quản lý và thực thi hiệu quả đã biến rừng thành một nguồn lực có thể khai thác dựa trên cơ sở người đến trước là người được khai thác trước và không ai bảo được ai Một ví dụ điển hình ở Việt Nam là việc hợp tác hóa đất đai và tư liệu sản xuất Tương tự việc chuyển rừng từ sở hữu của thôn bản sang lâm trường cũng

là một ví dụ về thay đổi cơ chế quản lý và sở hữu

1.3.3 Quyền sở hữu tài sản và sự suy thoái tài nguyên

Bi kịch của tài sản chung

Nguyên nhân chủ yếu của suy thoái tài nguyên và môi trường là sự thất bại về quyền sở hữu tài sản và chính sách Những thất bại đó gây ra ảnh hưởng tiêu cực về tài nguyên và môi trường Thường thì rất khó có thể quản lý các tài sản chung một cách hiệu quả

Tài sản chung được quản lý theo hình thức tập thể Quyền khai thác những nguồn lợi này nằm trong lợi ích chung Không khí, đại dương, sông hồ là các tài sản chung, cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho con người và hấp thụ chất thải Rừng, đất đồng cỏ,

hệ thống tưới tiêu nước cũng có thể được quản lý như là tài sản chung Những loại tài sản này đều thuộc nhóm tài sản tự do tiếp cận, tức là có thể sử dụng bởi bất kỳ ai với bất

kỳ mức độ sử dụng nào Những tài sản này rất dễ bị khai thác quá mức bởi không ai

Trang 17

chịu trách nhiệm quản lý việc khai thác chúng và xã hội vẫn chưa có thể chế thích hợp

để quản lý và bảo vệ Chính vì vậy, tài sản chung thường không có cơ chế quản lý rõ ràng và mọi người đều có quyền khai thác, sử dụng Bất cứ khi nào nguồn tài nguyên (đất đai, động vật, không khí, nước) được giữ “chung” hoặc tiếp cận mở mà không được quản lý phù hợp thì sẽ bị xuống cấp do khai thác quá mức dẫn đến suy kiệt gọi là bi kịch của tài sản chung

Hardin (1968) phân tích và giải thích vấn đề “bi kịch tài sản chung” thông qua miêu tả cánh đồng cỏ của một làng không thuộc chủ sở hữu nào Mỗi hộ gia đình đem 2-3 con bò ra ăn cỏ thì không sao, vì cỏ sẽ mọc lại, đủ để cung cấp cỏ cho gia súc trong làng Do lợi nhuận đem lại từ việc nuôi bò nhiều, không mất tiền cỏ, một số gia đình tăng thêm số lượng bò của mình nhằm tăng thêm lợi nhuận Những gia đình khác cũng tăng thêm số lượng bò và đem thả vào cánh đồng, tại thời điểm đó nhiều bò ăn nên đã gây ra hiện tượng quá sức mang môi trường của đồng cỏ, như vậy cỏ sẽ không kịp phục hồi và dần bị suy thoái Mức độ đáp ứng tối ưu cho mỗi hộ sẽ không còn khi tổng nguồn tài nguyên bị phá vỡ

Qua phân tích của Hardin cho thấy, các cá nhân đều tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình và họ cố gắng khai thác tài nguyên càng nhiều càng tốt Những nhận thức như vậy cùng với cách quản lý tài nguyên không hợp lý sẽ thúc đẩy khai thác triệt để tài sản chung khi các cá nhân không phải trực tiếp chịu chi phí cho việc sử dụng tài nguyên quá mức (Hardin, 1968) Khi mỗi cá nhân tin tưởng và hành xử theo cách này, tài sản chung nhanh chóng bị xuống cấp và hủy hoại

Nếu là đồng cỏ của riêng (một cá nhân, một nhóm hoặc cả làng có một quy định

cụ thể), nông dân sẽ có sự điều chỉnh để gia súc của mình không ăn hết cỏ, không khai thác quá khả năng tái sinh (hay sức mang môi trường) của đồng cỏ và giữ được nguồn lợi này lâu dài Song, các cá nhân sẽ cảm thấy thua thiệt khi nguồn tài nguyên thuộc về

sở hữu chung, nếu mình không khai thác trong khi người khác vẫn khai thác tài nguyên

đó Nông dân với hành vi tối đa hóa lợi ích bản thân đã đua nhau mang gia súc của mình tới đây cho ăn cỏ càng nhiều càng tốt mà không có ai quan tâm đến việc quản lý đồng

cỏ bền vững cho sau này Kết cục, những đồng cỏ của công này đã bị khai thác đến kiệt quệ và cằn cỗi Như vậy, cách quản lý này đem lại hiệu quả trong thời gian ngắn nhưng

về lâu dài thì người dân lại bị thiệt hại nhiều hơn và trong nhiều trường hợp thì tài nguyên không thể phục hồi được

Tương tự, đánh bắt cá quá mức cũng là một trong những bi kịch của tài sản chung,

là hậu quả của những quyết định “hợp lý” của mỗi ngư dân khi khai thác tài nguyên chung càng nhiều càng tốt Bãi biển và cá là của chung và mỗi người đều muốn đánh bắt càng nhiều càng tốt Họ đầu tư công sức, công cụ để bắt được nhiều cá hơn Một người, vài người và sau đó là rất nhiều người cùng đua nhau đánh bắt, dẫn đến lượng cá giảm mạnh, đến một lúc nào đó đàn cá sẽ không đủ khả năng tái sinh và trở nên cạn kiệt

Trang 18

Bị kịch của tài sản chung xảy ra khi một hành động có thể hợp lý với mỗi cá nhân nhưng lại không hợp lý với toàn xã hội Chúng ta hầu như không thể ngăn chặn bi kịch này đối với tài sản tự do tiếp cận nhưng lại có thể thực hiện đối với nguồn tài nguyên có chủ sở hữu rõ ràng Chủ sở hữu sẽ quyết định việc ai sẽ được quyền sử dụng và sử dụng tài nguyên như thế nào Họ thiết lập những thể chế xã hội nhất định, tạo nên những quy tắc xử sự cho cộng đồng Những thể chế xã hội này sẽ đảm bảo mọi người đều khai thác tài nguyên theo một phương thức bền vững

Vì những thực trạng ảnh hưởng của quyền sở hữu đến tài nguyên như trình bày bên trên, một số giải pháp đã được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề này Các giải pháp được đưa ra hướng tới quy định rõ ràng quyền quản lý, sử dụng và khai thác tài nguyên, môi trường bằng các hình thức khác nhau Thông thường, có 3 cách để quản lý tài nguyên hiệu quả hơn bao gồm: (1) Chính quyền quản lý, có thể thông qua cơ quan tổ chức đại diện; (2) Tư nhân quản lý; (3) Cộng đồng địa phương tự quản lý

Giải pháp thứ nhất là chính quyền hoặc tổ chức nào đó đứng ra quản lý tài nguyên Như vậy, những quy định về quản lý tài nguyên có những quy định cụ thể, tài nguyên sẽ không bị khai thác quá mức Vấn đề thường gặp phải là việc trông chờ vào nhà nước hoặc một tổ chức đưa ra giải pháp tối ưu và các giải pháp này dường như không thích hợp

Giải pháp thứ hai là tư nhân quản lý hay còn gọi là tư nhân hóa, mỗi người nhận một phần tài nguyên và tự quản lý Tuy nhiên, nếu chia nhỏ một mảng tài nguyên lớn thành nhiều mảng nhỏ sẽ tăng chi phí quản lý Ngoài ra, tài nguyên mất hẳn ý nghĩa là của chung cũng như sự công bằng Người giàu có hơn sẽ mua tài nguyên trong khi người nghèo và thế hệ sau sẽ không còn tài nguyên để sử dụng

Bên cạnh hai giải pháp nêu trên còn một giải pháp thứ 3 đó là cộng đồng địa phương tự quản lý Giải pháp này đã được tiến sĩ Ostrom (1990) nêu ra, sau đó các nhà khoa học khác đã nghiên cứu đó là người sử dụng tài nguyên tại địa phương tự tìm ra giải pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng Theo hình thức này tài nguyên dùng chung được quản lý qua thỏa thuận giữa những người dùng tài nguyên đó với nhau Hình thức cộng đồng quản lý tài nguyên là giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào công tác bảo vệ tài nguyên Hình thức cộng đồng tự quản

lý có những ưu điểm sau:

+ Tăng cường tính bền vững trong quản lý tài nguyên do người dân có ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc bảo vệ tài nguyên Trong thực tế, muốn quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững thì không thể chỉ dựa trên những điều kiện tự nhiên mà còn phải căn cứ vào phong tục, tập quán của các cộng đồng, con người đang sử dụng nguồn tài nguyên đó Nếu cộng đồng khai thác quá mức sẽ dẫn đến hệ sinh thái tự nhiên

bị phá vỡ, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Hơn nữa, trực tiếp tham gia vào công tác bảo vệ tài nguyên, cộng đồng dân cư địa phương sẽ trách nhiệm hơn đối với những quyết định và giải pháp do chính họ đề ra

Trang 19

+ Huy động được nguồn lực địa phương vào công tác quản lý tài nguyên, đặc biệt

là nguồn tri thức bản địa Cộng đồng địa phương là những người biết rõ về hệ sinh thái địa phương và có những giải pháp giải quyết vấn đề phù hợp với trình độ nhận thức, phong tục tập quán của người dân địa phương

+ Tăng cường dân chủ cơ sở, từ đó huy động tốt hơn sự ủng hộ về chính trị và cải thiện lòng tin của cộng đồng đối với các cấp chính quyền

+ Cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương, đặc biệt là người dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa sống dựa vào tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng Cộng đồng dân cư tham gia mô hình quản lý dựa vào cộng đồng sẽ được hưởng kết quả đầu tư trên loại tài nguyên, như đối với tài nguyên rừng thì người dân sẽ được quyền khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác từ rừng theo quy định của pháp luật trên diện tích rừng được giao quản lý

+ Giảm khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng giới do cộng đồng cùng sở hữu

và hưởng lợi từ tài nguyên

+ Nâng cao nhận thức và cải thiện năng lực quản lý và quản trị của cộng đồng dân

cư địa phương thông qua các hoạt động tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên

1.4 CƠ SỞ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG

1.4.1 Khái niệm, nguyên tắc và các yếu tố cấn thiết của quản lý tài nguyên trên cơ

sở cộng đồng

1.4.1.1 Khái niệm

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng hay sự tham gia của cộng đồng trong quản

lý tài nguyên là một khái niệm rộng và đa nghĩa theo tính ứng dụng của nó trong thực tiễn, đề cập tới sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quản lý tài nguyên đất, nước, rừng, động vật hoang dã và nguồn lợi thủy sản Những năm gần đây, quản lý nguồn tài nguyên dựa vào cộng đồng được nhấn mạnh và cải tiến từ những kinh nghiệm, bài học thực tiễn qua hàng loạt dự án và được định nghĩa theo các cách khác nhau

Về sự tham gia, Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định” Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được gọi là sự tham gia của cộng đồng Theo FAO (1982): “Sự tham gia của người dân như là một quá trình mà qua đó người nghèo ở nông thôn có khả năng tự tổ chức, coi đó như các tổ chức của chính họ, có khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết

kế thực hiện, đánh giá các phương án tại địa phương”

Vandergeest (2006) định nghĩa khái quát hơn quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là “một cách tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài

Trang 20

nguyên thiên nhiên tại địa phương” Tuy có sự khác nhau về từ ngữ, nhưng nhìn chung quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng được định nghĩa chung là quá trình quản lý tài nguyên thường do những người phụ thuộc vào nguồn tài nguyên đề xuất biện pháp quản

lý Nguyên tắc cốt lõi của quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng dù tồn tại dưới hình thức nào vẫn là sự tham gia của cộng đồng trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các loại tài nguyên

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng hay sự tham gia của cộng đồng là một thuật ngữ hiện đại đã xuất hiện trong quản lý tài nguyên môi trường chung và phát triển trong vài chục năm qua Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng quản lý tài nguyên trên cơ

sở cộng đồng không có gì mới, chỉ đơn giản là những gì các cộng đồng đã áp dụng trong công tác quản lý tài nguyên của họ Thông qua các thể chế địa phương như lãnh đạo truyền thống, niềm tin tôn giáo và các chuẩn mực văn hoá, các cộng đồng địa phương quản lý tài nguyên thường là đất đai, rừng của họ bằng các quy định, quy tắc, luật tục chung

Việc quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được thực hiện từ lâu đời và rất phổ biến trên thế giới Hình thức này bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1950 do sự suy thoái của tài nguyên chung và đặc biệt được chú ý từ những nghiên cứu của Hardin và sau này là của Ostrom Dần dần, nó đã trở thành một phương pháp tiếp cận quản lý tài nguyên ngày càng phổ biến, hứa hẹn giải quyết công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Đây là mô hình thay thế cho cách thức quản lý tài nguyên theo hình thức sở hữu chung kém hiệu quả và là giá trị cốt lõi cho sự chuyển đổi tích cực mối quan hệ giữa người dân

và môi trường (Hackel, 1999)

Trong thời kỳ tiền thuộc địa, quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu do các nhà lãnh đạo truyền thống quy định và phân bổ (ví dụ săn bắn, chặt cây lấy gỗ) Vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, phần lớn cách thức quản lý truyền thống này đã được thay thế bằng hệ thống kiểm soát tập trung do các chính phủ thực dân áp đặt Trong hầu hết các trường hợp, chính phủ sau độc lập đã duy trì các hệ thống tập trung này trong những năm 1960 và 1970 Nói chung, các nhà lãnh đạo và cộng đồng địa phương đã bị bỏ rơi và không còn quyền quản lý tài nguyên nữa Đồng thời, chính phủ thường không có khả năng điều chỉnh các nguồn tài nguyên mà họ cho là có thẩm quyền Tình trạng này kết hợp với sự gia tăng dân số dẫn đến gia tăng áp lực lên tài nguyên gây suy giảm năng suất đất, mất đa dạng sinh học Trong bối cảnh đó quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng được xem như là một nỗ lực để giảm thiểu suy giảm

đa dạng sinh học và suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên đất Hình thức này đã khôi phục mức độ kiểm soát tài nguyên cho cộng đồng địa phương Một số bằng chứng từ thực tiễn đã chỉ ra rằng, quản lý tài sản chung do chính những người sử dụng tài nguyên đó sẽ bền vững hơn, nhất là khi họ được quyền quyết định quản lý (Berkes, 1989; Ostrom, 1990)

Trang 21

Qua một số dự án đã được thực hiện thì phương thức quản lý trên cơ sở cộng đồng

(4) Cấp độ đối tác: Nhà nước và cộng đồng cùng quản lý Hình thức này thường được gọi là đồng quản lý;

(5) Cấp độ chủ trì: Cộng đồng được nhà nước trao quyền quản lý, nhà nước chỉ thực hiện việc kiểm soát

Quản lý dựa vào cộng đồng cần phải đảm bảo 4 thành tố sau đây: (i) Cải thiện quyền hưởng dụng các nguồn tài nguyên; (ii) Xây dựng nguồn nhân lực; (iii) Bảo vệ môi trường và (iv) phát triển sinh kế bền vững

để điều hòa nước Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng mọi người cần phải chọn hợp tác với nhau để đưa ra quyết định tập thể Điều này có nghĩa là cộng đồng hoặc nhóm người

sử dụng tài nguyên nên tự xác định các mối quan tâm chung

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (CBNRM) liên quan đến vấn đề quản lý

và sở hữu Điều này ngụ ý rằng phải có một số quy tắc về việc làm thế nào, khi nào hoặc số lượng tài nguyên có thể được sử dụng Các quy tắc này không cần phải được viết trong một văn bản pháp luật, nhưng phải được hiểu và đồng ý bởi người sử dụng tài nguyên và được công nhận, tôn trọng ngoài cộng đồng

Trang 22

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (CBNRM) thường gắn liền với các cộng đồng hưởng lợi từ việc sử dụng tài nguyên bởi các nhóm người sử dụng tài nguyên Khi quản lý tốt tài nguyên sẽ sinh lợi và họ được nhận lợi ích từ việc quản lý tốt đó Để quản

lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng (CBNRM) thành công, cần phải có một số điều kiện then chốt như sau (Jones, 2004; Jones & Murphree, 2013):

+ Cộng đồng cần có quyền đối với tài nguyên để họ có thể kiểm soát việc tiếp cận các nguồn tài nguyên và cách thức sử dụng chúng Họ cũng cần bảo đảm quyền sở hữu (tức là họ biết rằng các quyền này sẽ không bị chính phủ tự ý xoá và được đảm bảo theo thời gian) Theo các nguyên tắc trong các nghiên cứu khác, đây chính là nguyên tắc để người dân yên tâm về quyền sở hữu lâu dài tạo động lực quản lý tài nguyên bền vững + Cộng đồng cần có các tổ chức đại diện và có trách nhiệm cao Các tổ chức này yêu cầu thành viên có kỹ năng quản lý tài chính và khả năng tổ chức tốt Nguyên tắc này

đề cập đến năng lực của cộng đồng cũng như tính minh bạch trong công tác quản lý

+ Cộng đồng phải có khả năng thu được lợi ích thích hợp từ các nguồn tài nguyên

mà họ quản lý Họ sẽ không đầu tư thời gian, công sức và tài chính để quản lý nguồn tài nguyên nếu không đem lại lợi ích cho họ Đây là một nguyên tắc về hiệu quả và lợi ích rất quan trọng đảm bảo tính hiệu quả, bền vững Tuy nhiên, ở một số nước ví dụ như Việt Nam, các nguồn lợi tài nguyên này thường không đáng kể Để tạo ra nhiều lợi ích hơn cho cộng đồng thì phải giảm chi phí cho các đối tượng khác, chẳng hạn như ban quản lý khu bảo tồn, ban quản lý rừng phòng hộ, tổ hợp tác xã Trong khi đó, các cộng đồng không có tính pháp lý ràng buộc, thường yếu thế hơn và ít được ưu tiên trong vấn

đề quản lý

Vì vậy, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng dựa trên các giả định sau: Nếu một nguồn tài nguyên có giá trị và các cộng đồng có quyền sử dụng, hưởng lợi và quản

lý tài nguyên đó thì mới tiến tới việc quản lý bền vững

Hơn thế nữa, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng ở khắp nơi, nó đã tạo ra thu nhập cho cộng đồng địa phương Nói chung, các cộng đồng đang sử dụng nguồn thu nhập từ quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng của mình cho các dự án xã hội, nâng cấp cơ sở hạ tầng cộng đồng như phòng học, tòa nhà dành cho phòng khám trạm y tế,

hỗ trợ người cao tuổi và người nghèo Ở một số nơi, lợi ích đó là tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương như hoạt động săn bắn, phát triển du lịch Như vậy trong trường hợp này, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã góp phần giảm nghèo

1.4.1.3 Nguyên tắc

Ở đây, những người cùng sử dụng tài nguyên đặt ra những quy định chung hướng tới sử dụng bền vững, vì họ sẽ sử dụng tài nguyên trong một thời gian dài Các trường hợp quản lý tài nguyên thành công đều có những điểm chung sau:

Trang 23

- Quyền sở hữu và ranh giới rõ ràng: Đây là nguyên tắc cơ bản đảm bảo tính minh bạch, tính rõ ràng, là cơ sở cho sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa việc khai thác quá mức Quyền sở hữu và ranh giới rõ ràng giúp cho bên quản lý và bên sử dụng tài nguyên dễ dàng ra quyết định, theo dõi và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên

- Cam kết sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên: Chủ sở hữu tài nguyên chung phải thực sự muốn sử dụng nó một cách bền vững Họ phải chấp thuận rằng (1) Sử dụng tài nguyên phải nhằm mục đích bền vững lâu dài; (2) Mỗi cá nhân cần phải điều chỉnh mức khai thác của mình cho phù hợp với mục tiêu chung

- Hướng tới tương lai: Sẽ là lý tưởng nhất nếu các chủ sở hữu cùng chung quá khứ, tin tưởng lẫn nhau, mong đợi một tương lai chung, coi trọng uy tín của họ trong cộng đồng Cũng sẽ dễ dàng hơn nếu những khác biệt về dân tộc, khả năng kinh tế không gây ra mâu thuẫn giữa những người sở hữu tài nguyên

- Thoả thuận về các quy tắc sử dụng nguồn tài nguyên: mọi người cần có những hiểu biết đầy đủ về nguồn lực, từ đó có thể nhận thức được các hậu quả của việc sử dụng chúng theo các cách khác nhau Các quy tắc tốt cần đơn giản, đảm bảo sự công bằng, phải đem lại lợi ích lớn hơn so với chi phí, không gây lãng phí thời gian của mọi người hoặc lãng phí các nguồn lực có giá trị khác

- Tôn trọng quy tắc: Mọi người tự nguyện chấp hành nghiêm túc các quy tắc Cách tốt nhất ngăn mọi người không vi phạm các quy tắc chính là giám sát nội bộ, những người sử dụng nguồn tài nguyên giám sát lẫn nhau và giám sát bên ngoài, chẳng hạn như việc giám sát của những người bảo vệ Mọi người phải hiểu rằng nếu mình vi phạm các quy tắc thì những người khác sẽ biết Các áp lực xã hội và cảm giác xấu hổ cũng là hình phạt thích đáng đối với những người vi phạm

- Các cơ chế thích ứng nội bộ: Trong nội bộ cộng đồng cần có các cơ chế nhằm điều chỉnh các quy tắc sử dụng nguồn lực tài sản chung, thích ứng với hệ xã hội hoặc hệ sinh thái hay những thay đổi từ các yếu tố khách quan khác

- Giải quyết mâu thuẫn: Mọi người đôi khi có những cách hiểu biết khác nhau về việc áp dụng các quy tắc trong từng trường hợp Việc giải quyết mâu thuẫn nên đơn giản, ít tốn kém và công bằng

- Sự can thiệp rất ít từ bên ngoài: Tự trị địa phương, khả năng hoạt động một cách độc lập, không bị ai kiểm soát là rất quan trọng bởi vì người ngoài có thể áp đặt những quyết định không phù hợp với thực tế địa phương Một trong những nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến việc sử dụng không bền vững các nguồn lực tài sản chung là

sự can thiệp từ phía chính quyền nhà nước hoặc các thế lực kinh tế bên ngoài

Những đặc điểm chung của các trường hợp thành công này rất giống với các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo sự thành công của dự án quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng

Trang 24

1.4.2 Kiến thức bản địa

Kiến thức hay tri thức bản địa là một hệ thống tri thức, thường được gọi là tri thức bản địa hay tri thức truyền thống, kiến thức địa phương Tri thức bản địa do người dân của một cộng đồng tích luỹ, chọn lọc và phát triển trong nhiều năm, hiện vẫn đang tiếp tục phát triển tại địa phương đó Do vậy kiến thức bản địa thường phù hợp với văn hóa

và môi trường của từng địa phương Kiến thức bản địa là một trong những thành tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của tộc người, là tài sản trong quá trình phát triển, phản ánh mối quan hệ của mỗi cộng đồng với môi trường tự nhiên và xã hội giữa thiên nhiên và văn hóa Đặc trưng cơ bản nhất của tri thức bản địa là tính đặc hữu, nó là

hệ thống tri thức của các dân tộc bản địa hay của cộng đồng tại một khu vực cụ thể, được tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định ở vùng địa lý nhất định (Warren MD,1992) Cho tới nay, tri thức bản địa đã được công nhận là nguồn tri thức

có giá trị cao trong cuộc sống con người, là cơ sở cho những sáng tạo kế thừa của nhiều ngành khoa học và là mối quan tâm của toàn thế giới Ngày nay, nhờ có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, tri thức bản địa được biết đến nhiều hơn và trở thành một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng rộng rãi (Nguyễn Thị Hải Yến, 2009)

Thế giới hiện đại đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh thái, tài nguyên và môi trường Những bài học từ lịch sử cho thấy chúng ta có thể học hỏi từ những người dân bản địa Những lối sống truyền thống đã chứng tỏ sự ổn định dài lâu

do những cộng đồng tại đây đã tương tác với môi trường sống trong một thời gian dài Qua thời gian, họ ngày càng tích lũy được những kiến thức từ thực tế và càng thích nghi với môi trường sống, quản lý tài nguyên một cách bền vững không chỉ cho họ mà còn cho các thế hệ sau

Điều cơ bản dẫn tới sự thành công này chính là sự quản lý tài nguyên một cách khôn ngoan Các dân tộc bản địa ngày nay sử dụng các nguồn tài nguyên sẵn có mà không làm suy kiệt chúng Họ sử dụng những kiến thức riêng của dân tộc mình về việc chăm sóc, sử dụng, duy trì các loài thực vật, đất đai, động vật, khí hậu và các mùa không phải để khai thác tự nhiên mà là để cùng chung sống với nó Điều này gắn liền với việc quản lý, kiểm soát số lượng các loài, khai thác một lượng nhỏ nhưng đa dạng các loại tài nguyên Đây chính là những điều mà chúng ta cần học hỏi để quản lý tài nguyên bền vững từ các cộng đồng địa phương

Tri thức bản địa không chú trọng vào khai thác thế giới tự nhiên mà chú trọng vào

sự hòa hợp với thế giới đó Tất cả các loài động thực vật đều có chỗ trong một thế giới

có trật tự chung được cấu thành từ các yếu tố như con người, tự nhiên và các đấng siêu nhiên Các nền văn hóa bản địa cũng giúp bảo vệ thế giới tự nhiên khỏi sự phá hoại thông qua tôn giáo và các nghi lễ Các loài động vật được tôn trọng và duy trì số lượng thông qua việc quản lý chặt chẽ Ví dụ như, những người theo đạo Phật tại Ấn Độ đã sống sót qua rất nhiều trận hạn hán bởi vì họ không giết hại các loài động thực vật Họ gây giống các loài gia súc một cách có chọn lọc, kiểm soát việc cho lạc đà ăn và sống

Trang 25

bằng sữa, sữa chua và một số loại hoa màu canh tác được Nhiều người còn phát triển được khả năng am hiểu rất kĩ càng các hành vi của động vật để khai thác một cách có kế hoạch Nghiên cứu của Bates P & cs (2009) cho thấy, những người sống trong các khu rừng nhiệt đới còn nhận ra rằng tại điểm giao cắt của hai hệ sinh thái khác nhau, việc săn bắt thường thành công hơn Nhiều cộng đồng thậm chí còn quy định những thành viên trồng hoa màu hoặc cây cối để thu hút một số loài động vật nào đó và làm gia tăng

số lượng của chúng (Bates & cs., 2009)

Ngày nay, có một vấn đề nghiêm trọng đó là nhiều tri thức bản địa đang bị mất đi, cùng với sự biến mất này là kiến thức quý giá về những cách sống bền vững Chúng ta

có thể học hỏi và áp dụng được rất nhiều từ kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Đó chính là những cách mà các cộng đồng địa phương áp dụng để quản lý tài nguyên thiên nhiên

1.4.3 Phong tục tập quán

Phong tục là hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch

sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và thống nhất Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp

xã hội hay thậm chí một dòng họ, gia tộc Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão hoặc liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm hay liên quan đến chu kỳ lao động của con người

Phong tục, tập quán thể hiện truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức trong cộng đồng người Vì vậy, các phong tục bản địa dễ áp dụng, phù hợp thực tiễn và cũng dễ dàng được cộng đồng chấp nhận Do mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng của người dân qua nhiều thế hệ đúc kết lại và có sự điều chỉnh trong cuộc sống hiện tại nên các thành viên cộng đồng rất tin tưởng vào tính công bằng, chính xác của các quy tắc xử

sự này, nhất là khi những phong tục, tập quán được ghi lại thành hương ước, quy ước Nếu biết sử dụng, kết hợp thì phong tục, tập quán sẽ là sự hỗ trợ tốt cho các quy phạm pháp luật Phong tục, tập quán còn giúp giải quyết tranh chấp, khiếu kiện giữa các cộng đồng một cách ôn hòa, tích cực bởi các cộng đồng sống gần nhau sẽ có những nét tương đồng nên có thể dễ dàng hòa giải

Tuy vậy, việc áp dụng các phong tục, tập quán trong quản lý tài nguyên cũng cần

có những nguyên tắc nhất định như: Các phong tục, tập quán được áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản pháp quy của Nhà nước Chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đã thông dụng, được cộng đồng người sinh sống trên địa bàn thừa nhận Chỉ áp dụng trên địa bàn có thói quen xử sự theo tập quán đó Phát huy tốt vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (già làng, trưởng bản) trong việc áp dụng phong tục, tập quán trong quản lý tài nguyên rừng và

Trang 26

môi trường Người dân H'Mông coi rừng cúng (“giống zà”) của thôn là rừng thiêng nên bảo vệ rất nghiêm ngặt theo hương ước do thôn đề ra và truyền qua nhiều thế hệ bằng miệng, không có văn bản chính thức Hương ước này quy định nghiêm cấm mọi người dân trong thôn kể cả người ngoài không được vào rừng cúng chặt cây, lấy củi, chăn thả gia súc, nếu ai vi phạm sẽ bị thôn phạt bằng tiền, ngô hoặc gạo nộp vào quỹ Nhờ có những phong tục tập quán của người dân địa phương đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững

Trang 27

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày hiểu biết về tài nguyên và cách phân loại tài nguyên?

2 Trình bày hiểu biết về cộng đồng, bản chất của cộng đồng và ứng dụng trong quản lý tài nguyên?

3 Phong tục tập quán là gì? Văn hoá và tín ngưỡng trong quản lý tài nguyên của cộng đồng?

4 Phân tích các hình thức sở hữu, đặc điểm? Hình thức nào quản lý hiệu quả nhất tại sao?

5 Tại sao một số tài nguyên chỉ có thể quản lý dưới hình thức sở hữu chung? Biện pháp khắc phục và ứng dụng ở Việt Nam?

6 Kiến thức bản địa là gì? Vai trò của kiến thức bản địa và đặc trưng của nó? Phân tích những thuận lợi và thách thức khi phát huy kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên

7 Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là gì? Nội dung của Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng?

8 Đặc điểm và điều kiện để quản lý tài nguyên bền vững? Hãy phân tích các điều kiện này để ứng dụng ở Việt Nam trong quản lý tài nguyên bền vững

Trang 28

sở cộng đồng của một số dân tộc ở Việt Nam và những điều kiện để hình thức quản lý

này thành công tại Việt Nam

2.1 HỆ THỐNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN Ở VIỆT NAM

Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, là yếu tố đảm bảo cho phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Chính vì vậy, công tác quản lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường đã được quan tâm từ rất lâu và được quy định rõ trong các văn bản luật, chủ trương, chính sách liên quan Hệ thống quản lý tài nguyên ngày càng được hoàn thiện theo hướng quản lý chặt chẽ và có hiệu quả hơn, được thể hiện qua một số văn bản pháp luật như Luật Đất đai năm 2013; Luật Khoáng sản năm 2010; Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013; Luật Đê điều năm 2006; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 Các văn bản này được sửa đổi bổ sung theo hướng khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bổ sung các quy định mới nhằm tạo môi trường pháp lý đầy đủ

Ở Việt Nam, theo quy định tại các văn bản liên quan thì tài nguyên thiên nhiên là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước quản lý tài nguyên thiên nhiên thông qua các đại diện là các cơ quan bộ ngành và chính quyền tại các địa phương Thông thường tài nguyên được quản lý bởi một số cơ quan cấp bộ, ngành xuống đến địa phương, hay còn gọi là tài nguyên được quản lý theo ngành dọc Bên cạnh đó, tài nguyên cũng được quản lý theo ngành ngang bởi chính quyền sở tại Theo chức năng nhiệm vụ thì ở cấp Trung ương Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước đối với phần lớn các tài nguyên thiên nhiên Cụ thể theo điều 1 và điều 2 của Nghị định 36/2017/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài nguyên đất; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; viễn thám, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Bộ TNMT có chức năng,

Trang 29

nhiệm vụ quản lý, lập kế hoạch và tham mưu mọi vấn đề liên quan đến các tài nguyên

kể trên cho Chính phủ (NĐ 36/2017/NĐ-CP) Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở thuộc quyền quản lý trực tiếp

Hình 2.1 Hệ thống quản lý tài nguyên ở Việt Nam

Tương tự, nghị định 15/2017/NĐ-CP cũng quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý và chịu trách nhiệm về tài nguyên rừng quản lý hệ thống rừng đặc dụng, bảo vệ hệ sinh thái rừng, các loài sinh vật rừng, bảo tồn thiên nhiên Bên cạnh đó cũng quản lý nhà nước về phát triển, bảo vệ, sử dụng rừng; khai thác lâm sản; tổ chức sản xuất lâm nghiệp gắn với chế biến và tiêu thụ lâm sản; giống cây trồng lâm nghiệp theo quy định của pháp luật Bộ cũng phối hợp các cơ quan, bộ ngành để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình

Tại địa phương, Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước đối với phần lớn các tài nguyên thiên nhiên tương ứng thông qua các phòng ban và chi cục trực thuộc Sở

Trang 30

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý tài nguyên rừng thông qua chi cục kiểm lâm hoặc chi cục phát triển lâm nghiệp, quỹ bảo vệ và phát triển rừng Dưới các chi cục này là ban quản lý các rừng phòng hộ, rừng sản xuất hoặc các lâm trường

Có thể phân cấp quản lý tài nguyên thành 4 cấp cơ bản:

+ Cấp cao nhất là cấp chính phủ mà đại diện là bộ ngành như đã phân tích ở trên + Cấp thứ hai là UBND tỉnh, thành phố mà đại diện là các cơ quan cấp sở tại các tỉnh và thành phố đó

+ Cấp thứ ba là các đơn vị trực tiếp quản lý tài nguyên thuộc sở gồm các phòng ban và chi cục

+ Cấp dưới cùng là những người sử dụng trực tiếp tài nguyên đó

Cụ thể, đối với công tác quản lý rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý ở cấp trung ương Cấp tỉnh thì sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cụ thể

là Chi cục Phát triển Lâm nghiệp sẽ quản lý rừng thuộc tỉnh đó Rừng đặc dụng hoặc rừng phòng hộ tại tỉnh đó lại được quản lý bởi ban quản lý rừng đặc dụng hoặc rừng phòng hộ

2.2 QUYỀN SỞ HỮU TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM

Các loại tài nguyên và môi trường phát triển hoặc suy thoái đều liên quan chặt chẽ với phương thức quản lý và thể chế xã hội Theo Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản” (Điều 173) Như vậy từ định nghĩa trên cho thấy, quản lý tài sản/tài nguyên thuộc quyền của người sở hữu Khi cho người khác hoặc các tổ chức khác mượn hoặc thuê tài sản/tài nguyên thì người sở hữu đã trao cho họ hai quyền là quyền chiếm hữu và sử dụng Về quyền định đoạt tài nguyên thì vẫn nằm trong tay người sở hữu Người hoặc tổ chức bị coi là vi phạm pháp luật nếu họ sử dụng quyền định đoạt (bán, cầm cố, thế chấp, phá hủy) đối với các loại tài tài sản/tài nguyên

Theo các quy định hiện hành, các hình thức sở hữu tài sản nói chung và tài nguyên thiên nhiên nói riêng bao gồm 3 hình thức chính: sở hữu cá nhân, sở hữu nhà nước và sở hữu chung Trong đó, sở hữu nhà nước và sở hữu chung thường khó phân biệt với nhau

+ Sở hữu cá nhân: Thuộc về các cá nhân là các dạng tài sản cố định hoặc không

cố định thuộc toàn quyền quyết định của một cá nhân hay tổ chức

+ Sở hữu nhà nước: Là các tài sản, tài nguyên thiên nhiên thuộc về nhà nước,

quốc gia hoặc nhóm đại diện được nhà nước cho phép khai thác quản lý như rừng quốc gia, cơ sở quân đội

Trang 31

+ Sở hữu chung: Là các tài nguyên thiên nhiên thuộc về công cộng, nói cách

khác là nguồn tài nguyên không phải do đơn lẻ cá nhân hay đơn vị, công ty, tổ chức nào kiểm soát

Tuy nhiên, theo các luật liên quan thì ở Việt Nam sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân hay sở hữu công cộng vẫn chưa được phân tách rõ ràng Hiến pháp năm 2013 quy định tại điều 53 rằng: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Bộ luật Dân sự sửa đổi (năm 2013) tại mục 2, điều 213 quy định sở hữu toàn dân là “sở hữu đối với tài sản công, bao gồm tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý” Tương tự, các luật liên quan như luật Đất đai, luật Lâm nghiệp cũng quy định các tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân

Do đó, để đưa ra được một cách chính xác khái niệm về sở hữu toàn dân là một việc rất khó và cũng không dễ chấp nhận nó “Sở hữu toàn dân” là khái niệm sở hữu chung của nhân dân và các luật liên quan chưa xác định được rõ ràng chủ thể của sở hữu toàn dân và chỉ áp đặt đơn giản là “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân” Trong khi

đó, Nhà nước là một bộ máy và hệ thống tổ chức bao gồm nhiều thiết chế và cơ quan khác nhau từ Trung ương cho tới địa phương Tài sản thuộc sở hữu của toàn dân nhưng người dân - những người chủ sở hữu lại không trực tiếp “được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản”

Việc bảo vệ sở hữu toàn dân cũng chưa quy định rõ cách xử lý người bị thiệt hại, người phải chịu trách nhiệm trong trường hợp các tài sản công (tức của toàn dân) ví dụ như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, các tài sản, công trình do Nhà nước đầu tư bị tổn hại, lãng phí hay thất thoát Trong trường hợp này, người bị thiệt hại là người dân nhưng người chịu trách nhiệm là các cơ quan, tổ chức được giao quản lý và sử dụng nó Đương nhiên, các nguyên lý này sẽ phải được luật định và đi kèm với nó là một cơ chế đầy đủ, có hiệu lực để bảo đảm thực hiện

Như vậy, có thể thấy tài sản (tài sản công) thuộc sở hữu của toàn dân (nhân dân) nhưng người dân (những người chủ sở hữu) lại không trực tiếp “được thực hiện mọi hành vi theo ý của mình đối với tài sản” như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu quy định tại điều 209 của dự luật mà phải thông qua đại diện (Nhà nước) Do đó, khi đưa vào các khái niệm pháp lý rất khó sử dụng vì không thể xác định ai có chủ quyền thật

sự Khi khái niệm không rõ dễ tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích kiểm soát tài nguyên của quốc gia, biến sở hữu toàn dân thành sở hữu tư nhân Như vậy, ở Việt Nam việc phân cấp chủ thể và trách nhiệm quản lý tài nguyên chưa rõ ràng Tài nguyên đang được quản lý như tài sản chung hoặc tài sản tiếp cận mở, dẫn đến quản lý tài nguyên bền vững là rất khó khăn Kinh nghiệm từ nhiều nơi trên thế giới cũng như các mô hình quản lý truyền thống ở trong nước cho thấy quản lý trên cơ sở cộng đồng là mô hình

Trang 32

hiệu quả và khả thi nhất ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, chúng ta cần nắm vững các nguyên tắc cũng như cần có môi trường, cơ sở luật pháp phù hợp để đạt được thành công đó

Do việc quản lý còn yếu kém của các cấp chính quyền địa phương, hậu quả làm cho nguồn tài nguyên của chúng ta bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng, tài nguyên

bị khai thác và sử dụng bừa bãi, lãng phí Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải vận dụng luật và các kiến thức để quản lý tài nguyên một cách có hiệu quả

2.3 LUẬT TỤC CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN 2.3.1 Khái niệm về tập quán và luật tục

Tập quán được hiểu là những quy tắc ứng xử chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng đồng dân cư trên cơ sở những thói quen trong đời sống sinh hoạt và trong lao động Nó lặp đi lặp lại hàng ngày, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen và

dư luận xã hội Tập quán có vai trò rất lớn tới việc điều chỉnh hành vi hay xử sự của

con người

Luật tục là toàn bộ những nguyên tắc ứng xử, những quy định chặt chẽ về các mối quan hệ và trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng, thể hiện một cách bao quát, phong phú các mối quan hệ xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ Luật tục có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với mọi thành viên trong cộng đồng, được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp nhất định, trong đó có cả các biện pháp cưỡng chế, xử phạt do cộng đồng tự quy định Như vậy, luật tục được hiểu là luật dân gian, luật bản địa, luật địa phương, luật không thành văn hoặc luật theo phong tục, nó ra đời và tồn tại trong chế độ xã hội tiền giai cấp, lúc bấy giờ toàn dân làm chủ luật lệ của mình

Luật tục có thể coi là những phong tục có dáng dấp của pháp luật hay luật tục là pháp luật dựa trên phong tục tập quán của một tộc người (có xử phạt, có chế tài thông qua toà án cộng đồng, toà án phong tục) Đây là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ, là hình thức sơ khai của luật pháp Luật tục đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành các hệ thống pháp luật trên thế giới Ở Việt Nam, dưới chế độ phong kiến, đặc biệt ở các vùng dân tộc thiểu số, luật tục đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Trải qua chế độ thực dân đô hộ và sau đó là chế độ quản lý tập trung, quyền quản lý tài nguyên của cộng đồng dần bị mai một Hiện nay, luật tục vẫn còn thể hiện vai trò của mình trong một chừng mực và phạm vi nhất định Vì vậy, trong quá trình xây dựng

và áp dụng pháp luật, chúng ta không thể không tính đến luật tục một cách thận trọng để nâng cao hiệu quả của pháp luật

2.3.2 Vai trò của tập quán và luật tục trong quản lý tài nguyên

Tập quán và luật tục cũng giống như nhiều loại quy phạm xã hội khác, nó tác động tới cả sự hình thành lẫn thực hiện pháp luật Đặc điểm các tập quán, luật tục là đã

Trang 33

tồn tại từ lâu đời, ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân, trở thành thói quen ứng xử hàng ngày của họ và được đảm bảo thực hiện bằng dư luận xã hội, cộng đồng Vì thế, luật pháp quy định nếu được xây dựng và kế thừa từ những tập quán, luật tục phù hợp thì thường được nhân dân tự giác thực hiện, góp phần làm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn

Trong quá trình áp dụng pháp luật, nếu vận dụng tốt những luật tục, tập quán vào việc giải quyết các vấn đề pháp lý xảy ra thì dễ được đánh giá là “vừa thấu tình, vừa đạt lý” Do đó, dễ nhận được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân nên dễ được thi hành nghiêm chỉnh hơn trong thực tế Ví dụ, trong quá trình phân chia rừng cho thôn bản nhận khoán bảo vệ hoặc nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng, thôn bản thường có xu hướng muốn nhận khoán những khu vực theo đúng diện tích rừng thuộc quyền sở hữu truyền thống của họ

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã được các tộc người thực hiện một cách có hiệu quả, hài hòa từ rất lâu đời Người dân đã đặt ra những nguyên tắc, cách ứng xử trong cuộc sống nhằm bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên bền vững Tất cả được đúc kết trong các điều khoản của Luật tục dân gian và đã tồn tại hàng ngàn đời nay trong xã hội của họ

2.4 QUYỀN SỞ HỮU VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THEO PHONG TỤC VÀ LUẬT TỤC

2.4.1 Quyền sở hữu tài nguyên

Ở các nhóm dân tộc thiểu số ở Việt Nam, từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm hữu đối với của cải vật chất, tài nguyên Việc xác định quyền sở hữu và chiếm hữu là cơ sở để cộng đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên và môi trường Các quan hệ sở hữu này có thể là sở hữu chung của cả cộng đồng, sở hữu của cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng, động thực vật của cộng đồng dân tộc đó

Theo luật tục, chủ của đất và rừng chính là các thôn buôn, tất cả rừng núi đã được

“chia” cho từng thôn buôn từ xa xưa, “đã là như vậy từ tổ tiên muôn đời truyền lại”, đã được “các thần linh giao cho từng thôn buôn”, có ranh giới rất rõ rệt Đất, rừng của thôn buôn là thiêng liêng, không ai được xâm phạm và cũng giống như các nơi khác, tài sản của cộng đồng chỉ dùng để cho thành viên của cộng đồng sử dụng với những quy định

cụ thể Theo truyền thống, các thôn buôn đều có ranh giới đất rừng, chủ quyền riêng trên lãnh thổ, được quản lý và điều hành bởi hội đồng già làng hoặc ban quản lý thôn bản Hội đồng này sẽ quyết định phân chia tài nguyên cho các nhóm hộ gia đình, dòng

họ hoặc quản lý ở cấp cộng đồng

Người Thái ở vùng núi phía Bắc có cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội mang đặc thù riêng Cộng đồng người Thái được chia thành các mường (12 châu mường), mỗi

Trang 34

châu mường bao gồm nhiều bản như Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lò (Nghĩa Lộ), Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La)… ranh giới các mường, các bản đều được quy định rõ, người mường khác, bản khác không được tự ý xâm hại Trên danh nghĩa đất đai, rừng rú, tài nguyên đều thuộc toàn mường mà châu mường (chủ đất) là người đại diện Những chức dịch của mường cũng như tạo bản (trưởng bản) tuỳ theo thứ bậc mà được chia đất công (ruộng công) Trong Luật tục Thái phần luật lệ người Thái đen ở Thuận Châu có quy định về ranh giới đất mường Muổi: Tục ngữ có câu: “Mường Muổi rộng phía sông Mã, Mường La rộng phía sông Đà” (Điều 13 - Luật tục Thái) (Ngô Đức Thịnh & Cẩm Trọng, 1999) (Ngô Đức Thịnh, 1998)

Các sản vật trên đất đai rừng rú tuy thuộc sở hữu công cộng, ai cũng có quyền khai thác, nhưng ai muốn khai thác đều phải tuân theo tục lệ, quy định chung Luật tục Thái quy định rất cụ thể về quyền được hưởng thịt thú hoang, mật ong mà người dân săn bắt được, thể hiện quyền sở hữu của mình trong khu vực cai quản Ví dụ mọi người trong cộng đồng đều được hưởng thịt biếu khi người khác đi săn về, được ăn thịt thú rừng trong phạm vi đất đai mình cai quản Mọi loại thịt thú thu từ rừng về đều phải đưa lên nhà ông lam pọng (chủ đất) trước, để ông lam pọng trực tiếp chia phần (Điều 111 - Luật tục Thái) (Ngô Đức Thịnh, 1998; Ngô Đức Thịnh & Cẩm Trọng, 1999) Như vậy, tài nguyên này là của chung và cả cộng đồng đều được hưởng lợi nên mỗi thành viên phải có trách nhiệm bảo vệ và giám sát

Tóm lại, về quan hệ sở hữu, các bộ Luật tục của các nhóm dân tộc ít người quy định rất chặt chẽ Về đặc điểm sở hữu quản lý tài nguyên, hình thức sở hữu của một số dân tộc trên tương tự như quản lý cộng đồng ở các nơi khác khi tài sản được sở hữu bởi một nhóm cá nhân và được quản lý bởi đơn vị đại diện quản lý với quy định cụ thể Từ

sự quy định đó, những mảnh rừng, đất đai, sông suối, động thực vật được bảo vệ rất tốt

và có hiệu quả

2.4.2 Cách thức quản lý tài nguyên theo phong tục và luật tục

Người dân có những kinh nghiệm và cách thức bảo vệ, khai thác tài nguyên thiên nhiên từ rất lâu đời Tất cả được thể hiện qua các phong tục tập quán trong việc sử dụng

và khai thác tài nguyên Hội đồng già làng (hay ban quản lý thôn bản) quản lý làng theo một hệ thống luật tục đặc biệt, ở đây chính là một hệ thống luật tục chặt chẽ và phù hợp Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, luật tục tập trung giải quyết các vấn đề

sở hữu, quản lý và bảo vệ của thôn buôn với đất đai, rừng rú và với tài nguyên khác tại nơi cư trú Ngoài ra còn có những quy định liên quan đến bảo vệ sản xuất, bảo vệ nương rẫy, bảo vệ các nguồn lợi tự nhiên trong phạm vi quản lý của thôn buôn

Một ví dụ về cách quản lý rừng, rừng của một thôn buôn thường bao gồm những loại rừng: (1) Rừng đã biến thành đất thổ cư; (2) Rừng sản xuất, tức khu rừng mà người dân trong thôn/buôn khai thác để làm rẫy; (3) Rừng sinh hoạt, là nơi người dân trong

Trang 35

thôn/buôn tìm lấy những thứ cần thiết cho mọi sinh hoạt của mình: con ong, mật ong, dây mây, rau ăn, con thú để săn bẫy, gỗ để làm nhà…; (4) Rừng thiêng (hay rừng ma) là nơi trú ngụ của các thần linh, ma, không ai được động đến, thường là rừng đầu nguồn hoặc rừng nghĩa trang Theo nhìn nhận hiện nay, rừng thiêng là rừng phòng hộ đầu nguồn, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước cho thôn bản

Hội đồng già làng của mỗi thôn buôn chia từng loại rừng cho các hộ để họ làm rẫy, khai thác và sử dụng theo đúng những quy định trong luật tục Hàng năm, đất rừng làm rẫy có thể được điều chỉnh lại giữa các hộ nếu số người trong thôn/buôn đông lên hay giảm đi Về nguyên tắc, các hộ trong thôn/buôn có thể chuyển đổi đất rừng canh tác cho nhau, nhưng tuyệt đối không được chuyển nhượng ra khỏi thôn/buôn Trong các tội danh thì tội lấn chiếm đất đai, phá hoại nương rẫy, đốt phá rừng bừa bãi bị xét xử và trừng phạt nghiêm khắc nhằm duy trì mối quan hệ xã hội và luật tục

Một số ví dụ về cách thức quản lý tài nguyên thiên nhiên theo luật tục

Cách thức quản lý và khai thác tài nguyên được quy định rõ rệt trong các luật tục

Nó được giám sát bởi hội đồng già làng và chính mỗi thành viên trong cộng đồng Cụ thể, luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu Trong đó, những điều luật tục liên quan đến việc bảo vệ môi trường được cộng đồng quan tâm nhất là bảo vệ rừng, chim thú, đất đai, nguồn nước Các điều luật quy định giúp người Êđê nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của cây rừng đối với đời sống con người, đối với môi trường sinh thái Những quy định về bảo vệ rừng này được bảo đảm thực hiện bằng

cả các chế tài hay các biện pháp cưỡng chế khá nghiêm khắc do chính người dân tự thống nhất đặt ra

Luật tục M'nông ở Đắk Nông có 215 điều với khoảng 7.000 câu quy định rõ ràng

về cách thức quản lý và sử dụng tài nguyên Tương tự Luật tục Êđê, Luật tục M'nông cũng rất coi trọng việc bảo vệ các yếu tố của môi trường sinh thái như rừng, nguồn nước, các loài động vật hoang dã và gia súc Song khác với Luật tục Êđê, Luật tục M'nông còn quan tâm đến việc điều chỉnh quan hệ sở hữu đối với rừng, đất đai, nương rẫy và cách thức chăn nuôi gia súc Các điều kiện này được làng bản đề ra và bắt buộc các thành viên phải thực hiện Tương tự các cộng đồng khác ở Việt Nam như Thái, H’Mông, Hà Nhì đều có những quy định rõ rệt và hình thức quản lý riêng nhằm bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên của mình

Như đã đề cập ở trên, tài nguyên được quản lý bởi đại diện là hội đồng già làng (hội đồng thôn bản) dựa trên những phong tục tập quán được hình thành từ các kinh nghiệm của người dân Cách thức quản lý này loại bỏ được người bên ngoài cộng đồng, đồng thời cũng quy định thành viên trong cộng đồng khai thác tài nguyên một cách bền vững Cách thức quản lý dựa vào cộng đồng này ở Việt Nam có rất nhiều nét tương đồng với cách thức quản lý rừng thành công ở Nhật Bản, quản lý đánh bắt cá và các trường hợp quản lý thành công khác trên thế giới

Trang 36

a Bảo vệ tài nguyên đất đai

Quản lý tài nguyên đất đai, rừng, tài nguyên sinh vật và nguồn nước có liên quan mật thiết với nhau bởi giữa các nguồn tài nguyên này luôn có sự tác động qua lại Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, đất rừng, đất đai nói chung nhưng một số trường hợp hiệu quả đạt được lại không như ý muốn Trong khi đó, các nhóm dân tộc thiểu số miền núi có rất nhiều kinh nghiệm, phong tục tập quán trong việc bảo vệ tài nguyên đất Điều đó được thể hiện trong những bộ Luật tục, nhất là những quy định rất cụ thể về bảo vệ đất rừng Đất đai được cộng đồng quản lý và phân chia cho từng đối tượng với những quy định chặt chẽ

Trong Luật tục Êđê, những người được gọi là chủ đất có trách nhiệm rất lớn đối với đất đai thuộc quyền quản lý của họ Họ phải có nhiệm vụ đi thăm đất (Điều 233 - Luật tục Êđê), đi thăm là để đất đai mãi mãi tốt tươi, để nước không ngừng chảy, để chuối mía mọc xum xuê (Hoàng Văn Quynh, 2015) Về việc lấn chiếm đất đai cũng được quy định tại Điều 234, 235 Cụ thể: “Đất đai, sông suối, rừng cây là của chúng tôi (người chủ đất), chúng tôi không chịu đâu” Khi rừng bị người ta chiếm, đất bị người ta lấn, để người ta không lấy mất, người chủ đất thường kẻ lên ranh giới đất đai, rừng núi của mình

Luật tục của người M’nông quy định về bảo vệ, quản lý đất đai, như quy định về tội bán đất rừng: “…Bán đất bon làng khiếu nại; Bán rẫy lúa mất đất làm khổ con cháu”… hoặc “Bán đất, rừng có tội với con cháu” (Ngô Đức Thịnh, 1998)

Luật tục người Thái cũng có quy định về quản lý, sử dụng và khai thác đất đai Như có điều luật về tranh chấp đất ruộng: “Nếu hai bên tranh chấp nhau thửa ruộng, luật

sẽ giải quyết theo văn tự của thửa ruộng Nếu không có văn tự, bên nào quen “ăn” thửa ruộng đó, đã được một đời không bỏ, thì cho bên đó được tiếp tục “ăn” thửa ruộng như cũ”… (Ngô Đức Thịnh & Cẩm Trọng, 1999) Khác với Luật tục của người Êđê và M'nông, tập quán bảo vệ môi trường của người Thái chủ yếu quan tâm đến việc bảo vệ rừng (Ngô Đức Thịnh & Cẩm Trọng, 1999)

b Bảo vệ tài nguyên rừng

Đồng bào các dân tộc thiểu số nước ta sống chủ yếu ở các vùng rừng núi Rừng rất cần thiết đối với họ trong việc cung cấp nguyên liệu cũng như đóng các vai trò sinh thái như điều tiết nước, bảo vệ đất Từ lâu, người dân đã nhận biết vai trò đặc biệt của rừng và cộng đồng Họ thường đề ra những quy định rất chặt chẽ, cụ thể về cách thức quản lý, khai thác và bảo vệ rừng, những việc được làm, không được làm và những mức

độ xử phạt nếu vi phạm

Điều 231 của Luật tục Êđê quy định đối với mỗi thành viên trong cộng đồng: “Không có nước con người không sống được Cây bờ suối không được chặt trụi Cây đầu nguồn không nên chặt phá Mất cây rừng sẽ gây hạn hán Mất cây rừng sẽ gây

Trang 37

lũ lụt…” “Rừng già không được phá rẫy Rừng có cây to không được làm nương Mất rừng con chồn, con nhím không còn chỗ để trú, không còn nơi để kiếm ăn Con người không còn rừng để sống…” “Làm rẫy không được phá rừng già Làm nhà không được chặt cây to Chặt một cây phải trồng bảy cây Chặt cây to phải chừa cây con…”

Điều 80 Luật tục Êđê quy định người dân phải khai thác hợp lý bền vững cây rừng không được chặt ngọn, đọt cây, nếu vi phạm sẽ bị bắt về xét xử Những người gây ra cháy rừng sẽ bị xử phạt rất nặng: “Chân sẽ bị trói lại ngay Tay sẽ bị xiềng lại ngay Buộc phải bồi thường nặng”

Luật tục còn khuyến cáo mọi người không được phát rẫy nơi rừng thiêng, do các

vị thần linh cai quản, nếu vi phạm sẽ bị động rừng hoặc gây tai hoạ bằng quy định:

“Đừng đốn cây đó Đừng làm rẫy chỗ này, linh thiêng lắm” Tứ thiết (bốn loại gỗ quý là đinh, lim, sến, táu) chỉ được dùng để xây dựng đền chùa miếu mạo, cấm dân chúng sử dụng (Ngô Đức Thịnh, 2008)

Tập quán canh tác của người Êđê gắn chặt với việc bảo vệ môi trường Quá trình chọn rừng làm rẫy đã chứng tỏ rất rõ điều đó Việc chọn rừng để mở rẫy thường do các già làng đảm nhiệm Rừng được khai phá không phải là rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh, rừng gỗ quý… Việc đốt rừng làm rẫy trên thực tế chủ yếu là đốt rẫy cũ, với các loại rừng non, gỗ tạp, ít có giá trị kinh tế Khi đốt rẫy, đồng bào cũng rất có ý thức bảo

vệ những khu rừng xung quanh bằng cách dọn sạch những cành khô, cỏ úa, tạo nên khoảng trống giữa rẫy của mình với các khu vực khác, tránh để lửa đốt rẫy lan rừng, gây nên cháy rừng, bởi làm cháy rừng sẽ bị thần linh trừng phạt, cộng đồng xét xử

Trong Luật tục M’nông quy định: “Khu rừng đó là của tổ tiên Khu rừng đó là của con cháu Khu rừng đó là của ông bà Khu rừng đó là của chúng ta” Do đó, nếu ai phá rừng sẽ bị lên án bằng cách: “Làm nhà đừng dùng cây nữa Làm chòi đừng dùng cây nữa Làm rẫy không phát rừng nữa Khi thiếu đói đừng đào củ nữa…” (Ngô Đức Thịnh, 1998) Rõ ràng ở đây, những quy định từ ngàn đời của các dân tộc đều theo các nguyên tắc khai thác và sử dụng bền vững Khi khai thác phải điều tiết để nguồn tài nguyên lại tiếp tục sinh sôi, nảy nở

Luật tục Thái quy định về sự cân bằng sinh thái giữa con người với rừng núi, bằng cách thôn bản phân loại rừng thành từng khu vực Việc phân loại này nhằm phục vụ các nhu cầu khác nhau của cuộc sống người dân trong cộng đồng Người Thái quy định đối với rừng phòng hộ ở đầu nguồn nước thì tuyệt đối cấm khai thác; rừng dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt rừng làm nương Ở mỗi mường đều có “minh bản nen mương” (hồn thiêng bản mường), có núi rừng “rợp bóng bản mường” Đầu mường có “rừng hồ chiềng” gọi là “Cửa Xen”, cạnh mường có khu rừng mang tên “Chiềng Kẻo” là khu rừng kiêng cấm, không được chặt phá… Nhiều bản còn có những khu rừng tre, rừng vầu cấm chặt phá gọi là “pá nó hảm” (rừng măng cấm) Sau những trận mưa đầu mùa, măng mọc rộ, người ta mới tổ chức cho cả bản vào rừng hái măng Sau đó lại “đóng

Trang 38

cửa” đợi đến đợt măng sau hoặc mùa màng sau (Ngô Đức Thịnh & Cẩm Trọng, 1999; Phan Hữu Dật & Trọng Cầm, 1995) Đây cũng là những cách quản lý bền vững để cây mới có đủ thời gian tái sinh, đảm bảo tính bền vững

Các thôn bản xưa còn có những cánh rừng nguyên sinh dành cho dân bản săn thú, không ai được chặt cây đốt cỏ, xâm phạm, dù chỉ là hái một ngọn măng, chặt một cành cây, săn bắt một con chim thú… Thú bị thương trong những cuộc săn bắn nếu chạy vào đây không ai được đuổi theo và sẽ được rừng che chở bảo vệ Cách thôn bản quy định một khu vực riêng biệt để cho chim thú sinh sôi phát triển cũng giống như cấm đánh bắt

cá ở những khúc sông Điều này giúp đảm bảo số lượng chim thú sinh sản cho thế hệ sau Tương tự các mô hình khác, đây cũng là những quy định để quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững Bên cạnh đó, ý thức giáo dục cũng luôn được chú trọng trong những quy ước, tập quán và những giá trị văn hóa truyền thống được tôn thờ, sùng kính như với ông bà tổ tiên… Chính vì thế, rừng được bảo vệ từ trong ý thức của mỗi người Người Mường cũng có những quy định cụ thể như Luật tục về thu hái măng Quy định người trong thôn bản chỉ được bẻ măng sau ngày 20 tháng 6 hàng năm, còn măng mọc từ trước đó được giữ lại cho phát triển thành cây Ai vi phạm thì bị xử phạt nặng

(phải nộp phạt cho mường một con lợn nái đã đẻ) Thậm chí gia súc vào rừng dẫm, đạp,

làm đổ gãy măng thì chủ gia súc phải nộp phạt tương tự Đúng đến ngày 20 tháng 6 âm lịch hàng năm (tuỳ theo các làng mường tự quy định có thể trước hay sau thời điểm này vài ngày), lí trưởng hay lang đạo cai quản các mường họp bàn, quyết định phát hiệu lệnh cho phép bằng chiêng, trống hay rao mồm, lúc đó người dân mới được thu, hái măng Vì theo kinh nghiệm dân gian của người Mường, mùa măng mọc bắt đầu từ mùa xuân Trong thời gian từ mùa xuân cho đến gần hết tháng 6 âm lịch, số lượng măng phát triển cây rất cao, vì giai đoạn này khí hậu, môi trường nóng, ẩm thuận lợi cho măng mọc, khả năng kháng sâu bệnh cao Từ tháng 7 âm lịch về sau, măng vẫn còn nhưng thường phát sinh nhiều sâu bệnh do những cơn mưa dầm dài ngày kèm theo gió, bão thường xảy ra quật đổ gẫy măng Do vậy, số cây phát triển từ măng rất thấp nên người xưa không cho thu hoạch măng ở thời kì này Quy định trong luật tục của người Mường

về vấn đề này thể hiện sự am hiểu thiên nhiên khá sâu sắc nên có tính khoa học cao Người Mường còn coi việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản dưới sông, suối đã được các lang, đạo, chức sắc và người dân Mường nâng lên thành tục lệ Trên các con sông, suối được chọn ngăn từng khúc, từng khoang Những khúc, khoang sông, suối đã được ngăn

đó trong các ngày thường không ai được phép đánh bắt cá Còn ngoài những nơi bị cấm, dân Mường được tự do đánh cá về ăn Việc cấm đánh cá, bảo vệ những khúc, khoang sông đó còn được thần thánh hoá, tâm linh hoá nên ngoài việc sợ lang, đạo phạt, dân Mường còn sợ làm kinh động đến nơi ở của các loại thần thuỷ tộc như: rồng, khú, thuồng luồng…, vì thế các quy định cấm này được chấp hành nghiêm chỉnh Thời gian cấm gần như là quanh năm, chỉ 1-2 lần trong năm vào các dịp giỗ chạp nhà lang, dân Mường mở hội mới được đánh bắt cá ở các khúc sông cấm Qua quan sát, ngày nay

Trang 39

người ta nhận thấy các khúc, khoang sông bị cấm khi xưa thường hội đủ các yếu tố như sông sâu, dòng nước chảy vừa phải, có bãi cát ngầm thoai thoải hay những hang, hốc đá ngầm rất thuận lợi cho các loài cá sinh đẻ và trốn tránh kẻ thù Những nơi cấm chính là nguồn cung cấp giống bền vững cho sự tái tạo, phát triển ổn định, lâu dài của các loài

cá Về chế tài phạt vật chất đối với người vi phạm cũng rất nặng không kém gì việc bẻ măng Tuy nhiên, mọi người thực hiện các quy định cấm một phần do sợ bị phạt, còn phần lớn là do ý thức tự giác của mỗi người dân trong việc chấp hành tập quán, luật tục nên việc thực hiện rất nghiêm chỉnh, tự giác

Trong Luật tục M’nông có đến hàng trăm điều luật khác nhau, trong đó có khá nhiều điều luật liên quan đến các loại động thực vật, như trong quan hệ sở hữu, tài sản, các điều luật đã đề cập đến việc bảo vệ, gìn giữ động thực vật quý hiếm Nếu người nào săn bắn làm chết các loài thú hiếm, Luật tục buộc người đó phải nộp phạt rất nặng để tạ tội với thần linh Ngoài ra, trong luật tục của họ còn có những điều khoản liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước ở một khía cạnh khác Ví dụ, nguồn nước sinh hoạt cho con người đồng thời cung cấp cá, tôm, cua, ốc làm thức ăn cho buôn làng thì cộng đồng quy định: “Bắt con ếch phải chừa con mẹ Bắt con cá phải chừa con mẹ Chặt cây tre phải chừa cây con Đốt tổ ong phải chừa ong chúa”, “Làm ô nhiễm nguồn nước ăn thì luật tục quy định chủ nhà phải tát nước cho hết phèn Đồng thời phải cúng xoá cho thần linh

một lợn, một bầu gạo, một dê, một bầu cháo và một trâu hay một bò cho buôn làng”

Việc thuốc cá (dùng các loại vỏ cây, rễ cây có chất làm say cá, giã ra hoà xuống suối, để

cá say nổi lên mà bắt), chập điện, nổ mìn như hiện nay cũng bị coi là một trọng tội vì đã huỷ hoại môi trường sinh thái của dòng suối nên bị cộng đồng nghiêm cấm Vấn đề này được Luật tục M’nông quy định trong điều Tội thuốc cá: “Thuốc cá làm suối nghèo Muốn ăn ếch phải dùng ná bắn Muốn ăn cá dùng rổ mà vớt…” tức là làm gì cũng phải bảo vệ nòi giống, không được giết hàng loạt, “Làm chết sạch cả tép, cả cua Ai thuốc cá

có tội với làng Tội thuốc cá không ai đền nổi” (Luật tục M’nông - Điều Tội thuốc cá

suối) (Ngô Đức Thịnh, 1998) Như vậy, cá tôm ở dưới suối cũng thuộc làng bản và

được quản lý chặt chẽ

Luật tục Êđê cũng có nhiều điều liên quan đến quản lý, bảo vệ, khai thác động thực vật Để đảm bảo cân bằng sinh thái thì phải bảo vệ chim, thú và đặc biệt là bảo vệ nguồn gây giống, vì thế Luật tục Êđê quy định: “Chim thú trong rừng ta phải bảo vệ Thấy chim thú không nên đuổi bắt Bắt con chồn không được bắt con mẹ Bắt con cá không được bắt con mẹ Bắt con thỏ không được bắt con mẹ…”

Tương tự như việc quản lý, bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường khác, động thực vật cũng được các dân tộc thiểu số miền núi nước ta quản lý, bảo vệ và khai thác rất hiệu quả bằng các phong tục tập quán, Luật tục truyền thống Mỗi dân tộc ở các vùng cư trú khác nhau đều có những tập quán, luật tục nhằm quản lý và sử dụng động thực vật một cách bền vững Rừng đầu nguồn và các nơi quan trọng cho môi trường đều được quy định bảo vệ chặt chẽ dưới hình thức rừng thiêng, rừng ma Tài nguyên sinh

Trang 40

vật được bảo vệ bền vững khi hầu hết các tộc người quy định không được khai thác vào mùa sinh sản (măng, cá), không khai thác triệt để (để lại con mẹ hoặc con con), để lại nơi sinh sống cư trú cho một số lượng cá thể nhất định (cấm đánh bắt ở một số nơi) Nhờ những cách thức quản lý như vậy của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trước đây nên trong một thời gian dài các dân tộc thiểu số đã bảo vệ được những cánh rừng và tài nguyên sinh vật một cách hiệu quả, bền vững Vì vậy, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường hiện nay, nếu biết vận dụng tốt các phong tục tập quán, luật lệ quản lý với các quy định pháp luật của Nhà nước thì việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên sẽ có hiệu quả hơn

Qua một vài trường hợp phân tích ví dụ trên cho thấy, việc quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng đều do cộng đồng đảm nhiệm Tất cả đều được quy định rất chặt chẽ và cụ thể trong các điều khoản của các bộ Luật tục Khi đã được quy định thì mọi người rất tự nguyện hưởng ứng tuân theo vì tất cả đều đã được bao thế hệ đúc rút kinh nghiệm ra và nó đã ăn sâu vào trong tâm thức của từng con người trong cộng đồng Điều đó khiến họ rất vui khi phải thực hiện những quy định của cộng đồng đề ra Đây là một vấn đề có lẽ pháp luật bảo vệ tài nguyên môi trường, cũng như các luật pháp khác của Nhà nước chưa làm được

c Bảo vệ tài nguyên nước

Tài nguyên nước là một trong những thành phần quan trọng của môi trường, có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người Ở Việt Nam, Luật Tài nguyên nước mới được ban hành vào năm 2012 và đang dần dần đi vào cuộc sống của người dân Ngoài pháp luật về tài nguyên nước của Nhà nước ban hành, ở các nhóm dân tộc thiểu

số từ lâu đã có những phong tục tập quán, luật lệ bảo vệ và giữ gìn nguồn nước rất cụ

thể Đối với họ có nước sẽ có tất cả, người Thái có khẩu ngữ quen thuộc là: “Có nước

mới có ruộng Có ruộng mới có lúa” Để bảo vệ tốt nguồn nước, dân tộc Thái có những

quy định rất chặt chẽ về các vùng nước, các khúc sông suối, họ thường quy những vùng nước, khúc sông suối cần bảo vệ thành những vùng linh thiêng như “vũng cấm” (văng hảm) hay “vũng mường” (văng mương) Đây là những chỗ sông, suối sâu thẳm, xanh biếc và được mở rộng ra hai bên bờ, có thảm phủ là rừng già, nước chảy lững lờ, cảnh quan bề ngoài như một cái ao trời phú Theo tôn giáo tín ngưỡng Thái, đây là những chỗ

để các siêu linh dưới nước trú ngụ và cũng là nơi để tế chủ nước cũng như tổ chức hội đánh cá Để giữ gìn, bảo vệ nguồn nước cho các con sông, suối và các mạch nước ngầm, người Thái đã sớm biết tạo ra và bảo vệ các khu rừng đầu nguồn Trên mỗi nguồn nước là những khu rừng có nhiều cây cối um tùm Tín ngưỡng dân gian coi mỗi khu rừng đó là nhà của các loại ma liên quan đến sức mạnh tạo ra nguồn nước Cây cối càng rậm rạp chúng càng thích trú ngụ Bởi vậy, nếu phá rừng đầu nguồn cũng có nghĩa

là phá nhà và những người đụng chạm đến chúng sẽ bị ma bắt mất hồn mà sinh ra ốm hay chết Theo tác giả Phan Hữu Dật và Trọng Cầm (1995), nguồn nước nào cũng có

Ngày đăng: 17/07/2023, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tính số lượng mẫu cần thiết để tiến hành điều tra cho các cộng đồng có số hộ gia đình là 100, 500, 1.000 và 3.000 hộ với mức độ sai số là 5% và 10% Khác
2. Phân tích các điều kiện để cộng đồng cùng tham gia quản lý tài nguyên Khác
3. Vì sao phải thu hút cộng động vào việc quản lý tài nguyên Khác
4. Hãy nêu các bước tiếp cận trong quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng Khác
5. Hãy nêu các phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp tại cộng đồng Khác
6. Hãy nêu cách thức thực hiện phân tích SWOT Khác
7. Đề cương lập kế hoạch quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng cần thoả mãn những tiêu chí nào Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w