Là một giáo viên dạy Văn rất tâm huyết với nghề, tôi không những khao khát chiếm lĩnh được một cách đầy đủ, trọn vẹn toàn bộ kiến thức văn học giai đoạn này để truyền thụ tốt cho học sin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thanh Hằng
Ý THỨC VỀ NGHỀ CỦA CÁC NHÀ VĂN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
(QUA MỘT SỐ TUYÊN NGÔN NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2006
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban Giám Hiệu Trường ĐHSPTPHCM, Phòng KHCN – SĐH, tập thể Thầy, Cô khoa Ngữ Văn
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thành Thi, người đã tận tình
hướng dẫn tôi thực hiện luận văn
Cảm ơn gia đình và bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ vật chất cũng như làm chỗ dựa tinh thần trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là một công trình nghiên cứu độc lập, những trích dẫn được nêu trong luận văn đều là chính xác và trung thực
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có một diện mạo mới mẻ, đầy khởi sắc Sinh hoạt văn học trở nên sôi động, hào hứng đặc biệt so với các thời kỳ trước Trong khoảng mười lăm năm, với sự xuất hiện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và phong trào Thơ Mới, văn học nước nhà đã phát triển mạnh, có chất lượng cao Thành tựu gặt hái được của văn học mười lăm năm ấy thật là to lớn trên mọi trào lưu, mọi thể loại
Mười lăm năm, văn học Việt Nam đã bước hết chặng đường dài hàng thế kỷ Nguyên nhân và động lực nào đã thúc đẩy văn học phát triển mạnh như thế ? Có thể kể đến nhiều nguyên nhân, nhưng không thể không nói đến một động lực nội tại: sự trưởng thành trong ý thức về nghề cũng như về cá tính sáng tạo của nhà văn Đó cũng là lý do lựa chọn đề tài: “Ý thức về nghề của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (qua một số tuyên ngôn nghệ thuật và sáng tác tiêu biểu)” của tác giả luận văn
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thực tế cho thấy, những tác phẩm được tuyển chọn thuộc văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chiếm một số lượng không nhỏ trong chương trình phổ thông trung học Là một giáo viên dạy Văn rất tâm huyết với nghề, tôi không những khao khát chiếm lĩnh được một cách đầy đủ, trọn vẹn toàn bộ kiến thức văn học giai đoạn này để truyền thụ tốt cho học sinh, mà còn muốn thông qua việc tìm hiểu những tuyên ngôn nghệ thuật và các sáng tác tiêu biểu của một số nhà văn lúc bấy giờ nhằm:
1 Thấy được sáng tạo văn chương nghệ thuật là một nghề lao động nghiêm túc đòi hỏi nhà văn phải có ý thức, trách nhiệm cao
2 Thấy được vai trò quan trọng của ý thức về nghề của các nhà văn để có thể lý giải nhiều thành tựu vượt bậc cũng như sự đa dạng, phong phú và phức tạp của văn học thời kỳ 1930 –
1945
3 Làm sáng tỏ những đóng góp tích cực, quý báu của các nhà văn giai đoạn này đối với quá trình hiện đại hóa văn học cùng sự phát triển của nền văn học nước ta, từ đó, giúp độc giả có sự hiểu biết sâu sắc hơn về họ
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trang 5Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 phát triển mạnh mẽ, phong phú và đa dạng Tình hình nghiên cứu bộ phận văn học này, ở hầu hết mọi khía cạnh, cũng diễn ra rất sôi nổi Nhưng nhìn chung, chưa có công trình nào đề cập đầy đủ và có hệ thống đến vấn đề ý thức về nghề của các nhà văn
3.1 Trước Cách mạng tháng Tám
Ngay từ khi mới ra đời, Tự Lực Văn Đoàn và phong trào Thơ Mới đã gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt, quyết liệt trong giới nghiên cứu, phê bình mà nổi bật nhất, quan trọng nhất
chính là cuộc tranh luận giữa hai khuynh hướng “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị
nhân sinh” Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, những vấn đề lý luận văn học được
thảo luận một cách khá thấu đáo qua cuộc tranh luận này Kéo dài từ năm 1935 đến năm 1939, cuộc tranh luận đã thu hút một số người cầm bút tham gia và có tác động rõ rệt đối với đời sống văn học lúc bấy giờ, đồng thời góp phần hình thành nền móng cho giai đoạn kế tiếp Các nhà phê bình văn học thuộc hai xu hướng đối lập này đã đưa ra nhiều quan niệm trái ngược nhau về văn chương cũng như ý thức về nghề văn Trong khi các nhà phê bình thuộc khuynh hướng
“Nghệ thuật vị nghệ thuật” nhận định về nhiệm vụ của văn chương: “Văn chương chỉ cần có một chủ nghĩa là kiếm và phô bày cái đẹp” (Thiếu Sơn, 80, tr.112), “Một tác phẩm đẹp tức là đã có ích cho người xem rồi” (Hoài Thanh, 143, tr.149) thì các nhà phê bình theo khuynh hướng “Nghệ thuật vị nhân sinh” cho là: “Văn chương phải mô tả sự sống để đánh dấu nó trên con đường phát triển vô cùng tận, qua các biến thiên của các thế kỷ (…) Văn chương phải là khí cụ phát biểu và lưu hành tư tưởng, tình cảm mạnh và đẹp Văn chương, phải có tinh thần tranh đấu và lý tưởng”
(Trương Tửu, 143, tr 420 – 423) Hay khi đề cập đến chức vụ của nhà văn, nếu quan điểm của
các nhà phê bình thuộc khuynh hướng “Nghệ thuật vị nghệ thuật” là: “Người nào muốn sống với
văn chương, trước hết phải biết giải phóng cho linh hồn, phải thoát ly được với hết thảy những thành kiến về luân lý, về xã hội, về chính trị, về tôn giáo và chỉ biết có nghệ thuật mà thôi”
(Thiếu Sơn, 80, tr.112), “Nhà văn Việt Nam chỉ có một cái tôn chỉ để phụng sự: làm cho tiếng
Việt Nam thêm rõ ràng, thêm có khuôn phép, thêm phong phú và thêm “nhất trí”” (Lê Tràng
Kiều, 143, tr.359) thì ý kiến thống nhất của các nhà phê bình thuộc khuynh hướng “Nghệ thuật
vị nhân sinh” lại đối lập hoàn toàn Họ viết: “Trong các công trình phá hoại và kiến thiết vinh quang nhất của xã hội loài người, bao giờ nhà văn cũng đứng mạnh dạn vào hàng ngũ tiên phong Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên lính cảm tử phất cao ngọn cờ
Trang 6tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới và đẹp trên con đường gay go của hạnh phúc”
(Trương Tửu, 143, tr 422), “Chúng tôi biết rằng nhà văn có một cái thiên chức trọng đại: đánh
thức quần chúng và kích thích tranh đấu, bao giờ nghệ thuật cũng là một cái lợi khí tranh đấu Nhà văn của các giai cấp nghèo phải sống cuộc đời của người nghèo khổ” (Cao Văn Chánh,
143, tr.478)
Thế nhưng, cho đến khi cuộc tranh luận trên kết thúc, vẫn không có nhà phê bình nào trực tiếp đề cập đến vấn đề ý thức về nghề của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Năm 1942, tác giả của Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân đã bày tỏ quan điểm,
nhận định của mình về phong trào Thơ Mới Tuy nhiên, trên cơ sở tổng kết phong trào Thơ Mới, cùng với việc chọn lọc và nêu ra những giá trị tích cực của nó, hai ông chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện ra những phong cách tiêu biểu, độc đáo của mỗi thi nhân, vấn đề lao động nghệ thuật vẫn chưa được bàn luận
Góp vào diễn đàn tranh luận về văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, với công trình
“Nhà văn hiện đại” (hai tập), nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã điểm qua 79 nhà văn, nhà thơ tiêu
biểu của giai đoạn này Sau khi phân tích những đặc trưng nổi trội của các “thi gia”, các “tiểu
thuyết gia” để bạn đọc biết qua về “sự tiến hóa của văn học hiện đại” (111, tr.6), ông khẳng
định: “Văn chương cũng chẳng khác nào các loài động vật, thực vật, văn chương cũng chịu chung
một luật tiến hóa như muôn loài, các loại văn nẩy nở, tự cấu tạo, chịu sự đào thải, biến đổi sinh sinh hóa hóa như vạn vật” (111, tr 1167 – 1168) Theo đó, Vũ Ngọc Phan vẫn chưa nhìn nhận
vấn đề lao động nghệ thuật của nhà văn Ông cho là quá trình phát triển ấy tất yếu phải diễn
ra, do sự vận động nội tại của văn chương, mà chưa hề chú ý đến vai trò quan trọng của ý thức về nghề của các nhà văn
Đến năm 1944, Đặng Thai Mai, người được tiếp xúc với lý luận Mác – Lê Nin sớm, có lập
trường vững, yêu mến văn học và có một nền học vấn căn bản, đã cho ra đời cuốn Văn học khái
luận Đây là tác phẩm lý luận văn học đầu tiên trình bày quan điểm văn học mác xít có hệ
thống Khi bàn về vấn đề sáng tác, ông viết: “Ý thức rõ rệt về tính cách biến thiên của xã hội là
nguyên lý sáng tác của văn nghệ … Nếu khối óc của nhà văn không có những luồng sóng bất bình, nếu như tâm hồn kẻ cầm bút không cảm thấy những nỗi đau đớn thiếu thốn của kiếp người, những điều mong mỏi thiết tha của thời đại, nếu không lĩnh hội được tính cách luôn luôn biến thiên của thế giới, của nhân sinh, nếu như đối với hiện tại, với tương lai không có một yêu cầu,
Trang 7một hy vọng tin tưởng gì, thì cái văn mơn trớn béo tốt như đẫy thịt, trơn như tảng trán hói của nhà trưởng giả, cũng chỉ là một “văn chơi” mà thôi, chả có ý nghĩa gì là văn học ! Nhận rõ sứ mạng lịch sử của nghệ thuật, cũng là nhận rõ hàng ngũ nhà văn trong xã hội Cũng vì muốn đạt được mục đích “phụng sự” đó mà nhà văn phải đào luyện nhân cách trong công tác hàng ngày, trong đời sống công cộng Nếu không có một mối “thông cảm” sâu xa, rộng rãi đối với đồng loại, nếu không có lý trí thanh sở và ý chí vững bền, thì cũng không thể có một nghệ thuật thích nghi với thời đại, bổ ích cho xã hội Nhìn thấy sự mâu thuẫn của hiện đại, tin vào sự tiến hóa của loài người, vào lực lượng của mình, của các đồng ngũ, lấy chân lí làm mục đích, không dối mình không dối người, không ngã lòng trước trở lực, không đem nghệ thuật đi phục dịch một bọn “ông chủ”, đi phụng sự tư lợi, quyết tâm góp một phần tâm huyết, trí tuệ vào công cuộc cải tạo xã hội, ấy là điều kiện tâm lý của những công cuộc sáng tác”(96, tr.134 – 140)
Tuy vậy, cũng như các nhà phê bình văn học trước, Đặng Thai Mai vẫn chưa đề cập đến vấn đề được nêu trong luận văn
3.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Sự tranh luận về văn học Việt Nam giai đọan 1930 – 1945 vẫn còn tiếp diễn Đặc biệt, là từ năm 1986 trở đi, trong không khí đổi mới tư duy, văn học được tiếp thêm luồng sinh khí mới Từ đó, cái nhìn của giới nghiên cứu về những đóng góp cũng như hạn chế của thế hệ nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 cũng có nhiều đổi thay
Giành trọn cuốn Về Tự Lực Văn Đoàn (1989), sau khi đã điểm qua các nhà văn nòng cốt, Nguyễn Trác cùng Đái Xuân Ninh đều nhận định: “Họ là những nhà văn tiểu tư sản thức thời, có
tinh thần dân tộc, có một lý tưởng thực tiễn là dựa vào tình hình cụ thể để hoạt động và làm ăn bằng văn học Hoạt động và làm ăn bằng văn học có nghĩa là viết lách được thường xuyên về đề tài xã hội, và xuất bản được, để có thể tự lực sống bằng lao động nghệ thuật của mình, không phải ngửa tay lĩnh lương hàng tháng của chính quyền Pháp” (159, tr.20) Lời nhận định đó cho
thấy hai ông đều thừa nhận viết văn cũng là một hình thức lao động nghệ thuật, một phương kế để sinh nhai
Không dừng lại ở đó, trong Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 (2002), Phan Cự Đệ
đã tìm ra quan niệm thẩm mỹ, chỉ ra sự bế tắc, thoát ly cũng như những tiến bộ của lớp nhà văn giai đoạn này Ở phần lý giải về những hạn chế trong quan niệm của họ, ông có đề cập đến vấn
đề ý thức của nhà văn: “… Lịch sử phong trào “Thơ Mới” cũng chứng minh rằng, bất cứ một nhà
Trang 8thơ nào chạy theo ý thức hệ cá nhân tư sản, thì tài năng của người đó thế nào cũng bị thui chột đi và anh ta chỉ có thể ngày càng đi vào ngõ cụt tối om Con đường sáng tác ngày càng đi xuống của Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử … trước 1945 đã nói lên rất rõ điều đó Một số thi sĩ khi đã gắn liền với ý thức hệ cá nhân tư sản, khi đã thoát ly khỏi quần chúng và thu mình vào cái “tôi” cô đơn, nhỏ bé, thì không thể nào trở thành một nhà thơ lớn được Một nhà thơ trữ tình lớn phải nói lên được nguyện vọng của quần chúng, phải là phát ngôn nhân của thời đại …”(29, tr 484) Để lập luận của mình tăng sức thuyết phục hơn, ông đã dẫn lời
nói của nhà phê bình người Nga Biêlinxki: “Không một nhà thơ nào có thể trở thành vĩ đại do tự
thân mình, và qua tự thân mình, qua những đau khổ riêng, sướng vui riêng của mình, bất kỳ nhà thơ lớn nào sở dĩ được xem là vĩ đại, là nguồn gốc những niềm đau khổ và vui sướng của họ đã bắt rễ sâu vào mảnh đất xã hội và lịch sử, và do đó mà họ là một cơ quan và một đại biểu của xã hội, của thời đại, của nhân loại” (29, tr.484 – 485 ) Như vậy, Phan Cự Đệ đã thừa nhận việc
xác định ý thức hệ của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là rất quan trọng vì nó là
cơ sở để nhà văn xây dựng cho mình ý thức về nghề và cũng chính nó chứ không phải nhân tố nào khác sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của nhà văn
Gần đây hơn, Hà Minh Đức với công trình Khảo luận văn chương (2003) đã chỉ ra sự khác
nhau về quan điểm nghệ thuật giữa các nhà văn lãng mạn và các nhà văn hiện thực giai đoạn
1930 – 1945: “Nếu quan điểm nghệ thuật lãng mạn chỉ nghĩ đến việc viết cho riêng mình, thỏa
mãn ý thích của riêng mình thì các nhà văn hiện thực lại luôn nghĩ đến người đọc” Ông đặc biệt
nhấn mạnh: “Tác phẩm văn chương phải hoàn thiện với tài năng sáng tạo của người viết, không
thể tùy tiện, thiếu trách nhiệm với sản phẩm tinh thần của mình Không thể đem đến cho người đọc một cái gì thiếu chuẩn mực và chưa hoàn chỉnh (…) Nhà văn phải hiểu thiên chức của ngòi bút” (35, tr.108) Sau khi đã đưa dẫn chứng chứng minh điều mình nói, ông đề cao các nhà văn
hiện thực và những sản phẩm tinh thần của họ: “Rõ ràng các nhà văn hiện thực đều rất có ý thức
về trách nhiệm, về nghề văn và họ cùng có quan điểm sáng tác gần gũi Suốt trong hơn một thập kỷ phát triển của văn học, dòng văn học hiện thực với tư cách chính thống của một dòng văn học công khai đã làm hết sức mình, vừa đảm nhiệm phản ánh chân thực bộ mặt thật của xã hội thực dân phong kiến lại vừa có tác dụng thức tỉnh ý thức đổi thay hoàn cảnh xã hội để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn”(35, tr.109) Xét kỹ ra, Hà Minh Đức dẫu có nói đến quan điểm nghệ
Trang 9thuật và ý thức về nghề của các nhà văn cũng như tác dụng ngòi bút của họ, nhưng ông vẫn chưa khai thác vấn đề một cách toàn diện, tập trung
Nếu như từ năm 2000, độc giả thấy có sự xuất hiện của loại sách tập hợp những bài nghiên cứu, phê bình văn nghiệp của các nhà văn Việt Nam, mà phần lớn là các nhà văn thế hệ 1930 –
1945, như: Nhất Linh – cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn, Khái Hưng – nhà tiểu thuyết xuất
sắc của Tự Lực Văn Đoàn, Thế Lữ – cây đàn muôn điệu v.v… , thì đến năm 2003, loại sách này,
với cái tên chung dễ nhận biết: X – Về tác gia và tác phẩm (X: tên của một nhà văn, nhà thơ nào
đó) ngày càng được xuất bản nhiều hơn Đây là loại sách cung cấp cho bạn đọc nhiều tư liệu cần thiết về cuộc đời, sự nghiệp văn chương, thi pháp, phong cách sáng tác … của các văn nhân Dẫu vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách thấu đáo và toàn diện ý thức về nghề của các nhà văn
Nhìn chung, tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn 1930
– 1945, nhưng vẫn chưa có tài liệu nào xoáy sâu vào tìm hiểu cho thật đầy đủ vấn đề ý thức về
nghề của các nhà văn Với luận văn này, người viết hy vọng được góp vào diễn đàn vốn quá sôi
nổi ấy một tiếng nói, dù rất nhỏ để việc nghiên cứu về một giai đoạn của văn học nước nhà ngày thêm hoàn thiện
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ CÁI MỚI CỦA LUẬN VĂN
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp; có nhiều vấn đề cần nghiên cứu và làm sáng tỏ Nhưng với tầm hiểu biết còn hạn chế cùng thời gian cho phép, trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp, người viết chỉ đi sâu vào việc tìm hiểu tuyên ngôn nghệ thuật thể hiện qua thực tế sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu, như: Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tố Hữu, Hồ Chí Minh …, để thấy được ý thức về nghề của họ
Đồng thời, trong quá trình phân tích, khi cần thiết, người viết sẽ liên hệ với một số tuyên ngôn nghệ thuật của các tác giả cùng thời, hoặc trước đó để làm sáng tỏ vấn đề
4.2 Đóng góp mới của đề tài
Thông qua việc tìm hiểu một số tuyên ngôn nghệ thuật và sáng tác tiêu biểu của các nhà văn đã được giới thiệu ở trên, người viết sẽ giúp độc giả:
Trang 10a Phát hiện ra ý thức về nghề của các nhà văn tiêu biểu và vai trò của nó trong sự phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
b Khẳng định viết văn là một nghề lao động nghiêm túc, đầy sáng tạo, đòi hỏi nhà văn không chỉ có khả năng thiên phú mà còn phải có tâm, có tài, có sự cố gắng nỗ lực cao
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết hợp sử dụng các phương pháp:
5.1 Phương pháp hệ thống
Trong quá trình tìm hiểu quan niệm sáng tác của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945, người viết sẽ tiến hành khảo sát, hệ thống các quan niệm có tính chất “tuyên ngôn nghệ thuật” của họ lại Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu chỉ ra được mối quan hệ giữa các yếu tố bộ phận của đối tượng nghiên cứu
5.2 Phương pháp so sánh
Để thấy được những nét mới mẻ trong ý thức về nghề của các nhà văn thế hệ 1930 – 1945, người viết sẽ so sánh quan niệm sáng tác giữa các nhà văn cùng thời và cũng đối chiếu cả với quan niệm sáng tác của các nhà văn trước đó Phương pháp này sẽ giúp cho người viết vừa khái quát hóa được sự phát triển trong quan niệm sáng tác của các nhà văn, vừa chỉ ra được những đóng góp mới của các nhà văn giai đoạn này đối với tiến trình phát triển của văn học
5.3 Phương pháp loại hình
Phương pháp này sẽ giúp cho người viết hiểu biết sâu sắc hơn ý thức về nghề của các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 thông qua việc tập hợp, tìm hiểu - theo thể loại – một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đại diện (đã được giới thiệu ở trên), phát hiện ra giá triï của chúng cũng như sự thống nhất hay không thống nhất giữa chúng với tuyên ngôn nghệ thuật của những người sáng tác
6 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Bố cục của luận văn được chia làm 3 phần:
Phần II: NỘI DUNG LUẬN VĂN
Gồm 3 chương:
Trang 11Chương 1: Quan niệm mới về địa vị của văn chương trong
đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
33 trang
Chương 2: Những tuyên ngôn nghệ thuật mang ý thức về
nghề của nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945
113 trang
Chương 3: Từ ý thức về nghề đến cá tính sáng tạo và sự
phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
34 trang
Trang 12Chương 1 QUAN NIỆM MỚI VỀ ĐỊA VỊ CỦA VĂN CHƯƠNG TRONG
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
“Văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng” (88, tr.54), ra đời từ
khi loài người sử dụng ngôn ngữ một cách thành thạo Trải qua bao bước thăng trầm, sự phát
triển của văn học luôn gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã hội, mà lịch sử xã hội Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 lại có nhiều biến động lớn Cái mới hình thành và lấn dần cái cũ, cái cũ
sắp sụp đổ nhưng cái mới chưa đủ mạnh để thay thế Con người thế hệ mới ra đời, với “khát
vọng được thành thực”, luôn cố gắng vươn lên nhằm tự khẳng định mình Văn học bắt nguồn từ
đời sống và phản ánh đời sống, do đó, cũng biến đổi theo và trở thành hàng hóa Nhiều khuynh hướng, trường phái văn học lần lượt ra đời Mỗi trường phái có quan điểm nghệ thuật, có tôn chỉ hành động riêng Ý thức về nghề của các nhà văn, vì vậy, cũng ngày càng phát triển và được xem là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tác
Không đồng nhất với quan điểm sáng tác hay quan niệm nghệ thuật (về con người trong
văn học), ý thức về nghề là sự nhận thức tự giác của nhà văn về nghề viết văn, được thể hiện
qua tuyên ngôn (quan niệm) nghệ thuật và thực tế sáng tác của chính nhà văn đó
Hầu hết các nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 đều có ý thức sâu sắc về nghề Họ vừa
am hiểu kỹ thuật sáng tác, vừa rất quý trọng văn chương, luôn xác định rõ phẩm chất cần có để
hành nghề, tác nghiệp Nghĩ rằng sự thành thực là cái then chốt của người nghệ sĩ, Nam Cao
khảng khái: “Cái nghề văn, kị nhất cái lối thấy người ăn khoai cũng vác mai đi đào” (84, tr.53); Thạch Lam càng mạnh mẽ: “Một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên một nhà văn
giá trị (…) Và không có gì đáng bỉ cho một nhà văn hơn là mình tự dối mình” (12, tr.575) Tha
thiết yêu nghề, cảm thấy hạnh phúc vô biên khi được sáng tác: “Mỗi khi cầm bút ướm thử nó lên
tờ giấy trắng trong, tinh khiết, tôi thấy sung sướng vô vàn, sung sướng đến chảy nước mắt ra, đến nỗi có thể tưởng rằng mình sẽ chết ngay nếu bị mất quyền viết” (Nguyễn Tuân, 72, tập 8, tr.262),
các nhà văn hiện đại thời bấy giờ đã đặt hết tâm huyết vào văn chương, xem văn chương là cái
nghiệp, là duyên nợ của mình: “Người viết văn với văn chương hình như có một mối duyên nợ gì
ngấm ngầm với nhau ấy, rứt không ra” (Nguyễn Công Hoan, 55, tr.113)
Trang 13Hơn nữa, với tinh thần trách nhiệm cao: “Cái thiên chức của nhà văn cũng như những chức
vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt, để trong đời có nhiều công bằng, nhiều thương yêu hơn” (Thạch Lam, 12, tr.591), càng ý thức rõ sức mạnh của công cụ: “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực” (Thạch Lam, 12, tr.62) góp phần đấu tranh và cải tạo xã hội, các
nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 càng hiểu thấu cả sự bất lực trong sáng tác: “Cái gì nhà
văn không cảm thấy mà bịa ra, nó vẫn có vẻ một vật thừa, một vật vô ích” (Thạch Lam, 12,
tr.574) Nam Cao cương quyết không chấp nhận sự cẩu thả trong văn chương: “Sự cẩu thả trong
bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” (84, tr.143) Thế nhưng, cuộc sống đói nghèo gieo neo, khốn khổ, lắm khi không cho họ
được toại nguyện Do đó, muốn tồn tại trong hoàn cảnh văn chương trở thành hàng hóa, họ càng
phải nỗ lực học hỏi, mài dũa công cụ nhiều hơn Thạch Lam khẳng định: “Làm thợ, đi buôn còn
phải khó nhọc, còn phải học nghề; tại làm sao viết văn lại không muốn học, không muốn cố ?”
(12, tr.573)
Cố công học tập, dồi mài, hơn ai hết, văn nghệ sĩ giai đoạn 1930 – 1945 rất có ý thức về
việc sáng tạo và tiêu thụ sản phẩm, về phổ cập và nâng cao: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình … Nó làm cho người gần người hơn” (Nam Cao, 16,
tr.212) Họ hằng ao ước sáng tác được những tác phẩm như thế, cũng như luôn mong mỏi tác phẩm của mình được bạn đọc tán dương Có điều vận đỏ vẫn không thường đến với những người theo đuổi nghiệp văn chương Không ít nhà văn, ngay từ tác phẩm đầu tay, đã chuốc lấy sự thất
bại, mà Thành – nhà văn Văn Sơn trong Cuốn sách bỏ quên của Thạch Lam - là một ví dụ tiêu biểu Từ khi gởi bản thảo Người bạn cho nhà xuất bản, Thành cứ thấp thỏm trông chờ sự tiếp nhận của công chúng: “Trong những đêm không ngủ ở nhà quê, chàng vẫn mơ tưởng một sự
thành công rực rỡ xứng đáng với tài năng Những lúc đó, Thành sung sướng như nhấp chén rượu mạnh mà hơi men làm say sưa dần dần Chàng tưởng sách của chàng đã được thiên hạ hoan nghênh nhiệt liệt, các báo đua nhau tán thưởng và bán chạy hết ngay trong tháng xuất bản” (12,
tr.211) Thế nhưng, thực tế hoàn toàn ngược lại Câu trả lời theo một nhịp trầm và khó chịu của
ông Xuân đã khiến cho anh bàng hoàng, hụt hẫng: “Sách của ông không được ai hoan nghênh cả
(…) Tôi chưa in ra cuốn sách nào khó bán như thế” (12, tr.209 – 210) Thành đành tìm đủ mọi lý
Trang 14do để tự an ủi mình Nào là: “Sách không bán chạy chưa phải chứng tỏ rằng chàng không có tài;
nhiều nhà văn nổi tiếng khắp hoàn cầu lúc mới đầu chẳng bị thiên hạ bỏ quên và hững hờ là gì ? Sự lãnh đạm của công chúng nhiều khi là cái dấu hiệu của một tài năng xuất chúng không được người ta hiểu, vì vượt ra ngoài khuôn sáo thường” (12, tr.212) , nào là: “Người nghệ sĩ phải không cần đến sự hoan nghênh của công chúng bởi tự mình đã được hưởng cái thú thần tiên của sự sáng tác; được hoan nghênh nhiều khi chỉ làm hại cho nghệ sĩ, vì khiến cho nghệ sĩ tự mãn và nô lệ cái sở thích của người đọc” (12, tr.213) Thực tế, người đọc chính là nguồn cổ vũ, động
viên, khích lệ sự sáng tạo của nhà văn Tuy nhiên, đôi lúc sự cổ vũ đó có thể khiến cho nhà văn
ỷ lại, không chịu làm việc hết mình Vì vậy, trên cơ sở nhận rõ tình hình xã hội, phân biệt rạch
ròi hai loại độc giả: “Hạng độc giả chỉ cốt xem truyện và hạng độc giả thích suy nghĩ, thích tìm
những trạng thái tâm lý giống tâm hồn mình” (12, tr.592), qua truyện ngắn này, Thạch Lam
nhằm muốn nhắn nhủ tất cả nhà văn: cần “có cái tự kiêu của người độc lập và tâm hồn thanh
cao” (12, tr.587), phải thành thật với mình, phải phản ánh đúng điều mình cảm nhận, bởi “chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi” (12, tr.577), còn “những nhà văn nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra được những tác phẩm số phận mỏng manh” (12, tr.577)
Càng gắn bó với nghề văn, các nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 càng ý thức rõ vai
trò của đam mê và khát vọng Nhờ có đam mê và khát vọng, họ mới có thể “sinh ư nghệ, tử ư nghệ” với văn chương, “một nghề bạc bẽo nhất đời mà những phút vinh quang làm rạng rỡ thoáng qua không an ủi nổi một đời đau buồn khổ nhục” (72, tr.356) Nhân vật Hộ (Đời thừa)
của Nam Cao đã thấy rằng: “Tôi mê văn quá nên mới khổ” (84, tr.145) Nhưng cũng như Hộ, Nam Cao và các nhà văn khác dù “biết đa mang là khổ” (168, tr.26) vẫn trọn một lòng sống chết với nghiệp văn: “Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi
lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi” (84, tr.145) Hơn nữa, họ còn “nguyện sẽ cam chịu tất cả những thiếu thốn, đọa đày mà văn nhân nước mình phải chịu (…), sẵn lòng từ chối một chỗ làm kiếm nổi mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn …” (84,
tr.64)
Thêm vào đó, với sự bừng tỉnh sâu sắc về ý thức cá nhân, các nhà văn hiện đại thời bấy giờ
rất có ý thức về kế thừa và cách tân; về dân tộc và nhân loại Họ không chỉ biết tiếp thu thành
Trang 15tựu văn học của bao thời đại trước, mà còn tích cực góp phần làm thay đổi diện mạo văn học, giúp văn học phát triển mạnh mẽ cả về nghệ thuật lẫn nội dung Càng hăm hở đem đến cho văn học nhiều sự cách tân, văn nghệ sĩ giai đoạn này càng chú tâm đến vấn đề dân tộc và nhân loại
Qua Tiên (Những ngày vui), Khái Hưng mong muốn: “Nghề báo phải là một nghề tự do để có thể
bênh vực được những người yếu hèn, khổ sở Chứ viết báo để làm quảng cáo cho một hãng ô tô, hay để nêu lên những bài viển vông thì viết báo để làm gì !” (59, tr.163) Vũ Trọng Phụng khao
khát: “Tiểu thuyết là sự thực ở đời” (130, tr.284) Thể trạng yếu đuối không cản trở được ước
nguyện cầm bút chiến đấu của Nam Cao Và biết bao nhà văn, nhà thơ cách mạng như: Sóng Hồng, Tố Hữu, Hồ Chí Minh … cũng đã vì nước, vì dân mà sáng tạo nên vô số tác phẩm vạch mặt đế quốc, đả kích cường quyền …, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và nhân loại
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu
chính là nhờ vào sự đóng góp nhiệt tình của một đội ngũ nhà văn như thế Vậy sự tiến bộ về ý thức của những nhà văn giai đoạn này có được là nhờ đâu ?
1.1 Những nhân tố làm thay đổi quan niệm văn chương, hình thành ý thức về nghề của nhà văn
1.1.1 Những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn học
1.1.1.1 Điều kiện kinh tế – xã hội
Bước vào thập niên ba mươi của thế kỷ XX, kinh tế – xã hội Việt Nam có nhiều đổi khác Hai cuộc chiến tranh khai thác thuộc địa quy mô của thực dân Pháp trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) đã làm cho diện mạo bên ngoài cũng như cấu trúc bên trong của xã hội Việt Nam đổi thay không nhỏ Từ một nền kinh tế thuần nông nghiệp, đến đây, nó đã chuyển sang nền kinh tế tiền công nghiệp Tuy quy mô không lớn, nhưng thành thị vẫn có sự phát triển đáng kể Các tầng lớp thị dân như: công chức, doanh nhân, kỹ nghệ gia, công nhân, dân nghèo thành thị, học sinh, sinh viên, … ngày càng đông Do sống tập trung có thu nhập ổn định và cao hơn nông dân, lại chịu ảnh hưởng của văn hóa văn nghệ phương Tây, nên nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần quen thuộc nhưng xưa cũ đã kém dần sức hấp dẫn đối với thị dân, đặc biệt là đối với trí thức Tây học – những người có khả năng tiếp nhận văn học khá nhanh nhạy Họ đòi hỏi văn học nghệ thuật phải đổi mới, phong phú, đa dạng và hiện đại hơn Vì vậy, từ năm 1930 đến năm 1945, văn học đã trở thành một sinh hoạt xã hội rộng rãi và là nhu cầu phổ
Trang 16biến của số đông trong xã hội Nhiều cuộc tranh luận diễn ra trong suốt 15 năm về các vấn đề văn học khác nhau, thu hút sự chú ý của đông đảo quần chúng, cho thấy mối quan tâm lớn của xã hội đối với văn học Điều đó vừa phản ảnh sự tồn tại của nhiều quan niệm văn học khác nhau, vừa cho thấy tính chất phức tạp của bầu không khí xã hội lúc bấy giờ Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, văn học có được lượng công chúng đông đảo như thế Sự đa dạng về trình độ và thị hiếu của công chúng đòi hỏi sự đa dạng trong sáng tác Nhưng cơ bản họ có một nét chung: nhu cầu tìm đến văn học như một phương tiện giải trí, một công cụ nhận thức về thực tại cuộc sống đang biến đổi xung quanh, hay là những bí ẩn trong thế giới nội tâm con
người hơn là những lời giáo huấn đạo đức Khác với độc giả thời trước, “công chúng văn học giai
đoạn này đã thể hiện tính chủ động trong tiếp nhận bằng sự tham gia phát biểu trên báo chí, bằng khả năng tiêu thụ sách báo của mình Trong thực tế, khi tác phẩm văn học phần nào mang ý nghĩa là một sản phẩm hàng hóa thì vai trò chi phối của độc giả đối với thị trường chữ nghĩa không nhỏ” (173, tr.53) Nhà văn nào muốn gầy dựng được tên tuổi thì phải không ngừng đổi
mới đề tài, nâng cao chất lượng sáng tác, trình độ tay nghề, phải có ý thức về nghề
1.1.1.2 Điều kiện văn hóa – giáo dục
Năm 1919, thi cử Nho học bị chế độ thực dân bãi bỏ Hệ thống giáo dục Hán học bị triệt tiêu Hệ thống nhà trường Pháp – Việt, dù chưa được phát triển mạnh mẽ nhưng cũng đã đủ để hình thành một lực lượng trí thức mới – lực lượng trí thức Tây học Lực lượng này, đến năm
1930, theo thống kê niên giám của Đông Dương, đã xấp xỉ ba trăm ngàn người Họ là những công chúng mới, những người đọc mới, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã quen với những điều mới mẻ của văn học phương Tây, từ thể loại đến bút pháp, từ phong cách đến ngôn ngữ Cũng từ trong hàng ngũ công chúng mới ấy, một lớp nhà văn mới đã xuất hiện Cùng với
số nhà nho “phá nghiệp” ra phố phường kiếm sống bằng nghề làm báo, viết văn, do sự phân
công xã hội thoát khỏi tình trạng kiêm nhiệm, họ dần dần đi vào con đường chuyên môn hóa Lớp nhà văn chuyên nghiệp này ngày càng đông đảo, đa dạng, với nhiều sở trường và xu hướng khác nhau Họ đã cho ra đời nhiều sáng tác mới trên tất cả các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, phóng sự, thơ, kịch, lý luận, phê bình, nghiên cứu v.v… và cũng chính họ đã khởi xướng nhiều cuộc tranh luận về các vấn đề văn học trên báo chí Dù xuất thân từ Hán học hay Tây học, để đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội, các nhà văn thời bấy giờ đều tự trang bị thêm cho mình kiến thức từ nhiều nguồn, bởi họ đã đến với văn chương bằng tất cả sự lựa chọn có ý thức
Trang 17Ở vào cảnh ngộ mất nước, chưa thể làm gì để biến đổi xã hội, những nhà văn giàu nhiệt huyết này đã cầm bút tái hiện lại thực trạng xã hội, dồn cả tâm sức vào việc xây dựng, hoàn thiện và phát triển tiếng Việt, văn chương, nhằm vun đắp cho tinh thần dân tộc, với công cụ đắc lực là
chữ quốc ngữ Đây là phương tiện giao tiếp tiện lợi và hiện đại, “là hệ thống ngôn ngữ – văn tự
lý tưởng… đã thực sự chắp cánh cho nền văn học mới” (149, tr.62)
Với tư cách là chủ thể sáng tạo, các nhà văn có ý thức về nghề giai đoạn này đã vượt thoát khỏi vai trò người giáo huấn và cả vai trò văn nhân tài tử để sống đúng với nghề nghiệp của mình Bởi theo họ, giờ đây, văn học là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với xã hội, góp phần cải tạo xã hội, do đó, không thể xem việc sáng tác chỉ đơn thuần là phương tiện giải trí hay là cách để mưu sinh Chức năng của văn học được nhận thức thật đầy
đủ nên tình trạng quan niệm “văn – triết – sử bất phân” tồn tại khá lâu trong văn học Việt Nam
cũng chấm dứt Hơn nữa, ý thức rõ về nghề nghiệp, các nhà văn thế hệ 1930 – 1945 còn luôn cố gắng đấu tranh cho tính toàn vẹn của văn học, trong phạm vi khả năng của mình Kết quả là họ đã tạo được sự bừng dậy và trưởng thành nhanh chóng của tất cả các thể loại cùng sự nở rộ về
xu hướng và phong cách sáng tác Có thể nói, chưa giai đoạn nào, văn học phát triển mạnh mẽ,
đa dạng như lúc này Với thơ, đã có thơ lãng mạn, hiện thực, tượng trưng, siêu thực … Với tiểu thuyết, có tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết lịch sử, tâm lý, tả chân, lãng mạn v.v… Mỗi nhà văn, nhà thơ là một cá tính sáng tạo riêng, rất ít trùng lặp về phong cách, bút pháp Đã có sự chuyên môn hóa cao giữa các bộ môn, các thể loại văn học Các nhà văn đều nhanh chóng vượt qua giai đoạn thử sức ban đầu để đi vào lĩnh vực sở trường của mình, với nhiều đóng góp thật sự có giá trị
1.1.1.3 Điều kiện vật chất – kỹ thuật
Từ năm 1930, những cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển của văn hóa, văn học như nhà in, nhà xuất bản, báo chí … đã được trang bị đầy đủ, dồi dào ở khắp các thành phố trong cả nước Chỉ tính riêng báo chí, từ tờ Gia Định báo – tờ báo đầu tiên ra đời năm 1865, đến thời điểm này, cả nước đã có tới 80 tờ nhật báo, tuần báo, tạp chí
Trong quá trình tiến lên ấy, báo chí ngày càng gắn chặt với văn học, thúc đẩy văn học phát triển, và góp phần củng cố thêm ý thức về nghề của nhà văn Nếu trước năm 1930, báo chí chủ yếu giúp người đọc làm quen với chữ quốc ngữ và văn hóa phương Tây thì sau đó, báo chí đã góp phần lớn trong việc kích thích không khí sáng tác và không khí tiếp nhận dòng văn học mới
Trang 18Đặc biệt, từ năm 1932 đến năm 1935, do Pháp mở rộng phong trào báo chí bản xứ mà báo chí
càng phát triển mạnh (chỉ mới nửa đầu năm 1933, đã có 27 tờ báo được phép ra đời) “Là miếng
đất tốt cho việc gieo hạt văn chương” (55, tr.91), hầu như trên tất cả các báo lúc bấy giờ đều có
mục sinh hoạt văn học thường xuyên như: văn uyển, điểm sách, tin văn, giới thiệu sách mới, sưu tầm văn học, giới thiệu các truyện ngắn và tiểu thuyết đăng nhiều kỳ … Chính nơi đây là diễn đàn để các trí thức Việt Nam trao đổi về các vấn đề văn hóa, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn chương; đồng thời cũng là nơi tạo ra một không khí kích thích sự sáng tạo, sự thể nghiệm và những tìm tòi, học hỏi của các nhà văn trên con đường cầm bút Không những thế, báo chí còn dần dần trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu được của quần chúng ở đô thị và những người có học ở nông thôn Cho nên, dù muốn hay không, các nhà văn cũng phải phát huy tối đa tinh thần sáng tạo cùng với ý thức trách nhiệm của người cầm bút Điều đó cũng có ý nghĩa là báo chí đã góp phần đắc lực trong việc khơi dậy và phát triển ý thức cá nhân
1.1.2 Sự phát triển của ý thức cá nhân
Những biến động mạnh mẽ của xã hội Việt Nam từ đầu những năm 30 đã làm bừng tỉnh và phát triển ý thức cá nhân Đây là một nét mới trong ý thức xã hội có ý nghĩa tiên quyết cho công cuộc cách tân văn học thời kỳ này Nói đến ý thức cá nhân là nói đến cái Tôi Cái Tôi (Individu) là một khái niệm triết học nhằm chỉ tính độc đáo, cá biệt của nhân cách cá nhân, đánh dấu sự tự ý thức đầu tiên của con người về chính mình với tư cách là một cá thể khác với tha nhân Từ đây ý thức về sự hiện hữu, về bản thể, sinh tồn cũng như về sứ mệnh và bổn phận
làm người đã khẳng định vị thế mới của cái Tôi cá nhân Nó không còn là “những yếu tố đồng
tính của đám đông là xã hội hay cái tôi chìm đắm trong cái ta vô ngã” (166, tr.76)
Ở Việt Nam, trong xã hội phong kiến trung cổ, giáo lý phong kiến không công nhận cá nhân Cá nhân không có quyền sống riêng Mỗi người chỉ là một phần tử trong cộng đồng giữa bao nhiêu quan hệ cộng sinh chồng chéo chứ không bao giờ là một nhân cách độc lập Tính chất đặc định của quan hệ cộng đồng làng xã, quan hệ gia tộc, huyết hệ đòi hỏi con người phải quên phần cá nhân của mình để sống đúng với chính danh, phận vị, đúng với cái khuôn cứng của trật
tự xã hội Nghĩ về điều này, Xuân Diệu đã từng kêu lên: “Lễ nghi, đạo đức trói buộc con người
Việt Nam trong bao nhiêu lâu ? Hồn thơ bị ngạt giữa gông cùm, trái tim bị đè không dám đập, cuộc sống thu chặt lại giữa khuôn phép bất nhân” (72, tr.18)
Trang 19Trong văn học viết từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện con người cá nhân với nhu cầu được giải thoát khỏi xiềng xích phong kiến, được tự do hưởng hạnh phúc lứa đôi Nhưng đó chỉ là những ước ao trong khuôn khổ xã hội mà thôi Thế nên, dè dặt
như nàng Dao Tiên (Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự), hay nàng chinh phụ (Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn), hoặc sôi nổi, mãnh liệt như nàng Kiều (Truyện Kiều của Nguyễn Du), thậm chí là táo bạo, thách thức, ngang tàng như một Hồ Xuân Hương đã từng giận dữ thốt lên: “Chém
cha cái kiếp lấy chồng chung”, v.v… cuối cùng rồi cũng phải thuận theo sự định đặt khắc nghiệt
của đạo lý Nho gia
Bước sang những năm 20 đầu thế kỷ XX, “chủ nghĩa lãng mạn với cá thể in-di-vi-du đã bật
nứt trong văn học Việt Nam bằng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Nhà thơ lấy mình làm đề tài, viết tự truyện về đời mình” (29, tr 21) Cái Tôi của Tản Đà là một cái Tôi “chơi vơi, man mác vô định”
(29, tr 21) Con người cá nhân tuy “đã có nhu cầu tách khỏi xã hội cương thường nhưng chưa tìm
được sức mạnh và vị trí của mình” (168, tr 29-30)
Sau thơ văn Tản Đà là Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Với Tố Tâm, “con người cá nhân
muốn thể hiện một ý thức độc lập về hạnh phúc, nhưng nó đang còn là một cái gì rất mỏng manh, dễ vỡ, vì thế, nó đã bị thế lực phong kiến nghiền nát khi còn trứng nước” (167, tr 30)
Cho tới giai đoạn 1930 –1945, với sự phát triển của thành thị đang trên đà tư sản hóa, với việc hình thành một đội ngũ trí thức Tây học đông đảo và sự giao lưu mở rộng với văn hóa phương Tây, ý thức cá nhân đã trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ trong văn học, nhất là văn học
lãng mạn: “Văn học lãng mạn ra đời gắn liền với sự thức tỉnh mạnh mẽ về ý thức cá nhân, với
yêu cầu giải phóng cá nhân, phát triển cá nhân Sự thức tỉnh ý thức cá nhân là một bước tiến quan trọng trong lịch sử vận động tư tưởng của nhân loại” (72, tr.18)
Phong trào Thơ Mới đã mang lại một nhãn quan mới về phạm trù cá nhân Đó là thời đại
của cái “tôi” được ý thức, được cởi trói đang hăm hở trên hành trình của khát vọng tự biểu hiện mình Thơ Mới là thơ trữ tình của cái “tôi” cá nhân, là “thời đại chữ tôi” (137, tr.51) Từ những
sáng tác của Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Thái Can, Nguyễn Nhược Pháp đến Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên v.v…, những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ Mới, cái tôi với
“khát vọng được thành thực” đã dành được ưu thắng trong sự biểu hiện nghệ thuật (mà tiêu biểu
nhất là Xuân Diệu) Cái “tôi” tự ý thức – trung tâm của cảm nhận và biểu hiện – đã đưa đến
cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách diễn tả và giọng điệu riêng đầy sắc thái cá nhân, cá tính
Trang 20cho nhãn quan Thơ Mới Vì vậy, công lao của Thơ Mới là đã đưa cái “tôi” trữ tình vào thơ với tư cách là một cái “tôi” hiện thực, có những phẩm chất, những sắc thái cá tính riêng không mang tính ước lệ “tạo thành một dải phổ tình cảm cực kỳ phong phú, tinh tế, phức tạp” (122, tr 41) Do đó, có thể nói rằng Thơ Mới đã đi trọn vẹn, tận cùng hành trình của cái “tôi” cá nhân
Cùng với phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn (1932 – 1944) cũng luôn xoay
quanh một vấn đề cơ bản, cốt lõi: vấn đề con người cá nhân “Con người trong Tự Lực văn đoàn
luôn luôn được đặt trong sự thử thách của hoàn cảnh nhưng họ đã không cam chịu để hoàn cảnh bóp chết như những con người trong tác phẩm của Hồ Dzếnh, Nam Cao Họ cũng không buông xuôi, không khóc than ủy mị như Đạm Thủy, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Họ cũng không ngồi để chán nản với toàn thế giới, để gặm nhấm “nỗi buồn cô đơn”, “nỗi sầu vạn kiếp” như con người trong Thơ Mới …” (167, tr 44) mà thường đấu tranh để giành thế chủ động dù thắng lợi
nửa chừng như Mai (Nửa chừng xuân - Khái Hưng), Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh) v.v… Chính
sự khẳng định ý thức cá nhân trong quan hệ xung đột, đối kháng với tập tục, quan niệm, đạo đức truyền thống, lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, yêu đương tiến bộ là nét mới trong cấu trúc nhân cách nhân vật ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn Sự bung phá này là cấp độ quan
trọng đầu tiên trong hành trình của ý thức cá nhân và nó có ý nghĩa là “bản tuyên ngôn nhân
quyền bằng nghệ thuật” (167, tr.40)
Thêm vào đó, ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn , các nhà văn đã đi sâu khám phá thế giới
tinh thần, cảm xúc của nhân vật, mà cái “tôi” chính là phương diện trung tâm tinh thần của con
người, là cốt lõi của ý thức Vì vậy, khả năng tự ý thức, đòi hỏi tự do cá nhân trong sự đối kháng với tập tục cổ truyền đã đánh dấu sự lên ngôi của ý thức cá nhân
Tuy nhiên, ý thức cá nhân trong văn học lãng mạn nói chung đã bị tách khỏi con người xã hội sinh động Ýù thức cá nhân, về bản thể, phải luôn luôn gắn liền với tư cách con người xã hội bởi quá trình hình thành nhân cách và ý thức cá nhân, về bản chất, phải là quá trình xã hội hóa cá nhân để phát triển năng lực tự đánh giá, tự ý thức Nếu cắt bỏ mối quan hệ này, ý thức cá nhân dễ phát triển thành chủ nghĩa cá nhân cực đoan và sẽ dẫn đến hậu quả của sự sụp đổ chính bản chất con người
Do đó, có thể nói, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân với khát vọng “mình được là mình” là
điểm khởi xuất, đồng thời cũng là điểm hội tụ của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Các nhà văn thế hệ 1930 – 1945 được thừa hưởng những gì mà bao người đi trước hoặc cùng
Trang 21thời tạo ra và họ đã tiếp tục đưa ý thức ấy của thời đại vươn lên một tầm cao, một chiều sâu mới Với tư cách là chủ thể của quá trình sáng tạo văn học, sự bừng tỉnh về ý thức cá nhân đã hình thành ở họ nguồn năng lượng tinh thần phong phú, kích thích họ sáng tác, tạo nên nhiều
thành tựu có giá trị theo hướng hiện đại hóa để tự khẳng định mình “Đây là thời kỳ trong giới
cầm bút có sự bừng tỉnh sâu sắc về ý thức cá nhân Mỗi người viết đều muốn có những tìm tòi riêng về tư tưởng và nghệ thuật, đều muốn có tiếng nói riêng Vì thế trong đời sống văn học có sự xuất hiện hàng loạt cá tính, phong cách độc đáo” (101, tr 7-8) Hơn nữa, sự thức tỉnh này
cũng đã có đóng góp rất lớn vào sự đổi mới quan niệm văn chương, góp phần hình thành ý thức về nghề của nhà văn
1.2 Các quan niệm văn chương góp phần vào sự hình thành ý thức về nghề của các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945
Sự vận động và phát triển của văn học luôn gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội Mà xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đang trên đà tư sản hóa nên quan niệm văn học của các nhà văn cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới
1.2.1 Quan niệm về ý nghĩa xã hội của văn chương
“Nói đến mối quan hệ văn chương và xã hội là nói đến mối quan hệ giữa văn chương – bao gồm cả hệ thống của nó từ tác phẩm đến người đọc – với toàn bộ cơ chế vật chất và tinh thần của xã hội mà quan trọng nhất là kinh tế – xã hội” (157, tr.10) Do đó, khi nghiên cứu về ý nghĩa xã
hội của văn chương giai đoạn 1930 – 1945, chúng ta cần phải đặt nó vào hoàn cảnh kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ này Nhưng kinh tế xã hội Việt Nam từ năm 1930 trở đi có nhiều biến đổi nên văn học cũng có sự phân hóa phức tạp, phát triển thành ba xu hướng chính là lãng mạn, hiện thực phê phán và cách mạng Mỗi xu hướng lại có một quan niệm khác nhau Vì vậy, quan niệm về ý nghĩa xã hội của văn chương cũng thay đổi Trên cơ sở kế thừa các quan niệm truyền thống, các nhà văn giai đoạn này đã bổ sung một số nội dung mới về ý nghĩa xã hội của văn chương như sau:
1.2.1.1 Văn chương làm phong phú tâm hồn con người
Quan niệm văn chương làm phong phú tâm hồn con người đã có từ thời trung đại Với các nhà nho xưa, văn chương là thú vui tao nhã, là phương tiện để giải trí hay bộc bạch nỗi lòng Họ có thể như Trần Quang Khải làm thơ khi vừa tạo lập được chiến công, dẹp yên giặc nước:
Đoạt sóc Chương Dương độ
Trang 22Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình nghi nỗ lực Vạn cổ thử giang san
(Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
(Tụng giá hoàn kinh sư ) (15, tr.94)
hay có thể như Lê Thánh Tông viết văn lúc thảnh thơi, nhàn nhã, nhằm kể lại hứng thú sáng tác của mình:
“Ta nhân lúc muôn việc được rỗi, nửa ngày được nhàn, thường xem các sách, vui thích lục nghệ, mọi sự huyên náo lắng xuống, một ngọn đèn sáng thơm tho, thi dục ít, tinh thần trong sáng,
ở yên, hứng cao, mới phấn khởi nghĩ đến khuôn phép lớn của thánh đế minh vương, lòng cẩn thận của trung thần lương bật Gọi chàng giấy, họ bút, thượng khách mực, trọng thần nghiên đá, bảo
đi bảo lại rằng: chân tình ta phát ra, có anh khí dào dạt, thành cách ngôn hay”
(Tựa Quỳnh uyển cửu ca) (88, tr.12)
hoặc cũng có thể bắt chước Nguyễn Du làm thơ bày tỏ nỗi bất bình trước thế sự đảo điên, tóc đã bạc rồi mà vẫn chưa lập nên danh phận, cứ phải bôn ba, lận đận nơi xứ lạ, quê người:
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên, Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên
Xuân lan, thu cúc thành hư sự Hạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên
(Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt
Xuân lan, thu cúc đều thành chuyện hão Đông rét, hè nóng, cướp cả tuổi xuân)
Trang 23cho tiếng hót của nó là quan trọng” (36, tập 26, tr.726-727) Vẽ là mơ ước của họa sĩ và Nam
chỉ cần có thế Tuy nhiên, ở đây, bạn đọc phải hiểu, vẽ cũng một việc làm đầy tính sáng tạo, là sự tự bộc lộ Và đó mới chính là quan niệm về nghệ thuật của Khái Hưng Cùng một ý với Khái Hưng, Thế Lữ cũng chủ trương:
Không chuyên tâm, không chủ nghĩa, nhưng cần chi ? Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể …
(Cây đàn muôn điệu) (36, tập 25, tr.61)
Rõ ràng, với nhà thơ, thi ca chỉ có chức năng duy nhất là đi tìm và thể hiện cái đẹp thuần
túy, đa dạng, muôn màu Xuân Diệu cũng thế Trong Lời thơ vào tập gửi hương, bằng tâm trạng
vui vẻ, lạc quan, trước cảnh thiên nhiên tươi đẹp và tình yêu tuổi trẻ đang dâng tràn, thi sĩ đã tự
ví mình như con chim nhỏ không ngừng ca hát giữa cuộc đời đầy hoa mộng:
Tôi là con chim đến từ xứ lạ, Ngứa cổ hót chơi
Khi gió sớm vào reo um khóm lá, Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời
Chim ngậm suối đậu trên cành bịn rịn, Kêu tự nhiên, nào biết bởi sao ca
Tiếng to nhỏ chẳng xui chùm trái chín, Khúc huy hoàng không giúp nở bông hoa …
Ý thơ trên cho thấy: nếu “con chim đến từ xứ lạ” kia biết đem tiếng chim hót hay để ngợi
ca cuộc sống và làm đẹp cho đời thì Xuân Diệu viết văn, hay làm thơ cũng chỉ nhằm một mục đích là được điểm tô thêm cho đời, gắn bó với đời, muốn được cùng đời chia sẻ buồn, vui Vì
thế, nhà thơ luôn mở rộng lòng để có thể “rung cảm tận cùng với cuộc sống và tình yêu bằng mọi
giác quan …”, để có thể thu góp được hết thảy mọi vẻ đẹp trong trời đất, rồi qua thơ, đem hồn
mình ra dâng tặng lại cuộc đời như có lần ông đã viết: “Đây là lòng tôi đang thời sôi nổi, đây là
hồn tôi vừa lúc ngân vang và đây là tuổi xuân và đây là sự sống của đời tôi nữa Tôi đem tặng người mấy vần thơ” (7, tập 1, tr.9) Nếu mấy vần thơ có thể giúp cho Xuân Diệu giao cảm được
với cuộc đời, với thiên nhiên thì cũng có nghĩa là văn chương đã giúp cho tâm hồn con người thêm phong phú Con người cảm thấy yêu đời và cuộc sống bớt phần tẻ nhạt chính là nhờ có văn chương Thế nên, dù không thể làm được điều gì lớn lao cho xã hội thì văn chương vẫn thực
sự có ích cho đời, giống như tác dụng của phấn thông vàng, dẫu “không gặp hoa cái chăng thì
phấn cũng làm lộng lẫy không gian trong một buổi chiều nọ”(7, tập 2,tr.17) Suy rộng ra, người
Trang 24nghệ sĩ, nhà thơ không nhất thiết phải là nhà cải cách xã hội, chỉ cần họ là người có tâm hồn phong phú, biết chia sẻ và chịu chia sẻ thì sẽ giúp cho nhân loại thấy đời vui và đáng yêu hơn Như vậy, các nhà văn, nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930 –1945 không chỉ biết kế thừa quan niệm truyền thống (văn chương làm phong phú tâm hồn con người), mà còn biết bổ sung, mang đến cho văn chương nét nghĩa mới: văn chương có thể giúp con người trao đổi tình cảm với nhau, giúp con người bày tỏ những rung động từ trong tâm hồn và phát hiện ra vẻ đẹp thiên hình vạn trạng của con người, của cuộc đời, của thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá … Nhờ có nó, con người sẽ cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thư thái hơn, người với người gần gũi nhau hơn …
Nhưng tác dụng của văn chương đâu chỉ có thế Tiến thêm một bước, các nhà văn, nhà thơ
thế hệ này còn nhấn mạnh đến vai trò là công cụ và phương tiện giáo huấn của văn chương
1.2.1.2 Văn chương là công cụ, phương tiện giáo huấn
Quan niệm xem văn chương là công cụ, phương tiện giáo huấn tư tưởng, đạo đức đã có
truyền thống khá lâu đời Từ thế kỷ XV, trong bài tựa Lĩnh Nam chích quái, Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã viết: “Việc tuy kỳ dị mà không quái đản, văn tuy thần bí nhưng không nhảm nhí, tuy nói
những chuyện hoang đường mà tung tích vẫn có bằng cứ, há chẳng phải là khuyên điều thiện, trừng điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục đó ru ?”(133, tr.31) Lê Quý Đôn
(1726 – 1784) cũng nói: “Văn chương là gốc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự kinh thế”
(133, tr.92) Do đó, các nhà nho xưa đã rất chú ý trong việc sử dụng văn chương như một hình thức giáo dục đạo đức, tu dưỡng tính tình Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho loại văn học
này là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
Tuy nhiên, do đặc điểm lịch sử của nước ta mà văn chương được huy động tối đa vào cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc Không những nó đã được xem là một phương tiện giáo dục có sức mạnh to lớn, mà còn là vũ khí có nhiều đóng góp tích cực trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung
Xuất phát từ sự tồn vong của đất nước, thế kỷ XI, đời Lý, với Nam quốc sơn hà, Lý Thường
Kiệt đã gián tiếp khẳng định cái chân lý sách vở, văn chương, trước tác phải ra sức khẳng định chủ quyền độc lập của quốc gia Đời Trần, thế kỷ XIII, Trần Thái Tông càng khẳng định mạnh
mẽ sứ mệnh của văn chương: “Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc” (Tứ sơn kệ
tịnh tự) (88, tr.11) Đến đời Lê, thế kỷ XV, Nguyễn Trãi có tuyên bố “đạo bút” của mình là
Trang 25dùng những bài văn từ lệnh khéo léo góp phần vào việc dẹp yên giặc Bắc, ra sức bảo vệ nước Nam:
Đạo bút phải dùng tài đã vẹn
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên Vệ Nam mãi mãi ra tay thước Điện Bắc đà đà yến phận tiên
(Bảo kính cảnh giới, số 6) (133, tr.23)
Nửa sau thế kỷ XIX, dù mù lòa và phải sống dưới ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, Nguyễn Đình Chiểu vẫn không sờn lòng, nản chí, quyết dùng ngòi bút của mình làm vũ
khí để trừ bạo, “đâm gian”:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Phát huy chủ nghĩa yêu nước, yêu nòi giống, đầu thế kỷ XX, “Phan Châu Trinh bày tỏ:
“Bút lưỡi muốn xoay dòng nước lũ” Phan Bội Châu nêu cao: “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng”” (88, tr.12)
Tiếp bước tiền nhân, các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 đã kế tục xuất sắc những quan niệm trên Thêm vào đó, họ cho rằng: văn chương còn có chức năng cảm hóa, cải tạo xã hội, có thể giúp cho con người có được một cuộc sống tốt đẹp hơn Khác với những nhà Nho xưa, không chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, các nhà văn thời này đã sáng tác văn chương phục vụ cho cuộc đời, cho mình một cách cụ thể và vô cùng thiết thực
Là một nhà văn lãng mạn, nhưng Thạch Lam không đi theo khuynh hướng thoát ly như các
cây bút trong Tự Lực Văn Đoàn vì ông đã nhận ra giá trị của văn chương Ông nói: “Đối với tôi,
văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”
(Thạch Lam, 12, tr.62)
Cùng quan điểm với Thạch Lam, Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc _ nhấn mạnh: văn
chương “phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng
lòng thương, tình bác ái, sự công bình … Nó làm cho người gần người hơn” (1, tr.76) Trên báo
Tương lai, số ra ngày 25 tháng 3 năm 1937, với bài viết Để đáp lời báo Ngày nay: Dâm hay là
Trang 26không dâm, Vũ Trọng Phụng cũng đã phát biểu một cách điềm tĩnh và sắc sảo ý hướng của cây
bút mình: “… Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như
tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” (130, tr.284) Và “sự thực ở đời”, theo Vũ Trọng Phụng là
“tả chân cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có những chuyện ô uế, dâm đãng …” (130, tr.286)
Với tư cách là những nhà thơ, nhà văn cách mạng, Sóng Hồng, Tố Hữu, Hồ Chí Minh … bằng cách này, cách khác, cũng lần lượt nêu lên quan niệm của riêng mình Nếu như trong bài
thơ Là thi sĩ, Sóng Hồng đã mạnh dạn chỉ trích lối sáng tác sai lạc của các nhà thơ trong phong
trào Thơ Mới, không quên gửi kèm theo lời khuyên nhủ chân thành:
… Là thi sĩ phải là hồn cao khiết Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu
Ca tự do, tiến bộ và tình yêu
- Yêu nhân loại, hòa bình và công lý Cao giọng hát những bài ca chính khí Của anh hùng vì nước đã quên mình Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh
Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái
………
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền Và lúc cần quẳng bút lấy long tuyền
Hỡi thi sĩ hãy vươn mình đứng dậy !
Nâng đón lấy màu xanh hương bát ngát
Cương nghị và quyết liệt hơn, trong vai trò lãnh tụ, Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu đối với
Nay ở trong thơ nên có thép Của ngày mai muôn thuở với muôn hoa
(69, tr.35 – 36)
Trang 27Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi, 85, tr.357)
Như vậy, điểm qua các quan niệm và ý nghĩa xã hội của văn chương, chúng ta đã phần nào thấy được sự phân hóa phức tạp trong quan niệm của những người cầm bút thế hệ 1930 – 1945; đồng thời, cũng có thể tiên đoán về việc xuất hiện của nhiều phong cách sáng tác khác nhau trong cùng một giai đoạn
Trên cơ sở mở rộng ý nghĩa xã hội của văn chương, các nhà văn giai đoạn này còn có thêm nhiều quan niệm mới về tiêu chuẩn đánh giá tác phẩm
1.2.2 Quan niệm về tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm văn chương
Tuy không ra ngoài những quan niệm truyền thống, nhưng tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm văn chương của các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 so với trước, cũng có nhiều điểm tiến bộ hơn
1.2.2.1 Cái đẹp và cái hay
“Văn học là nghệ thuật ngôn từ” (88, tr 184) Do vậy, muốn đánh giá tác phẩm văn chương
và tài năng của tác giả, trước hết, phải căn cứ vào cái hay, cái đẹp, tức giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Một tác phẩm có giá trị thẩm mỹ phải là tác phẩm hay về cách diễn đạt, về văn từ, cấu tứ và đẹp về hình ảnh, màu sắc, về cả đối tượng được đề cập
phần khác với cái đẹp của thơ nay Đọc thơ xưa, chúng ta thường bắt gặp những vẻ đẹp phát
xuất từ “mây gió trăng hoa tuyết núi sông” (Hồ Chí Minh, 85, tr.357) Thế nên, có thể khẳng
định, cái đẹp trong thơ xưa là cái đẹp của thiên nhiên
Đến giai đoạn 1930 – 1945, cái đẹp trong văn chương đã được thể hiện một cách đa dạng và phong phú hơn Bên cạnh việc tìm kiếm những vẻ đẹp của thiên nhiên, các tác giả như Thế Lữ, Xuân Diệu, Thạch Lam … cũng để tâm phát hiện ra nhiều vẻ đẹp trong cuộc sống đời thường Còn Nguyễn Tuân thì luôn say sưa kiếm tìm cái đẹp ở thời trước, cái đẹp siêu phàm
Trang 28Nếu như với Thế Lữ, cái đẹp “có muôn hình muôn vẻ”, thì trong sự cảm nhận của Xuân Diệu, cái đẹp là tuổi trẻ, cuộc sống và tình yêu Nhà thơ từng thổ lộ là “người tài tử còn mang
cái nghiệp giai nhân” (18, tr.125) Vì thế, thi sĩ nhìn vào đâu cũng thấy đẹp, thấy nên thơ và
đáng trân trọng Tuy ông không bày tỏ trực tiếp quan niệm coi cái đẹp là tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm, nhưng qua nhân vật của ông, chúng ta thấy ông là người luôn trân trọng cái đẹp, coi cái đẹp là tiêu chuẩn không thể thiếu để định chân giá trị của văn chương Cả cuộc đời, nhà thơ cứ theo đuổi việc khám phá sự đồng điệu giữa con người và thiên nhiên Mà sống hết mình với đời, với thiên nhiên, cũng là cách trân trọng cái đẹp Thạch Lam có khác Nhà văn đi tìm kiếm
cái đẹp ngay trong cuộc sống hằng ngày và nhận ra rằng: “Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi
khắp hang cùng ngõ hẻm tiềm tàng ở mọi vật tầm thường Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp chính ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam, 12, tr.598)
Quả thật việc ca ngợi cái đẹp, tìm kiếm cái đẹp là một thiên chức của văn chương Nhưng nếu nhà văn quá coi trọng điều đó thì đôi khi sẽ sa vào chủ nghĩa hình thức như trường hợp của
Nguyễn Tuân Cho rằng “nghệ thuật thì tồn tại vĩnh viễn” (72, tập 8, tr.177), Nguyễn Tuân đã đề cao cái đẹp tuyệt đối “Ông xem cái đẹp là chân lý của nghệ thuật, cái chân lý khó tìm thấy trong
hiện tại” (35, tr.95) nên thường hướng về một thế giới xa xưa và ngợi ca nét đẹp trong nếp sống
văn hóa của những nhà nho qua trò thả thơ, nhấm nháp hương cuội, hương trà …, hay ca ngợi những mẫu nhân vật có nhân cách cao đẹp như Huấn Cao, con người vừa có dũng khí, thiện tâm lại rất tài hoa Mải mê đi tìm cái đẹp, miêu tả cái thơ mộng tinh vi, ngòi bút của Nguyễn Tuân như phát huy sở trường của nghệ thuật hướng về nghệ thuật Tuy nhiên, những lúc thiên về cái đẹp hình thức, tư tưởng của Nguyễn Tuân có phần phiến diện, cực đoan như nhận xét của Hà
Minh Đức: “Đề cao cái đẹp, Nguyễn Tuân nhiều lúc rơi vào quan niệm thuần túy, đi tìm cái đẹp ở
những nẻo chênh vênh xa vòng đạo lý” (35, tr.95) Thế nhưng, xét đến cùng thì tác giả của Vang bóng một thời cũng đồng quan điểm với các nhà văn coi cái đẹp là tiêu chuẩn để đánh giá văn
chương
Có điều, nếu tác phẩm chỉ đẹp ở ý văn, ý thơ thôi thì chưa đủ Người sáng tác còn phải chú
ý nhiều đến cái hay của lời thơ, âm điệu, tiết tấu, cấu tứ, văn từ … Vì vậy, cái hay cũng là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tác phẩm văn chương
* Cái hay
Trang 29“Khái niệm “hay” cũng có liên quan đến nội dung, nhưng về cơ bản, nó nói lên tài năng sáng tạo của tác giả, đến năng lực tưởng tượng và trình độ sử dụng các phương tiện nghệ thuật” (157,
tr.33) Như thế, cái hay của tác phẩm văn chương được thể hiện ở chính sự dụng công của người nghệ sĩ
Không như các nhà văn, nhà thơ trong văn học trung đại chỉ chủ ý tạo ra những câu “thần”, chữ “mắt”, gieo cho đúng vần, đúng luật; từ ngữ, hình ảnh được dùng phải có tính ước lệ cao …,
những người cầm bút giai đoạn 1930 – 1945 luôn tự tìm kiếm cho mình những cách diễn đạt mới
lạ, độc đáo Sự diễn đạt mới lạ, độc đáo đó “không phải ở cách xếp đặt các câu văn, xếp đặt cốt
truyện cho nó mạch lạc” (Thạch Lam, 12, tr.586) mà là được thể hiện ở “nghệ thuật chắc chắn”
của tác phẩm, “trong đó, nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những
tính tình bất diệt của loài người” (Thạch Lam, 12, tr.577)
Tùy thuộc khả năng, mỗi nhà văn có thể tự tìm cho mình một cách khẳng định riêng Nếu
như Xuân Diệu, với lòng đầy tự tin vẫn luôn cho: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất” thì Nam Cao cũng không bao giờ nhượng bộ Lúc nào, nhà văn cũng “biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi
những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” (84, tr.143) Nhờ vào đó mà Nam
Cao, Xuân Diệu, Thạch Lam … đã được giới nghiên cứu phê bình đánh giá là những gương mặt nổi bật trên văn đàn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Luôn trân trọng cái hay, cái đẹp, coi cái hay, cái đẹp là tiêu chuẩn để đánh giá văn chương,
các nhà văn thế hệ 1930 – 1945 cũng chẳng chút lơ là với việc lên án cái xấu, cái dở hay cái giả tạo và họ xem đây cũng là tiêu chuẩn để xem xét giá trị văn chương Đặc biệt, họ còn cho lòng
nhân đạo là một tiêu chuẩn quan trọng không thể thiếu khi muốn nhận chân giá trị của tác phẩm
1.2.2.2 Lòng nhân đạo
“Tinh thần nhân đạo là một trong những nội dung tư tưởng cơ bản làm nên giá trị của tác phẩm văn chương Nó là một trong những nội dung lớn nhất của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, trong toàn bộ sự phát triển của lịch sử loài người và lẽ dĩ nhiên, nó trở thành một trong những thước đo chiều kích thực sự của trình độ phát triển văn học” (37, tr.21) Trong văn chương
trung đại đã có biết bao nhà nhân đạo lớn như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Đình Chiểu v.v… Tinh thần nhân đạo luôn hiện diện trong tác phẩm của họ và nó đã trở
Trang 30thanh sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong lịch sử dân tộc Tuy vậy, trải qua nhiều thời đại, lòng nhân đạo cũng được biểu hiện theo những quan niệm khác nhau
Lòng nhân đạo trong văn học trung đại thể hiện ở lòng thương người, ở sự đấu tranh chống lại những thế lực tàn bạo, áp bức ngăn cản con người được sống tự do Nhưng suy cho cùng thì
“chủ nghĩa nhân đạo đó đã bị quý tộc hóa và cô lập hóa” (37, tr.22), nên đó chỉ là lòng thương
của những người ở tầng lớp trên đối với những người ở tầng lớp dưới, những kẻ “thấp cổ bé
họng” mà thôi Nội dung chủ nghĩa nhân đạo của văn chương trung đại luôn bị giới hạn bởi
những học thuyết Nho giáo Ở đó, con người không sao thoát khỏi được sự kìm tỏa của giáo lý phong kiến Vì vậy, chưa bao giờ con người được nhìn nhận với tư cách là một cá nhân Mà bản
chất của chủ nghĩa nhân đạo thì không dừng ở đó: “Bản chất của chủ nghĩa nhân đạo chân chính
là khẳng định những giá trị toàn năng của con người” (157, tr.45)
Bằng cái nhìn đầy tiến bộ, các nhà văn thế hệ 1930 – 1945 đã tiếp thu những quan niệm tích cực về lòng nhân đạo của văn chương Nho giáo, đồng thời còn mở rộng nó với tất cả sự ý thức đầy đủ về giá trị của con người cá nhân
Sống gần gũi với nhân dân lao động, cảm thông sâu sắc những thân phận bần cùng, nên
nghệ thuật của Nam Cao “chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” (84, tr.67) Ông mong muốn văn chương phải “ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình … làm cho
người gần người hơn” (84, tr.148) cũng như ông luôn trân trọng con người, luôn nhận ra “bản chất người” của họ trong bất cứ hoàn cảnh nào Vì vậy mà các nhân vật của ông, từ Điền, Hộ,
Thứ, cho đến Chí Phèo vẫn không bao giờ đánh mất mình Kể cả khi họ đã bị tha hóa, bị loại ra khỏi xã hội loài người thì trước sau, họ vẫn khao khát được sống lương thiện, được quay trở về trong tình yêu thương đùm bọc của mọi người
Cùng quan niệm với Nam Cao, Thạch Lam cũng thể hiện lòng nhân đạo của mình bằng cách phát hiện ra những biến chuyển tinh vi trong tâm hồn con người, đặc biệt là những con
người bất hạnh Nhà văn luôn chủ trương dùng văn chương để “nâng đỡ những cái tốt, để trong
đời có nhiều công bằng, nhiều thương yêu hơn” (1, tr.60) Vì vậy, văn chương, theo quan niệm
của ông, phải “là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực … để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế
giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” (Thạch
Lam, 12, tr.62)
Trang 31Là những nhà văn, nhà thơ cách mạng, lòng nhân đạo của Hồ Chí Minh và Tố Hữu là những biểu hiện tuyệt đẹp của chủ nghĩa nhân đạo của giai cấp vô sản
Lòng nhân đạo của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở lý tưởng cao đẹp mà Người suốt đời
phấn đấu theo đuổi: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (39, tr.5), mà còn được biểu hiện rất rõ ở những sáng tác văn học của Người
Bằng ngòi bút sắc bén, giàu chất “thép”, Người đã mạnh dạn vạch trần thủ đoạn bịp bợm xảo
trá cùng tội ác ngất trời của quân cướp nước và bè lũ tay sai, bênh vực những kẻ khốn cùng Thổn thức trước bao nỗi khổ nhục của người dân nước mình, Hồ Chí Minh cũng xót xa, thương cảm trước những nỗi bất hạnh của nhân dân lao động ở nước khác Còn Tố Hữu thì từ buổi được
“mặt trời chân lý chói qua tim” (69, tr.67) đã tự nguyện nối kết tâm tình với toàn dân, sẵn sàng
cùng nhân loại cần lao sẻ chia bao đau khổ:
… Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời …
Thế nên, trong Từ ấy, có rất nhiều bài thơ bày tỏ lòng cảm thương da diết của người chiến
sĩ cộng sản Tố Hữu với những người nghèo khổ, cô gái giang hồ tủi phận, em nhỏ bơ vơ, người già vất vả, không chốn dựa nương …
Nhìn chung, lòng nhân đạo vẫn thường xuyên hiện hữu trong hầu hết các sáng tác của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Chính họ, những nhà văn ý thức rất rõ về giá trị của con người cá nhân, đã khám phá ra những rung động tinh vi nhất trong tâm hồn con người và nói hộ con người những nỗi niềm, những khát vọng thầm kín nhất
Trên đây, người viết vừa điểm qua một số quan niệm về tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm văn chương Tuy các quan niệm đó chưa có ranh giới rạch ròi, nhưng cũng đã phần nào phản ảnh được sự đa dạng trong cách nhìn, trong nhận thức của các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 về văn học Và sự trưởng thành về mặt nhận thức của các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 còn được thể hiện qua quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và độc giả
1.2.3 Quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn – tác phẩm – độc giả
Đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX có nhiều biến đổi lớn đã kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nói như
(Từ ấy, 69, tr.67)
Trang 32Lưu Trọng Lư: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt … các cụ bâng
khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi … cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu …” (137, tr.11) Bởi vậy, trong xã hội đã xuất hiện một lớp công chúng
yêu văn học mới cùng những nhu cầu thưởng thức mới Và một đội ngũ nhà văn mới ra đời Vì thế, quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm, nhà văn và độc giả cũng có sự đổi thay
1.2.3.1 Quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm
Tác phẩm văn học chính là sản phẩm tinh thần của nhà văn Nhà văn giao tiếp với độc giả
qua tác phẩm nên “tác phẩm là thứ thông điệp và tác giả là người phát tin”(157, tr.18) Thế
nhưng, không phải người cầm bút ở giai đoạn nào cũng ý thức được điều này Hầu hết các nhà văn, nhà thơ trong thời trung đại đều xem việc sáng tác văn chương như là một nhu cầu tự thân, nhằm bộc bạch nỗi lòng hay để mua vui, giải trí Biết bao tác phẩm bất hủ của phần văn học
này đều được tạo ra theo cùng quan niệm như vậy, kể cả Truyện Kiều Dù được đánh giá là một kiệt tác, nhưng Đoạn trường tân thanh trong cách nghĩ của Nguyễn Du cũng chỉ là kết quả của việc “chắp nhặt” những “lời quê”, có thể giúp con người giải khuây, thư giãn trong những
khoảng khắc nhất thời:
Mua vui cũng được một vài trống canh
Với suy nghĩ tiến bộ hơn, thế hệ nhà văn 1930 – 1945 nhận thức rất rõ: “Sáng tác trước hết
không chỉ như gởi đi một thông điệp” mà còn là “một hành động bộc lộ” (157, tr.18) Vì vậy, tuy
sống trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến đổi, viết văn được xem là một nghề, văn chương trở thành hàng hóa, người nghệ sĩ khi cầm bút sáng tác đã không xem trọng nhu cầu cơm áo, mà luôn xuất phát từ lòng khao khát muốn nếm trải cuộc sống hiện tại, từ sự thôi thúc muốn thể hiện mình, muốn đóng góp sức mình vào công cuộc đấu tranh cho công bằng, công lý Ý thức về nghề, do đó, ngày càng hình thành rõ nét nơi họ Nghề văn, với họ, đã là nghiệp văn Họ luôn băn khoăn, trăn trở về nghề nghiệp của mình Tản Đà chua xót, ngậm ngùi trước cảnh thơ văn bị đem rao bán giữa chợ đời nhưng vẫn bị người ta chối bỏ:
Trang 33Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thật là khó
Phan Bội Châu thì kịch liệt chỉ trích những ai chủ trương dùng văn chương để tiến thân, làm giàu:
Lập thân tối hạ thị văn chương
(Quan niệm của tôi đối với văn chương, 141, tr.229)
Bao nhiêu đổi thay của xã hội cứ diễn ra liên tục, vừa tạo điều kiện để các nhà văn có dịp múa bút, vừa như là một sự thách thức đối với những văn nhân quyết gắn bó với nghề Ý nghĩ phải tạo cho mình một chỗ đứng vững chãi trong lòng bạn đọc đã thường xuyên thúc giục họ ra sức lao động cật lực, cố công rèn luyện, học tập, trau dồi, với hy vọng tạo nên những tác phẩm
để đời, “làm mờ hết những tác phẩm khác cùng ra một thời” (84, tr.142) Vì thế, mỗi tác phẩm
được ra đời lúc này là kết tinh của bao tâm huyết, trí, lực của nhà văn Nhà văn không chỉ hết
lòng quý, yêu, trân trọng “đứa con tinh thần” của mình, mà còn có thể vì nó, sẵn sàng hy sinh
tất cả, kể cả sinh mệnh, như Vũ Như Tô – nhân vật chính trong vở kịch cùng tên, của Nguyễn
Huy Tưởng Ngay khi cận kề bên cái chết, người nghệ sĩ ấy vẫn cứ một mực thiết tha: “Tôi sống
với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước Hồn tôi để cả ở đây” (168, tr.159)
Như vậy, đến giai đoạn 1930 – 1945, quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn và tác phẩm đã được đổi mới Tác phẩm vừa gắn bó thiết thân với nhà văn, vừa là vấn đề sống còn của văn nghệ sĩ Văn nghệ sĩ luôn coi trọng sản phẩm do mình làm ra, luôn coi trọng việc mình làm Điều đó chứng tỏ ý thức về nghề của các nhà văn ngày càng phát triển và sâu sắc hơn
Hơn nữa, là những người cầm bút đầy nhiệt huyết, các nhà văn thế hệ 1930 –1945 lao vào sáng tác không chỉ nhằm gầy dựng tên tuổi, mà còn là để phục vụ cho những lợi ích xã hội, để có thể đáp ứng được kịp thời nhu cầu của đông đảo độc giả, nhất là những độc giả chân chính Thái độ đón nhận tác phẩm văn chương của những độc giả chân chính nồng nhiệt hay hờ hững sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của nhà văn Do đó, càng quan tâm đến tác phẩm, nhà văn càng phải chú trọng đến độc giả, đối tượng tiếp nhận của mình
1.2.3.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả
Đây là quan niệm đã có từ lâu, bởi tác phẩm muốn sống được thì phải có độc giả Độc giả chính là người quyết định sinh mệnh của tác phẩm, là đối tượng kích thích sự sáng tạo văn học
Trang 34và thúc đẩy sự phát triển của văn chương Tuy nhiên, ở vào những giai đoạn khác nhau, quan niệm này cũng có sự khác nhau
Trong văn học trung đại, hầu hết các nhà Nho khi viết văn, làm thơ, thường cho rằng sáng tác chỉ đơn thuần là thú vui tao nhã, nên họ đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức là các bậc
“tao nhân mặc khách”, những người là tri âm, tri kỷ của họ mà thôi Vì thế, tiếng đàn của nàng
Kiều chỉ có Kim Trọng và Từ Hải mới thấu hiểu, câu thơ của Nguyễn Khuyến chỉ có Dương Khuê là người cảm nhận hết tất cả tâm tình … Bạn đọc được đồng nhất với tri âm, tri kỷ như vậy, nên việc tìm cho mình một độc giả ưng ý đã trở thành vấn đề nan giải đối với các nhà Nho Nguyễn Du từng than thở khi không tìm được một tâm hồn đồng điệu trong đời:
Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
(Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng ?)
(Độc Tiểu Thanh Ký, 15, tr.177)
Còn Nguyễn Khuyến thì buồn rũ, ngậm ngùi khi hay tin Dương Khuê vừa khuất bóng:
Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết, Viết đưa ai, ai biết mà đưa
(Khóc Dương Khuê, 16, tr.46)
Rõ ràng, nhận thức về độc giả của những người cầm bút thời này còn quá hạn hẹp Sự phát triển của văn chương vì thế mà cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều
Bước sang giai đoạn 1930 – 1945, tình hình có khác Khái niệm độc giả được mở rộng ra Tất cả những ai yêu thích văn chương, đều có thể trở thành công chúng của văn học Hơn nữa, sự ra đời của báo chí và phê bình văn học càng giúp cho sợi dây liên lạc giữa nhà văn và bạn
đọc ngày càng một thắt chặt hơn Lúc này, quá trình đọc tác phẩm cũng khác trước, nó “không
chỉ là quá trình lắng nghe mà còn là quá trình đối thoại, tư vấn, tranh luận Độc giả có thể giao lưu ngược lại với tác giả thông qua những cuộc tiếp xúc trực tiếp, thư từ hoặc viết phê bình đăng báo” (157, tr.18)
Thêm vào đó, đối tựơng thưởng thức văn học giai đoạn 1930–1945 rất là đa dạng Thạch
Lam đã xếp họ vào hai hạng: “Hạng độc giả chỉ cốt xem truyện và hạng độc giả thích suy nghĩ,
thích tìm trong sách những trạng thái tâm lý giống tâm hồn mình” (Thạch Lam, 12, tr.592) Cả
hai hạng độc giả này “cùng đọc sách để giải trí Từ cách giải trí thông thường đểâ mua vui, đến
cách giải trí lý thú của những người coi sự hoạt động của trí óc là một công việc ham mê”
Trang 35(Thạch Lam, 12, tr.592) Do đó, để đáp ứng tốt nhu cầu của hết thảy độc giả, văn nghệ sĩ cần có sự nỗ lực rất cao Nhưng vì xuất phát từ những khuynh hướng khác nhau, nên quan niệm của họ về vấn đề này cũng có điều khác biệt
Với các nhà văn, nhà thơ lãng mạn theo khuynh hướng “Nghệ thuật vị nghệ thuật” thì làm nghệ thuật chỉ là làm nghệ thuật Ai muốn thưởng thức tác phẩm của họ cũng được và muốn hiểu thế nào cũng xong, bởi họ chẳng “cần chi” ngoài việc “kiếm và phô bày cái đẹp” (143,
tr.144)
Trong khi đó, các nhà văn thuộc hai khuynh hướng hiện thực và cách mạng thì lại có quan điểm khác Vốn chủ trương văn học phục vụ cuộc sống, cuộc chiến đấu, họ rất chú trọng đến đối tượng thưởng thức, đặc biệt là những độc giả chân chính Không bao giờ họ để cho tiền tài, danh vọng mê hoặc được lương tâm và trách nhiệm của nhà văn Lớn tiếng chỉ trích những kẻ
chỉ biết chạy theo lối sáng tác “Nghệ thuật vị nghệ thuật”là “Tai ương, chướng họa của nhân
quần Nhọc tơ lòng mà phí cả ngày xuân” (Sóng Hồng – Là thi sĩ (sđd)), xác định rõ chức trách
của mình, tôn trọng độc giả, họ luôn tỏ ra nghiêm khắc với bản thân Mỗi khi cầm bút, họ
thường tự chất vấn mình là: “Viết cho ai ?”(137, tr.5) Vì nếu trong tâm trí người sáng tác, một
công chúng cụ thể chưa được xác định và hình thành như một yếu tố máu thịt trong quá trình thai nghén và sáng tác thì phương hướng sáng tác, nhất định, sẽ chệch choạc đi Những nhà văn giàu kinh nghiệm, có tâm huyết đều quan tâm đến đối tượng tiếp nhận tác phẩm của mình
Nguyễn Công Hoan đã ghi lại một kinh nghiệm: “… Nếu đánh trận là đánh vào đồn thì viết
truyện là đánh vào tình cảm của người đọc … Phải đánh sao cho trúng …” (55, tr.305-306)
Cương quyết tránh xa tiếng gọi của sự háo hức và lòng hám danh, khi Tổ quốc cần, họ còn mạnh dạn đứng vào hàng ngũ tiên phong, phất cao ngọn cờ tranh đấu, sẵn sàng vì nước quên thân, vì dân phục vụ theo lời kêu gọi của Bác:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Hồ Chí Minh – Cảm tưởng đọc Thiên gia thi (sđd))
Trên đây là những quan niệm văn chương góp phần vào sự hình thành ý thức về nghề của các nhà văn Những quan niệm này cũng chứng tỏ rằng bước sang giai đoạn 1930 – 1945, nảy nở trong các điều kiện thuận lợi, văn chương đã có được một địa vị mới trong đời sống xã hội Việt Nam Nó không còn là phương tiện giải trí đơn thuần nữa mà đã thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của toàn xã hội, là công cụ giáo huấn, đấu tranh đắc lực cho công
Trang 36bằng, công lý và là nguồn sống, là cái nghiệp của nhà văn … Vì thế, nhà văn càng có ý thức về nghề thì càng có quan niệm đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của văn chương
Trang 37Chương 2 NHỮNG TUYÊN NGÔN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC VỀ NGHỀ
CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM THẾ HỆ 1930 – 1945 Hầu hết các nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 –1945 đều bày tỏ ý thức về nghề của mình qua tuyên ngôn nghệ thuật Những tuyên ngôn nghệ thuật ấy có thể được phát biểu trực tiếp hay gián tiếp tùy theo sở thích của từng nhà văn Đi sâu tìm hiểu tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn, có kết hợp đối chiếu với thực tế sáng tác của họ, là một công việc lý thú và bổ ích, vì nó không chỉ giúp cho bạn đọc mở rộng kiến thức, hiểu thêm ý thức về nghề của nhà văn, mà còn thấy được sự đóng góp của họ vào tiến trình phát triển chung của văn học
Tuy nhiên, do sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu có hạn, nên trong luận văn này, người viết chỉ tập trung tìm hiểu vấn đề ở một số tác giả tiêu biểu như: Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Tố Hữu, Hồ Chí Minh
2.1 Khái Hưng - từ quan niệm: “Tiểu thuyết phải gần đời, phải là đời …” đến những “băn khoăn” về ý nghĩa đích thực của đời sống và văn chương
Khái Hưng là người mở đầu cho tiểu thuyết lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn với tác phẩm
Hồn bướm mơ tiên Sáng tác của ông có sự đan chéo giữa các khuynh hướng rất phức tạp Nhưng
nếu như người ta gọi nhà văn này là hiện thực chủ nghĩa, nhà văn kia là lãng mạn chủ nghĩa
“chỉ là căn cứ vào khuynh hướng nổi trội nhất đã tạo ra những tác phẩm thành công và tiêu biểu nhất” (98, tr.64 – 65), thì việc Khái Hưng được gọi là nhà văn lãng mạn tức là căn cứ vào cảm
hứng nổi trội nhất trong những sáng tác của ông – cảm hứng lãng mạn chủ nghĩa, dù rằng ông có không ít tác phẩm giàu tính hiện thực
Sinh ra trong một gia đình quan lại phong kiến, Khái Hưng hiểu rõ mặt trái xấu xa, xung đột đầy bi kịch về tiền tài, quyền lực và nếp sống của những gia đình thượng lưu quý tộc Thế nên, dù thuộc nhóm văn nghệ sĩ chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng Khái Hưng vẫn thường được xem một nhà văn lãng mạn tiến bộ bởi ông từng có quan niệm đúng đắn về nghệ
thuật Theo ông, “Tiểu thuyết phải gần đời, phải là đời với những lúc sướng lúc khổ, phải có
những cái nhỏ nhen, tầm thường, cao thượng của đời, phải có những cái đáng thương, những cái buồn cười, những cái bực tức” (108, tr 82 – 83) Điều đó cũng có nghĩa là nghệ thuật phải gắn
bó chặt chẽ với đời sống, là phản ánh của đời sống
Trang 38Với quan niệm này, Khái Hưng đã cho ra đời rất nhiều tác phẩm thuộc các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch Trong đó, nổi bật nhất là tiểu thuyết Đi sâu phân tích thể loại này sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn ý thức về nghề của nhà văn
2.1.1 Nghệ thuật trong mối quan hệ với đời sống, là phản ánh của đời sống
Là cây bút giàu nhiệt huyết, thời kỳ đầu, bên cạnh những sáng tác mang tính lãng mạn,
ngợi ca những mối tình lý tưởng, những mộng ước viển vông, xa rời thực tế, như: Hồn bướm mơ
tiên (1933), Gánh hàng hoa (1934) và Đời mưa gió (1935) – viết chung với Nhất Linh; Tiêu Sơn tráng sĩ (1935), Trống mái (1936), Khái Hưng còn cho ra đời không ít tiểu thuyết có giá trị hiện
thực, như: Nửa chừng xuân (1934), Những ngày vui (1936), Gia đình (1937), Thoát ly (1937),
Thừa tự (1938) … Và chính các tác phẩm có giá trị hiện thực này, với lối kể chuyện lôi cuốn đã
góp phần làm sáng tỏ tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn
2.1.1.1 Kể chuyện đời với những “sướng, khổ” của đời người
Những “sướng, khổ” của đời người luôn được trần thuật sinh động trong các tiểu thuyết của Khái Hưng, tiêu biểu là Nửa chừng xuân, Thoát ly, Gia đình
Ra đời ở giai đoạn cuộc đấu tranh “mới – cũ” trong phạm vi lễ giáo phong kiến đang diễn
ra vô cùng gay gắt ở thành thị, Nửa chừng xuân được đánh giá là tác phẩm có giá trị vì đã phản
ánh sinh động thực trạng này Tác phẩm kể về cuộc đời của Mai – người con gái nền nếp, có nhan sắc, cha mẹ mất sớm, phải nuôi em trai ăn học Mai đem lòng yêu Lộc, con cụ Án, gia đình mà trước đây cụ Tú, cha Mai, đã từng sống và dạy học Lộc làm tham tá, một trí thức mang nhiều tư tưởng mới Chàng đã từng giúp đỡ Mai mỗi khi nàng rơi vào cảnh ngộ khó khăn Tình yêu giữa hai người có nhiều điểm gặp gỡ và cơ sở bền chặt, bởi họ vừa là chỗ quen biết cũ, vừa nặng ân nghĩa, lại đằm thắm say mê trong tình yêu tự do lựa chọn của đôi lứa Nhưng hạnh phúc của Mai và Lộc đã bị lễ giáo của đại gia đình phong kiến ngăn chặn Lộc phải nhờ một cụ già giả làm bà Án để chính thức việc kết hôn Biết rõ điều đó nhưng vì yêu Lộc, Mai vẫn chấp nhận và cùng chàng chung sống hạnh phúc Không đồng ý cho Lộc cưới Mai, bà Án đã tìm ra tổ ấm của họ và kiên quyết phá tan nó bằng nhiều thủ đoạn, mưu mô Bụng mang dạ chửa, dẫu đau
khổ tột cùng, Mai vẫn cùng em bỏ nhà ra đi, quyết “đem nghị lực ra chống chọi với đời” (36, tập
26, tr.177) Nhớ lời cha dạy, Mai luôn “giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch” (36, tập 26, tr.88)
Nàng không quản nắng mưa, lam lũ, chịu thương chịu khó, tần tảo đảm đang, nuôi em ăn học bằng nhiều nghề, rồi cứ ở vậy, nuôi con một mình, lấy sự hy sinh hạnh phúc cá nhân làm niềm
Trang 39an ủi Mắc mưu bà Án, Lộc nghi ngờ Mai, vâng lời mẹ lấy con gái ông Tuần Hai người sống với nhau nhưng không hạnh phúc Vì không có cháu nối dõi, bà Án tìm cách gặp Mai để đòi lại bé Ái Còn Lộc, khi biết rõ Mai là người trong trắng cùng nỗi đau khổ mà nàng phải chịu đựng
vì bà Án và thái độ thiếu trách nhiệm của mình, chàng đã đến tạ lỗi và xin được đoàn tụ Mai vẫn yêu Lộc, nhưng do không cam tâm làm vợ lẽ nên khăng khăng chối từ việc tái hợp Một tuổi đời dang dở ở độ nửa chừng xuân và một tình yêu lý tưởng vượt lên trên nhiều trở ngại, khổ đau đã khép câu chuyện lại với nhiều bâng khuâng, xúc động
Qua tác phẩm này, Khái Hưng đã tỏ ra hết lòng ủng hộ cho cái mới Nhưng sự khẳng định quyền tự do trong tình yêu, hôn nhân của ông không ồn ào, ầm ĩ như của Nhất Linh Nếu trong
Đoạn tuyệt, Nhất Linh đã cố tình để cho trạng sư kết tội bà mẹ chồng của Loan, kết tội cái luân
lý An Nam cổ hủ và tuyên bố sự thắng thế của quyền tự do cá nhân, thì ở đây, với lập luận vững vàng, sắc sảo, Khái Hưng đã khéo léo xây dựng cái mới và làm cho bạn đọc yêu mến cái mới để từ bỏ cái cũ Và Mai chính là nhân vật đại diện cho cái mới đó Có lẽ sự hoan nghênh rộng rãi của độc giả đối với tác phẩm cũng xuất phát chủ yếu từ sự hấp dẫn của hình tượng này
Sau Nửa chừng xuân, phát huy khả năng quan sát tinh nhạy, với những quan niệm nhân sinh
mới mẻ, Khái Hưng đã chuyển sang công kích chế độ đại gia đình – một chế độ tàn ác, bất nhân, không cho con người sống như ý nguyện
Cốt truyện Thoát ly để lại cho người đọc một dư vị xót xa khi kể về Hồng, một cô gái mới
thông minh, xinh đẹp, tuy được sinh trưởng trong một gia đình quyền quý, nhưng cuộc đời gặp toàn bất hạnh, dở dang Mồ côi mẹ từ năm lên sáu, cha lấy vợ kế, ngay từ thời niên thiếu, Hồng đã phải chịu đựng sự lạnh lùng cố ý của cha cùng cái cười thớ lợ đầy hiểm độc của người mẹ kế Người đàn bà này thấy cha Hồng (ông Phán Trinh) quá hiền lành, nhu nhược, nên cứ lấn lướt, thao túng hết mọi bề Sống cạnh bà ta, Hồng tưởng như đang sống trong địa ngục, nên đã nhiều lần tìm cách thoát ly gia đình: khi thì định lấy chồng, lúc lại quyết bỏ nhà lên Hà Nội để chung
sống với người yêu, bất chấp mọi lời dị nghị, bởi theo nàng “Làm quả phụ, hay làm gì thì làm,
làm cả một gái giang hồ nữa cũng được, nhưng đừng ở trong một gia đình có một người dì ghẻ như dì ghẻ của tôi” (36, tập 26, tr.501) Nỗi khiếp sợ dì ghẻ có lúc còn khiến Hồng toan tự tử
Thế nhưng, kết quả đều trái ngược với ý Hồng Vì vậy, cuối cùng nàng đành ngậm ngùi “trở lại
ngục tối mà cửa thoát ly chỉ là cái chết” (Phạm Thế Ngũ, 105, tr.109) buồn tủi, đáng thương
Trang 40Dẫu là nam giới và được thừa hưởng nhiều gia sản từ cha mẹ, nhưng An (Gia đình) vẫn
không có quyền được sống cuộc đời bình tĩnh, tự do như sở thích của mình Bị thói hiếu danh và đầu óc gia tộc hẹp hòi đầu độc, họ hàng An và cả vợ An (Nga) đều thúc ép An học tiếp để làm
quan Vì thương vợ và cũng vì nhu nhược, tự ví mình “như con chim bị nhốt trong lồng” (36, tập
26, tr.442), An đành bước vào nghiệp quan với nỗi chán chường, buồn bực Nhưng do chậm thích nghi cùng hoạn giới, nên không những An luôn chịu buồn, khổ, ngày một gầy yếu, mà chàng
còn thường bị quan trên quở trách, cho rằng “không biết làm quan” Chính vì “không biết làm
quan” mà An chỉ toàn chuốc lấy thất bại, gia sản: tiêu tốn, hạnh phúc: chẳng còn, có còn chăng
là bổn phận của vợ chồng đối với nhau Dần dần, An “không còn tin ở cái quan niệm sự sống và
cách bài trí tương lai của chàng” (36, tập 26, tr.276) Chàng thấy đời mình trống rỗng và vô vị
Bế tắc, An phải tự tạo lấy niềm vui trong sự “ham mê đọc sách và bằng cách không cho việc gì
là quan trọng nữa” (36, tập 26, tr.448), uể oải để thời gian trôi theo công việc buồn tẻ hằng
ngày Còn Nga thì khi đã chán “được người ta tôn làm bà lớn” (36, tập 26, tr.445), lúc nào cũng thấy muộn phiền, “chán nản vì không được toại chí” (36, tập 26, tr.448)
Mượn chuyện để tỏ ý, từ những “sướng, khổ” được kể trên của đời người, có thể thấy rằng,
càng thấu hiểu tâm tư tình cảm của lớp thanh niên nam nữ giai đoạn 1930 – 1945 bao nhiêu, Khái Hưng càng căm thù lễ giáo phong kiến và chế độ đại gia đình bấy nhiêu Vì thế, nếu xã hội phong kiến luôn đặt con người trong những giềng mối đạo đức, những lễ nghi khắt khe, bắt
con người phải “khắc kỷ phục lễ”, phải sống cho hợp với lễ nghi hơn là sống cho mình, thì con
người cá nhân trong tiểu thuyết Khái Hưng luôn đòi hỏi quyền được sống tự do, được giải thoát khỏi những ràng buộc vô nghĩa lý … Có điều, nhà văn cũng cho thấy: chừng nào chưa dám đấu tranh để xóa bỏ những quan niệm cũ kỹ, lạc hậu thì chừng ấy con người cá nhân vẫn chưa được giải phóng một cách đầy đủ và còn phải hứng chịu nhiều bi kịch
2.1.1.2 Kể về con người với đủ “những cái nhỏ nhen, tầm thường, cao thượng”
Trong Nửa chừng xuân, vì ích kỷ và cũng vì quá thương con, muốn tìm cho con người vợ
không chỉ xứng đáng mà còn có lợi cho việc tiến thân về sau, nên bà Án, mẹ Lộc, đã đánh mất
lương tri, trở thành kẻ độc ác, thủ đoạn, một “hung thần” phá hoại hạnh phúc lứa đôi khi lập
mưu chia rẽ tình cảm Lộc – Mai, nhẫn tâm đuổi Mai đi dẫu biết rằng nàng đang mang thai nghén Đến khi Lộc không có con nối dõi, lo sợ tuyệt giống, tuyệt dòng, bà mới chợt nhớ tới mẹ con Mai, muốn đến gặp Mai để đòi lại cháu Nhưng mọi hoạch định của bà đều thất bại trước sự