Lời nói đầuĐể hoàn thành khoá học, đánh giá kết quả học tập tại trờng Đại học Lâm nghiệp nhằm gắn liền lý thuyết với thực hành, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với thực tế, củng cố
Trang 1Lời nói đầu
Để hoàn thành khoá học, đánh giá kết quả học tập tại trờng Đại học Lâm nghiệp nhằm gắn liền lý thuyết với thực hành, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với thực tế, củng cố và hoàn thiện những kiến thức đã đợc trang bị, biết vận dụng những kiến thức đó ngoài thực tiễn sản xuất, đợc sự đồng ý của Nhà trờng, khoa Lâm học và bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, tôi xây dựng khoá luận tốt nghiệp trên cơ sở đề tài:
“Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình”.
Trong thời gian xây dựng khoá luận, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của các thầy, các cô trong bộ môn
Điều tra quy hoạch rừng, các phòng ban, cán bộ, nhân dân xã Phú Minh, cùng bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là thầy PGS.TS Vũ Nhâm đã trực tiếp hớng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khoá luận của mình
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các thầy, các cô trong bộ môn Điều tra quy hoạch rừng, các phòng ban, cán bộ và nhân dân xã Phú Minh, cùng bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt
là thầy PGS.TS Vũ Nhâm
Do thời gian có hạn cũng nh trình độ bản thân còn hạn chế và lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học ngoài thực tế sản xuất; vì vậy, bản báo cáo khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong đợc sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khoá luận đợc hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Hà Thị Thu
Trang 3Đặt vấn đề
Đất đai là một loại tài nguyên vô cùng quý giá đối với con ngời Nó là thành phần quan trọng của môi trờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân c và xây dựng các cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của một quốc gia Đất đai là nguồn t liệu đặc biệt không thể thay thế đợc của tất cả các ngành sản xuất xã hội, đặc biệt là ngành sản xuất lâm, nông nghiệp và nó giữ một vị trí hết sức quan trọng đối với các xã nông thôn, miền núi – nơi mà có cuộc sống chủ yếu dựa vào nguồn thu nhập từ sản xuất lâm, nông nghiệp
Trong chiến lợc phát triển đất nớc, nông thôn luôn đợc coi là địa bàn trọng
điểm để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Trên địa bàn
đó, xã đợc coi là đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và
tổ chức sản xuất lâm, nông nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tnhân, quy hoạch sử dụng đất cho xã cần tiến hành chi tiết, cụ thể hơn
Nhng trong những năm gần đây, nông thôn nớc ta đang đứng trớc những thách thức hết sức gay gắt nh: trình độ sản xuất còn lạc hậu, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, môi trờng bị suy thoái, chính những nguyên nhân…
đó đã tác động mạnh mẽ đến tài nguyên đất đai, đặc biệt là tài nguyên đất lâm, nông nghiệp Đứng trớc thực trạng đó, Nhà nớc ta đã ban hành những văn bản pháp luật nhằm quy định rõ về công tác quản lý và sử dụng đất:
Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định tại điều 18: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nớc thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
Tại điều 6 chơng I Luật đất đai năm 2003 quy định: “Quản lý quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nớc về đất đai”
Và Nhà nớc cũng thực hiện nhiều chủ trơng về giao đất, cho thuê, chuyển
đổi mục đích sử dụng đất cho các thành phần kinh tế khác nhau, đã tạo ra một mô hình về sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc, tiến tới quản lý sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững và bảo vệ môi trờng sinh thái
3
Trang 4Nhng trong thực tế, việc triển khai các chính sách của Nhà nớc còn gặp nhiều khó khăn do thiếu cơ sở khoa học, phơng pháp luận cũng nh những kinh nghiệm thực tế Điều đó cho chúng ta thấy vai trò của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong công tác quản lý nhà nớc về đất đai trong giai đoạn phát triển mới của đất nớc Nó không chỉ có ý nghĩa trớc mắt mà còn cả lâu dài bởi vì công tác quy hoạch vừa mang tính định hớng, điều tiết, vừa mang tính pháp lý nhằm quản lý chặt chẽ đất đai, phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng
Xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình là một xã miền núi, trình độ kinh tế, kỹ thuật, dân trí và cơ sở hạ tầng còn thấp Trong xã, lâm, nông nghiệp
là ngành sản xuất chủ yếu, với diện tích đất lâm, nông nghiệp chiếm đại đa số diện tích đất tự nhiên của xã, nhng trong những năm qua việc quản lý và sử dụng
đất tại xã cha đợc quan tâm đúng mức, diện tích đất đồi núi cha sử dụng còn nhiều Vì vậy, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra cho xã Phú Minh là cần tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp trong thời gian tới
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Quy hoạch sử“
dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình”
để góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất cho xã có căn cứ và định hớng phát triển nền lâm, nông nghiệp tổng hợp, đa dạng và nhiều thành phần, nhằm khắc phục những khó khăn, cải thiện và nâng cao đời sống của ngời dân trong xã
Trang 5
Chơng 2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là một ngành có lịch sử hình thành từ rất sớm
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Khái quát chung
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là một chuyên ngành đợc công nhận với lịch sử đợc bắt đầu bằng các quy hoạch vùng ngay từ thế kỷ XVII Theo Olschowy (1975) vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu
Âu đợc xem nh là một lĩnh vực phát triển ở mức cao trên cơ sở có liên quan đến quy hoạch sử dụng đất Những ý tởng của Weber năm 1921 trong tác phẩm
“Hình thành các bang hợp lý” đã mở đầu thời kỳ quy hoạch Nh vậy, đến đầu thế
kỷ XX quy hoạch sử dụng đất chỉ đợc coi là quy hoạch vùng thuần tuý Vậy, việc phân chia đất đai theo địa lý và vùng sản xuất là nền tảng để quy hoạch vùng cho sản xuất lâm, nông nghiệp
Tại Châu Âu, vào những năm 30 – 40 quy hoạch ngành bắt đầu xuất hiện Năm 1946, Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên: “Phân loại đất
đai cho quy hoạch sử dụng đất” Sổ tay hớng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng trong trồng rừng đợc Bộ Nông nghiệp nớc Cộng hoà Zimbabwe xuất bản năm 1964 Từ năm 1967 Hội đồng Nông nghiệp Châu Âu và
tổ chức FAO đã khẳng định quy hoạch vùng nông thôn phải trên cơ sở quy hoạch đất đai Năm 1972 và năm 1975, các chuyên gia t vấn FAO tại Rome (Itali) và Genever (Thụy Sỹ) đẫ đề cập đến các phơng pháp cùng tham gia trong quy hoạch cấp vi mô Vào thời kỳ này, các thuật ngữ nh: quy hoạch địa phơng,
hình thành và đa vào thảo luận trong quy hoạch
2.1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến phơng pháp quy hoạch nông, lâm nghiệp cấp địa phơng.
Theo các nghiên cứu cho rằng: Phơng pháp quy hoạch phát triển địa
ph-ơng có hai cách tiếp cận: tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dới lên Trong đó, cách tiếp cận thứ hai đợc hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng “sự không thể thiếu đợc” vai trò của cộng đồng nông thôn trong quản lý tài nguyên
5
Trang 6cộng đồng (Chambers.1994) và“Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng” bắt đầu xuất hiện
Vào năm 1984, Bohlin đề xuất yêu cầu của hệ thống thông tin và đến năm
1987 các tác giả Lund và Soda đã đa ra hệ thống thông tin cần thiết cho quy hoạch xây dựng rừng một cách hoàn chỉnh Nhiều tác giả nh Staveren (1983), các t vấn đất đai (ILACO) (1985), Dorney (1989) đa ra và hoàn thiện khung dữ liệu cần cho quy hoạch trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên Trớc đó, năm 1975 Vink đã phân thành 6 nhóm dữ liệu chính của tài nguyên đất cần thu thập cho quy hoạch sử dụng đất nh: khí hậu, độ dốc, địa mạo, thổ nhỡng, thuỷ văn đất và tài nguyên nhân tạo (hệ thống tới tiêu, thảm thực vật)
Từ cuối thập kỷ 70, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phát triển các phơng pháp điều tra, đánh giá cùng tham gia nh đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá có sự tham gia của ngời dân (PRA), đ… ợc nghiên cứu rộng rãi Phơng pháp RRA vào thập kỷ 80 và phơng pháp PRA vào thập kỷ 90 đợc thử nghiệm trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch sử dụng đất đợc thực hiện trên 30 nớc phát triển (Chambers.1994) cho thấy u thế của phơng pháp này trong quy hoạch
Năm 1988 Dent và nhiều tác giả đã khái quát quy hoạch sử dụng đất trên
3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện), cấp cộng đồng (xã, thôn)
Theo Purenll năm 1988, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là thiết lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm đạt đ-
ợc các mục tiêu khác nhau để sản xuất quốc gia, cải thiện đời sống, bảo vệ môi trờng, đạt đợc lợi ích xã hội và giải trí
Năm 1990, tổ chức Fao đã xuất bản cuốn “Phát triển hệ thống canh tác (Farming system development) đa ra phơng pháp tiếp cận mới nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững
2.2 ở Việt Nam.
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nớc về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc tái phân bổ quỹ đất, tổ chức sử dụng đất nh một t liệu sản xuất cùng với t liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện để bảo vệ đất và môi trờng Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp thuộc quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai theo ngành lâm, nông nghiệp
Trang 72.2.1 Một số chính sách quan trọng của Nhà nớc có liên quan đến quy hoạch nông, lâm nghiệp cấp xã
Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng tháng 11 năm 1983 nêu rõ:
“Giao đất, giao rừng là cần thiết” Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã chỉ rõ: “Nhà nớc thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”(điều 18) Theo điều 8 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, thì cấp xã là đơn
vị hành chính thấp nhất có nhiệm vụ “điều tra, xác định các loại rừng, phân định ranh giới rừng, đất trồng rừng trên bản đồ và trên thực địa, thống kê, theo dõi diễn biến tình hình rừng, đất trồng rừng, trên địa phơng mình”
Những nội dung của Luật đất đai năm 1993 khẳng định vai trò của cấp xã trong quản lý và sử dụng đất đai tại địa phơng đai và tại điều 17 nội dung về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai quy định trong phạm vi cấp xã là phân định, xác định ranh giới và lập kế hoạch sử dụng các loại đất
Nghị định 64/CP ra ngày 27/3/1993 cũng nói đến vai trò của cấp xã trong việc giao đất nông nghiệp tại điều 8, 12, 15 của quyết định về giao đất nông nghiệp
Ngày 15/4/2991, Tổng cục Địa chính ra thông t số 106/QHKT hớng dẫn quy hoạch sử dụng đất cấp xã với quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp là chủ yếu
Ngày 6/1/1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng Chính phủ)
đã ra quyết định số 364/CT về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến
địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã
Ngày 10/12/2003, Chủ tịch nớc ký lệnh số 23/2003/L/CTN công bố Luật
đất đai, tại điều 13 của luật đã phân loại đất đai theo 3 nhóm: Đất nông nghiệp,
đất phi nông nghiệp và đất cha sử dụng Điều 21 đến điều 30 trong mục 2- chơng
2 đã nêu nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy trình quy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất Mục 2, 3, 4 nêu lên các đặc điểm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và
đất cha sử dụng và đó cũng là tiêu chí để phân loại đất
Luật đất đai năm 2003 và những quyết định, nghị định của Chính phủ là căn cứ cho việc quy hoạch sử dụng đất các cấp
2.2.2 Quan điểm về quy hoạch cấp xã
Trong những năm 90, Luật Bảo vệ và phát triển rừng ra đời (1991), Luật
Đất đai sửa đổi (1993) và đặc biệt là các Nghị định 64 (1993), 02 (1994), 01 (1995) là cơ sở tiền đề cho quy hoạch cấp xã Palmkivist (1992) với nghiên cứu
7
Trang 8của mình về quy hoạch sử dụng sử dụng đất cấp tỉnh và toàn quốc ở Việt Nam
đã đa ra một bức tranh chung về quy hoạch vĩ mô trong tơng lai của Việt Nam và
ông cũng phân biệt rõ đặc điểm khác nhau quy hoạch vĩ mô và quy hoạch cấp xã Nhiều quan điểm cho rằng quy hoạch vĩ mô là quy hoạch phản ánh hiện trạng và phân chia 6 loại đất và 3 loại rừng Các nhà khoa học trong và ngoài nớc cho rằng quan điểm quy hoạch lâm, nông nghiệp cấp địa phơng nên đi theo h-ớng sau:
- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch lâm, nông nghiệp chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng của đất
- Rà soát, xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hớng tới đa mục đích sử dụng đất đai bằng việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch cộng đồng
- Gắn hai quá trình quy hoạch và giao đất, coi đó là hai bộ phận có quan
hệ chặt chẽ làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm, nông nghiệp ở mỗi địa
ph-ơng, cộng đồng
- Nghiên cứu và thử nghiệm phơng pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch, phát riển lâm, nông nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong quy hoạch lâm, nông nghiệp cấp xã
2.2.3 Các nghiên cứu và thử nghiệm liên quan đến quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cấp xã
Nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp cấp xã đợc thực hiện từ năm 1993 tại xã Tử Nê, huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình do dự án đổi mới chiến lợc phát triển lâm nghiệp thực hiện
Chơng trình phát triển nông thôn miền núi giai đoạn 1996 – 2000 trên phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ đã thử nghiệm quy hoạch phát triển lâm, nông nghiệp cấp xã trên cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển cấp thôn và hộ gia đình Theo Bùi Đình Toái và Nguyễn Văn Nam (1998), tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành quy hoạch sử dụng đất, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất theo 3 cấp: xã, thôn và hộ gia đình.Năm 1996, Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phơng pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của ngời dân tại Quảng Ninh và đề xuất 6 nguyên tắc, các
Trang 9bớc cơ bản trong quy hoạch cấp xã đóng góp vào phơng pháp phát triển quy hoạch.
Chơng trình hợp tác Việt – Đức với dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã nghiên cứu, thử nghiệm phơng pháp quy hoạch sử dụng đất và giao
đất lâm nghiệp tại 2 xã của 2 huyện Yên Châu – Sơn La và huyện Tủa Chùa – Lai Châu trên cơ sở hớng dẫn của Chi cục kiểm lâm đã lấy cấp thôn bản làm đơn
vị quy hoạch cho phù hợp với đặc thù của vùng cao
Những năm gần đây, các chơng trình và dự án lâm, nông nghiệp nh
thôn có sự tham gia Về mặt lý luận, một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn Đề,
- Cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng đất cấp xã cha rõ ràng, thực tiễn về quy hoạch cấp xã cha nhiều để tổng kết, đánh giá
Vì vậy, nhiều vấn đề cần đợc quan tâm và từng bớc góp phần hoàn thiện hơn trong nghiên cứu của luận văn
9
Trang 10Chơng 3 Mục tiêu, giới hạn, nội dung, phơng pháp nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
3.1.1 Mục tiêu tổng quát:
Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp bền vững cho xã Phú Minh trong 10 năm tới
3.1.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích những thuận lợi và hạn chế trong việc sử dụng đất lâm, nông nghiệp của xã Phú Minh
-Tìm ra những nguyên nhân tạo ra những thuận lợi và hạn chế đó
-Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cho xã trong thời gian 10 năm.-Dự tính hiệu quả sau khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp
3.2 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp trong phạm vi xã Phú Minh và quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp là chủ yếu
3.2.2 Giới hạn nghiên cứu:
Do giới hạn về thời gian, trình độ bản thân còn hạn chế và thiếu kiến thức chuyên môn nên đề tài chỉ tiến hành quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tài liệu đã có sẵn, kết hợp với điều tra, khảo sát ngoài thực tế để thẩm định và điều chỉnh
3.3 Nội dung tiến hành:
Để đạt đợc mục tiêu đã nêu trên, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung:
3.3.1 Điều tra điều kiện cơ bản của xã Phú Minh
1 Điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã
2 Điều tra, đánh giá tình hình sản xuất lâm, nông nghiệp của xã
3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm, nông nghiệp xã
4.Tình hình sử dụng lâm sản, lơng thực và phân tích thị trờng nông lâm sản
5 Dự báo nhu cầu lâm sản, lơng thực, xã hội, môi trờng trong tơng lai
Trang 113.3.2 Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp xã Phú Minh
1 Xác định phơng hớng, mục tiêu sử dụng đất lâm, nông nghiệp xã
2 Quy hoạch phân bổ sử dụng đất lâm, nông nghiệp xã
3 Quy hoạch các biện pháp sản xuất lâm, nông nghiệp xã
4 Tổng hợp vốn đầu t và nguồn vốn thực hiện quy hoạch sử dụng đất
5 Dự tính hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trờng
6 Các giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp
3.3.3 Phân kỳ kế hoạch thực hiện quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp 3.4 Phơng pháp nghiên cứu:
3.4.1 Thu thập số liệu theo phơng pháp kế thừa:
- Điều tra, thu thập các tài liệu có liên quan theo phơng pháp kế thừa có chọn lọc và tiến hành khảo sát ngoài thực tế tại địa phơng
Các tài liệu có thể kế thừa :
+ Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất lâm, nông nghiệp của xã
+ Bản đồ hiện trạng, bản đồ phân bổ sử dụng đất
+ Các số liệu về thời tiết, khí hậu của địa phơng
+ Thông tin thị trờng tiêu thụ sản phẩm trong địa bàn xã
+ Phơng hớng, đờng lối chính sách, chủ trơng của tỉnh đối với hoạt động
sử dụng đất, hoạt động sản xuất lâm, nông nghiệp
3.4.2 Phơng pháp phỏng vấn:
- Phỏng vấn cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, hộ gia đình theo mẫu biểu
có sẵn (với hộ gia đình tiến hành điều tra 15 hộ) theo mẫu có sẵn (phần phụ biểu)
- Sử dụng phơng pháp đánh giá có sự tham gia của ngời dân (PRA) để biết đợc nhu cầu về gỗ, củi, và đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa phơng
3.4.3 Phơng pháp điều tra các chuyên đề:
+ Điều tra sản lợng, diện tích, trữ lợng gỗ, củi
+ Điều tra các chuyên đề về nhu cầu gỗ củi
+ Trên mỗi trạng thái rừng lập 1 OTC có diện tích 500m2
11
Trang 12+ Các thông tin về cây trồng, năng suất và sản lợng cây trồng của xã, thông tin về khuyến nông, khuyến lâm, tình hình sâu bệnh hại…
3.4.4 Phơng pháp tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả sau khi thực hiện kế hoạch
Trên cơ sở tài liệu, số liệu đã khảo sát ở các bớc thu thập số liệu, tiến hành chỉnh lý, tổng hợp và phân tích các mặt:
- Phân tích đánh giá điều kiện sản xuất lâm, nông nghiệp
- Bổ sung và hoàn thiện bản đồ
- Xây dựng phơng án quy hoạch sử dụng đất
- Tính toán một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế sau khi thực hiện kế hoạch
Sử dụng phơng pháp có sự trợ giúp của máy tính điện tử với phần mềm Excel:
Trong sản xuất kinh doanh, chúng ta coi các yếu tố về chi phí và kết quả
có, mối quan hệ động với mục tiêu đầu t, thời gian và giá trị đồng tiền Các chỉ tiêu đợc tổng hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, IRR trong chơng trình Excel
+ Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: là hiệu số giữa thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình kinh tế khi đã tính chiết khấu để
r
C B NPV
0 ( 1 ) (2)
Trong đó: NPV là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)
Ct là giá trị chi phí ở năm thứ t (đồng)
r là tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất
t là thời gian thực hiện các sản xuất (năm)
Trang 13NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phơng thức canh tác NPV càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR: là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn
đầu t có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là khi
0 )
1 (0
= +
Ct r
Bt BCR n
)1(
(4)
Trong đó: BCR là tỷ lệ thu nhập và chi phí (đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Nếu BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngợc lại thì kinh doanh không có hiệu quả
3.4.5 Phơng pháp tính dân số và số hộ trong tơng lai
- Dân số:
n V P N
.
No
Nt Ho
Ht = (6)
Trong đó: Nt là số dân dự đoán Ht là số hộ trong tơng lai
P là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Ho là số hộ hiện tại
Trang 14dung nghiên cứu và phơng pháp nghiên cứu đối với từng nội dung đó và đợc thể
hiện qua khung logic nghiên cứu sau:
3.5 Khung logic nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp bền vững
cho xã Phú Minh trong 10 năm tới
- Thu thập số liệu theo phơng pháp kế thừa
- Phơng pháp tính dân
số và số hộ trong tơng lai
- Sử dụng các phơng pháp ớc tính
- Thu thập đợc toàn bộ những tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
- Tình hình sử dụng lâm sản, lơng thực và phân tích thị trờng nông lâm sản
- Dự báo nhu cầu lâm sản, lơng thực, xã hội, môi trờng xã trong tơng lai
- Phơng pháp phỏng vấn có định hớng và bán định hớng Phơng pháp SWOT, 5Whys
đối với quá trình phát triển lâm, nông nghiệp của xã làm cơ sở cho quy hoạch
h-đất lâm, nông nghiệp của xã
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất lâm, nông nghiệp
- Quy hoạch các biện
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích số liệu
- Vẽ, bổ sung hoàn thiện bản đồ với sự trợ giúp của phần mềm Mapinfo
- Phơng pháp điều tra chuyên đề
- Xây dựng đợc phơng án quy hoạch lâm, nông nghiệp cho xã
- Xây dựng kế hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp một cách hợp lý
Trang 15pháp sản xuất lâm, nông nghiệp xã.
- Tổng hợp vốn đầu t và nguồn vốn thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Sử dụng các định mức kinh tế, kỹ thuật
- Đa ra đợc những giải pháp nhằm thực thi phơng án một cách có hiệu quả
- Dự tính hiệu
quả sau khi thực
hiện quy hoạch
sử dụng đất lâm,
nông nghiệp
- Dự tính hiệu quả kinh
tế, xã hội, môi trờng
- Các giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng
đất lâm, nông nghiệp
- Sử dụng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật và kết hợp với phần mềm máy tính điện tử
- Tính toán đợc hiệu quả về mặt kinh tế với một số loài cây trồng chính
15
Trang 16Chơng 4 Kết quả nghiên cứu 4.1 Điều tra điều kiện cơ bản của xã
4.1.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Phú Minh
4.1.1.1 Lịch sử hình thành xã Phú Minh.
Xã Phú Minh trớc đây là xã Tuý Cố gồm 2 xã Tuý Cổ Thợng (xã Hợp Thịnh), Tuý Cổ Hạ (xã Phú Minh) Ngày 12 và 13/9/1945, hai xã đã giành đợc chính quyền cách mạng về tay nhân dân
Tháng 10 năm 1948, đợc sát nhập 3 xã Tuý Cổ Thợng, Tuý Cổ Hạ và xã Mại Thôn thành xã Phú Cờng
Sau khi giành đợc chính quyền, nhân dân trong xã đã tích cực tham gia sản xuất và từ năm 1947 đến năm 1954, trong toàn xã đã khai hoang đợc 80 ha ruộng, nên đã khắc phụ đợc nạn đói và có lơng thực để đóng góp cho kháng chiến
Tháng 12 năm 1955, xã Phú Cờng đợc tách thành 3 xã: Phú Minh, Hợp Thịnh và xã Hợp Thành Xã Phú Minh đợc hình thành và phát triển từ đó đến nay
Xã Phú Minh có 42,9 ha rừng tự nhiên tái sinh, còn lại là đất trống đồi núi trọc Từ năm 1991, Đảng bộ, nhân dân và lực lợng vũ trang nhân dân xã Phú Minh thực hiện cách mạng xanh”, nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc Theo
dự án PAM là 70 ha (1991) và 150 ha (1992) Thực hiện tốt công tác khoán rừng, trồng rừng theo dự án 327, dự án rừng phòng hộ và dự án trồng rừng nguyên liệu
từ năm 1998
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2152,28 ha Dân số thời kỳ chống Pháp
có 936 ngời, hiện nay có 2394 ngời, với 3 dân tộc anh em cùng chung sống, vói dân tộc Mờng chiếm đa số 82%
Hiện nay xã có 6 xóm: Quốc, Mom, Bu Chằm, Vật Lại, Đồng Bài và Phú Châu Trong đó, có 2 xóm đạt danh hiệu xóm văn hoá và 12 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá cấp huyện, 400/491 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá cấp xã
Trong xã, 100% số hộ có phơng tiện nghe nhìn, 35% số hộ có xe máy, 95% số hộ có điện lới quốc gia, bu điện văn hoá xã và trụ sở là việc của Đảng
Trang 17uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND đợc xây dựng kiên cố Có 75% số hộ có nhà mái bằng và nhà cấp 4
4.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Xã Phú Minh là xã nằm về phía Bắc của huyện Kỳ Sơn, cách trung tâm huyện 15 km, có vị trí địa lý nh sau:
- Phía Đông giáp xã Yên Sơn, huyện Lơng Sơn
- Phía Tây giáp xã Hợp Thịnh, huyện Kỳ Sơn
- Phía Nam giáp xã Hợp Thành, huyện Kỳ Sơn
- Phía Bắc giáp xã Khánh Thợng, Yên Bài, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
b Đặc điểm địa hình, địa thế:
Phú Minh là xã có địa hình thấp dần từ Đông sang Tây Độ cao trung bình
từ 250m đến 300m, cao nhất là 725m Phía Tây địa hình bằng phẳng hơn, nơi
đây là nơi tập trung chủ yếu dân c và diện tích đất canh tác nông nghiệp của xã Phía Đông Bắc và phía Tây Nam chủ yếu là đồi núi xen kẽ, địa hình phức tạp hơn nên phát triển lâm nghiệp là một thế mạnh của xã
c Đặc điểm khí hậu:
Phú Minh chịu ảnh hởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên mùa hè nóng
ẩm, ma nhiều, mùa đông khô và lạnh
nóng nhất là tháng 6 với nhiệt độ không khí từ 270C đến 29,50C, tháng có nhiệt
độ thấp nhất là tháng 1 với nhiệt độ không khí từ 14,50C đến 15,50C
Lợng ma trung bình hàng năm từ 1900mm đến 2200mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 và 9, chiếm tới 80% lợng ma cả năm
Độ ẩm không khí trung bình đạt 85%, cao nhất đạt 90% chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9, thấp nhất là 60% tập trung vào các tháng 10, 11, 12
Hớng gió chủ đạo là hớng Đông Bắc, Đông Nam Ngoài ra, còn chịu ảnh hởng của gió Tây Nam nóng và khô ảnh hởng tới sản xuất nông nghiệp
d Thuỷ văn, nguồn nớc
Thuỷ văn của xã Phú Minh chịu ảnh hởng của hai hệ thống suối chính và nhiều nhánh suối nhỏ, đó là suối Trại Khoai và suối Đồi Bi, ngoài ra còn ảnh h-ởng của lu lợng nớc hồ Đầm Bài Vào mùa ma, lợng ma nhiều nên lu lợng nớc ở các suối lớn gây ra hiện tợng lũ lụt cục bộ, ảnh hởng đến sản xuất nông nghiệp
17
Trang 18e Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Xã Phú Minh với tổng diện tích tự nhiên là 2152,28 ha, với các loại đất:
- Mặt nớc và sông suối có diện tích 70 ha, chiếm 3,3% diện tích tự nhiên
- Đất phù sa đựơc bồi đắp với diện tích khoảng 73 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên Loại đất này thờng đợc sử dụng để trồng lúa
- Đất Feralit đỏ vàng biến đổi do trồng lúa với diện tích khoảng 110,3 ha, chiếm 4,7% diện tích tự nhiên và chủ yếu trồng lúa, mầu
- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét và đá biến chất với diện tích khoảng 1582
ha, chiếm 73,5% diện tích tự nhiên
Các loại đất khác chiếm 15,1%
* Tài nguyên rừng
diện tích tự nhiên toàn xã, trong đó rừng tự nhiên có diện tích là 42,9 ha, rừng trồng có diện tích 733,33ha Thảm thực vật rừng tự nhiên hạn chế về số lợng cũng nh chủng loại, rừng trồng chủ yếu là một số loại cây trồng chủ yếu nh Keo, Muồng,…
* Tài nguyên nhân văn
Dân số toàn xã có 2394 ngời, trong đó ngời Mờng chiếm đa số với 1963 ngời, chiếm 82% tổng dân số xã, ngời Kinh có 429 ngời, chiếm 17,92% dân số xã, ngời Tày với 2 ngời chiếm 0,08% Dới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, UBND xã, bà con nhân dân trong xã sống hoà thuận, cùng nhau làm ăn, sinh sống
4.1.1.3 Điều kiện kinh tế
Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế huyện Kỳ Sơn, nền kinh tế xã Phú Minh cũng có nhiều chuyển biến tích cực Tăng trởng kinh tế những năm gần đây đều đạt tốc độ khá từ 7- 8%, tổng giá trị sản phẩm của xã năm 2004 đạt 10,29 tỷ đồng Trong đó nông, lâm nghiệp chiếm 95% tổng giá trị sản phẩm, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thơng mại chiếm 5% tổng giá trị sản phẩm Thu nhập bình quân đầu ngời năm 2004 đạt 4,3 triệu
đồng
Nhận xét: Nền kinh tế của xã Phú Minh tuy đã phát triển đáp ứng đợc
phần nào nhu cầu của ngời dân Song bên cạnh đó do cơ cấu nền kinh tế còn cha cân đối, phù hợp với tiềm năng của vùng nên cha phát huy đợc khả năng của
Trang 19mình Trong những năm tới cán bộ xã cần có những chủ trơng, kế hoạch cụ thể
để chuyển biến nền kinh tế chủ yếu là sản xuất lâm, nông nghiệp sang nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, bắt kịp cùng với sự phát triển của các xã trong khu vực huyện và sự phát triển chung của đất nớc
4.1.1.4 Điều kiện xã hội
Năm 2004, tổng số lao động của xã là 1220 ngời Trong đó, lao động nam
là 586 ngời, lao động nữ là 634 ngời Trong tổng số lao động toàn xã, lao động nông nghiệp là 2322 ngời, chiếm 97% tổng số lao động toàn xã, lao động phi nông nghiệp là 72 ngời, chiếm 3% tổng số lao động toàn xã Hiện nay trên địa bàn xã ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với đặc trng mang tính thời
vụ nên vấn đề d thừa lao động trong những tháng nông nhàn là phổ biến
b Dự tính dân số trong tơng lai đến năm 2015:
Dân số trong tơng lai của xã đợc tính toán theo công thức (7)
Với tốc độ tăng dân số nh hiện nay của xã thì đến năm 2015 dân số trong
100
08,076,01.2394
Trang 20Mạng lới giao thông của xã phân bố tơng đối đều giữa các xóm, tuy nhiên
đa số các tuyến đờng là đờng đất Hiện tại, toàn bộ các đoạn đờng đều có kết cấu
bề mặt là đờng đất, nhiều đoạn đờng xuống cấp nên việc đi lại rất khó khăn nhất
là vào mùa ma Trong xã có các tuyến đờng giao thông chính:
Tuyến đờng xóm Quốc – Vật Lại dài 5 km, rộng 7m, xóm Bu Chằm – Phú Châu dài 3 km, rộng 6m, xóm Quốc - Đồng Bìa dài 1,2 km, rộng 5m, xóm Mom dài 3km, rộng 8m, xóm Đồng Bài dài 3,7 km, rộng 5m, xóm Quốc dài 1,4 km, rộng 5m, xóm Phú Châu dài 0,5 km, rộng 4m
Ngoài các tuyến đờng chính kể trên, còn phải kể đến các tuyến đờng nhánh, đờng nội đồng, đờng lâm nghiệp, tuy độ rộng không lớn nh… ng cũng góp phần vào việc đi lại của ngời dân trong xã
Trang 21Năm 2004, xã thực hiện sửa chữa đợc 16 km đờng, rải đá cấp phối đợc 100m, rải nhựa 925m, xây dựng mới một cầu bê tông, sửa chữa 11 cống thoát n-ớc.
- Mạng lới điện và bu chính viễn thông:
Hiện tại toàn xã có hai trạm biến áp đặt tại xóm Mom và xóm Quốc cung cấp điện phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của 95% tổng số hộ toàn xã Trong xã, có 5/6 xóm có điện sản xuất và sinh hoạt, hiện tại xóm Vật Lại cha có
điện do trớc đây họ có sử dụng nguồn nớc ở con suối chảy qua xóm để sản xuất
điện nhng hiện nay suối không đủ nớc nên họ không có điện dùng
Mạng lới bu chính viễn thông trong xã cũng đợc quan tâm với sự hoạt
động của điểm văn hoá xã, mạng lới điện thoại đã và đang đợc xây dựng từng
b-ớc và đa vào sử dụng Các phơng tiện nghe nhìn khác nhìn chung đã đáp ứng đợc nhu cầu thông tin nhanh nhạy, kịp thời, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của ngời dân Hiện tại, trong xã đã xây dựng đợc trạm truyền phát thông tin đặt tại xóm
Bu Chằm nhằm nâng cao khả năng cung cấp thông tin đến mọi ngời dân
- Các công trình xây dựng cơ bản, văn hoá phúc lợi:
Các công trình xây dựng cơ bản chính của xã đều đợc bố trí ở các vị trí hợp lý, diện tích đảm bảo Tuy nhiên, còn một số công trình xây dựng đã lâu, trong tơng lai cần từng bớc nâng cấp, xây dựng mới cho phù hợp với sự phát triển chung của xã hội
Hiện tại, xã Phú Minh có trụ sở UBND xã đặt tại xóm Quốc với diện tích 0,1ha nhà xây kiên cố 2 tầng, trạm y tế xã với diện tích 0,3 ha
Hệ thống trờng học trong xã với 3 cấp học: mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Năm 1991, bằng nguồn vốn của Nhà nớc và nhân dân cùng làm, đến nay hệ thống trờng học các cấp đều đợc xây dựng kiên cố, đẹp Bên cạnh đó, vẫn
21
Trang 22còn một vài cơ sở cha xây dựng đợc cơ bản vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu của
ng-ời dân trong xã
Xã Phú Minh có một sân thể thao nhỏ với diện tích 0.38 ha, xóm Đồng Bài còn có một sân bóng chuyền với diện tích 0,12 ha, đã góp phần đáp ứng nhu cầu thể dục, thể thao trong xã
d Thu nhập và đời sống của nhân dân trong xã:
Nguồn thu nhập của các hộ gia đình trong xã chủ yếu là từ sản phẩm nông nghiệp, với bình quân đầu ngời là 4,3 triệu đồng/ngời/năm Theo kết quả điều tra của xã thực trạng đời sống của nhân dân trong xã đợc thể hiện ở bảng sau:
Biểu 01: Thực trạng thu nhập và đời sống của nhân dân xã Phú Minh
Qua bảng trên cho thấy: Đến nay trên địa bàn xã đã không còn hộ đói
nh-ng tỷ lệ hộ nh-nghèo còn khá cao, chiếm 11,81%, tronh-ng khi đó tỷ lệ hộ khá, hộ giầu còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của xã Nguyên nhân chính của tình trạng
đó là do trình độ tiếp cận với khoa học kỹ thuật, thị trờng của nhân dân còn hạn chế, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên hiệu quả kinh tế cha cao
Nhận xét về điều kiện kinh tế xã hội của xã:–
Phú Minh trong những năm gần đây đã có những bớc tiến quan trọng, các lĩnh vực kinh tế đều tăng trởng đáng kể mặc dù cơ cấu kinh tế còn cha cân đối Trong xã vẫn còn một số hộ gia đình gặp nhiều khó khăn, số hộ nghèo trong xã vẫn chiếm tỷ lệ cao, cơ sở hạ tầng tuy có phát triển nhng vẫn ở mức thấp, cha
đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu của ngời dân Trong những năm tới cần biết tận dụng những thế mạnh của xã để chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm hộ nghèo, đa nền kinh tế phát triển đi lên
Trang 234.1.2 Tình hình sản xuất kinh doanh lâm, nông nghiệp
đợc rất nhiều Hàng năm , diện tích rừng trồng mới cũng nh rừng tái sinh tăng lên rõ rệt Đến hết năm 2004, tổng diện tích đất trồng mới là 105,7ha rừng theo các dự án, chăm sóc 200ha rừng trồng năm thứ 2 và thứ 3, thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ rừng UBND xã thực hiện quy chế dân chủ, mỗi xóm đều phải có một bản quy ớc về bảo vệ và phát triển rừng do nhân dân họp bàn và xây dựng lên Tổng diện tích rừng hiện có toàn xã là 776,23ha, trong đó rừng tự nhiên là 42,9ha, rừng trồng là 733,33ha Nhng nhìn chung cho đến nay sự phát triển còn rất chậm, chất lợng rừng thấp, nhiều diện tích vẫn còn trảng cỏ, cây bụi, tre nứa Các diện tích này đã đợc giao khoán đến các hộ gia đình, song do thiếu nguồn vốn, kỹ thuật mà đến nay diện tích đất trống vẫn còn 873,52ha Thu nhập từ rừng chủ yếu vẫn là củi làm chất đốt, còn thu nhập gỗ là không đáng kể
4.1.2.2 Sản xuất nông nghiệp:
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của xã Phú Minh Trong những năm vừa qua, diện tích gieo trồng và sản lợng tăng lên đáng kể
a Trồng trọt:
hoạch, tăng 9,16% so với năm 2003, cụ thể:
+ Cây lúa là 298ha đạt 99,76% kế hoạch, tăng 4,2% Năng suất bình quân
đạt 40 tạ/ha đạt 84% so với kế hoạch, tăng 0,25% Sản lợng 1.205 tấn đạt 84%
so với kế hoạch, tăng 5,4% so với năm 2003
+ Cây ngô có diện tích là 52,6ha đạt 146% kế hoạch, tăng 57% so với Năng suất bình quân đạt 32 tạ/ha đạt 91% so với kế hoạch, tăng 6% Sản lợng
165 tấn đạt 137% so với kế hoạch, tăng 64% so với năm 2003
Ngoài ra, còn có các loại cây lơng thực ngắn ngày khác nh: khoai lang, sắn, đậu tơng, đã góp phần nâng cao tổng sản l… ợng cây lơng thực có hạt lên
23
Trang 241.370 tấn, đạt 88,2% kế hoạch, tăng 10% so với năm 2003 Song bên cạnh đó, diện tích đất vờn tạp toàn xã là 98,02ha nhng hiệu quả kinh tế còn thấp Trong những năm tới cần đầu t, cải tạo diện tích đất vờn tạp, hình thành các vờn chuyên canh nhằm tăng thu nhập cho ngời dân.
Với kết quả đó, sản phẩm của ngành nông nghiệp không những đáp ứng
đủ nhu cầu của ngời dân trong xã, mà còn cung cấp ra thị trờng khu vực một ợng đáng kể, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của địa phơng cũng nh trong khu vực theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
l-c Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:
Phú Minh là một xã mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu sản phẩm xã hội, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ của xã còn chậm phát triển Trên địa bàn của xã hiện có một số cơ sở tiểu thủ công nghiệp nh: đồ mộc, sản xuất gạch, xay sát lúa gạo, phần đông còn lại là các điểm buôn bán nhỏ lẻ Tất cả các cơ sở trên đều do các hộ gia đình tự quản lý và tổ chức sản xuất nên hoạt động còn hạn chế, cha đóng góp đáng kể vào cơ cấu nền kinh tế của xã
Nhận xét về tình hình sản xuất lâm, nông nghiệp
Nền kinh tế của xã Phú Minh mà chủ yếu là nền sản xuất lâm, nông nghiệp trong những năm vừa qua đã có nhiều tiến bộ và từng bớc phát triển vững chắc, góp phần vào sự thay đổi toàn xã Sản xuất nông nghiệp đã chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, đã mạnh dạn đa các giống mới, chất lợng tốt, năng suất cao vào sản xuất
Sản xuất lâm nghệp tuy mới chỉ đáp ứng đợc nhu cầu gỗ củi của ngời dân trong xã, song trong những năm tới với những chủ trơng, chính sách hợp lý của Nhà nớc và kế hoạch cụ thể của xã sẽ thu hút đợc ngời dân tham gia vào nghề
Trang 25rừng, mở rộng nhiều mô hình nông lâm kết hợp, phát triển mô hình nuôi ong,… góp phần nâng cao tỷ trọng ngành lâm nghiệp trong nền kinh tế của xã.
4.1.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản của xã
Qua phân tích những điều kiện cơ bản của xã ta rút ra đợc những điểm thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển sản xuất lâm, nông nghiệp nh:
a Thuận lợi:
- Phú Minh là một xã có điều kiện đất đai phong phú với một quỹ đất lớn,
điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm, nông nghiệp Nguồn lao
động dồi dào, ngời lao động có truyền thống cần cù, chịu khó, tính sáng tạo cao Ngời dân trong xã tuy khác nhau về dân tộc nhng sống hoà thuận
- Xã có hai hệ thông suối chính và nhiều nhánh suối nhỏ chảy bao quanh các quả đồi tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch sinh thái trong tơng lai
- Xã có địa hình thuận lợi cho sự phát triển sản xuất lâm nghiệp - một ngành đang đợc Việt Nam và cả Thế giới quan tâm chú ý đầu t, phát triển
- Kinh nghiệm sản xuất của các hộ đợc truyền qua nhiều năm theo phơng thức sản xuất cũ nên khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gặp nhiều khó khăn, cộng với trình độ dân trí còn thấp nên năng suất mang lại cha cao
- Một số diện tích đất nông nghiệp xung quanh hai con suối vẫn còn hiện tợng lụt cục bộ về mùa ma, cần có biện pháp khắc phục trong thời gian tới
Để khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi một cách tối đa thì xã phải biết kết hợp hài hoà những tiềm năng vốn có của xã, sự đồng tình ủng
hộ của nhân dân, sự hỗ trợ giúp đỡ của các vùng lân cận và những chính sách u
đãi của Nhà nớc, thu hút các dự án trong và ngoài nớc để không ngừng phát huy thế mạnh các nguồn lực, đa nền kinh tế xã Phú Minh bắt kịp với nền kinh tế chung của đất nớc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
25
Trang 26Từ việc phân tích các điều kiện cơ bản trên của xã ảnh hởng đến việc sử dụng đất lâm, nông nghiệp, ta cần đi vào xem xét hiện trạng sử dụng đất của xã, nhằm đánh giá những mặt đợc và cha đợc trong việc sử dụng và phân bổ đất đai trên địa bàn xã, biết đợc nguyên nhân, từ đó đa ra đợc phơng án sử dụng đất có hiệu quả nhất.
4.1.3 Hiện trạng sử dụng đất của xã
4.1.3.1 Tình hình quản lý đất của xã
- Trớc khi có Luật đất đai năm 1993, công tác quản lý đất đai của xã cha thực sự đợc quan tâm chú trọng, cán bộ đất đai cha đợc đào tạo chuyên môn, vì thế công tác quản lý đất đai gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên công tác quản lý
đất đai của xã cũng xây dựng đợc bản đồ giải thửa và hệ thống số liệu đất đai năm1989 Thực hiện tốt công tác giao khoán đất cho các hộ gia đình để sản xuất nông nghiệp
- Từ sau khi có Luật đất đai năm 1993, công tác quản lý Nhà nớc về đất
đai đã có sự chuyển biến tích cực, các nội dung của công tác quản lý đất đai đợc thực hiện tơng đối tốt Năm 1994, đã tiến hành hoạch định đờng ranh giới xã, xác định lại diện tích, cắm mốc địa giới, ổn định phạm vi quản lý và sử dụng đất trên xã Năm 1997, đã thành lập đợc bản đồ địa chính ở xã Thực hiện chỉ thị 245/CP về công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm
2004 toàn xã đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ c cho 301 hộ, 334 bìa đất nông nghiệp, cấp mới 60 bìa, cấp tách 11 bìa đất thổ c
- Hàng năm xã đều tiến hành thống kê biến động đất đai, tổng kiểm kê toàn bộ diện tích các loại đất trên địa bàn xã, đồng thời xây dựng đợc bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/10.000
4.1.3.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Minh
Diện tích và cơ cấu đất sử dụng của xã đợc thống kê theo Luật đất đai ban hành ngày 10/12/2003 của Thủ tớng Chính phủ với 3 nhóm đất chính ( nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất cha sử dụng) và Luật bảo vệ và phát triển rừng tháng 12/2004 Theo thống kê của Phòng địa chính, Phú Minh có tổng diện tích
đất tự nhiên là 2152,28 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1075,04 ha chiếm 49,95% tổng diện tích tự nhiên, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có rừng
là 776,23 ha chiếm 36,07% tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp là 298,81 ha chiếm 13,88% tổng diện tích đất tự nhiên của xã Diện tích
đất phi nông nghiệp là 95,1 ha chiếm 4,42% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó
Trang 27diện tích đất thổ c là 17,91 ha chiếm 0,83% tổng diện tích đất tự nhiên và các loại đất (đất xây dựng, đất thuỷ lợi và mặt nớc chuyên dùng, đất giao thông, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất làm nguyên, vật liệu xây dựng, đất phi nông nghiệp khác) có diện tích là 77,19 ha chiếm 3,59% tổng diện tích đất tự nhiên và diện tích đất cha sử dụng là 982,14 ha chiếm 45,63% tổng diện tích đất tự nhiên Kết quả đợc thể hiện trong Biểu hiện trạng sử dụng đất của xã năm 2005 sau:
Biểu 02: Hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Minh năm 2005
Chi tiết hiện trạng các loại đất đợc thể hiện trong phụ biểu 01
Cùng với Biểu hiện trạng đất năm 2005 là Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xã, để thấy rõ đợc sự phân bổ các loại đất trên địa bàn xã
27
Trang 28a Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp.
Qua Biểu hiện trạng sử dụng đất của xã Phú Minh cho thấy: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 776,23 ha chiếm 36,07% tổng diện tích đất tự nhiên và diện tích đất đồi núi cha sử dụng là 873,52 ha chiếm 40,59% tổng diện tích đất tự nhiên Qua đó chứng tỏ quỹ đất lâm nghiệp của xã là rất lớn Trong những năm gần đây, cùng với xu thế phát triển mạnh của lâm nghiệp xã hội, diện tích đất lâm nghiệp đã đợc giao khoán cho từng hộ gia đình, tổ chức kinh
tế, đơn vị chủ thể, UBND xã, đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trờng sinh thái, giữ nớc đầu nguồn và tạo nên cảnh quan vùng đồi núi
Trên địa bàn xã hiện nay đang thực hiện các dự án trồng rừng nguyên liệu, rừng phòng hộ và đến hết năm 2005 đã trồng đợc trên 700 ha
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng tháng 12/2004, căn cứ vào mục đích
sử dụng chủ yếu, rừng đợc phân thành 3 loại ( rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng đặc dụng), số liệu 3 loại rừng trên địa bàn xã đợc thống kê theo bảng sau:
Biểu 03: Phân loại rừng theo mục đích sử dụng trên địa bàn xã.
Trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp có rừng thì rừng trồng chiếm u thế với các loài cây chủ yếu là: Keo, Keo xen Muồng Đây là những diện tích rừng trồng theo dự án PAM, dự án 747, dự án 661, dự án trồng rừng nguyên liệu, những diện tích này phân bố đều trên toàn diện tích của xã
Gắn với chủ trơng của Nhà nớc về giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế khác nhau, diện tích đất lâm nghiệp có rừng đã có chủ và cả những diện
Trang 29tích đất đồi núi cha sử dụng cũng cơ bản có chủ, trong những năm tới diện tích
đất trống đó đợc đa vào sản xuất với nhiều hình thức khác nhau hình thành một nền sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc
Bằng phơng pháp lập ÔTC 500m2 và tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trởng: Hvn, D1.3 và số cây, kết quả điều tra đợc thống kê theo bảng sau:
Biểu 04: Biểu thống kê diện tích, trữ lợng rừng sản xuất:
ST
3 1
Từ biểu trên cho thấy, rừng trồng với các loài cây khác nhau, phơng thức trồng khác nhau, thì khả năng sinh trởng của các loại rừng trồng là khác nhau Trong các loại rừng có trên địa bàn xã thì Keo là có sức sinh trởng mạnh nhất,
có khả năng bảo vệ, cải tạo đất và hiện nay Keo đợc chọn để trồng nhiều trên địa bàn xã Mô hình trồng Keo xen với Muồng với mục đích là phòng hộ cũng phần nào mang lại hiệu quả, hình thức này vừa tận dụng tối đa đợc tiềm năng sẵn có của đất, vừa có tác dụng cải tạo đất Nhng thực tế, sức sinh trởng của Muồng có nhiều hạn chế
Rừng tự nhiên của xã chiếm một diện tích nhỏ với 42,9 ha, chiếm 1,99% Trong đó, 36,58 ha rừng sản xuất, 6,32 ha rừng phòng hộ Trên diện tích rừng phòng hộ tổ thành loài cây rất hạn chế, trữ lợng không đáng kể (trạng thái IIA), với các loài chủ yếu là: Dẻ, Sồi, cùng với lớp cây tái sinh th… a thớt, tuy nhiên khả năng tái sinh của các loài này là rất kém do chúng bị ảnh hởng bởi cây bụi, dây leo và các hoạt động khai thác chất đốt, lấy cây làm thuốc của ngời dân trong khu vực Vì vậy, trong những năm tới cần có biện pháp trồng bổ sung các loài cây có giá trị kinh tế và phòng hộ nhằm làm tăng độ che phủ của rừng Còn lại, một phần lớn diện tích rừng tự nhiên (36,58 ha) đã đợc đa vào trồng mới thành rừng sản xuất
Tuy nhiên, do tiềm lực của nhân dân cha đủ mạnh để chủ động hoàn toàn khai thác thế mạnh của rừng, vì vậy diện tích đất đồi núi cha sử dụng còn nhiều
29
Trang 30với 873,52 ha Mặc dù diện tích này đã đợc giao khoán cho ngời dân theo Nghị
định 02/CP của Chính phủ theo mục đích sử dụng là trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ, nhng do ngời dân thiếu vốn, giống và kỹ thuật nên hầu hết diện tích này đều ở trạng thái Ib, cây trồng còn đơn điệu về chủng loại, cha đi đôi giữa khai thác sử dụng đất với bảo vệ và làm giầu cho đất Điều đó dẫn đến tình trạng
đất đai dần bị thoái hoá, nghèo kiệt dinh dỡng, xói mòn rửa trôi mạnh và hiệu quả sử dụng đất ngày một suy giảm Do vậy, để sử dụng tốt nguồn tài nguyên này, trong những năm tới diện tích đất đồi núi cha sử dụng cần đợc đa vào trồng rừng hoặc chuyển sang trồng cây lâu năm, nhằm phát huy đợc tiềm năng đất đai
và khả năng vốn có của ngời dân
b Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Tổng diện tích đất nông nghiệp toàn xã là 298,81 ha chiếm 13,88% tổng diện tích tự nhiên của xã Bình quân đất nông nghệp là 1248,16 m2/ngời Trong
đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng năm là 198,89 ha, chiếm 66,56% tổng diện tích đất nông nghiệp với diện tích trồng lúa và lúa mầu là 187,09 ha chiếm 8,69% tổng diện tích tự nhiên (ruộng 2 vụ là 50,33 ha; ruộng 1 vụ là 134,78 ha
và đất chuyên mạ là 1,98 ha), đất nơng rẫy là 2,77 ha và đất trồng cây hàng năm khác là 9,03 ha Trên diện tích đất nông nghiệp dó chủ yếu trồng các loài cây nh: lúa, ngô, khoai, sắn, đây là diện tích trực tiếp sản xuất ra l… ơng thực cho ng-
ời dân trong xã Hiện nay, trên địa bàn xã cha có diện tích cho chăn nuôi
Diện tích đất vờn tạp là 98,02 ha chiếm 32,8% tổng diện tích đất nông nghiệp, trên đó có nhiều loài cây trồng khác nhau nhng hiệu quả kinh tế mang lại thấp Trong tơng lai cần đợc đầu t, cải tạo để hình thành các vờn cây chuyên canh, có hiệu quả kinh tế cao góp phần tăng thu nhập cho ngời dân
Đất có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản là 1,9 ha, chiếm 0,64% diện tích đất nông nghiệp với đa phần là các ao có quy mô nhỏ của các hộ gia đình dùng để nuôi cá thịt nhằm cung cấp thực phẩm, còn lại là của xóm giao cho nhóm hộ gia
đình quản lý Trong những năm tới cần mở rộng diện tích này để vừa nâng cao thu nhập cho ngời dân, cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ của ngời dân và thị tr-ờng lân cận Mặt khác, diện tích này cũng là nơi dự trữ nớc cho các cánh đồng lúa, lúa mầu, góp phần đảm bảo đủ lợng nớc cho sản xuất nông nghiệp
Từ kết quả trên cho thấy, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã hiện nay cha cao, sản xuất chủ yếu vẫn tập trung vào cây lơng thực mà cha chú ý vào phát triển các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế và hàng hoá nh: các loại rau,
Trang 31Đỗ tơng, Lạc, cây công nghiệp và một số loại cây ăn quả phù hợp với điều kiện
quy hoạch cụ thể nhằm tận dụng tối đa tiềm năng vốn có của xã, nâng cao đời sống nhân dân và đẩy mạnh mở rộng thị trờng nông lâm sản Để biết đợc khả năng phát triển của hàng hoá nông lâm sản của xã trên thị trờng ta đi vào xem xét tình hình thị trờng nông lâm sản trên địa bàn xã và khu vực
c Đất cha sử dụng
Hiện nay, trên địa bàn xã diện tích đất cha sử dụng còn một diện tích lớn 982,14 ha chiếm 45,63% tổng diện tích đất tự nhiên của xã Trong đó, chủ yếu
là đất đồi núi cha sử dụng với 873,52ha, còn lại là các laọi đất cha sử dụng khác nh: Đất bằng cha sử dụng, đất có mặt nớc cha sử dụng và đất cha sử dụng khác
Nhận xét chung
Từ những kết quả đã phân tích đề tài có những đánh giá chung về tiềm năng đất đai của địa phơng và những cơ hội và thách thức trong tơng lai với việc
sử dụng đất trên địa bàn xã nh:
Nhìn chung tiềm năng đất đai phục vụ cho hoạt động sản xuất lâm, nông nghiệp của xã Phú Minh là khá lớn Ngoài diện tích hiện đang canh tác, xã Phú Minh còn 873,52 ha đất đồi núi, 25,8 ha đất bằng cha sử dụng, 37,93 ha đất mặt nớc và 16,88 ha đất cha sử dụng khác đây thực sự là một tiềm năng lớn về đất
đai cha đợc khai thác sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả của xã Phú Minh Trong những năm tới diện tích này đợc đa vào sử dụng có hiệu quả thì lợi ích mang lại là rất lớn Phú Minh cần biết tận dụng để phát triển
4.1.4 Tình hình sử dụng lâm sản, lơng thực và phân tích thị trờng nông lâm sản xã.
4.1.4.1 Tình hình sử dụng lâm sản của xã.
a Tình hình sử dụng gỗ, củi của nhân dân trong xã
Xã Phú Minh với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên việc tìm hiểu nhu cầu sử dụng gỗ củi của nhân dân trong xã đợc tiến hành theo nhóm hộ gia đình với 3 nhóm hộ là: Nhóm hộ giầu và khá, nhóm hộ trung bình, nhóm hộ nghèo Phơng pháp tìm hiểu đợc sử dụng là phơng pháp phỏng vấn bán định hớng theo mẫu có sẵn
Qua điều tra cho thấy, tất cả các hộ gia đình trong thôn đều đã và đang sử dụng gỗ và năng lợng gỗ, củi nhng mức độ sử dụng từng nhóm hộ là khác nhau
* Mức độ sử dụng gỗ:
31
Trang 32Hiện tại, mức độ khai thác gỗ trong xã là rất nhỏ Phần lớn các hộ gia
đình trong xã chỉ sử dụng gỗ để làm nhà và chuồng trại, không bán ra ngoài do diện tích rừng khai thác đợc đều là những diện tích đợc trồng theo các dự án
Hàng năm, trong xã có 5 hộ tách ra nên nhu cầu về gỗ để xây nhà và công trình phụ là cao Nhng hiện nay, ngời dân đã chuyển từ xây dựng nhà sàn với l-ợng gỗ rất nhiều sang nhà xây bằng gạch, ngói, chính vì vậy mà lợng gỗ là
với những hộ chỉ sửa sang, thay thế một số bộ phận trong gia đình thì lợng gỗ không đáng kể Trung bình một năm có hai hộ sửa sang nhà cửa và sử dụng hết khoảng 0,5m3 Với lợng gỗ nh vậy thì rừng hiện tại có khả năng cung cấp đủ mà không làm ảnh hởng đến độ tàn che và kết cấu của rừng
Từ trớc đến nay, thì hầu hết nhóm hộ giầu, khá và trung bình sử dụng nhiều gỗ hơn nhóm hộ nghèo do hai nhóm hộ này có khả năng về kinh tế nên khi họ xây dựng nhà cửa thờng rộng và đẹp, còn những hộ nghèo thì nhà xây có diện tích nhỏ
* Mức độ sử dụng năng lợng gỗ, củi
Qua điều tra cho thấy: 100% số hộ trong xã đều sử dụng gỗ, củi trong cuộc sống hàng ngày và mức độ sử dụng là lớn.Trung bình mỗi gia đình sử dụng hết 1,53 m3 củi/1 tháng và trong một năm mỗi gia đình sử dụng hết 18,36 m3 củi
Họ sử dụng năng lợng gỗ, củi vào mục đích đun nấu trong gia đình nh: nấu ăn, nấu cám lợn, đun nớc, nấu rợu, Trong đó, nấu cám lợn và nấu r… ợu là cần khối lợng củi nhiều hơn cả Ngoài năng lợng gỗ, củi, ngời dân còn tận dụng thêm các sản phẩm nông nghiệp để đun nấu nh bẹ ngô, thân ngô, cây sắn nên đã giảm bớt
đợc áp lực đối với rừng Mặt khác qua điều tra thực tế cho thấy, trên diện tích trồng Keo, lợng cành nhánh vẫn còn khá nhiều, chứng tỏ khả năng cung cấp củi của rừng vẫn rất lớn và lợng củi mà ngời dân lấy từ rừng còn thấp
Ngoài ra, một số hộ gia đình còn sử dụng nồi cơm điện, khí biogas nhng không phải là hoàn toàn thờng xuyên Không phải là ngời dân trong xã không có khả năng thay thế hay cải tiến hình thức đun nấu mà vì hiện nay nguồn năng l-ợng củi còn nhiều, rẻ và sẵn có, mặc dù bếp củi rất không tiện lợi, nhng việc sử dụng nguồn năng lợng củi cũng là một hình thức nhằm giữ gìn bẳn sắc dân tộc Hơn nữa một số hoạt động nh nấu rợu, nấu cám lợn thì không loại nhiên liệu nào
có thể thay thế đợc củi Nên hầu hết họ vẫn sử dụng củi để đun nấu
Trang 33Nguồn cung cấp gỗ, củi hiện nay trong xã chủ yếu là từ rừng trồng, một
số ít là từ rừng tự nhiên và đặc biệt là ngời dân còn tận dụng thêm các sản phẩm
từ nông nghiệp Từ đó cho thấy ngời dân đã biết tận dụng tối đa các nguồn năng lợng có sẵn và có ý thức trong bảo vệ rừng
b Tình hình sử dụng lâm sản ngoài gỗ
Qua điều tra, nghiên cứu cho thấy, lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng đối với đời sống của ngời dân Và trên địa bàn xã hiện nay, việc sử dụng
cấp lơng thực, thực phẩm (măng, nấm, mật ong, ), d… ợc liệu (sa nhân, tầm gửi, vối thuốc, ), n… ớc uống hàng ngày và các sản phẩm dể bán (lá dong, nứa, ), để…làm nớc uống hàng ngày trong gia đình, các cụ già thờng lên rừng để lấy rất nhiều loại cây về để đun uống và thờng gọi là nớc “cắng cây”, đây là một thứ n-
ớc uống giúp giải nhiệt rất tốt Nhng hiện nay, việc sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại xã cha có quy hoạch cụ thể và cha khai thác hết tiềm năng cung cấp lâm sản ngoài gỗ của rừng Ngời dân trong xã mới chỉ biết tận dụng lâm sản ngoài gỗ để phục vụ nhu cầu của gia đình mình mà cha biết mở rộng ra ngoài thị trờng để tăng thu nhập Vì vậy, mà thu nhập từ rừng cha cao, cha kích thích đợc ngời dân tham gia vào nghề rừng, họ cha biết tận dụng những sản phẩm có thể giúp họ lấy ngắn nuôi dài, giảm bớt chi phí trong sản xuất lâm nghiệp
Qua điều tra cho thấy, một số loài lâm sản ngoài gỗ thờng đợc nhân dân trong xã sử dụng là:
33