Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm mộc dành cho phòng ngủ trẻ em,tuy nhiên vẫn không đáp ứng được hết những yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng.Việc thiết kế sản phẩm mộc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN & NỘI THẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài: THIẾT KẾ SẢN PHẨM GIƯỜNG,TỦ QUẦN ÁO PHÒNG NGỦ TRẺ EM 6-10 TUỔI
Ngành: Thiết kế Nội thất
Mã số: D210405
: Nguyễn Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới toàn thể cán bộ, giảng viên trong Viện Kiến Trúc Cảnh Quan và Nội Thất và thư viện
trường đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện giúp đỡ em về phương pháp
nghiên cứu, kiến thức chuyên môn, tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất thiết bị trong suốt
quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Em xin đặc biệt cảm ơn thầy Hoàng Minh Đức và Cô Nguyễn Thị Lan Anh là
người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ em về cơ sở
vật chất, tinh thần cũng như thời gian trong suốt quá tình học tập và hoàn thành luận
văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Nhung
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH 1
MỤC LỤC 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 3
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ 4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Đối tượng nghiên cứu 4
2.2 Phạm vi nghiên cứu 4
2.3 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.3.1 Mục tiêu tổng quát 4
2.3.2 Mục tiêu cụ thể 4
2.4 Nội dung nghiên cứu 4
2.5 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG III THIẾT KẾ 5
3.1 Căn cứ lý thuyết 5
3.1.1Cơ sở lý luận về thiết kế sản phẩm mộc 5
3.1.2 Kết cấu đồ gia dụng 7
3.1.3.Yêu cầu đối với sản phẩm nội thất cho trẻ 8
3.1.4.Tính giáo dục trong sản phẩm 9
3.1.5 Tâm lý của trẻ trong phòng ngủ 10
3.2 Cơ sở thực tiễn 11
3.3.Xây dựng phương án thiết kế 11
3.3.1 Thu thập thông tin 11
3.3.2 Ý tưởng thiết kế và chọn vật liệu 11
3.4 Thuyết minh thiết kế chi tiết sản phẩm 12
3.5.Tính toán nguyên vật liệu 15
3.6 Đánh giá thiết kế 15
3.6.1 Các kết quả cần đạt được về mặt lý thuyết 15
3.6.2 Kết quả thực tiễn 15
3.6.3 Giá trị sử dụng 15
3.6.4 Giá trị thẩm mỹ 16
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 16
4.1 Kết luận 16
4.1.1 Sản phẩm thiết kế 16
4.1.2 Những vấn đề còn thiếu sót trong đề tài 16
4.2 Khuyến nghị 16
4.2.1 Đối với nghành thiết kế 16
4.2.2 Đối với doanh nghiệp 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em bắt đầu bước vào độ tuổi đi học bắt đầu hình thành những nét tính cách
khác trẻ học mẫu giáo.Tư duy của trẻ chuyển từ hiếu kỳ,tò mò sang ham học tập , hiểu
biết và thích khám phá.Bước đầu kiềm chế được tinhs hiếu động bọc phát để chuyển
thành tính kỷ luật nề nếp,chấp hành nội quy học tập.và trẻ rất cần có không gian riêng để
vừa có thể học tập ,nghỉ ngơi,vừa có thể vui chơi giải trí
Điều kiện sống ngày càng được cải thiện và nâng cao hơn,phòng riêng cho trẻ đã
không còn là điều gì quá xa lạ đối với mỗi gia đình.Do đó,việc lựa chọn,bài trí căn
phòng cho trẻ em lứa tuổi đến trường là vo cùng cần thiết nó không chỉ là sự quan tâm
của các bậc cha mẹ đối với thế hệ tương lai,mà còn giusp trẻ có không gian riêng tư và
không gian riêng này chính là điều kiên để trẻ có thể phát triển toàn diện về trí thông
minh và khả năng tư duy độc lập
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều sản phẩm mộc dành cho phòng ngủ trẻ
em,tuy nhiên vẫn không đáp ứng được hết những yêu cầu ngày càng cao của người sử
dụng.Việc thiết kế sản phẩm mộc dành cho nội thất phòng trẻ em là vô cùng cần
thiết,góp một phần không nhỏ trong tiến trình nâng cao thể lực,trí tuệ và hoàn thành
nhân cách trẻ nhỏ
Từ những vấn đề được nêu ra ở trên, được sự đồng ý của trường Đại học Lâm
Nghiệp, Viện Kiến Trúc Cảnh Quan và Nội Thất cùng sự hướng dẫn tận tình của thầy
giáo Hoàng Minh Đức và Cô Nguyễn Thị Lan Anh tôi đã thực hiện nghiên cứu khóa
luận tốt nghiệp với đề tài: Thiết kế sản phẩm giường ,tủ quần áo phòng ngủ trẻ em
6-10 tuổi
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đồ nội thất là một phần không thể thiếu đối với mỗi không gian sống Thị trường
đồ nội thất Việt nói riêng và Thế giới nói chung đang có những chuyển biến tích cực
Thống kê của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trung bình hàng năm, mức tiêu thụ hàng nội thất cao cấp trong nước đạt hơn 2,5 tỷ USD Trong đó, 80% là sản phẩm nội thất nhập khẩu từ các nước châu Âu, 20% là sản phẩm của Việt Nam Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hơn 6%/năm, mức tiêu thụ trong lĩnh vực thiết kế nội thất của người Việt Nam trong thời gian tới được đánh giá
là sẽ còn tăng cao Do vậy, các doanh nghiệp châu Âu đến Việt Nam lần này cũng xuất phát từ đánh giá thị trường thiết kế nội thất tại Việt Nam rất tiềm năng
Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 5% doanh nghiệp dùng gỗ công nghiệp trong sản xuất nội thất Nhưng xu hướng dùng gỗ nhân tạo lại đang được các nước lân cận như Thái Lan hay Malaysia ứng dụng để đưa hàng vào Mỹ và châu Âu, tạo ra tỉ suất sinh lời cao Hiện Việt Nam cũng đã có những nhà máy sản xuất gỗ nhân tạo lớn của các tập đoàn nước ngoài như Sumitomo (Nhật) ở Long An hay liên doanh Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Tập đoàn Dongwha (Hàn Quốc) tại Bình Phước
Giường gấp đa năng là một sản phẩm nội thất thông minh, trong đó chiếc giường được kết hợp và bố trí thích hợp các tiện ích khác như: giường kết hợp bàn học hoặc bàn làm việc, giường kết hợp sofa hay còn gọi là sofa giường, giường kết hợp với tủ quần áo và một số tiện ích khác tùy theo yêu cầu thiết kế của khách hàng Đặc biệt, sản phẩm có khả năng biến đổi từ tiện ích này sang tiện ích khác chỉ bằng cách gấp hoặc thay đổi vị trí của chúng
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tình hình nội thất Thế giới, với 455 tỷ USD, doanh thu đồ nội thất thế giới năm
2014 đã tăng 17 tỷ USD so với năm 2013 Tăng trưởng về tiêu thụ đồ nội thất thế giới năm 2015 ước tính đạt mức 2,8% Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu các ngành
Trang 5công nghiệp (CSIL), dự báo nhu cầu tiêu thụ đồ nội thất thế giới năm 2016 vẫn giữ mức
tăng trưởng 2,8%
Các nước đứng đầu về nhập khẩu đồ nội thất có thể kể đến là Hoa Kỳ, Đức, Pháp,
Anh và Canada Trong 5 năm trở lại đây, với kim ngạch nhập khẩu năm 2009 là 19 tỷ
USD và năm 2015 là 32 tỷ USD, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia đóng góp nhiều nhất vào sự
tăng trưởng của thương mại đồ gỗ thế giới
Các nước xuất khẩu đồ nội thât nhiều nhất gồm Trung Quốc, Đức, Ý, Ba Lan và
Việt Nam; trong khi các nước nhập khẩu nhiều nhất là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Anh và
Canada
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
-Sản phẩm giường, tủ quần áo trong phòng ngủ trẻ em 6-10 tuổi không gian hẹp
2.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Thiết kế,tạo dáng cho sản phẩm giường, tủ quần áo trong phòng ngủ trẻ em + Lựa chọn vật liệu cho sản phẩm giường, tủ quần áo trong phòng ngủ trẻ em + Tính toán nguyên vật liệu sản phẩm giường, tủ quần áo trong phòng ngủ trẻ em
2.3Mục tiêu nghiên cứu
2.3.1 Mục tiêu tổng quát
Thiết kế và bố trí được sản phẩm giường, tủ quần áo trong phòng ngủ trẻ em đáp ứng tốt công năng sử dụng, có tính thẩm mỹ cao, phù hợp với hiện trạng công trình và đáng ứng yêu cầu của khách hàng
2.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu và phân tích được các đặc điểm, nội dung và yêu cầu trong quá trình thiết kế sản phẩm nội thất nhà ở theo phong cách hiện đại
- Xây dựng được phương án thiết kế sản phẩm nội thất đáp ứng các yêu cầu thiết
kế và phù hợp với hiện trạng công trình
- Xây dựng được hệ thống các bản vẽ kỹ thuật và phối cảnh không gian công trình
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra khảo sát hiện trường về những sản phẩm dàng cho phòng ngủ trẻ em 6-10 tuổi
- Phân tích không gian sử dụng sản phẩm
-Xây dựng và lựa chọn phương án thiết kế
- Xây dựng bản vẽ: thuyết minh lựa chọn vật liệu, vấn đề gia công,
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát :
-Khảo sát các xu hướng thiết kế hiện nay
- Khảo sát các loại nguyên vật liệu, phụ kiện liên kết trên thị trường, các loại máy móc sản xuất thi công
Trang 6Phương pháp lý thuyết :
- Kế thừa các tài liệu về thiết kế sản phẩm nội thất, các yếu tố mỹ thuật, về tỷ lệ, nhân
trắc học, tư duy logic để thiết kế, phân tích, đánh giá sản phẩm nội thất, không gian nội
thất
Phương pháp đồ họa vi tính :
- Sử dụng các phần mêm đồ họa Autocad, 3Dsmax, Photoshop để thể hiện ý đồ và
thiết lập hệ thống bản vẽ
CHƯƠNG III THIẾT KẾ
3.1 Căn cứ lý thuyết
3.1.1Cơ sở lý luận về thiết kế sản phẩm mộc
*Khái niệm về thiết kế sản phẩm nội thất
Thiết kế sản phẩm mộc là tiến hành thiết kế ý tưởng, kết cấu, hoạch định cho ý tưởng và
vẽ thể hiện quy hoạch của ý tưởng để làm ra sản phẩm nội thất Vật dụng nội thất hay đồ nội thất đôi khi được gọi gọn là nội thất là thuật ngữ chỉ
về những loại mặt hàng, tài sản (thường là động sản) và các vật dụng khác được bố trí, trang trí bên trong một không gian nội thất như căn nhà, căn phòng hay cả tòa nhà nhằm mục đích hỗ trợ cho các hoạt động khác nhau của con người trong công việc, học tập, sinh hoạt, nghỉ ngơi, giải trí phục vụ thuận tiện cho công việc, hoặc để lưu trữ, cất giữ tài sản có thể kể đến một số hàng nội thất như ghế ngồi, bàn, giường, tủ đựng áo quần, tủ sách, tủ chè, chạn, đồng hồ treo tường
Hàng nội thất có thể là một sản phẩm được thiết kế tinh xảo và được coi là một hình thức trang trí nghệ thuật nhằm tôn vinh lên vẽ đẹp, sự sang trọng, giàu có của ngôi nhà, sự hài hòa giữa các phòng, phản ánh gu thẩm mỹ, phong cách sống của chủ nhà Ngoài vai trò chức năng truyền thống của hàng nội thất nó có thể phục vụ vào mục đích mang tính biểu tượng và tôn giáo Hàng nội thất kết hợp với ánh sáng tạo không gian nội thất thoải mái và thuận tiện Nội thất có thể được làm từ nhiều vật liệu, bao gồm
cả kim loại, nhựa và gỗ
Hàng nội thất trong thời trang là một phần trong tập tục của con người kể từ khi
sự phát triển của nền văn hóa du mục Bằng chứng về hàng nội thất tồn tại từ thời kỳ đồ
đá mới cho đến thời gian và sau đó và trong thời cổ đại thể hiện qua những bức tranh, chẳng hạn như bức tranh treo tường được phát hiện tại Pompeii, các đồ điêu khắc đã được khai quật ở Ai Cập được tìm thấy trong ngôi mộ Ghiordes, trong thời hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ
Trang 73.1.1.1.Yêu cầu chung của sản phẩm
Mọi sản phẩm nói chung đều cần phải dáp ứng dược những yêu cầu sau:
- Chức năng
- Thẩm mỹ
- Kinh tế
- Phù hợp điều kiện công nghệ kỹ thuật
a, Yêu cầu về chức năng
Mỗi sản phẩm đều có những chức năng sử dụng nhất định được thiết lập theo ý đồ
của người thiết kế, chức năng đó có thể là trang trí Yếu cầu đầu tiên đối với một sản
phẩm là phải thỏa mãn các chức năng đó Khi xem xét phân tích sản phẩm, ta cần phải
quan tâm đầy đủ đến các chức năng của mỗi sản phẩm vì nó không chỉ có một chức năng
cố định mà còn có thể có những chức năng phụ do phát sinh khi sử dụng
b, Yêu cầu thẩm mỹ
Trong lĩnh vực thiết kế, sản phẩm không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về chức năng sử
dụng mà nó cần phải đáp ứng yêu cầu về thẩm mỹ Nếu không có yêu cầu về thẩm mỹ,
công việc thiết kế sản phẩm mộc dường như thành vô nghĩa Thẩm mỹ của mỗi sản
phẩm có thể nói là phần hồn của mỗi sản phẩm
Thẩm mỹ là một phần của chất lượng sản phẩm kết tinh nên giá trị sản phẩm
c, Yêu cầu về kinh tế
Không chỉ riêng đối với sản phẩm, một trong những yêu cầu khá quan trọng nói
chung đối với một sản phẩm là yêu cầu kinh tế
Tác động của kinh tế là bành trướng, rộng khắp, sản phẩm không thể là ngoại lệ
Yêu cầu đối với mỗi sản phẩm có thể hướng theo mục tiêu: “ đáp ứng chức năng tốt
nhất, có thẩm mỹ dẹp nhất nhưng phải có giá thành thấp nhất ’’ Để làm được điều đó,
trong mỗi sản phẩm ta cần có kế hoạch sử dụng NVL hợp lý, thuận tiện cho giá công chế
tạo, giá thành sản phẩm Tạo ra các sản phẩm tốt có cấu tạo chắc chắn, bền lâu, cũng có
ý nghĩa kinh tế lớn đối với người sử dụng, cũng nhơ đối với xã hội
3.1.1.2 Nguyên tắc trong thiết kế sản phẩm nội thất
Chúng ta đã biết thế nào là một sản phẩm tốt, thế nào là sản phẩm chưa tốt qua các
chỉ tiêu đánh giá Vậy để có một sản phẩm tốt ta phải thực hiện thiết kế theo một số
nguyên tắc nhất định bởi điều đó có ý nghĩa quyết định tới chất lượng sản phẩm
Nhìn chung, khi thiết kế sản phẩm ta cần dưạ trên một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Đảm bảo công năng sản phảm theo đúng ý đồ, mục đích thiết kế
Trong mọi công đoạn thiết kế, người thiết kế phải lấy công năng của sản phẩm làm định hướng xuyên suốt Khi tạo dáng, ngoài mục tiêu là có mẫu mã đẹp ta luôn phải chú ý tới khả năng đáp ứng của sản phẩm trong sử dụng
Nguyên tắc đảm bảo công năng được chú ý nhiều nhất trong quá trình tính toán vật liệu và các giải pháp liên kết, kết cấu sản phẩm
- Đảm bảo nguyên tắc thẩm mĩ trong thiết kế
Nguyên tắc này chủ yếu vận dụng trong quá trình tạo dáng sản phẩm Nhưng trong quá trình thi công cũng không thể xem nhẹ bởi độ tinh xảo của các mối liên kết, chất lượng, bề mặt sản phẩm ảnh hưởng không ít tới chất lượng thẩm mĩ của sản phẩm
Đảm bảo tính kinh tế cũng như sự phù hợp của công nghệ chế tạo gia công sản phẩm
Nguyên tắc này cần đảm bảo một cách tế nhị, tránh những lãng phí không cần thiết mà hiệu quả thiết kế vẫn không cải thiện được nhiều Bền, đẹp và rẻ tiền, đó là những mong ước của người sử dụng, nhưng để tìm được điểm chung đó để có được sự giao hòa giữa người thiết kế và người sử dụng, đòi hỏi người thiết kế phải đưa ra phương
án thiết kế của mình một cách thuyết phục có cơ sở khoa học
3.1.1.3 Quan hệ giữa đồ vật với con người
Con người là nguồn gốc của mọi thiết kế Thiết kế sản phẩm mộc thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa con người và đối tượng thiết kế, mối quan hệ đấy càng được nghiên cứu sâu sắc thì khả năng đáp ứng của đồ mộc đối với nhu cầu sử dụng của con
người càng hiệu quả
Mối quan hệ trực tiếp
Kích thước của mỗi sản phẩm được tạo ra đều dựa trên cơ sở kích thước của con người, cónghĩa là sản phẩm và con người có mỗi quan hệ nhất định Trong thiết kế, kích thước của sản phẩm chịu sự chi phối bởi kích thước và trạng thái tư thế hoạt động của con người
Những mối quan hệ gắn liền với các hoạt động ổn định trong thời gian tương đối dài như: ngồi, nằm, tì, tựa được gợi là mối quan hệ trực tiếp Trong mối quan hệ trực tiếp, các
Trang 8kích thước của sản phẩm thường có ràng buộc tương đối chặt chẽ với kích thước của con
người hơn rất nhiều so với mối quan hệ gián tiếp Ví dụ: kích thước chiều cao của mặt ngồi
luôn gắn với kích thước từ đầu gối tới gót chân với tư thế ngồi của con người
Mối quan hệ gián tiếp
Trong mối quan hệ gián tiếp, kích thước của sản phẩm ít chịu ràng buộc hơn bởi
các kích thước của con người, tất nhiên là nó vẫn chịu sự chi phối nhất định Ví dụ như
kích thước của tủ áo rộng hay hẹp 1 chút cũng không ảnh hướng tới trạng thái ổn định
của con người
Mục đích của việc phân loại các mối quan hệ là để chúng ta có thể phân tích yêu cầu của
sản phẩm trong thiết kế Sau khi phân tích chúng ta có thể thiết lập được hệ thống ưu tiên các
yêu cầu đặt ra cho sản phẩm
Ergonomics trong thiết kế
- Nhân tố Ergonomics đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết kế sản
phẩm nội thất Ergonomic – Công thái học chính là bí mật đằng sau sự thoải mái của
mỗi sản phẩm nội thất, là nhân tố quyết định đến sự thành công của một nhà thiết kế
Các nhà thiết kế luôn phải tìm kiếm và loại trừ tất cả những yếu tố gây bất lợi cho con
người khi sử dụng sản phẩm cùng công nghệ sản xuất mới Đó cũng là quá trình tất
yếu của sự nâng cấp, tiến hóa của sản phẩm
Trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc thì yếu tố con người liên quan chặt chẽ
tới kích thước sản phẩm Bởi vì, trong quá trình thiết kế luôn phải tính đến sự phù
hợp của sản phẩm với kích cỡ của con người vào từng lứa tuổi, từng đối tượng Kích
thước cơ thể của người sử dụng là cơ sở quan trọng để thiết kế sản phẩm, nó ảnh hưởng
đến hình dáng, sự cân đối và tỉ lệ của sản phẩm Do đó, khi thiết kế, trước tiên sản
phẩm phải phù hợp với kích cỡ của người sử dụng Muốn đạt được điều đó, ta phải dựa
vào các yếu tố thuộc về con người như: yếu tố nhân trắc học, thị hiếu thẩm mỹ, các
chỉ dẫn của Egolomics kết hơp với phương phấp cơ thể đồ
Bất kể công trình lớn nhỏ, được thiết kế theo kiểu nào cũng phải căn cứ vào nhân
trắc, đặc biệt trong kiến trúc và nội thất Kích thước của đồ nội thất gắn với một khái
niệm “ tỷ xích” ( mối tương quan giữa kiến trúc và người) Con người và kích thước
con người là hạt nhân chi phối kiến trúc Bất kể công trình lớn hay nhỏ, được thiết kế
theo kiểu nào cũng phải căn cứ vào kích thước đó
Bảng 3.1 Quy cách thường dùng của giường trẻ nhỏ
Đơn vị: mm
Chiều dài của giường
Chiều rộng của giường
Chiều cao mặt giường
Chiều cao của lan can
Chiều dài của giường
Chiều rộng của giường
Chiều cao mặt giường
Chiều cao của lan can
Lớp bé nhà trẻ
900 550 600 1000 Lớp bé
mẫu giáo
1200 600 220 400
Lớp vừa 1050 550 400 900 Lớp vừa 1250 650 250 450 Lớp lớn 1100 600 400 900 Lớp lớn 1350 700 300 500
3.1.2 Kết cấu đồ gia dụng
Thiết kế kết cấu đô gia dụng là bộ phận cấu thành quan trọng của thiết kế đồ gia dụng, nó bao gồm kết cấu chi tiết, cụm chi tiết, và kết cấu lắp ráp tổng thể Nhiệm vụ của nó là nghiên cứu lựa chọn vật liệu đồ gia dụng, phương pháp ghép của bản thân chi tiết, cụm chi tiết Và giữa chúng với nhau, quan hệ lẫn nhau giữa kết cấu bố cục và tổng thể
*) Các liên kết cơ bản của sản phẩm mộc
Một sản phẩm mộc bao gồm nhiều chi tiết bộ phận liên kết với nhau Các chi tiết hay bộ phận này được gọi chung là các cấu kiện cơ bản Các cấu kiện cơ bản này liên kết với nhau bằng một liên kết nào đó, mối liên kết ấy có thể do chính bản thân các cấu kiện
có cấu tạo đặc biệt để liên kết với nhau ( như liên kết mộng) hoặc do một linh kiện khác đóng vai trò liên kết các cấu kiện với nhau Sau đây là một số các loại liên kết:
+Liên kết mộng
Mộng là hình thức cấu tạo có dạng xác định được ra công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc, thớ, nhằm mục đích liên kết với lỗ được gia công trên chi tiết khác của kết cấu
Cấu tạo của mọng có nhiều hình dạng: thân mộng và vai mộng
+ Thân mộng cắm chắc vào lỗ mộng
Trang 9+ Vai mộng để giới hạn mức độ cắm sâu của mộng, đồng thời cũng có tác dụng
chống chèn dập mộng và đỡ tải mộng Ngoài ra mộng có thể tạo mòi để tăng tính thẩm
mỹ cho sản phẩm
+Liên kết keo
Đây là phương thức liên kết đơn giản nhất, với phương pháp này thì phương
thức chủ yếu trong liên kết với đồ mộc là sử dụng keo dán, do công nghiệ phát triển
keo dán cũng được nâng cao và xuất hiện nhiều loại keo dán mới, do đó liên kết
abwngf keo ngày càng được sử dụng nhiều trong kết cấu đồ mộc
Phương thức này có ưu điểm lớn là tiết kiệm gỗ, từ gỗ nhỏ thành gỗ lớn, từ gỗ
chất lượng kém thành gỗ chất lượng cao
+Liên kết đinh
Đây là loại liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú: có đinh bằng
kim loại, có đinh bằng gỗ, đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh kim loại
Liên kết nằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường độ nhỏ vì
thế trong sản xuất mộc ít sử dụng
Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng rất lâu đời và phổ biến trong sản xuất các
loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc
+Liên kết vít
Đây là chi tiết liên kết lợi dụng phần thân ví xuyên qua hai chi tiết để liên kết
chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại chúng gồm hai loại là vít đầu
tròn và vít đầu bằng Liên kết vít thường không thể sử dụng cho các kết cấu tháo lắp
nhiều lần sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết
Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng, thể tích, độ ẩm của gỗ, đường
kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ gỗ
+Các liên kết khác
Đây là các chi tiết liên kết được sản xuất từ kim loại: polime, thủy tinh hữu cơ
hoặc bằng gỗ Nó được chế tạo đặc thù và có thể tháo lắp nhiều lần và cũng là một loại
chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại đồ mộc hiện đại Hiện nay
thường sử dụng các loại liên kết bằng kim loại ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm,
kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận lợi cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, giá thành rẻ, hiệu quả lắp ráp cao
+ Các loại kết cấu của sản phẩm nội thất
- Kết cấu dạng khung giằng thường sử dụng cho các loại tủ như tủ áo, kệ ti vi…
- Kết cấu dạng tấm thường sử dụng đối với ván công nghiệp có dạng tấm, phương tiện liên kết chủ yếu là đinh vít, chốt gỗ, ốc cam…
- Kết cấu dạng mộng chủ yếu sử dụng đối với gỗ tự nhiên
- Kết cấu dạng chốt sử dụng cho những liên kết yếu
3.1.3.Yêu cầu đối với sản phẩm nội thất cho trẻ 3.1.3.1.Yêu cầu về chức năng
An toàn là tiêu chí hàng đầu đối với sản phẩm mộc dùng cho trẻ em, bởi trong giai đoạn này trẻ rất tò mò, hiếu động, chính vì thế, các hoạt động của trẻ đôi khi không thể tránh khỏi những tổn thương do đồ vật mang lại
Độ bền cơ học đối với yêu cầu thông thường chỉ đảm bảo về độ bền kết cấu và khối lượng thể tích Kết cấu phải đặc biệt vững chắc, hoặc đối với những sản phẩm có tính linh động cao thì kết cấu tuy đơn giản nhưng cũng đảm bảo dễ dàng lắp đặt và bền vững kết cấu
Mặt khác, cũng do tính hiếu động của trẻ trong quá trình nô đùa có thể va chạm mạnh với sản phẩm, vì thế sản phẩm mộc nên được giảm thiểu đến mức độ tối đa cạnh sắc, nhọn có thể làm trẻ bị tổn thương
3.1.3.2 Yêu cầu về thẩm mỹ
Sự thành công của nhà thiết kế là có thể đưa ra những mẫu mã, sản phẩm không chỉ bền chắc mà còn phải hài hòa trong tạo dáng với bố cục hợp lý và những gam màu trẻ trung được trẻ ưa thích
Màu sắc là một loại cảm giác do ánh sáng tác dụng với thị giác mà có, do đó, ánh sáng mới có màu sắc Tuy màu sắc của vật được hiển thị dựa vào ánh sáng, nhưng màu sắc của ánh sáng và vật thể cũng có sự khác biệt trẻ em thường thích các màu sắc sặc sỡ
Trang 10và trong sáng Những màu sắc này không chỉ tạo cho trẻ cảm giác về sự nóng lạnh, nặng
nhẹ, gần xa, sáng tối, mà còn ảnh hưởng lớn đến tâm lý của chúng
Không gian bố trí sản phẩm mộc là khâu đặc biệt quan trọng, vì trong phòng dành
cho trẻ em có một số yêu cầu đặc biệt so với những phòng khác nên khi bố trí không
gian phải đặc biệt chú ý đến hoạt động và tâm lý của trẻ Sẽ là không đúng nếu bạ quy
định nghiêm ngặt chỗ ngủ, chỗ chơi, chỗ học cố định cho trẻ bởi vì ý thức chúng chưa
phát triển một cách toàn diện Phòng ngủ với một số món đồ chơi nho nhỏ sẽ giúp bé cân
bằng được những việc học, vui chơi, ngủ, nghỉ
Màu sắc sản phẩm mộc cũng là điều đáng lưu tâm, màu sắc của sản phẩm nên hài
hòa với nhau của căn phòng tạo nên một không gian nội thất Màu sắc luôn có những tác
đọng lớn đối với giác quan ở trẻ nhỏ thì những tác động này sẽ ảnh hưởng rõ ràng hơn
Màu sắc trong phòng phong phú sẽ kích thích dây thần kinh thị giác của trẻ phát triển,
đồng thời tạo nên trí tưởng tượng phong phú cho bé
Sản phẩm mộc nội thất dùng cho phòng ngủ trẻ em rất đa dạng chủng loại cũng
như mẫu mã Thông thường, bộ sản phẩm nội thất dùng cho phòng trẻ em từ 6-10 tuổi
bao gồm:
a, Giường ngủ
Với trẻ em, giường ngủ có thể là sân chơi chính của chúng, ngoài việc ngủ,
giường có thể là nơi bày đồ chơi, đọc truyện, nghe nhạc, là nơi trẻ có thể trèo lên trèo
xuống dễ dàng, vì vậy khi thiết kế phải chú ý đến kích thước hợp lý của giường như
chiều dài chiều rộng, chiều cao
Hình 3.1 Sản phẩm giường gấp
b, Sản phẩm tủ
Sản phẩm tủ được dùng để chứa quần áo, chăn ga gối đệm, có những ngăn kéo nhỏ để bé
có thể cất những đồ chơi hay vật dụng mà bé không sử dụng nữa
3.1.4.Tính giáo dục trong sản phẩm
Đây là một tính chất cần đặc biệt quan tâm, nhất là đối với trẻ em lứa tuổi đến trường
Cụ thể, sản phẩm cần có những điều kiện sau đây:
+) Tạo hình phù hợp với lứa tuổi
+) Tạo hình đơn giản, hình ảnh trang trí trên bề mặt sản phẩm, gần gũi và phù hợp với nhận thức của trẻ
+) Màu sắc trong sáng, giúp trẻ phát triển khả năng cảm nhận và nuôi dưỡng thị hiếu hoàn mỹ
+) Sản phẩm là sự kết hợp hài hòa giữa quá trình sử dụng và quá trình hoạt động của trẻ
+) Sản phẩm gắn liền với hoạt động học tập vui chơi, nghỉ ngơi của trẻ