Như ta đã biết gỗ có rất nhiều ưu điểm như: tính cách điện, cách nhiệt, cách âm tốt, dễ gia công chế biến, màu sắc vân thớ đẹp, dễ trang sức, là nguồn nguyên liệu thân thiện với môi trườ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp này em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Vũ Huy Đại, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em về chuyên môn, phương pháp luận trong suốt thời gian em hoàn thành bản khoá luận này
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa chế biến lâm sản, các cán bộ của trung tâm thư viện trường Đại Học Lâm Nghiệp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như trong thời gian em hoàn thành bản khoá luận này
Và em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ công nhân viên Công
ty cổ phần lâm sản Sơn Tây, đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình em thực tập tại công ty
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ em hoàn thành bản khoá luận này
Hà tây, ngày 6 tháng 5 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoài Nam
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Gỗ là vật liệu đã được con người biết đến và sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày từ rất xa xưa Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thì xu hướng sử dụng gỗ hợp lý và nâng cao chất lượng gỗ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng được hình thành
rõ nét
Như ta đã biết gỗ có rất nhiều ưu điểm như: tính cách điện, cách nhiệt, cách âm tốt, dễ gia công chế biến, màu sắc vân thớ đẹp, dễ trang sức, là nguồn nguyên liệu thân thiện với môi trường, có thể tái tạo tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm như vậy thì gỗ cũng có những khuyết điểm cố hữu như: dễ bị vi sinh vật phá hoại, co rút khi độ ẩm giảm xuống dưới độ ẩm bão hoà thớ gỗ để hạn chế nhược điểm này người ta tiến hành quá trình sấy gỗ để giảm độ ẩm của
gỗ xuống dưới độ ẩm sử dụng
Ngoài ra công đoạn sấy gỗ cũng giúp ta tiết kiệm được gỗ do hạn chế mốc mục, cong vênh, nứt nẻ, giảm độ dôi gia công và tăng thời hạn sử dụng gỗ Với sự lên giá một cách mạnh mẽ của gỗ trong thời gian gần đây thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng
Tuy nhiên tình hình sấy gỗ thực tế ở các công ty là rất phức tạp Vì vậy việc xây dựng được một quy trình quản lý thiết bị và công nghệ sấy gỗ phù hợp cho các công ty, nhà máy, xí nghiệp là rất cần thiết Qua đó có thể phát huy những mặt tích cực cũng như tìm ra được giải pháp tối ưu nhằm điều chỉnh quá trình sấy nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
Do đó được sự cho phép của khoa chế biến lâm sản trường Đại Học Lâm
Nghiệp, tôi tiến tới thực hiện khoá luận: " Xây dựng quy trình quản lý thiết bị
và công nghệ sấy cho công ty cổ phần lâm sản Sơn Tây "
Trang 3Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái quát về vấn đề ngiên cứu
1.1.1 Tình hình trên thế giới
Từ thế kỷ XIX khi một số lò sấy gỗ đầu tiên của thế giới ra đời thì thuật ngữ " thiết bị và công nghệ sấy gỗ " cũng theo đó hình thành và phát triển Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì công nghệ sấy gỗ cũng phát triển rất nhanh Mặt khác trên thế giới lúc này cũng đã có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các mặt hàng nên một số nhà quản lý tiên tiến trên thế giới nhận thấy rằng việc xây dựng được những quy trình quản lý thiết bị và công nghệ phù hợp với thực tế sản suất sẽ nâng cao được rất nhiều lợi ích về năng suất, hiệu quả trong công việc Vì vậy các quy trình quản lý thiết bị và công nghệ trên thế giới ngày càng được coi trọng và phát triển trên toàn thế giới
1.1.2 Tình hình tại việt nam
Tại việt nam trước năm 1975 cả nước chỉ có một số nơi có các lò sấy gỗ nhưng quy mô còn rất nhỏ lẻ và thiết bị và công nghệ thì cũ kỹ và rất lạc hậu
Ngành sấy gỗ ở ta mới chỉ mang tính chất công nghiệp qua một số nhà máy sau:
+ Nhà máy xe lửa gia lâm: lò sấy hơi đốt trực tiếp
+ Nhà máy dệt Nam Định: lò sấy hơi nước kiểu chu kỳ tuần hoàn tự nhiên
+ Xí nghiệp gỗ Phú Lâm ( Sài Gòn) và sau đó là các xí nghiệp gỗ ở các khu công nghiệp Biên Hoà, Đồng Nai: ( lò sấy ngưng tụ bằng thiết bị lạnh)
Thiết bị và công nghệ sấy cũng theo sự phát triển đó mà dần dần xâm nhập vào nước ta theo các con đường khác nhau như: qua chuyển giao công nghệ, qua nghiên cứu tài liệu, qua quá trình học hỏi và tìm tòi tự nghiên cứu chế tạo
Trang 4Ngày trước với quy mô các lò sấy gỗ còn ít và nhỏ lẻ, và hầu hết gỗ sấy
ra đều được nhà nước trưng dụng nên tính cạnh tranh giữa các nhà máy còn chưa cao Vì vậy quy trình quản lý thiết bị và công nghệ còn yếu dẫn đến chất lượng gỗ sấy và năng suất sấy gỗ của các nhà máy là không cao
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của xã hội thì việc cạnh tranh giữa các mặt hàng là rất lớn vì vậy chúng ta không thể giữ mãi những quy trình quản lý đã lỗi thời mà phải tiến tới xây dựng những quy trình quản lý mới và hoàn thiện hơn để có thể đáp ứng được nhu cầu sản suất của trong nước cũng như vươn ra thế giới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng được quy trình quản lý thiết bị và công nghệ cho công ty cổ phần lâm sản Sơn Tây
Mục tiêu cụ thể: Đánh giá được tình hình quản lý thiết bị và công nghệ sấy tại công ty để từ đó đề xuất được mô hình quy trình quản lý thiết bị và công nghệ cho công ty
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần lâm sản sơn tây thì phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Những vấn đề cơ bản trong hoạt động sản xuất của công ty
- Thực trạng quản lý máy móc thiết bị của công ty
- Thực trạng quản lý tổ chức sấy tại công ty
1.4 Nội dung nghiên cứu
Khoá luận này đề cập đến các nội dung sau đây:
- Tìm hiểu chung về công ty
- Khảo sát quá trình quản lý thiết bị tại công ty
- Khảo sát quá trình quản lý công nghệ tại công ty
Trang 5- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới các quá trình quản lý
- Đề suất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài khoá luận này có sử dụng các phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp khảo sát thực tế: Quá trình xem xét tìm hiểu thực tế sản suất tại công ty ở các khâu như: khâu nhập nguyên liệu, khâu xếp đống, khâu điều khiển quá trình sấy, khâu kiểm tra máy móc thiết bị sấy
Phương pháp chuyên gia: Các cuộc phỏng vấn, xin ý kiến cán bộ công nhân viên của công ty liên quan tới các nội dung của đề tài
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Căn cứ vào thực tế làm việc tại công ty như: theo dõi các mẻ sấy từ khâu xếp đống cho đến khi ra lò Rồi từ đó có các nhận xét về công nghệ sấy, thiết bị sấy, chế độ sấy của công ty
Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp: đây là phương pháp kết hợp giữa lý thuyết, thực tế và tư duy logic để nghiên cứu đối tượng khảo sát
Phương pháp kế thừa: Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó
Trang 6Chương II
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các đặc tính của gỗ liên quan đến quá trình sấy gỗ
Gỗ là đối tượng công nghệ của quá trình sấy và gỗ cũng là một sản phẩm tự nhiên nên về mặt cấu tạo gỗ rất đa dạng Gỗ có cấu tạo phức tạp và không đồng nhất do ảnh hưởng của các điều kiện sinh trưởng, tự nhiên, biến động Hình dạng và kích thước gỗ liên quan đến con đường vận chuyển ẩm, vận chuyển nhiệt giữa gỗ và môi trường sấy trong suốt quá trình sấy gỗ mà quá trình sấy gỗ là tổng hợp các quá trình vận chuyển nhiệt, ẩm xảy ra trong gỗ và các quá trình trao đổi ẩm, nhiệt sảy ra trên bề mặt gỗ Do vậy ta không quan tâm một cách có hệ thống những đặc điểm cấu tạo của như trong nhận mặt gỗ
mà ở đây ta chủ yếu xem xét các đặc điểm cấu tạo ảnh hưởng đến các quá trình vận chuyển nhiệt, vận chuyển ẩm, trao đổi ẩm, trao đổi nhiệt và một phần ảnh hưởng đến quá trình co rút của gỗ làm nảy sinh những khuyết tật của gỗ trong suốt quá trình sấy gỗ
2.1.1 Các yếu tố thuộc về cấu tạo
Cấu tạo của gỗ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dẫn ẩm, quá trình thoát
ẩm của gỗ mặt khác nó còn ảnh hưởng đến quá trình co rút, làm nảy sinh khuyết tật của gỗ trong quá trình sấy, ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy
* Các yếu tố chính của cấu tạo gỗ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sấy
gỗ như là:
+ Hình thức phân bố của tế bào mạch gỗ: Gỗ có vách tế bào dày, kích thước lớn, tế bào mạch gỗ xếp phân tán thông thường thì dễ sấy hơn là gỗ lá rộng mạch vòng Vì vậy khi sấy loại gỗ này ta nên lưu ý là sấy ở chế độ sấy mềm hơn một cấp so với gỗ có cùng khối lượng thể tích
+ Chiều thớ gỗ: Đó là sự sắp xếp của các tế bào gỗ theo chiều dọc thân cây Và chiều thớ gỗ cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình sấy gỗ
Trang 7như: gỗ có chiều thớ thẳng thì dễ sấy hơn và khi sấy xong cũng ít bị khuyết tật hơn so với gỗ bị xoắn thớ hay chéo thớ
+ Gỗ giác, gỗ lõi: Trong cấu tạo gỗ thì mật độ phân bố tế bào gỗ ở gỗ giác và gỗ lõi có sự chênh lệch rất lớn Điều này ảnh hưởng rất rõ trong quá trình khô ở gỗ khi ta tiến hành sấy gỗ Khi sấy thì phần gỗ giác bao giờ cũng khô trước phần gỗ lõi, hơn nữa sự co rút trong quá trình sấy ở hai phần này cũng khác nhau vì vậy nếu một thanh gỗ sấy mà có chứa cả hai phần này thì khi sấy rất dễ nảy sinh khuyết tật
+ Tia gỗ: Tia gỗ cũng là một trong những con đường chính thoát ẩm ở gỗ trong quá trình sấy Vì vậy tia gỗ cũng là một trong những đặc điểm cấu tạo của
gỗ ảnh hưởng đến quá trình sấy Gỗ có cấu tạo tia gỗ to, số lượng nhiều thì khi sấy dễ bị sảy ra hiện tượng chênh lệch về co rút theo chiều xuyên tâm và tiếp tuyến hơn nữa tia gỗ cũng là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nứt đầu ở
Vì vậy khi sấy các loại gỗ có nhiều các loại chất này thì ta nên sấy ở chế độ sấy mềm và phải có chế độ xử lý gỗ cho phù hợp
2.1.2 Các yếu tố thuộc về tính chất của gỗ
+ Độ ẩm: Trong gỗ luôn tồn tại một lượng ẩm nhất định, mà bản chất của quá trình sấy gỗ là quá trình vận chuyển ẩm trong gỗ, ẩm trong gỗ tồn tại theo hai dạng sau:
Trang 8- Ẩm tự do: Loại ẩm nằm trong các không bào, nằm trong các khoảng trống của tế bào Loại ẩm tự do này liên kết với gỗ bằng lực cơ học do vậy loại
ẩm tự do này khá dễ loại bỏ trong gỗ
- Ẩm liên kết: Loại ẩm nằm trong khoảng cách giữa các mixen xenlulo trong vách tế bào Ẩm này liên kết với gỗ bằng liên kết hoá lý và vi mao quản
vì vậy các mối liên kết này khá bền vững và khó phá vỡ
+ Khối lượng thể tích gỗ: Trong công nghệ sấy gỗ thì khối lượng thể tích
gỗ được xem như một yếu tố quyết định đến quá trình khô của gỗ Gố có khối lượng thể tích cơ bản càng lớn thì mật độ mixen xenlulo sẽ lớn hay có nhiều khối lượng gỗ hơn, ít khoảng trống hơn so với gỗ có khối lượng thể tích nhỏ
Do vậy gỗ có khối lượng thể tích lớn thì khả năng vận chuyển ẩm từ bên trong
ra bên ngoài là khó hơn so với gỗ có khối lượng thể tích nhỏ hơn
+ Co rút và giãn nở của gỗ: Như ta đã biết gỗ có cấu tạo không đồng nhất theo ba chiều Vì thế có sự co rút không giống nhau theo các chiều đó, đặc biệt
là sự theo hai chiều tiếp tuyến và xuyên tâm Sự co rút và giãn nở không đều là nguyên nhân gây ra hiện tượng khuyết tật như: móp méo, biến hình, cong vênh
và nứt nẻ Do đó cần chú ý điểm này khi sấy để có những lựa chọn hợp lý về chế độ sấy cũng như có các giai đoạn xử lý gỗ phù hợp
+ Tính dẫn nhiệt của gỗ: Đây là tính chất khá quan trọng của gỗ và có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sấy gỗ Nó có ý nghĩa quan trọng đối với các giai đoạn như: làm nóng, xử lý nhiết ẩm, xử lý giữa chừng, xử lý cuối ổn định gỗ sấy
+ Tính dẫn điện của gỗ: Tính chất này phụ thuộc vào độ ẩm của gỗ, thông thường nó được ứng dụng trong việc xác định độ ẩm của gỗ
+ Điểm bão hoà thớ gỗ: Là gianh giới giữa ẩm tự do và ẩm liên kết của
gỗ Trong quá trình sấy hiện tượng co rút chỉ xảy ra khi độ ẩm của gỗ thay đổi
từ độ ẩm bão hoà thớ gỗ chở xuống Sự co rút không đều là nguyên nhân chính gây ra các khuyết tật ở gỗ, do vậy ta cần chú ý đến đặc điểm này khi sấy
Trang 9+ Độ ẩm thăng bằng của gỗ trong môi trường sấy: Giữa gỗ và môi trường xung quanh luôn xảy ra hiện tượng trao đổi ẩm Độ ẩm bền vững mà gỗ đạt được trong một điều kiện môi trường nào đó gọi là độ ẩm thăng bằng của
gỗ (Wcb) trong môi trường đó Độ ẩm thăng bằng của gỗ có mối quan hệ mật thiết với hai thông số cơ bản của môi trường sấy là: nhiệt độ và độ ẩm của môi trường sấy Do vậy khái niệm độ ẩm thăng bằng được dùng làm thông số đặc trưng cho trạng thái của môi trường sẩy trong việc thiết lập chế độ sấy và quy trình sấy
2.2 Các khái niệm về thiết bị sấy và công nghệ sấy
2.2.1 Các loại lò sấy và thiết bị sấy
A Phân loại lò sấy
Căn cứ vào phương thức tác dụng của quá trình sấy, loại hình chất tải nhiệt cũng như đặc tình tuần hoàn của môi trường sấy, lò sấy có thể được phân làm rất nhiều loại khác nhau
+ Phân loại theo phương thức thao tác: Lò sấy gỗ có thể được phân thành
lò sấy dạng liên tục và lò sấy dạng chu kỳ Lò sấy dạng chu kỳ là gỗ được xếp đầy vào lò, sau khi sấy khô thì quá trình sấy được dừng lại, đồng thời tiến hành
dỡ gỗ rồi lại xếp lớp gỗ mới để tiến hành sấy tiếp,thao tác của loại lò này mang tính chu kỳ Lò sấy liên tục là loại lò kiểu hầm, tức là nguyên liệu gỗ ướt được liên tục đưa vào lò, còn nguyên liệu gỗ đã được sấy khô thì liên tục được dỡ ra
ở phía đầu bên kia, trong quá trình nạp hay dỡ nguyên liệu thì quá trình sấy không bị dừng lại, thao tác của loại lò này mang tính liên tục
+ Căn cứ vào nhiệt độ sấy gỗ có thể phân thành những loại lò sau:
- Lò sấy nhiệt độ thấp: Nhiệt độ sấy chỉ nằm trong phạm vi từ 21- 480C, thông thường là không lớn hơn 430C
- Lò sấy có nhiệt độ thông thường: Phạm vi nhiệt độ sấy của nó trong khoảng 43- 820C Phần lớn gỗ lá rộng và gỗ lá kim đều lựa chọn loại lò sấy này
Trang 10- Lò sấy tốc độ cao: Phạm vi nhiệt độ sấy của lò này trong khoảng 43-
990C Giai đoạn sấy cuối cùng của quá trình sấy nhiệt độ thường trong khoảng 87- 930C
- Lò sấy nhiệt độ cao: Nhiệt độ sấy thường lớn hơn 1000C, phạm vi nhiệt
độ của nó trong khoảng 100- 1400
C
+ Căn cứ vào nguồn nhiệt có thể phân thành:
- Lò sấy gia nhiệt bằng hơi nước: Lấy hơi nước dùng làm nguồn nhiệt cho lò sấy gọi là lò sấy gia nhiệt bằng hơi nước Hơi nước là một loại nguồn nhiệt truyền thống của quá trình sấy gỗ, nó được cung cấp từ các lò hơi
- Lò sấy gia nhiệt bằng khí lò: Dùng các loại khí lò làm nguồn nhiệt, thường là các loại khí từ lò đốt than, dầu, khí thiên nhiên hay từ nguyên liệu gỗ phế thải
Mặc dù hiện nay có khá nhiều loại lò sấy như vậy nhưng trong thực tế sản xuất thì hiên nay người ta vẫn chủ yếu xử dụng lò sấy đối lưu gia nhiệt bằng hơi nước Dạng tuần hoàn thường là dạng ngang đứng và có tái tạo tuần hoàn( không khí nóng ẩm sau khi đi qua đống gỗ lại được tận dụng cho các vòng tuần hoàn tiếp theo)
B Các thiết bị lò sấy
1 Cấu tạo chung của lò sấy
+ Nền móng của lò sấy: Lò sấy là loại kiến trúc một tầng có độ rộng không lớn, nhưng yêu cấu công nghệ với thân lò là không được nứt, vì vậy mà nền móng của lò bắt buộc phải có tính ổn định cao, không cho phép phát sinh hiện tượng lún Thông thường nền lò sấy thường làm bằng 4 lớp với kết cấu như sau:
Trang 11Bảng 2.1 Cấu tạo của lò sấy
Tường lò thông thường được sử dụng những loại gạch có chất lượng cao
để xây thành Sử dụng phương thức là xây hai lớp gạch và ở giữa là lớp cách nhiệt.Vật liệu dùng làm cách nhiệt hiện nay khá đa dạng như: bông thuỷ tinh, PVC, amiăng
Trang 12+ Trần lò sấy: Thường làm bằng bêtông cốt thép, dày khoảng từ 70 ÷ 100
mm Bề dày của trần lò phải làm đủ dày để giảm mất mát nhiệt trong quá trình sấy, đồng thời khắc phục tình trạng nước ngưng trên bề mặt lò sấy
+ Cửa lò sấy: Đối với lò sấy mà nói, độ kín và cách nhiệt là vấn đề cơ bản nhất và nó cũng là yêu cầu quan trọng nhất Mà độ kín và sự cách nhiệt của cửa lò là một bộ phận đáng phải quan tâm Đối với cửa lò sấy chúng có yêu cầu chung là: độ kín tốt, tỷ lệ truyền nhiệt nhỏ, tuổi thọ dài, đóng mở dễ dàng, an toàn và đáng tin cậy
Hình thức của cửa lò sấy có thể chia làm 5 loại sau: Cửa một cánh hoặc hai cánh kiểu bản lề quay, cửa nhiều cánh gấp ( cửa gấp), cửa kéo dạng nhiều cánh ( cửa xếp), cửa treo dạng một cánh và cửa kéo lên xuống dạng một cánh
Các dạng cửa nói chung có cấu tạo gồm: Khung cửa làm bằng thép, phía trong bọc một lớp nhôm mỏng, cách nhiệt bằng bông thuỷ tinh Để giữ cho cửa được kín khít khi đóng thì người ta thường ép mép cửa bằng roăng cao su
2 Thiết bị trong lò sấy
a Thiết bị tản nhiệt ( giàn gia nhiệt): Thiết bị tăng nhiệt phải thoả mãn những yêu cầu sau đây:
- Phải giải phóng ra lượng nhiệt đủ và đồng đều, để đảm bảo được nhiệt
độ phù hợp với bên trong lò sấy
- Có khả năng linh hoạt trong điều tiết lượng nhiệt truyền ra
- Phải có tính chắc chắn, ổn định trong điều kiện môi trường sấy là nóng ẩm Hiện nay thiết bị tản nhiệt gồm có: Thiết bị tản nhiệt dạng ống quản nhánh ( gồm nhiều ống quản con ghép với nhau), thiết bị tản nhiệt dạng ống quản thẳng ( không phân nhánh), và thiết bị tản nhiệt dạng tấm
+ Thiết bị tản nhiệt dạng ống quản nhánh:
Được làm chủ yếu từ gang, chúng được phân thành hai loại chính là: các ống quản con được ghép với nhau thành hình tròn và các ống quản con được
Trang 13ghép với nhau thành hình chữ nhật Ưu điểm của loại này là: chắc chắn, có khả năng chống ăn mòn, bề mặt tản nhiệt lớn Nhược điểm của loại này là: lượng kim loại tiêu hao làm ra chúng nhiều, lắp đặt và sửa chữa khó khăn nên loại này rất ít khi được dùng trong các lò sấy hiện đại
+ Thiết bị tản nhiệt dạng ống thẳng:
Loại này có kết cấu đơn giản, chế tạo và kiểm tra bảo dưỡng thuận tiện, chịu lực tác dụng lớn, hệ số truyền nhiệt lớn, không dễ bị tích cặn Nhược điểm của chúng là: diện tích tản nhiệt nhỏ, dễ bị gỉ, tuổi thọ sử dụng thấp, vì thế mà loại này cũng ít được sử dụng trong các lò sấy hiện đại
+ Thiết bị tản nhiệt dạng tấm gồm có: Thiết bị tản nhiệt dạng cánh xoắn, thiết bị tản nhiệt dạng tấm ghép và thiết bị tản nhiệt dạng cánh kim loại song song với nhau
Cụ thể là:
- Thiết bị tản nhiệt dạng cánh xoắn: Được hình thành từ một hay hai ống xoắn, căn cứ vào kim loại chế tạo thì thiết bị này lại được phân chia thành: loại hình SRZ có cánh xoắn làm bằng thép tối sau đó mạ kẽm, loại hình S, loại hình U
và loại hình B có ống quản được làm bằng đồng, cánh làm bằng đồng mạ thiếc
- Thiết bị tản nhiệt dạng tấm ghép: Được tạo thành từ những ống quản bằng thép ghép song song với nhau, phía trên của chúng được gắn các tấm thép mỏng hoặc các tấm nhôm mỏng
- Thiết bị tản nhiệt dạng cánh ghép song song với nhau: Được hình thành
từ một ống quản nền bên trong ( thông thường ống quản làm bằng thép) Hiện nay thiết bị này được sử dụng khá rộng rãi trong các lò sấy gỗ
b Thiết bị phun ẩm
Là thiết bị dùng để phun hơi nướcvào bên trong lò sấy để điều chỉnh độ
ẩm của môi trường sấy Ống phun hơi có thể là hai đầu được bịt kín còn hơi đi vào từ bộ phận giữa, hoặc là một đầu được bịt kín còn hơi đi vào từ đầu còn lại Trên thân ống có các lỗ nhỏ đường kính khoảng 2- 4 mm, khoảng cách giữa các
Trang 14lỗ nhỏ là 200-300 mm Đường kính ống phun hơi thông thường trong khoảng 50mm, khi lắp đặt ống phun hơi cần chú ý không làm cho hơi phun trực tiếp vào đống gỗ sấy để tránh cho gỗ bị nứt
c Qụat gió
Hiện nay trong các lò sấy gỗ thường dùng quạt gió để tạo ra động lực thúc đẩy sự tuần hoàn của thể khí, từ đó làm tăng tốc độ trao đổi nhiệt giữa môi trường sấy và thiết bị tản nhiệt cũng như giữa môi trường sấy và đống gỗ, đồng thời cũng làm tăng tốc độ bay hơi nước khỏi bề mặt gỗ Trong thực tế thì có hai loại quạt gió hay được sử dụng là:
- Quạt dọc trục: Loại quạt có cánh quay hơi nghiêng, khi cánh quay tạo
ra áp lực làm cho dòng không khí chuyển động, hướng chuyển động của dòng khí song song với hướng trục quay của quạt Loại quạt này có lượng gió tạo ra lớn, áp suất gió tương đối thấp, thường được lắp trực tiếp bên trong lò sấy để thực hiện quá trình tuần hoàn cưỡng bức đối với môi trường sấy
- Quạt ly tâm: Hoạt động theo nguyên lý không khí dịch chuyển dưới tác động hiệu quả ly tâm rôto với các cánh theo hướng xuyên tâm quay trong vỏ hình ốc
d Các thiết bị thải và tách nước ngưng
Các thiết bị này được đặt trên các ống dẫn nước ngưng tụ từ các thiết bị gia nhiệt hơi nước, chức năng của chúng là đảm bảo lối thoát cho nước ngưng
tụ nhưng không cho hơi thoát ra từ thiết bị ra nhiệt
Các thiết bị này gồm ba loại: Thiết bị thuỷ tĩnh, thiết bị tách nước ngưng
tụ nhiệt tĩnh, thiết bị tách nước ngưng tụ nhiệt động Trong đó thiết bị thuỷ tĩnh không đủ độ tin cậy vì các phần chuyển động bị gỉ, chúng dễ bị hỏng nên ngày nay chúng ít được sử dụng trong các lò sấy hiện đại
e Các ống dẫn hơi
Được chế tạo từ thép nhẵn, với các ống dẫn hơi chính người ta không sử dụng các mối nối Để liên kết hoặc chia nhánh các ống sử dụng các chi tiết nối
Trang 15ống Các ống dẫn hơi đường kính lớn được nối với nhau bởi các bích hoặc hàn trực tiếp
1 Chuẩn bị trước khi sấy
a Kiểm tra lò sấy và các thiết bị
Cũng như các thiết bị công nghiệp khác thì lò sấy trước khi vận hành cũng phải được tiến hành kiểm tra đối với các thiết bị của lò sấy nhằm làm tăng tính an toàn của thiết bị khi vận hành cũng như kịp thời phát hiện và sửa chữa Các thiết bị cần kiểm tra bao gồm toàn bộ các thiết bị của lò sấy liên quan tới quá trình sấy như: thân lò, thiết bị thông gió, thiết bị cấp nhiệt và điều tiết ẩm, thiết bị kiểm tra và đồng hồ đo
b Xếp đống gỗ sấy
Hiệu quả khi sấy với gỗ xẻ có quan hệ tới tính năng của lò sấy, cũng có quan hệ tới kỹ năng thao tác của người công nhân, đồng thời cũng liên quan tới việc xếp đống gỗ có hợp lý hay không Ngoài ra, phương thức xếp đống gỗ sấy cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của quá trình sấy
2 Chủng loại chế độ sấy
a Khái niệm chế độ sấy
Chế độ sấy là tập hợp biểu đồ biến đổi các thông số của môi trường sấy nhằm bảo đảm được chất lượng và thời gian sấy cần thiết Chế độ sấy được thể hiện bằng biểu đồ nhiệt độ T, độ ẩm tương đối φ (hoặc ∆T) và trạng thái của
Trang 16nguyên liệu sấy Vận tốc gió trên bề mặt gỗ cũng là thông số quan trọng của chế độ sấy song cũng là đại lượng không đổi đối với từng lò sấy cụ thể
b Các loại chế độ sấy
Các chế độ sấy có thể phân loại theo nhiệt độ sấy, theo mức độ ảnh hưởng của quá trình sấy đến chất lượng gỗ hoặc theo nguyên tắc điều hành quá trình sấy
+ Phân loại theo nhiệt độ sấy: Chế độ sấy nhiệt độ cao ( T ≥ 1000C) và chế độ sấy nhiệt độ thấp Đối với ván xẻ ở Việt Nam nói chung chỉ nên sấy ở các chế độ sấy nhiệt độ thấp
+ Phân loại theo mức độ ảnh hưởng đến chất lượng gỗ sấy: Chế độ sấy mềm, chế độ sấy thông thường và chế độ sấy cứng Ở các chế độ sấy mềm, độ bền và mầu sắc của gỗ hoàn toàn được giữ nguyên, nội ứng suất tồn tại trong
gỗ không đáng kể; ở chế độ sấy gỗ thông thường gỗ có thể bị biến mầu nhưng không đáng kể, độ bền của gỗ được bảo toàn; ở chế độ sấy cứng gỗ bị biến mầu, độ bền của gỗ giảm 15 ÷ 20 %
+ Phân loại theo nguyên tắc điều hành quá trình sấy: Chế độ sấy hai cấp
ba cấp hoặc nhiều cấp Phổ biến nhất hiện nay là chế độ sấy ba cấp - trong quá trình sấy gỗ, môi trường sấy gỗ được thay đổi theo ba cấp độ ẩm của gỗ: W > 30%: T1, φ1; T2, φ2, và W < 20%; T3, φ3 Chế độ sấy nhiều cấp được áp dụng rộng rãi Với sự phát triển của kỹ thuật đo độ ẩm của gỗ trong lò sấy, chế độ sấy nhiều cấp sẽ được áp dụng ngày càng rộng rãi hơn
c Lập chế độ sấy
Khi cần sấy những loại gỗ mới ta cần thiết phải lập một chế độ sấy mới, trước khi tiến hành lập chế độ sấy mới ta cũng cần phải hiểu rõ được cấu tạo cũng như tính chất lực học của loài gỗ đó đặc biệt là khối lượng thể tích và hệ
số co rút của nó, đồng thời cũng cần tham khảo đối với những chế độ sấy của những loại gỗ gần giống với nó Hoặc là tiến hành lấy một mẫu thí nghiệm đưa vào trong lò sấy, quan sát tình hình sấy của mẫu thí nghiệm đó Cũng có thể là
Trang 17đem tất cả mẫu của các loài gỗ cần lập chế độ sấy cùng đưa vào trong lò sấy thí nghiệm, rồi căn cứ vào đó để xác định được chế độ sấy hợp lý
3 Tiến hành sấy
Ta tiến hành quá trình sấy theo như chế độ sấy đã lập từ trước, đồng thời ta phải chú ý khâu ghi nhật ký trực lò sấy Ta ghi nhật ký như sau: ghi rõ diễn biến quá trình sấy, các nhận xét, các biện pháp xử lý đã tiến hành Khi thay đổi ca trực, lò sấy phải có bàn giao chi tiết
4 Phân tích chất lượng sấy
Căn cứ vào tiêu chuẩn quốc gia, các chỉ tiêu cụ thể về chất lượng gỗ xẻ sau khi sấy xong mà ta tiến hành phân tích chất lượng của mẻ sấy vừa thực hiện Các chỉ tiêu bao gồm: độ ẩm cuối cùng trung bình WTB, độ chênh lệch cho phép về độ ẩm ở các vị trí trong đống gỗ, sự chênh lệch về độ ẩm theo phương chiều dày của gỗ xẻ, chỉ tiêu về ứng lực được quan sát từ khuyết tật khi sấy như: độ cong, độ nứt
2.3 Kiểm tra chất lượng gỗ sấy
2.3.1 Khái niệm về chất lượng gỗ sấy
Chất lượng gỗ sấy là tổng thể các chỉ tiêu đề ra mà sản phẩm có thể đạt được theo yêu cầu trong những trường hợp nhất định Việc kiểm tra chất lượng của gỗ sấy nhằm mục đích đánh giá đúng chất lượng gỗ sấy, tính hiệu quả của quá trình sấy, phản ánh tình trạng thiết bị, công nghệ sấy gỗ tại công ty Qua đó tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng gỗ sấy
2.3.2 Các phương pháp đánh giá chất lượng gỗ sấy
Trang 18W là độ ẩm trung bình của thanh gỗ %
n – là số lần đo độ ẩm trên thanh gỗ
W là độ ẩm trung bình của của cả đống gỗ %
n – là mẫu kiểm tra trong đống gỗ
Ti
W là độ ẩm trung bình của thanh thứ i %
- Chênh lệch ẩm theo chiều dày thanh gỗ được xác định theo công thức:
2
2
ng tr cd
W W W
W là độ ẩm trung bình ở hai phía bên ngoài của thanh gỗ
Kiểm tra khuyết tật của gỗ sấy
Căn cứ vào tiêu chuẩn quốc gia, chỉ tiêu về chất lượng gỗ sấy đối với gỗ
xẻ Chất lượng của gỗ xẻ được chia làm 4 cấp:
Cấp I: Là gỗ xẻ đạt được cấp thứ nhất về những chỉ tiêu của chất lượng sấy, về cơ bản nó vẫn duy trì được các cường độ lực học vốn có của nó Loại này thích hợp sử dụng cho các mô hình thiết bị, dụng cụ âm nhạc, hàng không
Trang 19Cấp II: Là gỗ xẻ đạt được cấp II về những chỉ tiêu chất lượng gỗ sấy, cho phép một bộ phận về lực học bị giảm xuống ( cường độ chịu va đập không được giảm quá 5%) Loại này thích hợp với sản suất đồ gia đình, khung cửa, dụng cụ thể thao, đồ quân dụng, ván sàn, ván ghép
Cấp III: Là loại ván xẻ đạt được cấp III về chỉ tiêu chất lượng sấy, cấp này cho phép cường độ lực học bị giảm xuống một mức nhất định Loại này thích hợp cho đồ dùng ngoài trời, bao bì phổ thông…
Cấp IV: Là loại ván xẻ được hong phơi, hoặc được sấy khô bằng lò sấy đạt độ ẩm 20% Loại này vẫn đảm bảo được cường độ lực học cũng như màu sắc tự nhiên của nó
Bảng 2.3.Chỉ tiêu chất lượng về khuyết tật khi sấy
Gỗ lá rộng
Gỗ
lá kim
Cong
thuận
Cong ngang
Vênh đầu
Cong xoắn
Cong thuận
Cong ngang
Vênh Cong
xoắn
I 1,0 0,3 1,0 1,0 1,0 0,5 2,0 1,0 Kcp 2 4
II 2,0 0,5 2,0 2,0 2,0 1,0 4,0 2,0 Kcp 4 6 III 3,0 2,0 5,0 3,0 3,0 2,0 6,0 3,0 Kcp 6 10
IV 1,0 0,3 0,5 1,0 4,0 0,5 2,0 1,0 Kcp 2 4 Kiểm tra khuyết tật:
+ Kiểm tra sự thay đổi màu sắc của ván sau khi sấy so với lúc đầu: Khi sấy gỗ tiếp xúc với môi trường sấy có nhiệt độ cao làm cho các chất chiết suất trong gỗ biến đổi dẫn đến sự thay đổi màu sắc của gỗ sau khi sấy so với trước khi sấy Yêu cầu màu sắc của gỗ sau khi sấy không được biến màu, phải sáng màu và phải đảm bảo về mặt thẩm mỹ
Trang 20+ Kiểm tra độ nứt nẻ của gỗ sấy: Gỗ sau khi sấy thường gặp một số khuyết tật về nứt nẻ như: nứt ngầm, nứt đầu, nứt mặt Để xác định tỷ lệ vết nứt
ta dùng công thức:
Tỷ lệ vết nứt (%) = * 100 %
0
l l
Trong đó:
l1 - chiều dài vết nứt (mm)
l2 - chiều dài thanh gỗ (mm) + Kiểm tra độ móp méo: Ta đo chiều sâu tại hai vị trí móp nhất trên hai mặt rộng của thanh và mức độ móp méo được tính theo công thức sau:
Mức độ móp = Hmax1 + Hmax2
+ Kiểm tra cong vênh: Ta quan sát hình dạng của tấm ván sau khi sấy xem
có những loại cong vênh nào Sau đó đem đánh giá mức độ cong vênh của ván
Với ván cong hình cung theo một chiều để tính độ cong của ván ta đo độ võng của thanh gỗ và chiều dài thanh gỗ
Trang 21Chương III NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tìm hiểu chung về đặc điểm của công ty
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty: Công ty Cổ Phần Chế Biến Lâm Sản Sơn Tây
Địa chỉ: Đường Lê Lợi Phố Trạng Trình – Thành Phố Sơn Tây – Hà Tây Điện thoại: 0343 832123
gỗ Sơn Tây thuộc Khu Công Nghiệp Sơn Tây tỉnh Hà Tây Được xây dựng trên
cơ sở kế thừa từ xí nghiệp chế biến gỗ Sơn Tây nên có đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
kỹ thuật và đội ngũ công nhân viên giàu kinh nghiệm và có một mặt bằng phân xưởng rất lớn tổng diện tích của công ty là 5600m2, trong đó đang sử dụng là 4000m2 và không sử dụng tới là 1600m2 Công ty đã mở rộng thị trường trong
và ngoài nước như liên kết liên doanh để sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu là ván ghép thanh, cửa và khuôn cửa sang Đài Loan, Hàn Quốc và một số nước Đông Âu khác Công ty còn tham gia đấu thầu xây dựng để nhận lắp đặt đồ gỗ cho các công trình xây dựng lớn, các khách sạn …
Trang 22Cơ cấu tổ chức của công ty gồm: Hội Đồng Quản Trị, một Giám Đốc, hai Phó Giám Đốc, phòng kế hoạch, phòng kỹ thuật, phòng kinh doanh, phòng
kế toán và các xưởng sản xuất
3.1.2 Định hướng phát triển của công ty
1 Nguyên liệu
Nguyên liệu được dùng để sản xuất ở công ty chủ yếu là các loại gỗ Keo: Keo Lai, Keo lá Tràm … được nhập về dưới dạng gỗ xẻ với các cấp chiều dày theo đơn đặt hàng Trong quá trình thực tập thì công ty nhập nguyên liệu với cấp chiều dày là 28 – 34 mm
2 Sản phẩm
Sản phẩm của công ty chủ yếu là: Ván Ghép thanh, các loại cửa (cửa sổ, cửa đi, cửa pano, cửa chớp), khuôn cửa, cửa kính, cửa công nghiệp…Các sản phẩm này sản xuất để phục vụ cho thị trường trong nước và cả xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Do sản phẩm sản xuất ra phục vụ cho thị trường nước ngoài và trong nước ở những nơi cần chất lượng sản phẩm cao nên yêu cầu về chất lượng là khá khắt khe Nhưng với sự quyết tâm của cán bộ công nhân viên công ty thì cho đến nay công ty đã thu được những kết quả rất khả quan, tình hình sản suất của công ty ngày càng tiến triển tốt đẹp
3 Tình hình sản suất
Được sự kế thừa từ xí nghiệp chế biến gỗ Sơn Tây nên máy móc thiết bị, phương tiện vận tải của Công ty có nhiều cái đã lạc hậu Trong những năm gần đây công ty đã không ngừng đổi mới trang thiết bị và dây truyền công nghệ, tu
bổ, sửa chữa và thay thế một số máy móc thiết bị đã hư hỏng; nâng cấp và mua mới một số máy móc có công suất lớn, chất lượng cao Đặc biệt là công ty đã xây dựng thêm 2 lò sấy với dung tích là 35 m3/mẻ để đáp ứng yêu cầu sản xuất của công ty Mặc dù vậy máy móc thiết bị của công ty vẫn chưa được sử dụng hết, và do điều kiện công ty mới chuyển sang cổ phần hoá nên hiện nay công ty
Trang 23chỉ có khoảng 70 công nhân đang làm việc tại các xưởng, đứng hết 1/3 số lượng máy móc thiết bị của xưởng
Xu hướng phát trển của công ty: Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do đã
có nhiều thiết bị máy móc đã bị cũ hoặc không có khả năng tham gia sản xuất được nữa song công ty đã đề ra một mục tiêu phấn đấu cụ thể như sau:
- Bám sát thị trường trong nước, mạnh dạn đầu tư vào thị trường xuất khẩu, mở rộng liên doanh liên kết, thu hút đầu tư, tận dụng tiềm năng mở rộng ngành nghề và mặt hàng, tiếp tục huy động vốn nhàn rỗi của người lao động, Sửa chữa và nâng cấp nhà xưởng, máy móc thiết bị có thể dùng được; đổi mới
và thay thế dần máy móc thiết bị cũ nát lạc hậu, không phù hợp
- Bên cạnh những mặt hàng truyền thống là gỗ trụ mỏ, đồ mộc nội thất,
gỗ xây dựng cơ bản….công ty còn dự định liên kết với các đối tác Đài Loan, Hàn Quốc đầu tư máy móc thiết bị để sản xuất ra những mặt hàng mới như ván
ốp trần, ốp tường; bàn ghế cao cấp; đồ mộc xuất khẩu….Công ty còn có kế hoạch đầu tư khai thác trồng rừng ở các vùng sâu vùng xa để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu phát triển lâu dài của Công Ty Cổ phần Lâm Sản Sơn Tây Do đó, xu hướng phát triển của công ty trong những năm tới là tăng cường vốn điều lệ của Công Ty bằng cách phát hành thêm cổ phiếu và tiếp tục nâng cao cổ tức trên mỗi cổ phần
Trang 253.2 Kháo sát, đánh giá thực trạng máy móc thiết bị tại công ty
3.2.1 Khảo sát máy móc thiết bị tại công ty
Thiết bị sấy tại nhà máy hiện nay gồm có: ba lò sấy hơi nước điều khiển thủ công và hai lò sấy hơi nước điều khiển bán tự động và các thiết bị liên quan khác tới quá trình sấy
1 Lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
5 6
2
1
Hình 3.2 Hình chiếu cạnh lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
1 – Đống gỗ 2 – Quạt gió 3 – Cửa thoát ẩm
4 – Giàn tản nhiệt 5 - Ống phun ẩm 6 - Ống nước ngưng
+ Kích thước lò: dài x rộng x cao = 5300 x 4200 x 3300 (mm)
+ Dung tích lò: 15m3
a Tường lò sấy: Tường lò sấy có kết cấu gồm 3 lớp như sau:
Trang 26Bảng 3.1 Cấu tạo của tường lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
b.Cửa lò sấy
Cửa dạng bản lề, khung làm bằng thép, cách nhiệt bằng bông thuỷ tinh, mặt trong cửa bọc một lớp tôn, các mép cửa có gắn roăng cao su để tăng độ kín khít cho cửa trong quá trình sấy Kích thước của cửa được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 3.2 Cấu tạo cửa chính lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
Kích thước cửa: dài x rộng x cao: 1140 x 585 x 270 mm
Kích thước cánh: dài x rộng x cao: 1140 x 585 x 100 mm
Cửa thăm có cấu tạo tương tự như của chính của lò sấy
Trang 27
d Cửa trao đổi không khí
Lò sấy hơi nước điều khiển thủ công ở công ty có 4 cửa trao đổi không khí, đường kính cửa φ19 cm, có cấu tạo bằng inox, cửa đóng mở thủ công
e Quạt gió
Số lượng: 6 chiếc
Đường kính quạt 500 mm, chiều dài cánh 195 mm, khoảng cách giữa hai quạt là 385 mm, cánh nhôm đúc liền khối, hộp quạt bằng thép sơn hai lớp Động cơ quạt P = 1,1 Kw, số vòng quay: 1450 Vg/ph
Hình 3.3 Hình chiếu đứng quạt gió lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
Hình 3.4 Mặt cắt A – A quạt gió lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
Trang 28+ Ống phun ẩm: Ống phun ẩm ở đây là ống thép tròn có đường kính φ19
là ống thép chịu lực của Việt Nam, chiều dài ống 2100 mm Số lượng lỗ phun
là 39 lỗ, đường kính lỗ phun là 4 mm, khoảng cách giữa các lỗ phun là 120
mm, khoảng cách của ống phun ẩm so với trần lò là 260 mm
+ Các ống dẫn, van: Các ống dẫn có các cấp đường kính khác nhau ở mỗi đoạn nhưng chung nhất là hay dùng ống có đường kính là φ19 Đường ống dẫn được bao bọc bởi lớp bông thuỷ tinh cách nhiệt chiều dày khoảng 6 mm, bên ngoài được bọc lớp nhôm bảo vệ
Các loại van dùng trong ba lò sấy này bao gồm các van: Van cấp hơi, van nước, van lọc, van tách nước, van điện Và hầu hết đều có xuất xứ là hàng Trung Quốc cao cấp, hàng Đài Loan, hàng Hàn Quốc
h Đồng hồ đo nhiệt độ
Ở công ty chủ yếu dùng hai loại nhiệt kế: nhiệt kế khô và nhiệt kế ướt
Để đo giá trị của hai nhiệt kế này thì công ty dùng đồng hồ điện tử để thể hiện giá trị của hai loại nhiệt kế này (đối với lò bán tự động)
Trang 292 Lò sấy hơi nước điều khiển bán tự động
Hình 3.6 Sơ đồ tiết diện ngang lò sấy bán tự động
4 – Quạt gió 5 – Cửa thoát ẩm 6 – Giàn tản nhiệt
7 - Ống phun ẩm 3 – Hệ thống cầu trục mở cửa
Ở công ty gôm có hai lò bán tự động mới được xây dựng Kích thước lò sấy
Bảng 3.3 Kích thước lò sấy bán tự động
Kích thước lò(mm) k/c từ trần giả
lên trần lò(mm)
Diện tích sàn lò(m2)
Chiều cao phía trong lò(mm) Dài Rộng Cao
a Vỏ lò sấy
Tường lò sấy được xây bằng gạch rỗng 6 lỗ vuông có kích thước gạch là: Dài x rộng x dày: 200 x 150 x 100 (mm)
Trang 30Vữa xây vỏ lò là vữa MCV 70, mặt trong trát vữa X.MCV 100, mặt trong có quét chống thấm Tổng chiều dày của tường lò là 250 mm
b Cửa lò sấy
Kết cấu cửa lò gồm 3 lớp: Khung thép, bông thuỷ tinh, tole thép Cửa lò
có kết cấu khung thép, đây là hệ thống cửa trượt được mở bằng cơ cấu nâng cửa trượt trên ray đóng mở bằng xe goòng treo, chỗ tiếp giáp giữa cửa và tường
lò được ép roăng cửa chuyên dùng
c Các cửa phụ trong lò sấy
+ Cửa thăm gỗ: Cửa có kết cấu dạng bản lề cấu tạo như cửa chính, được đóng chặt nhờ bulông với kết cấu ren Kích thước ô cửa: cao x rộng: 800 x 250
+ Cửa trao đổi không khí: Lò có 4 cửa trao đổi không khí, cửa có đường kính φ19, làm bằng inox, đóng mở thủ công
Nền lò sấy được đổ bằng bêtông xi măng có độ dày là 100 (mm) Nền có
độ dốc về phía cửa lò Mặt nền không có đường ray do phương pháp đưa gỗ vào là bằng xe nâng Và cũng không có rãnh thoát nước ngưng
f Giàn tản nhiệt
Giàn tản nhiệt là loại giàn tản nhiệt dạng ống có cánh, ống làm bằng inox
có đường kính φ19, cánh nhôm dập prôfin, kích thước 600 x 2000 mm Diện tích trao đổi nhiệt: F > 25 m2
Trang 31g Quạt gió
Lò có 3 quạt gió, quạt có đường kính φ800, chiều dài cánh 260 mm, lưu lượng gió 25000m3/h, đảo chiều, cánh nhôm đúc rời, hộp quạt làm bằng thép sơn hai lớp Quạt có động cơ công suất P = 3,0 Kw với số vòng quay 1450 Vg/ph
Hình 3.7 Quạt gió của lò sấy bán tự động
h Hệ thống ống dẫn, van các loại
+ Ống phun ẩm: Ống inox, có đường kính φ19
+ Hệ thống ống dẫn khác: Ống dùng trong lò có các cấp đường kính khác nhau, nhưng chủ yếu là loại ống có đường kính φ19 Ống được bao ngoài là lớp bông thuỷ tinh cách nhiệt dày khoảng 6 mm, bên ngoài có lớp nhôm bảo vệ
i Van các loại
+ Van cấp hơi: - Van bích thép Dy25 của Trung Quốc
- Van bích thép Dy15 của Trung Quốc
- Van ren đồng Dy25 của Hàn Quốc
+ Van nước: van ren đồng Dy15 của Đài Loan + Van lọc: van chữ Y Dy25 của Đài Loan + Van tách nước: van đĩa Dy32 của Đài Loan + Van điện: van điện Dy25 của Hàn Quốc
Trang 32k Hệ thống nồi hơi
Công ty có hai nồi hơi là: Nồi hơi dạng đứng và nồi hơi dạng nằm Và cả hai thay nhau làm việc, không hoạt động cả hai cùng lúc
Bảng 3.4 Thông số kích thước của nồi hơi ở công ty
Sản lượng hơi định mức: 2000Kg/h Sản lượng hơi định mức: 2000 Kg/cm3
3.3 Đánh giá thực trạng máy móc thiết bị của công ty
3.3.1 Lò sấy hơi nước điều khiển thủ công
Có thời gian họat động đã khá lâu nên hầu hết các thiết bị đều tới quá trình cần phải bảo dưỡng
a Vỏ lò sấy
Trên vỏ có xuất hiện một số vết nứt làm cho hiện tượng thất thoát nhiệt qua vỏ lò sấy là khá đáng kể, mặt trong lớp sơn cách ẩm đã bong tróc gần hết nên trong quá trình sấy hiện tượng nước ngưng bám trên thành tường lò là rất nhiều, trên vỏ còn xuất hiện cả hiện tượng nấm mốc gây ảnh hưởng tới chất lượng gỗ sấy Ngoài ra chỗ tiếp giáp giữa trần lò và tường lò và nền lò lại là góc vuông làm cho tốc độ tuần hoàn của dòng không khí trong lò sấy bị giảm xuống gây ảnh hưởng tới chất lượng gỗ sấy