CTCK với những lợi thế về nguồn vốn lớn, tính linh hoạt trong cơ chế sử dụng vốn thông qua hoạt động Tự doanh chứngkhoán đã góp phần kiểm soát rủi ro đối với hoạt động môi giới chứng kho
Trang 1Lêi më ®Çu
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Sau 5 năm đi vào hoạt động TTCK Việt Nam đã trở thành một kênh huyđộng vốn quan trọng, môi trường đầu tư mới hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển.Cuối năm 2005 đã có 34 Công ty chính thức niêm yết cổ phiếu và đi vào giao dịch.Tính đến tháng 12 năm 2005, tổng giá trị chứng khoán niêm yết và đăng ký giaodịch đạt khoảng 44,600 tỷ đồng TTCK đã thu hút được sự tham gia của đông đảocông chúng trong và ngoài nước với trên 29.000 tài khoản Tổng giá trị vốn hóaTTCK đạt khoảng 6,9% GDP, trong đó thị trường cổ phiếu đạt 1% GDP Nhưngthực chất môi trường đầu tư chưa thực sự chuyên nghiệp, còn nhiều yếu kém, quy
mô thị trường còn nhỏ, thiếu những dịch vụ chuyên nghiệp cung cấp cho các nhàđầu tư, các nhà đầu tư chưa chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư
Ngoài ra, TTCK tiềm ẩn nhiều rủi ro, do vậy cần thiết phải có chiến lược đầu
tư tốt để, hạn chế rủi ro, bảo vệ nhà đầu tư, tối đa hoá thu nhập cho nhà đầu tư tronggiới hạn rủi ro cho phép
Đối với các CTCK, đây là mảng dịch vụ quan trọng đem lại nhiều lợi nhuậncho Công ty Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, qua thời gian thực tậptại CTCK Ngân Hàng Công Thương Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài :
“ Phát triển hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư tại Công Ty Chứng Khoán Ngân Hàng Công Thương Việt Nam “
2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động QLDM ĐT rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên trong luận vănnày, vấn đề nghiên cứu được chú trọng vào vấn đề sau:
Về nội dung: QLDM ĐT được nghiên cứu dưới góc độ của CTCK với hoạt động
nhận vốn ủy thác của Khách hàng, trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý thuyết đầu tưtheo danh mục, QLDM ĐT Tuy nhiên không trình bầy cụ thể chi tiết về mặt kỹthuật toán được áp dụng trong hoạt động QLDM ĐT Về thực tiễn nghiên cứu: vấn
Trang 2đề được nghiên cứu hoạt động QLDM ĐT tại CTCK NH Công Thương hiện naytrong gần hai năm từ tháng 9 năm 2004 đến tháng 3 năm 2006.
3 Mục đích nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu hoạt đồng QLDM ĐT và việc ứng dụng hoạt động nàyvào việc đầu tư trên TTCK Những vấn đề lý thuyết đầu tư theo danh mục, rủi rotrong hoạt động đầu tư chứng khoán, thu nhập trong hoạt động đầu tư…và ứngdụng những lý thuyết đó trong đầu tư chứng khoán là mục đích hàng đầu được đặt
ra trong khi nghiên cứu đề tài này Đồng thời quan sát tìm hiểu thực tế hoạt độngQLDM ĐT tại CTCK NH Công Thương, để từ đó có những giải nhằm nâng caochất lượng hoạt động QLDM ĐT tại CTCK NH Công Thương
4 Kết cấu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu như vậy kết cấu đềtài ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và chú thích danh mụccác từ viết tắt, danh mục các bảng biểu sơ đồ kèm theo, luận văn được bố cục gồm
ba chương cơ bản như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư của
Công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư tại Công ty chứng khoán ngân hàng Công thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư tại Công ty
chứng khoán ngân hàng Công thương Việt Nam
2
Trang 3chơng 1những vấn đề cơ bản về hoạt động quản lý danh mục
đầu t của công ty chứng khoán
1.1 HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA CễNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khỏi niệm Cụng Ty Chứng Khoỏn
Theo quyết định số 55/2004/QĐ-BTC ngày 17 thỏng 6 năm 2004 được banhành cựng với “Quy chế tổ chức và hoạt động của CTCK” của Bộ Tài Chớnh,
“CTCK là Cụng ty cổ phần, Cụng ty trỏch nhiệm hữu hạn thành lập theo phỏp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoỏn theo giấy phộp kinh doanh chứng khoỏn do
Uỷ ban chứng khoỏn nhà nước (UBCK NN) cấp” Hiện nay, theo điều 65 của nghị
định 144/2003/NĐ-CP quy định cỏc CTCK được thực hiện cỏc loại hỡnh kinh doanhnhư: Mụi giới chứng khoỏn, Tự doanh chứng khoỏn, QLDM ĐT chứng khoỏn, Bảolónh phỏt hành chứng khoỏn, Tư vấn tài chớnh doanh nghiệp Qua đõy cú thể thấy
“CTCK là một tổ chức tài chớnh trung gian thực hiện cỏc nghiệp vụ trờn TTCK ”.
Theo Giỏo trỡnh TTCK của ĐH KTQD (NXB Tài chớnh-2002)
CTCK là một tổ chức tài chớnh trung gian được cụ thể hoỏ như sau: “CTCK
là sự tập hợp cú tổ chức của cỏc nhà mụi giới riờng lẻ, là một chủ thể kinh doanh tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cỏch nối những người cú tiền (nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn Cung cấp một cơ chế giỏ cả cho giỏ trị của cỏc khoản đầu tư Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho cỏc nhà đầu tư Đồng thời cung cấp cỏc dịch vụ trung gian trờn TTCK”- theo giỏo trỡnh Những vấn đề cơ bản
về chứng khoỏn và TTCK – UBCK NN Vậy thực chất Cụng ty chứng khoỏn núichung là một tổ chức chung gian trờn TTCK, trung gian ở đõy cú thể hiểu là trunggian về giao dịch, về chuyển nhượng về cung cấp thụng tin…đặc trưng trung gian lànhõn tố khụng thể thiếu được của bất cứ Cụng ty chứng khoỏn nào
1.1.2 Mụ hỡnh tổ chức của Cụng Ty Chứng Khoỏn
CTCK là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, trờn thị trường tài chớnhnúi chung và TTCK núi riờng CTCK được coi như một tổ hợp hay siờu thị cungcấp những dịch vụ tài chớnh cho khỏch hàng đồng thời cung cấp những dịch vụ tàichớnh đặc biệt cho cụng chỳng đầu tư, do vậy tớnh chuyờn mụn hoỏ rất cao, thực tếtồn tại 2 loại hỡnh tổ chức CTCK chủ yếu đú là :
Trang 4 Mô hình CTCK đa năng
Với mô hình đa năng, CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụtài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và cácdịch vụ tài chính khác, mô hình này được biểu hiện dưới 2 hình thức sau:
- Đa năng một phần, theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập Công ty con, hạch toán độc lập và
hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
- Đa năng hoàn toàn, các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng
khoán, bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ cũng như những dịch vụ tài chính khác(Giáo trình TTCK- ĐHKTQD)
Ưu điểm của mô hình này chính là tính đa năng của tổ chức, Khách hàng đến với
CTCK có thể thực hiện các giao dịch liên quan đến dịch vụ tài chính Với ưu thếnhư vậy CTCK đa năng đã tạo ra tính tiện nghi cho Khách hàng khi thực hiện cácdịch vụ ở đây Trên thế giới mô hình này khá phổ biến và trở nên khá thích dụngkhi thị trường tài chính phát triển ngày càng cao Đồng thời nhu cầu sử dụng dịch
vụ của Khách hàng ngày càng đa dạng, Khách hàng ngày càng trở nên khó tính hơn,
có nhu cầu sử dụng dịch vụ tiện nghi ngày càng tăng Ngoài ra các tổ chức tài chínhngày càng len lỏi vào hầu khắp các lĩnh vực của đời sống
Nhược điểm, một trong những đặc trưng mang tính chất là yếu điểm của mô hình
này là việc tổ chức này phải đối mặt với những rủi ro không mong muốn khi thựchiện dịch vụ đa năng, đặc biệt là mô hình đa năng toàn phần, cơ chế kiểm soát rủi rotrở nên phức tạp và khó thực hiện hơn cả Nếu không kiểm soát được thì rất dễ gâyphản ứng dây chuyền lên toàn hệ thống khi có những biến cố bất ngờ xẩy ra Đồngthời hình thức tổ chức này khiến cho các tổ chức tài chính khó có thể chuyên mônhoá, chuyên sâu nghiệp vụ và phục vụ Khách hàng những dịch vụ tốt nhất
Mô hình CTCK chuyên doanh
Với mô hình này, CTCK sẽ do các Công ty độc lập và chuyên môn hoá tronglĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanhchứng khoán Với bài học thực tế trên thế giới về sự đổ vỡ của Ngân hàng lớn khitham gia vào TTCK là một cảnh báo cho tất cả các tổ chức ngân hàng khi tham gia
4
Trang 5vào TTCK Do vậy mô hình CTCK chuyên doanh ra đời nhằm kiểm soát rủi ro củacác ngân hàng khi tham giao vào TTCK.
Thực tế về mô hình tổ chức CTCK ở Việt Nam
Thực tế chứng minh mỗi mô hình CTCK có những ưu điểm và hạn chế riêng,tuy nhiên luôn tồn tại song song hai mô hình trên Ở Việt Nam từ khi TTCK ra đời
và đi vào hoạt động đã song song tồn tại hai loại hình tổ chức CTCK, theo luật địnhhiện nay các Ngân hàng không được tham gia trực tiếp kinh doanh những dịch vụtrên TTCK, tuy nhiên đến nay các NHTM đã thành lập CTCK hạch toán độc lập,được Ngân hàng cấp vốn để hoạt động trên TTCK Cùng với sự phát triển rất nhanhcủa TTCK trong những năm qua đã có sự hợp tác giữa các NHTM với CTCK đểthực hiện những tiện ích tài chính, những dịch vụ tài chính trên TTCK như dịch vụcầm cố chứng khoán, Repo chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán, ứngtrước tiền mua chứng khoán…qua đó có thể thấy mô hình chứng khoán đa năngngày càng phát triển
1.1.3 Vai trò, chức năng của Công Ty Chứng Khoán
TTCK là nơi tại đó diễn ra những giao dịch mua bán chứng khoán, trong đóchứng khoán là một loại giấy tờ có giá được giao dịch mua bán trên thị trường, mộtloại hàng hoá đặc biệt Một đặc trưng quan trọng của thị trường chứng khoán là có
sự tham gia của những trung gian trên thị trường, đặc biệt là những CTCK CTCK
là nhân tố thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói chung và của TTCK nói riêng, vaitrò, chức năng quan trọng đó của CTCK được thể hiện như sau:
Đối với tổ chức phát hành, CTCK cung cấp dịch vụ đại lý bảo lãnh phát hành
như một tổ chức công bố thông tin tới công chúng đầu tư Mục tiêu hàng đầu của tổchức phát hành khi tham gia vào TTCK là huy động vốn thông qua việc phát hànhchứng khoán Vì vậy thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành,CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cho tổ chức phát hành
Đối với nhà đầu tư, thông qua những dịch vụ mà CTCK cung cấp như môi
giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, QLDM ĐT, CTCK góp phần giảm chi phí và thờigian giao dịch, thời gian tìm hiểu thông tin do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu
tư của các Nhà đầu tư
Trang 6Đối với TTCK, CTCK thể hiện vai trò chính, thứ nhất góp phần tạo lập giá
cả, điều tiết thị trường, giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định tuy nhiên đểđưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK.Đồng thời những thông tin ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư thường
được cung cấp bởi những CTCK Thứ hai, góp phần làm tăng tính thanh khoản của
các tài sản tài chính với vai trò cầu nối giữa chủ thể phát hành với công chúng đầu
tư và làm cầu nối thực hiện giao dịch cho nhà đầu tư trên TTCK niêm yết, làm cầunối thực hiện giao dịch báo giá trên TTCK phi tập chung CTCK góp phần nâng caokhả năng mua đi bán lại của các tài sản tài chính, giúp cho những giao dịch diễn rathuận lợi nhanh chóng đảm bảo tính an toàn, tránh được rủi ro thanh toán
Đối với cơ quan quản lý thị trường, CTCK với vai trò cung cấp thông tin về
TTCK cho cơ quan quản lý thị trường để cơ quan này có trách nhiệm nghiên cứuđưa ra những chính sách phù hợp với sự phát triển của TTCK, đồng thời các CTCKcũng là một kênh phân phối thông tin hiệu quả khi cơ quan quản lý thị trường thựchiện công bố CTCK cũng là nơi tiệp nhận những thông tin phản hồi từ phía côngchúng đầu tư, để từ đó cơ quan quản lý thị trường nắm bắt được xu thế đầu tư, xuthế phát triển của thị trường trong tương lai để có giải pháp phù hợp nhằm điều tiếtcũng như định hướng thị trường phát triển
Chức năng của CTCK:
Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt, làm cầu nối giữa những người có vốn nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
Đối với chủ thể phát hành, CTCK cung cấp một phương thức huy động vốn
linh hoạt dựa trên nhu cầu thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,đồng thời giúp cho chủ thể phát hành có cơ hội lành mạnh hoá sức khoẻ tài chínhcủa Công ty; điều chỉnh cơ cấu vốn phù hợp với năng lực thực sự (thông qua hoạtđộng mua vào bán ra cổ phiếu quỹ, đánh giá tỷ trọng nợ với vốn chủ sở hữu một
cách hài hoà) Đối với công chúng đầu tư, TTCK và đặc biệt là CTCK cung cấp một
địa điểm thực hiện giao dịch, cung cấp một môi trường đầu tư năng động linh hoạt
mà trước đây đồng tiền nhàn rỗi chủ yếu mới chỉ được gửi ở các Ngân hàng
6
Trang 7Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch chứng khoán thông qua hệ thống khớp lệnh hoặc khớp giá Cơ chế định giá khớp lệnh và đấu giá của TTCK tạo ra tính
công bằng cho bất cứ nhà đầu tư nào, đồng thời phản ánh cung cầu trên thị trường
Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán, khả năng chuyển chứng khoán ra tiền và tiền ra chứng khoán nhanh hơn bất cứ tài sản nào CTCK tạo ra tính thanh
khoản cho các chứng khoán, với vai trò nhà tạo lập thị trường, với vai trò là nhà môigiới và trở thành một địa điểm mà bất cứ nhà đầu tư nào muốn mua hay muốn bánđều phải thông qua các CTCK để thực hiện giao dịch hay chuyển nhượng
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường thông qua hoạt động tự doanh chứng khoán hoặc vai trò tạo lập thị trường CTCK với những lợi thế về nguồn vốn
lớn, tính linh hoạt trong cơ chế sử dụng vốn thông qua hoạt động Tự doanh chứngkhoán đã góp phần kiểm soát rủi ro đối với hoạt động môi giới chứng khoán chonhà đầu tư của CTCK, kiểm soát rủi ro trong quá trình giao dịch của nhà đầu tư,đồng thời điều tiết giá cả chứng khoán trong những thời điểm thị trường quá nónghoặc thị trường giảm giá quá nhanh làm cho các nhà đầu tư mất lòng tin vào TTCK
Đóng vai trò trung gian làm cầu nối giữa những nhà đầu từ với những Công
ty có nhu cầu vốn kinh doanh
Công bố thông tin cho giới đầu tư: thông tin tại các CTCK được công bố minh bạch kịp thời tới tất cả các nhà đầu tư Vai trò cung cấp thông tin của các
CTCK đóng vai trò rất quan trọng bởi đặc trưng của TTCK chịu tác động nhiều củayếu tố tâm lý, yếu tố này rất dễ bị tác động bởi những thông tin CTCK cung cấp.Nếu không có vai trò này thì CTCK chỉ đóng vai trò như một trung gian để giúp nhàđầu tư thực hiện giao dịch cũng như chuyển nhượng
1.1.4 Các hoạt động cơ bản của Công Ty Chứng Khoán
1.1.4.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Vai trò trung gian của CTCK được thể hiện rõ nét nhất qua hoạt động môigiới, vậy hoạt động môi giới của CTCK là gì ?
Qua nghiên cứu, cũng như những tài liệu về TTCK thường nêu:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho Khách hàng để hưởng hoa hồng Qua đó, CTCK đại diện cho Khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường
Trang 8OTC mà chính Khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình (Giáo trình Thị trường chứng khoán – ĐH KTQD)
Hoạt động môi giới chứng khoán được coi là hoạt động gần như bắt buộcphải có đối với bất cứ CTCK nào, bởi vì theo quy định các CTCK là thành viên củatrung tâm giao dịch chứng khoán phải thực hiện vai trò môi giới thực hiện lệnh choKhách hàng
1.1.4.2 Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán thực chất là việc CTCK tự tiến hành các giao dịchmua bán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của CTCK được thựchiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Tại một sốTTCK vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của CTCK được thựchiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường, lúc này CTCK đóng vai trò nhà tạo lậpthị trường, nắm giữa một số lượng chứng khoán nhất định và thực hiện mua bánchứng khoán với các Khách hàng để hưởng chênh lệch giá Hiện nay hoạt động tựdoanh còn thực hiện nghiệp vụ mua lại những chứng khoán lẻ của nhà đầu tư dohoạt động tách cổ phiếu, hay chia cổ phiếu thưởng, chi trả cổ tức bằng cổ phiếu gâyra
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính Công tythông qua hoạt động mua bán chứng khoán từ nguồn vốn thuộc sở hữu của Công ty.Hoạt động tự doanh của CTCK thật sự cần thiết đối với bất cứ CTCK nào, bởi vìhiện nay TTCK chưa phát triển về quy mô nên phí thu được từ hoạt động giao dịch,hoạt động tư vấn không cao do vậy hiện nay hoạt động tự doanh là hoạt động đemlại nguồn thu chính cho các CTCK Ngoài ra hoạt động tự doanh của CTCK cũnggóp phần làm cho TTCK ngày càng sôi động do CTCK chính là một tổ chức đầu tưchuyên nghiệp, đồng thời hoạt động tự doanh của CTCK cũng làm cho chứngkhoán trên thị trường thanh khoản hơn, góp phần điều tiết thị trường bình ổn giáchứng khoán
1.1.4.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức pháthành thực hiện các thủ tục trước khi trào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phốichứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi pháthành, nhận mua một phần hoặc toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán
8
Trang 9lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết Như vậy bảo lãnhphát hành chứng khoán bao gồm cả việc tư vấn tài chính và phân phối chứng khoán.Các hình thực bảo lãnh phát hành chứng khoán:
- Cam kết chắc chắn
- Cố gắng tối đa
- Bán tất cả hoặc không
- Bảo lãnh tối thiếu, tối da
1.1.4.4 Hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư
Hoạt động quản lý doanh mục đầu tư thực chất là việc CTCK thực hiện nhậnvốn uỷ thác của Khách hàng thực hiện hoạt động quản lý, giám sát, đầu tư từ nguồnvốn của Khách hàng (thực chất là nhận vốn đầu tư từ Khách hàng và thực hiện đầu
tư từ nguồn vốn đó theo yêu cầu của Khách hàng hoặc hợp đồng ký kế )
QLDM ĐT là một dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính tổng hợp
1.1.4.5 Tư vấn tài chính doanh nghiệp
Một trong những vai trò quan trọng của CTCK là cung cấp những dịch vụ hỗtrợ các doanh nghiệp khi tham gia vào TTCK:
- Tư vấn niêm yết chứng khoán
- Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp
- Trung gian bán đấu giá cổ phần
- Tư vấn cổ phần hoá
- Tư vấn chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp
- Dàn xếp các giao dịch tài chính
- Tái cấu trúc nợ, cấu trúc tài chính, sát nhập doanh nghiệp
1.1.4.6 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là một hình thức của tư vấn, trong đó Công tyđưa ra những lời khuyên trên cơ sở những phân tích cụ thể vấn đề mà Khách hàngcần tư vấn, từ đó hỗ trợ Khách hàng ra quyết định một cách đúng đắn
Do lợi thế là những thành viên tham gia trực tiếp vào thị trường, các bộ phậnchuyên trách của CTCK thực hiện hoạt động theo dõi, nghiên cứu những diễn biến,những biến động của thị trường bởi vậy những kết quả phân tích có tính xác thựccao hơn là những phân tích của từng nhà đầu tư Bên cạnh đó CTCK có thể tư vấncho Khách hàng, đưa ra những phương án phù hợp với nhu cầu đầu tư của từng
Trang 10Khách hàng trên cơ sở nguồn vốn và mức chịu đựng rủi ro của từng nhà đầu tư.Ngoài các hoạt động chính CTCK còn cung cấp các hoạt động phụ trợ như, lưu kýchứng khoán, quản lý thu nhập của Khách hàng, các hoạt động tín dụng, quản lýquỹ …
1.2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.2.1 Những vấn đề cơ bản về Quản Lý Danh Mục Đầu Tư:
Trong phần này chúng ta tìm hiểu những khái niệm cơ bản nhất về quản lýdoanh mục đầu tư
1.2.1.1 Tổng quan về Đầu tư
Trong nền kinh tế luôn tồn tại ba tâm lý kinh tế chủ đạo đó là tiêu dùng, tiếtkiệm và đầu tư Những nhà kinh tế cổ điển đã đưa ra học thuyết mối quan hệ giữatiết kiệm và đầu tư, nguồn gốc của những đầu tư trong dân chúng được hình thành
từ những khoản tiết kiệm, nguồn gốc của những đầu tư của nhà nước được hìnhthành từ những nguồn tiết kiệm của chính phủ, tổng đầu tư của nền kinh tế đượchình thành từ những nguồn đầu tư của tư nhân và chính phủ mà nguồn gốc chủ yếu
đó là tiết kiệm của tư nhân và chính phủ Nhưng ngày nay tư tưởng đó chỉ là thụđộng, bởi nguồn gốc của đầu tư bây giờ rất đa dạng được hình thành từ nhữngkhoản đầu tư từ nước ngoài, từ viện trợ, từ đi vay hay từ những công cụ tài chínhhuy động vốn Qua đây chúng ta thấy được nguồn gốc hình thành nên những khoảnđầu tư ? Theo ý chủ quan của tác giả, mục đích đầu tư là tạo ra ngày càng nhiều giátrị thặng dư cho xã hội và cho từng cá thể trong cuộc sống, đảm bảo nhu cầu vĩ môcho xã hội và những nhu cầu cho từng cá thế đó là nhu cầu tiêu dùng ngày càngtăng, nhu cầu an toàn, nhu cầu phát triển Có rất nhiều quan điểm khác nhau về đầu
tư nhưng trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu chỉ quan tâm nghiên cứu đầu tưdưới góc độ tài chính
Trong cuốn Investment analysis and Porfolio Management định nghĩa: “Đầu
tư là sự trao đổi một số tiền hiện tại trong một khoảng thời gian để thu về một khoản tiền lớn hơn trong tương lai mà nó có thể bù đắp cho nhà đầu tư về: (1) Thời gian mà số tiền được đem trao đổi, (2) Tỷ lệ lạm phát dự tính, (3) Rủi ro thanh toán”
Trong cuốn Fundamentals of Investment – NXB Prentice Hall định nghĩa
10
Trang 11“Đầu tư là việc chấp nhận bỏ đi việc tiêu dùng một số tiền trong hiện tại để có được một số tiền trong tương lai (bao gồm số tiền gốc và số tiền lãi thu về như lãi suất, cổ tức, chênh lệch giá…)”
Trong cuốn Investment Perfomance Measurement khái niệm, “Đầu tư là một
việc mất đi một vài thứ gì đó trong hiện tại mà chúng ta có thể dự tính sẽ thu được một khoản lợi nhuận trong tương lai lớn hơn những gì mà chúng ta đã bỏ ra Phần chênh lệch giữa việc bỏ vốn và thu vốn là thu nhập cho hoạt động đầu tư này.”
Từ điển các thuật ngữ về TTCK khái niệm đầu tư như sau, “Đầu tư đó là
việc bỏ vốn thường xuyên, lâu dài hoặc là trong ngắn hạn vào các tài sản tài chính, các tài sản thực, kinh doanh hoặc một vài thứ gì khác mà có rủi ro thấp để mong kiếm được lợi nhuận từ quyền sở hữu hay sử dụng nó.”
Website http:// www.inventopedia.com chuyên cung cấp các kiến thức tài
chính và đầu tư khái niệm, “ Một tài sản hay một bút toán ghi sổ được mua về với
hy vọng rằng nó sẽ sinh ra thu nhập hay tăng giá trị trong tương lai Xét về khía cạnh nền kinh tế thì đầu tư là việc mua hàng hoá mà không dùng ngay trong hiện tại nhưng lại được sử dụng trong tương lai để tạo ra được của cải Xét theo khía cạnh tài chính thì một tài sản dạng tiền được mua về với quan điểm rằng tài sản đó
sẽ cho thu nhập hay tăng giá trị trong tương lai và được bán ở mức giá cao.”
Qua nghiên cứu tác giả xin đưa ra khái niệm chính như sau:
“Đầu tư là việc chủ thể chấp nhận hy sinh những giá trị ở hiện tại để kỳ vọng có được giá trị tiêu dùng lớn hơn trong tương lai” Giá trị ở đây có thể hiệu là : giá trị
của thời gian, tiền bạc, công sức, chất xám…Trong kinh tế nói chung có thể hiểu :
“đầu tư là việc chủ thể bỏ tiền ra trong một khoảng thời gian nhất định với hy vọng
thu về với lượng tiền lớn hơn ban đầu (chấp nhận bỏ đi tiêu dùng trong hiện tại để
có được một số tiền lớn hơn trong tương lai)
Trong thực tế đầu tư có thể được chia làm nhiều loại hình đầu tư khác nhau:
- Đầu tư tài sản thực và đầu tư tài sản tài chính:
+ Đầu tư tài sản thực là việc các nhà đầu tư (thường là các nhà đầu tư lớn có tổchức hoặc là các doanh nghiệp) thực hiện việc bỏ vốn vào các tài sản hữu hìnhnhư nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị…và tiến hành sản xuất thu được giátrị thặng dư
Trang 12+ Đầu tư tài sản tài chính (gọi tắt là đầu tư tài chính) là việc các nhà đầu tư cánhân hoặc có tổ chức thực hiện việc bỏ vốn để sở hữu các loại giấy tờ có giáhoặc bút toán ghi sổ như là trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, góp vốn liên doanh,với mục đích thu được các khoản lợi từ những hàng hoá đầu tư đó
- Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp
+ Đầu tư trực tiếp là việc các nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào tài sản thực đồngthời thực hiện điều hành giám sát quản lý hoạt động đầu tư
+ Đầu tư gián tiếp là việc các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư thông quamột tổ chức trung gian như Ngân hàng, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính,Quỹ đầu tư…để hưởng lợi tức, không trực tiếp tham gia vào quá trình điềuhành quản lý hoạt động đầu tư
1.2.1.2 Tổng quan về Đầu tư tài chính
Sau khi nghiên cứu đầu tư với khuôn khổ nghiên cứu về lĩnh vực tài chính,luận văn này xin đi sâu vào đầu tư tài chính
Đầu tư tài chính là việc mua và nắm giữ những tài sản tài chính với mục đích
sẽ được nhận khoản thu nhập kỳ vọng trong tương lai, đồng thời được hưởng một
số quyền nhất định từ việc nắm giữa tài sản tài chính đó như quyền biểu quyết,quyền đòi nợ, quyền trao đổi tự do tài sản tài chính
Trong đầu tư tài chính có rất nhiều cách thức phân loại đầu tư khác nhau, nhữngtạm chia đầu tư tài chính theo những phương diện sau:
- Xét về yếu tố thời gian :
+ Đầu tư tài chính ngắn hạn, nhà đầu tư mong muốn thu khoản lợi một cách nhanhchóng, nhằm quay vòng đồng vốn đầu tư nhanh, cơ động với những biến độngtrên thị trường (rủi ro thấp, nhưng đôi lúc đầu tư ngắn hạn, nhà đầu tư chấp nhậnmạo hiểm lớn)
+ Đầu tư tài chính dài hạn, khoản đầu tư trong một thời gian dài, mức rủi ro cao, dovậy kỳ vọng về thu nhập lớn
- Xét theo mục đích:
+ Đầu tư hưởng lợi là nhằm thu nguồn lợi lớn đó là cổ tức, lãi suất,chênh lệch giá.+ Đầu tư nắm quyền kiểm soát, với mục đích của đầu tư ở đây là thao túng và nắmquyền kiểm soát các tổ chức phát hành do vậy nhà đầu tư chấp nhận bỏ ra một
12
Trang 13chi phí lớn, để trong tương lai dễ dàng điều tiết và thu được những nguồn lợi caonhư mong muốn.
+ Đầu tư chênh lệch giá: đầu tư mua với giá thấp và bán với giá cao để hưởngchênh lệch
+ Đầu tư giảm giá là việc nhà đầu tư dự trù được giá chứng khoán có thể xuốngthấp, do vậy nhà đầu tư sẽ vay chứng khoán sau đó bán đi (bán khống), đến thờiđiểm hoàn trả chứng khoán thì mua chứng khoán vào với giá thị trường (thấphơn) để trả
- Xét theo hàng hoá :
+ Đầu tư cổ phiếu
+ Đầu tư trái phiếu
+ Đầu tư vào các tài sản khác
- Xét về phương thức đầu tư
+ Đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào tài sản thực, tài sản tài chínhnhằm mục đích thực hiện các hoạt động đầu tư
+ Đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư thông qua thông qua cáctrung gian như Ngân hàng, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính, Công ty quản lýquỹ…để hưởng lợi
- Theo chủ thể đầu tư :
+ Đầu tư của chính phủ
+ Đầu tư của tổ chức
+ Đầu tư của cá nhân…
Thông qua việc xem xét những khía cạnh khác nhau của đầu tư, đầu tư tài chính,những kết luận quan trọng về đặc trưng của đầu tư tài sản tài chính như sau:
- Tài sản tài chính là tài sản không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh
tế (trái phiếu, tín phiếu ) được gọi chung là chứng khoán, bản thân tài sản tàichính không có giá trị nội tại, giá trị của tài sản tài chính là ở các lợi ích mà tổchức phát hành cam kết mang lại từ hoạt động của tổ chức này như cam kết trả
nợ, cam kết chia trả cổ tức…
- Hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính là quá trình mua và nắm giữ những tàisản tài chính, những tài sản này đem lại thu nhập cho nhà đầu tư và một số quyềnnhất định như quyền nhận cổ tức, quyền biểu quyết, quyền được tự do trao đổi…
Trang 14- Hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, rủi ro ở cóthể được hiểu là khả năng xảy ra những biến cố không lường trước được làm chothu nhập thực tế khác xa so với thu nhập dự tính, các loại rủi ro có thể là rủi ro hệthống và rủi ro không có hệ thống.
- Hoạt động đầu tư tài sản tài chính có tính thanh khoản cao hơn nhiều so vớiviệc đầu tư vào tài sản thực, do đặc trưng của tài sản tài chính là tài sản vô hình,tài sản cận tiền, có khả năng chuyển đổi ra tiền một cách dễ dàng hơn những tàisản thực
Tài sản tài chính có rất nhiều loại khác nhau, gồm tài sản tài chính ngắn hạn, trunghạn, và dài hạn Những thông thường khi nhắc đến tài sản tài chính thường đề cậpđến những tài sản tài chính cơ bản sau:
Thứ nhất, Chứng khoán là một loại giấy tờ được phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một Công ty cổ phần.( Giáo trình Những vấn
đề cơ bản về chứng khoán và TTCK UBCK NN) Chứng khoán có những đặc trưng
chủ yếu sau:
+ Tính thanh khoản là khả năng chuyển tài sản đó thành tiền mặt Khả năng này cao
hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi
và rủi ro của việc giảm sút giá trị tài sản đó do chuyển đổi Chứng khoán có tínhlỏng cao hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng caotrên thị trường
+ Tính rủi ro, giá trị của chứng khoán chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro
hệ thống và rủi ro không có hệ thống Tính rủi ro là một trong những đặc trưngcăn bản nhất của tài sản tài chính do vậy thu thập kỳ vọng khi đầu tư vào tài sảnnày có mối quan hệ mật thiết với rủi ro
+ Tính sinh lợi, chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư
mong muốn nhận được thu nhập lớn hơn trong tương lai, thu nhập này được bảođảm bằng lợi tức được chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thịtrường Khả năng sinh lời bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với rủi ro của tài sản,thể hiện mức chấp nhận rủi ro cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn
Có nhiều loại Chứng khoán tuy nhiên có thể chia thành những dạng chủ yếu sau:
14
Trang 15+ Chứng khoán vốn (cổ phiếu) là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng
chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đốivới tài sản hoặc vốn của một Công ty cổ phần Cổ phiếu là công cụ tài chính cóthời hạn thanh toán vô hạn Khi tham gia mua cổ phiếu nhà đầu tư trở thành cổđông của Công ty cổ phần Cổ đông có quyền mua bán, chuyển nhượng cổ phiếutrên thị trường, giá cả của chứng khoán do cung cầu về chứng khoán quyết địnhnằm trong biên độ cho phép của pháp luật về chứng khoán
+ Chứng khoán nợ mà điển hình là trái phiếu, tín phiếu là loại chứng khoán quy
định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sởhữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc vàlãi trong những khoảng thời gian cụ thể Chứng khoán nợ được đặc trưng bởimệnh giá và lãi suất cuống phiếu, thời gian đáo hạn
Chúng ta biết rằng hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính mà chủ yếu là đầu tưvào chứng khoán các chủ thể đầu tư trên thị trường có thể thực hiện đầu tư trên thị
trường vốn, mà đặc trừng cơ bản của thị trường vốn là TTCK Hoạt động đầu tư trên
TTCK được diễn ra liên tục, giá cả của chứng khoán do cung cầu trên thị trườngquyết định trên cơ sở tình hình hoạt động kinh doanh của các tổ chức phát hành.Trên TTCK bất kể Công ty nào mà phần vốn của Công ty được chứng chỉ hoá đềuđược trao đổi trên TTCK, do vậy hàng hoá trên TTCK rất đa dạng và phong phú,thuộc tất cả các ngành các lĩnh vực Đó là một môi trường đầu tư rất thuận lợi chotất cả các nhà đầu tư không có điều kiện trực tiếp tham gia vào quá trình sảnxuất ,nhưng có khoản tiết kiệm nhàn dỗi Sự đa dạng của hàng hoá trên TTCK, cùngvới đặc trưng rủi ro trên thị trường, tâm lý đầu tư của nhà đầu tư, nên các chủ thểđầu tư thường thực hiện đầu tư nhiều loại chứng khoán khác nhau, tạo thành mộtdanh mục các chứng khoán Vậy danh mục chứng khoán là gì ? Thực chất đó là mộttập hợp gồm từ 2 loại chứng khoán khác nhau trở lên được nhà đầu tư bỏ vốn mua
và nắm giữ trong một thời gian nhất định Chứng khoán khác nhau có thể về chủ thểphát hành, khác nhau về ngành nghề…Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh củacác ngành nghề khác nhau, chu kỳ tăng trường suy thoái khác nhau từ đó tính rủi rocủa những cổ phiếu khác nhau, thu nhập từ chúng cũng khác nhau Khác nhau vềtính thanh khoản, đối với những cổ phiếu trong những ngành nghề khác nhau, trongmỗi thời kỳ kinh tế khác nhau thì khả năng chuyển nhượng của chúng cũng khác
Trang 16nhau Khác nhau về tính rủi ro, ví dụ như trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc thìtính rủi ro ảnh hưởng làm thay đổi giá cả sẽ khác đối với cổ phiếu Công ty. Khácnhau về thu nhập, trái phiếu có thu nhập xác định trước, cổ phiếu có thu nhập khôngxác định trước được.
Chính sự da dạng về đặc điểm của chứng khoán, nên khi đầu tư vào nhiềuloại chứng khoán khác nhau sẽ tạo nên sự đa dạng trong hoạt động đầu tư, sự đadạng có thể là đa dạng về rủi ro, về thu nhập, về thời gian đáo hạn…
Đầu tư chứng khoán theo danh mục là gì?
Là hoạt động đầu tư vào tài sản tài chính với một danh mục gồm từ hai loại chứng khoán khác nhau.
Đối với nhà đầu tư, một câu hỏi được đặt ra là nên đầu tư bao nhiêu phần trăm vốnvào những thị trường khác nhau ? Qua hàng trăm năm phát triển của TTCK, nhucầu đầu tư, tâm lý đầu tư, chiến lược đầu tư thường xuyên thay đổi Có rất nhiềunhững học thuyết khác nhau về đầu tư theo danh mục, học thuyết đầu tư theo danhmục của Harry Markowitz là phương pháp đề ra quyết định đầu tư căn cứ vào mốitương quan giữa rủi ro và lợi nhuận cũng như những giả thiết về sự bù đắp cho việcchấp nhận rủi ro, đây được coi là học thuyết đầu tiên mở đầu cho lý thuyết đầu tưhiện đại
Hoạt động quản lý danh mục đầu tư là gì?
Xây dựng và QLDM ĐT chứng khoán là một hoạt động quan trọng trongkinh doanh chứng khoán Hoạt động QLDM ĐT dưới những góc độ khác nhau sẽ
có những quan niệm khác nhau về hoạt động này:
- Đối với nhà đầu tư cá nhân: hoạt động QLDM ĐT được hiểu là nhà đầu tư tự
bỏ vốn thực hiện đầu tư chứng khoán theo danh mục gồm một số loại chứngkhoán khác nhau, đồng thời họ tự tiến hành quản lý, giám sát danh mục đầu tưcủa mình
- Đối với các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp: thực chất là hoạt động đầu tư từ
nguồn vốn của tổ chức, tổ chức sẽ tổ chức một ban quản lý quá trình đầu tư,thực hiện giám sát QLDM ĐT theo những phương pháp khác nhau
- Đối với CTCK: hoạt động QLDM ĐT được hiểu theo 2 phương diện khác nhau.
+ Dưới góc độ CTCK là một tổ chức đầu tư, họ thực hiện đầu tư từ nguồn vốn
của Công ty thông qua hoạt động tự doanh chứng khoán Phòng tự doanh của
16
Trang 17CTCK có vai trò giám sát quản lý hoạt động tự doanh mà thực chất đó là hoạt
động đầu tư và QLDM ĐT của CTCK.
+ Dưới góc độ CTCK là một tổ chức trung gian cung cấp các dịch vụ trên
TTCK, hoạt động QLDM ĐT thực chất là hoạt động nhận vốn uỷ thác của
Khách hàng để thiết lập một danh mục chứng khoán và thường xuyên cơ cấulại danh mục đó theo mục tiêu tối ưu hoá lợi nhuận cho Khách hàng
Vậy thực chất của Hoạt động QLDM ĐT với bất cứ đối tượng nào đều là hoạt động
đầu tư vào nhiều loại chứng khoán đồng thời có sự quản lý giám sát, điều hành cũng như thường xuyên điều chỉnh danh mục chứng khoán sở hữu phù hợp với yêu cầu của nhà đầu tư, nhằm tạo ra một danh mục đầu tư tốt với mục đích tối đa hoá thu nhập của Nhà đầu tư.
1.2.2 Vai trò của hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư
QLDM ĐT có vai trò rất quan trọng trong kinh doanh chứng khoán, bất cứchủ thể nào tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp đều thựchiện QLDM ĐT Khi CTCK thực hiện hoạt động QLDM ĐT sẽ giữ vai trò:
Đối với tổ chức phát hành, nếu trên thị trường các nhà đầu tư đều thực hiện
đầu tư theo danh mục mà đặc biệt là CTCK sẽ giúp cho các chứng khoán được muabán thanh khoản hơn, giúp bình ổn giá chứng khoán trên thị trường và tránh cho cácnhà đầu tư hoang mang khi giá chứng khoán giảm Các tổ chức phát hành mà chứngkhoán có giá dao động tương tự nhau sẽ có điều kiện cải thiện tình hình sản xuất,tạo động lực cho tổ chức phát hành ngày càng phát triển
Đối với nhà đầu tư, đầu tư chứng khoán theo danh mục là một biện pháp hữu
hiệu giúp cho nhà đầu tư hạn chế rủi ro, đồng thời tối đa hoá thu nhập tại một mứcrủi ro nhất định Đầu tư chứng khoán theo danh mục giúp cho các nhà đầu tư tái cơcấu danh mục một cách thường xuyên, đảm bảo sự thanh khoản, tạo ra tính cânbằng cho hoạt động đầu tư, thể hiện là những nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK.Trong hoạt động đầu tư chứng khoán, mỗi chứng khoán luôn chứa đựng rủi ro mangtính cá biệt của riêng chứng khoán đó, những rủi ro này chỉ có thể loại bỏ thông quaviệc đa dạng hoá đầu tư theo danh mục
Đối với các CTCK, là một tổ chức đầu tư, ngoài việc giảm thiểu rủi ro, tối đa
hoá thu nhập đem lại lợi nhuận cho Công ty, hoạt động đầu tư theo danh mục giúpcho các tổ chức đầu tư cân đối nguồn vốn một cách hợp lý, hoàn thiện cơ cấu hoạt
Trang 18động của CTCK Nếu CTCK đóng vai trò là một chủ thể cung cấp dịch vụ nhận uỷ
thác đầu tư, hoạt động đầu tư theo danh mục từ nguồn vốn của Khách hàng giúpcho CTCK kiểm soát được rủi ro cho Khách hàng, tối đa hoá thu nhập cho Kháchhàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trên TTCK
Đối với TTCK, dịch vụ QLDM ĐT chuyên nghiệp được sử dụng chủ yếu bởi
các tổ chức tài chính đầu tư chứng khoán do vậy khi dịch vụ này được đưa vào hoạtđộng dưới dạng nhận vốn uỷ thác đầu tư chứng khoán, các quỹ đầu tư sẽ làm tăngtính chuyên nghiệp đầu tư trên thị trường, thể hiện rõ vai trò tích tụ tập trung vốnthông qua TTCK Với quy mô vốn lớn thông qua hoạt động QLDM ĐT của CTCK
và các tổ chức quỹ đầu tư sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư trên thị trường tránh đượctình trạng đầu tư manh mún nhỏ lẻ, hiệu quả không cao rủi ro lớn Hiệu quả củahoạt động QLDM ĐT góp phần tạo nguồn vốn dài hạn và ổn định cho nền kinh tế,thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển có trật tự, ổn định của TTCK và củng cố vaitrò của các tổ chức tham gia thị trường làm cho năng lực quản trị doanh nghiệp tốthơn, nâng cao kỹ năng quản lý chuyên nghiệp
1.2.3 Hoạt động Quản Lý Danh Mục Đầu Tư Chứng Khoán
Lý thuyết danh mục đầu tư được Harry Markowitz một nhà kinh tế học người
Mỹ đưa ra vào đầu những năm 1960 Lý thuyết này đã đưa ra lời giải đáp cho câuhỏi cơ bản của TTCK: đâu là phương án đầu tư mạng lại lợi nhuận cao nhất tại mộtmức rủi ro nhất định? Harry Markowitz đã chỉ ra rằng, phương án đầu tư có lợinhuận cao nhất tại một mức rủi ro nhất định có thể được tạo ra bằng cách kết hợpcác chứng khoán được lựa chọn một cách phù hợp thành một giỏ - hay còn gọi làmột danh mục đầu tư Bằng công cụ toán học, Ông chứng minh được rằng độ rủi rocủa danh mục đầu tư có thể điều chỉnh được thông qua việc điều chỉnh tỷ lệ của cácchứng khoán trong danh mục và mức rủi ro này có thể được đưa xuống dưới mứcrủi ro của từng chứng khoán trong danh mục Lý thuyết của Markowwitz có thểđược hiểu trực quan một cách đơn giản như sau: nếu kết hợp 2 loại chứng khoán có
sự biến thiên về giá ngược chiều nhau tại một thời điểm thì chúng ta sẽ thu đượcmột danh mục đầu tư có mức biến thiên về giá nhỏ hơn so với độ biến thiên về giácủa từng loại chứng khoán thành viên Để có thể lý giải những kết luận trên củaHarry Markowitz, đề tài sẽ đi vào nghiên cứu những khía cách quan trọng trong họcthuyết của Ông
18
Trang 19(1) Rủi ro - Rủi ro của danh mục đầu tư
Trong cuộc sống, cũng như trong nền kinh tế chúng ta luôn phải đối mặt vớinhững biến cố bất ngờ không thể lường trước xẩy ra, những yếu tố bất ngờ đôi lúcchúng ta không biết định nghĩa hay gọi tên ra sao, đôi lúc chúng ta gọi là nhữngđiều không may mắn Trong kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính thuật ngữquen thuộc thường được nhắc đến đó là rủi ro Vậy rủi ro là gì ?
Rủi ro là khả năng (xác suất) xẩy ra những biến cố bất ngờ không lường
trước được làm thu nhập thực tế thay đổi so với thu nhập dự tính.
Khi nói đến đầu tư tài chính và đặc biệt là đầu tư chứng khoán yếu tố rủi rotrên thị trường chứng khoán được biểu hiện rõ nét nhất đó là khả năng thay đổi giá
cả của những chứng khoán rất lớn trong khi thu nhập khi đầu tư chứng khoán phụthuộc vào giá thị trường của chứng khoán đang sở hữu Rủi ro được phân loại phụthuộc vào những yếu tố gây ra rủi ro, trong kinh tế, rủi ro được phân thành 2 bộphận chính: rủi ro hệ thống, rủi ro không có hệ thống
Biểu 1 – Phân loại rủi ro
+ Rủi ro hệ thống được biết đến là những rủi ro có tính bao trùm tổng thể tác độnglên tất cả những cá thể trong nền kinh tế, mang tính khách quan như rủi ro lãisuất, rủi ro thị trường, rủi ro sức mua, rủi ro tỷ giá
Rủi ro kinh doanh Rủi ro tài chính Rủi ro quản lý
Trang 20+ Rủi ro phi hệ thống là những rủi ro mang tính cục bộ, cá thế chỉ tác động lên một
số đối tượng nhất định, mang tính chủ quan như rủi ro kinh doanh, rủi ro tàichính, rủi ro quản lý
Yếu tố rủi ro hoàn toàn có thể đo lường được, đối với một tài sản riêng lẻ thìrủi ro được đo lường bằng phương sai và độ lệch chuẩn:
=
n i
i i
Ý nghĩa của chỉ tiêu là đo mức độ biến thiên theo đơn vị đo, tuy nhiên mức độ tuyệtđối của rủi ro không nói lên được mối tương quan giữ rủi ro và thu nhập, đôi lúcnhà đầu tư chấp nhận mức rủi ro cao nhưng kỳ vọng thu nhập lại lớn, do vậy rủi rocòn được đo lường bằng chỉ số tương đối thông qua chỉ số Rủi ro tương đối :
20
Trang 21tâm đến đa dạng hoá, liệu đa dạng hoá có triệt tiêu các loại rủi ro của danh mục haykhông?
Biểu 2 - Rủi ro giảm thiểu nhờ đa dạng hoá
Dựa vào đồ thị trên ta có thể khẳng định:
Đa dạng hoá sẽ làm giảm thiểu rủi ro phi hệ thống của danh mục đầu tư
Đa dạng hoá không thể triệt tiêu rủi ro hệ thống của danh mục đầu tư, vì rủi
ro hệ thống bao trùm tổng thể toàn bộ thị trường, bất cứ đối tượng nào trongnền kinh tế đều chịu ảnh hưởng Ví dụ như rủi ro chính trị, chỉ có giảm thiểukhi đầu tư vào các quốc gia khác nhau mới giảm thiểu được
Vậy làm thế nào để đo lường rủi ro của một danh mục? các nhà toán học đã sử dụngnhững công cụ toán học để lượng hoá rủi ro của một danh mục:
(1) Tương quan biến thiên: Rủi ro liên quan tới các chứng khoán cá biệt có thể đo
lường bằng độ lệch chuẩn hoặc hệ số biến thiên Tuy nhiên, khi kết hợp các tài sảnriêng lẻ, chúng ta cần xem xét tác động qua lại giữa các chứng khoán có mức rủi ro
khác nhau, gọi là tương quan biến thiên (hiệp phương sai):
Cov = E( [ Ri - E(Ri)][Rj - E(Rj)] )Trong đó: E(Ri): lợi nhuận kỳ vọng của tài sản i
E(Rj) : lợi nhuận kỳ vọng của tài sản jHiệp phương sai đo mức độ biến thiên cùng chiều hay ngược chiều của haibiến so với giá trị trung bình của hai biến, khi hai biến là độc lập (tức là sự thay đổicủa biến này không phụ thuộc và cũng không ảnh hưởng đến biến còn lại) thìCov=0 Khi Cov dương thì hai biến có tương quan thuận (nghĩa là thu nhập thực tế
Rủi ro tổng thể
Rủi ro phi hệ thống
Rủi ro hệ thống
Trang 22thu được trong một tình hướng nào đó của hai chứng khoán sẽ cùng vượt quá hoặcthấp hơn mức bình quân ước tính của chính nó) Khi Cov < 0 thì hai biến có tươngquan nghịch (nghĩa là nếu chứng khoán này đem lại mức thu nhập vượt quá mứcbình quân ước tính thì chứng khoán kia có mức thu nhập thấp hơn bình quân dựtính) Cov càng lớn biểu thị mức biến động về thu nhập của hai chứng khoán làcàng cao.
(2) Hệ số tương quan :
Hiệp phương sai có thể chỉ ra hai biến đang xét là biến thiên cùng chiều hay ngượcchiều, nhưng nó không cho biết mức độ tương quan này là mạnh hay yếu Rõ ràngvới một giá trị Cov cho trước, nếu mức độ biến thiên của từng biến (độ lệch chuẩn)
là lớn thì mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa hai biến là yếu Cũng với Cov đó nếumức độ biến thiên của từng biến là nhỏ thì mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa haibiến đó là mạnh Khi muốn lượng hoá mức độ tương quan, ta dùng hệ số tươngquan để giới hạn Cov thành những giá trị trong khoảng [-1,1] :
ij ij
rij=0, thu nhập của hai chứng khoán không có tương quan với nhau về mặt thống kê
(3) Đo lường Rủi ro của danh mục đầu tư (độ lệch chuẩn của một danh mục)
Mức độ rủi ro của một danh mục được lượng hoá bằng công thức toán học đó làphương sai, phương sai đo mức độ sai lệch của thu nhập thực tế trong quá khứ sovới mức độ mức độ trung bình thu nhập trong quá khứ Khi đã nghiên cứu về tươngquan biến thiên và hệ số tương quan chúng ta có thể đưa ra công thức chuẩn để tính
22
Trang 23toán độ lệch chuẩn thu nhập từ một danh mục (tức là đo lường rủi ro của một danhmục).
- Tỷ trọng vốn đầu tư vào mỗi loại chứng khoán
- Độ lệch chuẩn của từng loại chứng khoán (rủi ro của từng chứng khoán)
- Tương quan biến thiên giữa các tài sản trong danh mục, một tương quan biếnthiên dương sẽ làm tăng độ lệch chuẩn của cả danh mục, một giá trị âm sẽ làmgiảm độ lệch chuẩn của danh mục Điều này là hợp lý vì thu nhập của nhữngchứng khoán có tương quan biến thiên âm sẽ có khuynh hướng bù đắp chonhau và làm ổn định thu nhập chung của một danh mục đầu tư
- Ngoài ra công thức này cho phép chúng ta xem xét tác động của việc thêm haybớt một loại chứng khoán đối với một danh mục chứng khoán cụ thể Nó thểhiện mối liên hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản mới thêm vào với lợinhuận kỳ vọng của một danh mục
Sau khi đã xây dựng những lý thuyết cơ bản để lượng hoá rủi ro của danh mục,chúng ta xem xét tác động của thành tố tạo nên rủi ro của danh mục Một trongnhững thành công của lý thuyết QLDM ĐT đó là đã đưa ra được mối quan hệ rủi rogiữa các chứng khoán với nhau và với rủi ro chung của cả danh mục, ngoài ra xemxét tác động của nhân tố tỷ trọng trong việc cơ cấu lại danh mục đầu tư tối ưu
(a) E , và W i của hai tài sản là bằng nhau và không đổi, r 12 thay đổi
Giả sử một danh mục gồm hai tài sản 1 và 2 có cùng thu nhập dự tính và độ lệchchuẩn dự tính :
E(R1) = E(R2) = 0.20 1 = 2 = 0.01
Trang 24Xét một danh mục gồm 2 tài sản trên với tỷ trọng tương đương (W1 = W2 = 0.50) Do
ó ch còn l i duy nh t giá tr c a h s t ị của hệ số tương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ủa hệ số tương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ệ số tương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ố tương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ng quan gi a thu nh p c a hai t i s n l ữa thu nhập của hai tài sản là ập của hai tài sản là ủa hệ số tương quan giữa thu nhập của hai tài sản là ài sản là ản là ài sản là thay ổi Dựa vào tính toán ta có bảng sau: i D a v o tính toán ta có b ng sau: ựa vào tính toán ta có bảng sau: ài sản là ản là
+Khi r12 giảm dần xuống -1: rủi ro của danh mục giảm dần so với rủi ro của từng tàisản, có sự xuất hiện lợi ích của việc đa dạng hoá
+ Khi r12 = -1: rủi ro được triệt tiêu hoàn toàn, như vậy lợi ích của đa dạng hoá là tối
đa khi danh mục đầu tư được tạo bởi tài sản có mối tương quan nghịch tuyệt đối
(b) E và của mỗi tài sản khác nhau, W i bằng nhau và không đổi, r 12 thay đổi
Như trên chúng ta đã biết được kết quả rủi ro của danh mục khi chỉ có hệ số tươngquan là thay đổi Bây giờ chúng ta xem xét một danh mục khác gồm 2 tài sản có thunhập dự tính và độ lệch chuẩn của thu nhập là khác nhau :
E(R1) = 0.1, E(R2) = 0.2 W1 = W2 = 0.5 1 = 0.07, 2 = 0.1
Khi thay đổi hệ số tương quan giữa các tài sản, chúng ta có kết quả sau :
E(Rport ) = Cte = 0.5 x 0.1 + 0.5 x 0.2 = 0.15
24
0.05
0.2 E(Ri)
0.15 0.1
T
0.00 0.01 0.02 0.03 0.04 0.05 0.06 0.07 0.08 0.09 0.10
i
Trang 250.
12 A 1
Biểu diễn trên đồ thị
Như vậy ta có kết luận sau:
Khi đầu tư vào một danh mục gồm hai tài sản riêng biệt có độ lệch chuẩn khác nhauvới cùng một tỷ trọng, thì dù có tương quan nghịch tuyệt đối độ lệch chuẩn của cảdanh mục cũng không bằng 0
(c) r 12 và E của mỗi tài sản không đổi, W i thay đổi
Bây giờ nếu chúng ta thay đổi tỷ trọng của hai tài sản trong khi giữ nguyên hệ sốtương quan giữa 2 tài sản: r1,2 = 0
Trang 26Biểu diễn trên đồ thị
Dựa vào đồ thị ta có kết luận khi hệ số tương quan giữa 2 tài sản là nhỏ (xấp
xỉ 0) thì nhà đầu tư có thể tăng lợi nhuận và giảm rủi ro bằng cách tăng tỷ trọng củatài sản rủi ro hơn trong danh mục sao cho tỷ trọng của tài sản này vẫn nhỏ hơn 50%,qua đây ta có thể thấy tác động của việc đa dạng hoá trong đầu tư và những kết luậntrên là hoàn toàn đúng
(2) Thu nhập – Thu nhập của danh mục đầu tư
“Là phần lợi ích thu về sau khi đã trừ đi phần chi phí đầu tư.”
Thu nhập trong hoạt động đầu tư tài chính được tính theo cơ chế bình quângia quyền (theo tỷ trọng vốn đầu tư vào từng loại tài sản, ký hiệu là W) của lợi suấtthu dược từ mỗi chứng khoán trong danh mục đầu tư đó Điều này đồng nghĩa vớilợi suất ước tính của một danh mục đầu tư là trung bình trọng số của các lợi suấtước tính thu được từ mỗi loại chứng khoán trong danh mục đầu tư Thu nhập tronghoạt động đầu tư rất đa dạng, mức thu nhập kỳ vọng đối với một tài sản được tínhbằng:
P i : xác suất thu được khoản thu nhập i
R i: giá trị thu nhập có thể xảy ra với khoản thu nhập i
Đối với một danh mục đầu tư chứng khoán, thu nhập kỳ vọng được tính bằng:
Trang 27E( Rport) = 1
n i
Wi E Ri
Trong đó:
Wi : tỷ trọng của tài sản i trong danh mục tài sản đầu tư
E(Ri) : thu nhập kỳ vọng của tài sản i
E(Rport) : thu nhập kỳ vọng của danh mục đầu tư
Lợi xuất của danh mục được hiểu đó là lợi suất bình quân của các tài sản góp chungvào lợi suất của danh mục theo tỷ trọng đóng góp tài sản vào danh mục
(3) Hiệu quả hoạt động đầu tư:
Có rất nhiều những yếu tố khác nhau dùng để đánh giá hiệu quả hoạt độngđầu tư, tuy nhiên đối với hoạt động đầu tư tài chính nói chung và đầu tư chứngkhoán nói riêng, hiệu quả hoạt động đầu tư phụ thuộc vào mục đích đầu tư cũngnhư khả năng chịu đựng rủi ro trong hoạt động đầu tư Harry Markowzit đã đưa ramột số giả thiết quan trọng có vai trò rất lớn trong nghiên cứu đầu tư theo danhmục
Trong hoạt động đầu tư tài chính, rủi ro là một trong những yếu tố quan trọngluôn hiển hiện tác động thường trực lên các nhà đầu tư Harry Markowitz cho rằngcác nhà đầu tư luôn ý thức được sự tồn tại của rủi ro và về cơ bản là không ưu thíchrủi ro, nghĩa là với một mức lợi nhuận như nhau giữa hai tài sản, các nhà đầu tư sẽlựa chọn tài sản nào có mức độ rủi ro thấp hơn Bằng chứng cho việc này là họthường rất hay mua nhiều loại bảo hiểm khác nhau bao gồm bảo hiểm nhân thọ, bảohiểu ôtô, bảo hiểm sức khoẻ….Khi đó họ tin rằng sẽ có được một sự bảo đảm antoàn trong những trường hợp không chắc chắn và hy vọng sẽ có một khoản chi tiêulớn hơn trong tương lai
Trong lý thuyết đầu tư, khái niệm mức ngại rủi ro được coi là nền tảng củaviệc phân tích quyết định đầu tư Các nhà kinh tế học tài chính hiện đại đã chứngminh một cách định lượng vấn đề này bằng lý thuyết hàm lợi ích biểu diễn mốiquan hệ giữa giá trị hữu dụng của một đơn vị tiền tệ kiếm thêm với mức độ rủi ro
Trang 28của khoản đầu tư và mức ngại rủi ro của một cá nhân đầu tư Họ đã xây dựng đượcmột công thức thể hiện mối tương quan giữa mức ngại rủi ro, thu nhập dự tính vớimức độ rủi ro theo thang điểm lợi ích :
U = E(r) - 0.5.A. 2
Trong đó U là giá trị hữu dụng, A là chỉ số biểu thị mức độ ngại rủi ro củanhà đầu tư Hằng số 0,5 là con số quy ước theo thông lệ của xác xuất thống kê thểhiện mối quan hệ giữa lợi xuất ước tính bình quân E(r) và độ lệch chuẩn (σ) của giá) của giátrị bình quân Để phân tích hành vi ra quyết định đầu tư, theo cách tiếp cận về giá trịhữu dụng trên, có thể so sánh những giá trị hữu dụng với tỷ suất lợi nhuận trongtrường hợp đầu tư không có rủi ro khi tiến hành chọn lựa giữa một danh mục đầu tư
có rủi ro và một danh mục đầu tư an toàn
Danh mục đầu tư hiệu quả:
Trong bất cứ một thương vụ đầu tư nào nhà đầu tư luôn cần quan tâm đến lợiích có được từ đó và cân nhắc những phương án đầu tư khác nhau Do vậy, mộttrong những nguyên tắc cơ bản nhất khi nghiên cứu đầu tư là xem xét mối tươngquan giữa thu nhập và rủi ro Giả sử trong danh mục gồm hai loại chứng khoán A
và T, có 3 phương án để lựa chọn danh mục:
Danh mục đầu tư Thu nhập bình quân dự tính Độ lệch chuẩn (Rủi ro)
Trang 29+ Những danh mục nằm trong phần đường cong từ AT đến T là phần đường conghiệu quả của danh mục đầu tư gồm hai tài sản rủi ro.
+ Hiệu quả của đa dạng hoá danh mục thể hiện qua độ cong của đường hiệu quả Độcong càng tăng khi hệ số tương quan giảm Đường cong hiệu quả nhất khi hệ sốtương quan bằng -1
Như vậy, sự kết hợp giữa các tài sản rủi ro tạo nên một danh mục mà việc dịchchuyển tỷ trọng và độ tương quan giữa các chứng khoán trong danh mục đầu tư tạonên một đường cong
Đường biên hiệu quả cho danh mục gồm nhiều chứng khoán
Trong thực tế có nhiều chứng khoán được đầu tư trong danh mục và cácchứng khoán đều có một mức độ tương quan nhất định Chúng ta hãy xét danh mụcgồm 5 tài sản đầu tư Sự kết hợp các tỷ trọng khác nhau của 5 loại tài sản này sẽ tạonên một đường hiệu quả của những phương án kết hợp
Ý nghĩa của đường biên hiệu quả: với bất cứ mức rủi nào, chúng ta luôn chọnnhững danh mục đầu tư trên đường biên mang đến thu nhập dự tính cao nhất có thể.Nói cách khác, đường biên hiệu quả chứa các danh mục có phương sai thấp nhất vớibất kỳ mức lợi nhuận ước tính nào Độ dốc của đường hiệu quả biên của một danhmục được tính như sau:
B C D E
Trang 30Trên đây đã đề cập đến sự kết hợp giữ các chứng khoán rủi ro trong một danh mụcđầu tư, sự kết hợp giữa các chứng khoán rủi ro khác nhau về tỷ trọng và mức độtương quan biến thiên về giá tạo nên những phương án đầu tư khác nhau Tuy nhiêntrên thị trường tài chính không chỉ có những tài sản rủi ro và còn tồn tại những tàisản tài chính khác, những tài sản tài chính này có vai trò khá quan trọng khi thựchiện đầu tư vào danh mục Ngoài ra, những hoạt động đầu tư còn bị chi phối bởinhiều yếu tố khác tác động đến ví dụ như yếu tố tâm lý của nhà đầu tư có tác độngkhông nhỏ đến hoạt động đầu tư Những học thuyết đầu tư hiện đại sau này đã tínhđến những yếu tố đó, một trong những học thuyết đó là học thuyết về định giá tàisản vốn CAPM.
(4) Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)
Với những hạn chế trong mô hình đầu tư chứng khoán theo danh mục, thìnhững mô hình nghiên cứu sau này đã cố gắng giải quyết những tồn tại đồng thờiđưa ra những vấn đề toàn diện nhất trong việc lựa chọn và đầu tư chứng khoán theodanh mục Mô hình định giá tài sản vốn cho phép dự đoán mối quan hệ giữa rủi ro
và lợi suất kỳ vọng, mô hình cung cấp một lãi suất chuẩn dùng để đánh giá và lựachọn các phương án đầu tư, giúp phán đoán lợi suất kỳ vọng đối với những tài sảnchưa được giao dịch trên thị trường Mô hình định giá tài sản vốn đưa ra những giảđịnh mang tính chất kế thừa học thuyết QLDM ĐT Markowitz, đồng thời đưa ranhững giả định về thị trường vốn như sau:
Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, điều này có nghĩa là trên thị trường có rất nhiều người bán và mua chứng khoán Giá cả trên thị trường thay đổi chịu sự tác động bới mối quan hệ cung cầu.
Không tồn tại các loại phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ sự cản trở nào trong cung cầu của một loại chứng khoán Không có lạm phát hay bất cứ sự cản trở nào trong hoạt động đầu tư.
Trên TTCK tồn tại chứng khoán không rủi ro mà nhà đầu tư có thể đầu tư, tài sản phi rủi ro này có tác dụng tạo cho danh mục có thể tối đa hoá thu nhập nhưng lại không đóng góp rủi ro vào rủi ro chung của danh mục Đồng thời nhà đầu tư có thể vay với lãi suất đúng bằng lãi suất không rủi ro Điều này được hiểu
là lãi suất vay và lãi suất cho vay bằng nhau và bằng lãi suất không rủi ro.
Những nội dung chính của học thuyết như sau:
30
Trang 31Danh mục đầu tư thị trường là một danh mục đầu tư bao gồm tất cả những tài
sản có nguy cơ rủi ro trên thị trường Mỗi tài sản trong danh mục này chiếm một tỷ
lệ đúng bằng giá trị thị trường của tài sản đó trong tổng giá trị của toàn thị trường
Tỷ lệ của mỗi cổ phiếu trong danh mục đầu tư thị trường được xác định bằng cáchlấy tổng giá trị thị trường của cổ phiếu đó chia cho tổng giá trị thị trường của tất cảcác cổ phiếu đang được giao dịch trên thị trường
Đường thị trường vốn (CML)
Qua học thuyết Markowitz, chúng ta đã biết các nhà đầu tư luôn muốn tăngthu nhập dự tính và giảm rủi ro (giảm độ lệch chuẩn) khi đầu tư vào danh mục cáctài sản rủi ro do vậy nhà đầu tư chỉ quan tâm đến những danh mục nằm trên đườnghiệu quả biên Tuy nhiên vấn đề đặt ra, trên thị trường còn có một số tài sản đượcxem là phi rủi ro như tín phiếu kho bạc Do đó, việc lựa chọn danh mục đối với nhàđầu tư sẽ không còn hoàn toàn như phân tích trong học thuyết Markowitz
Markowitz đã cung cấp cho chúng ta nguyên tắc lựa chọn danh mục đầu tư tối ưucho mỗi nhà đầu tư căn cứ vào khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư đó, ápdụng mô hình trên, nếu thị trường tồn tại loại chứng khoán phi rủi ro với lãi suất Rf
và giả thiết rằng các nhà đầu tư có thể vay mượn không hạn chế trên cơ sở lãi suấtnày thì kết quả về lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư sẽ như hình vẽ sau đây:
Đường biểu diễn mối quan hệ giữa thu nhập kỳ vọng và rủi ro với thước đo là độlệch chuẩn bây giờ là một đường tuyến tính thay vì là một đường cong như ban đầu.Thật vậy :
Coi danh mục mới là sự kết hợp của hai loại tài sản, tài sản thứ nhất là danh mụchiệu quả Markowitz được xác định qua cặp thông số [1 ,E(R1)] và tài sản thứ hai làtài sản phi rủi ro với [ 2 = 0,E(R2)=Rf ]
Đường hiệu quả tuyến tính
Đường hiệu quả biên trong mô hình Markowitz
§ êng hiÖu qu¶
biªn trong m«
h×nh Markowitz B’
p
T
Trang 32Từ công thức port = (1- wRF).i ta có : W1 = port / 1 (1)
Mặt khác ta đã biết : E(Rport) = W1.E(R1) + W2.E(R2 )
= W1.E(R1) + (1 - W1).Rf
= W1.[(E(R1) - Rf] + Rf (2)
Từ (1) và (2) suy ra : E(Rport) = Rf + port.[E(R1) - Rf ] / 1 (3)
Phương trình (3) biểu diễn mối quan hệ tuyến tính giữa port và E(Rport) Do đó,đường biểu diễn mối quan hệ này cũng là đường tuyến tính, nhưng liệu đây đã phải
là đường hiệu quả ?
Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy quan sát trên đồ thị :
Tại cùng một mức độ rủi ro thì danh mục A’ nằm trên đường thẳng đem lạimức thu nhập cao hơn danh mục A nằm trên đường cong Hay với hai danh mụccùng đem lại mức thu nhập dự tính như nhau thì danh mục B nằm trên đường thẳnglại có mức rủi ro thấp hơn Rõ ràng các danh mục nằm trên đường tuyến tính này sẽhiệu quả hơn so với các danh mục hiệu quả ban đầu Danh mục T trên hình vẽ làtiếp điểm của đường tuyến tính này và đường biên hiệu quả Markowitz Vậy danhmục T có điểm gì khác so với các danh mục khác? Rõ ràng T sẽ là danh mục hiệuquả mà bất kỳ một nhà đầu tư nào cũng sẽ ưu tiên lựa chọn, sau đó dựa vào mức độchấp nhận rủi ro của từng nhà đầu tư họ sẽ quyết định mình sẽ đầu tư ở danh mụcnằm phía trên hay phía dưới T Ngoài ra, do giả định của mô hình CAPM là cácnhà đầu tư đều có những thông tin như nhau về các loại tài sản sẵn có trên thịtrường nên ta thấy rằng T rất tương đồng với (M)
Như vậy, kết luận danh mục T chính là danh mục thị trường (M) Khi đó đườnghiệu quả tuyến tính trên hình vẽ nối điểm Rf và (M) được gọi là đường thị trườngvốn CML với phương trình :
E(Rport) = Rf + port [E(Rm) - Rf] / m
Trong mô hình CAPM độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được đo bằng
độ lệch chuẩn do trong mô hình rủi ro cá biệt của từng chứng khoán đã bị triệt tiêunhờ đa dạng hoá danh mục, danh mục thị trường được coi là đa dạng hoá hoàn hảo
32
Trang 33Vì vậy, rủi ro phi hệ thống của từng chứng khoán được triệt tiêu hết, chỉ còn lạiphần rủi ro hệ thống được đo bằng tích sai lệch của chứng khoán đó với danh mụcthị trường Đồ thị thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi suất đối với mỗi chứngkhoán riêng lẻ như trên được gọi là đường TTCK được thể hiện dưới đây:
Đồ thị biểu diễn đường SML
Mô hình định giá tài sản vốn(CAPM) như sau:
E(Ri) = Rf + [E(Rm) - Rf ]Đây chính là mối qua hệ giữa rủi ro và lợi suất ước tính của từng chứngkhoán riêng lẻ được thể hiện dưới phương trình Phương trình này cho thấy với giảthiết về thị trường vốn nếu trên, lợi suất kỳ vọng của mỗi chứng khoán có quan hệ
tỷ lệ thuận với hệ số rủi ro hệ thống () Chứng khoán có hệ số bêta càng cào thìyêu cầu lợi suất phải càng cao SML được coi là một tiêu chí chuẩn mực để đánhgiá một phương án đầu tư Với việc chấp nhận một độ rủi ro nhất định đối với mộtphương án đầu tư, SML cho chúng ta biết lợi nhuận thu được của phương án đầu tư
đó phải là bao nhiêu mới có thể bù đắp được rủi ro mà các nhà đầu tư phải gánhchịu
Xuất phát từ ý nghĩa của SML, tất cả các chứng khoán nếu được định giáchính xác nhất thiết phải nằm trên đường SML Với những điểm nằm phía trên hoặcdưới đường SML đều biểu hiện tình trạng giá không phản ánh đúng giá trị thực củachứng khoán trên thị trường Nếu là điểm nằm phía trên đường SML, chứng khoán
đó được định giá thấp hơn giá trị thực sự của chúng, trong trường hợp này các nhàđầu tư nên mua chứng khoán đó Ngược lại, nếu là điểm nằm dưới đường SML,không nên mua loại chứng khoán đó vì giá của chúng cao hơn giá trị thực sự củachúng Đối với các Công ty đang chuẩn bị cho một dự án đầu tư mới, CAPM đưa ramột mức lợi suất yêu cầu phải đạt được cho dự án đầu tư trên sở sở những thông số
M E(R)
f
Trang 34của hệ số bêta được các nhà đầu tư chấp nhận Như vậy, đối với các phương án đầu
tư khác nhau CAPM sẽ quyết định phương án nào tối ưu nhất để lựa chọn
Mô hình định giá tài sản vốn là một học thuyết kinh tế mô tả mối quan hệgiữa rủi ro và lợi suất ước tính Nói cách khác, đầy là mô hình định giá cho nhữngchứng khoán có nguy cơ rủi ro CAPM cho rằng rủi ro hệ thống là mối quan tâm đốivới các nhà đầu tư vì chúng không thể loại bỏ được bằng biện pháp đa dạng hoá đầu
tư Có rất nhiêu những lý thuyết khác nhau được sử dụng trong việc nghiên cứu đầu
tư theo danh mục, tuy nhiên mấu chốt của việc đầu tư theo danh mục là việc nghiêncứu những đặc trưng của tài sản tài chính những cách thức dùng để xác định rủi ro
mà tài sản đó đem lại và việc xác định xem liệu một tài sàn tài chính đang đượcđánh giá đúng giá trị hay trên giá trị hoặc ngược lại Đồng thời nghiên cứu nhữngnhân tố cấu thành nên một danh mục đầu tư, những đặc trưng của việc đầu tư vàomột danh mục so với việc đầu tư vào những tài sản tài chính riêng lẻ Qua đây,chúng ta biết lựa chọn một danh mục đầu tư hiệu quả và cách thức đánh giá đúngmức giá trị thực của tài sản tài chính
(5) Phương pháp đánh giá hiệu quả QLDM ĐT
Một số phương pháp được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động QLDM
E(Ri) : tỉ suất lợi nhuận của danh mục i trong khoảng thời gian đánh giá
Rf : tỉ suất lợi nhuận phi rủi ro bình quân trong cùng khoảng thời gian
i : hệ số rủi ro hệ thống của danh mục
Đối với bất kỳ nhà đầu tư nào T càng lớn càng tốt, tử số chính là mức bù đắp rủi ro
và mẫu số là mức độ rủi ro, do đó toàn bộ công thức trên diễn tả mức lợi nhuận bùđắp rủi ro trên một đơn vị rủi ro của một danh mục Hệ số i đo lường mức rủi ro hệthống của danh mục, không đề cập đến mức độ đa dạng hoá của danh mục Điềunày ngầm chỉ rằng danh mục đầu tư đã được đa dạng hoá hoàn hảo Tuy nhiên khi
34
Trang 35đánh giá kết quả hoạt động của danh mục cần so sánh với hệ số Tm của danh mục thịtrường làm chuẩn.
Phương pháp SHARPE
Phương pháp này đánh giá hiệu quả danh mục gần tương tự như phương phápTREYNOR, tuy nhiên sự khác biệt ở chỗ phương pháp này sử dụng mức rủi ro tổngthể của danh mục thông qua độ lệch chuẩn (σ) của giái) thay vì chỉ sử dụng hệ số rủi ro hệthống i , do vậy phương pháp này đánh giá kết quả quản lý danh mục trên cơ sở cảlợi suất đầu tư lẫn mức độ đa dạng hoá:
E(Ri) : tỉ suất lợi nhuận của danh mục i trong khoảng thời gian đánh giá
Rf : tỉ suất lợi nhuận phi rủi ro bình quân trong cùng khoảng thời gian
σ) của giái : hệ số rủi ro hệ thống của danh mục
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
DANH MỤC ĐẦU TƯ
1.3.1 Yếu tố khách quan
(1) Môi trường kinh tế vĩ mô
Bấy kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng được thực hiện trong một môi trườngkinh doanh nhất định, môi trường kinh doanh thuận lợi hay khó khăn sẽ tác độngtrực tiếp lên hoạt động đó, đối với hoạt đông QLDM ĐT cũng vậy chịu sự tác độngtrực tiếp của môi trường kinh tế vĩ mô Có thể tạm chia hoạt động QLDM ĐT thành
3 công đoạn chính: huy động vốn, phân tích đầu tư và phân bổ vốn, thực hiện hoạt
động quản lý Những nhân tố của môi trường kinh tế sẽ tác động đến cả 3 công
đoạn của hoạt động QLDM ĐT Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến hoạt độngQLDM ĐT trên 2 phương diện chính:
- Môi trường kinh tế tạo ra cơ chế thông tin, tính hiệu quả của thông tin trên thị
trường tác động trực tiếp đến sự phát triển và hiệu quả của hoạt động QLDMĐT
- Môi trường kinh tế tạo ra hàng hoá trên thị trường, tạo ra những công cụ tài
chính để đầu tư
Trang 36- Môi trường kinh tế tạo ra cơ sở hạ tầng của TTCK mà đặc biệt là những tổ
chức trung gian, những tổ chức này mang tính chất trung gian là những yếu
tố cần thiết tạo nên sự phát triển của hoạt động QLDM ĐT
Môi trường kinh tế cũng là điều kiện khách quan quan trọng ảnh hưởng đến tâm lýđầu tư trong xã hội, ảnh hưởng đến khả năng về nguồn vốn đầu tư Trong hoạt độngQLDM ĐT vai trò của nguồn vốn rất quan trọng vì nó có thể trở thành một trongnhững công cụ hữu hiệu mà nhà quản trị đầu tư có thể sử dụng để điều tiết rủi rocũng như thu nhập trong hoạt động đầu tư theo danh mục
(3) Khuôn khổ pháp lý
Mục đích của quy định pháp lý về QLDM ĐT nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người đầu tư Một khuôn khổ pháp lý được coi là đầy đủ khi bao gồmcác vấn đề sau:
- Khuôn khổ pháp lý tạo cơ chế kìm hãm sự phát triển của hoạt động QLDM
ĐT Với những văn bản luật hiện tại thì thấy rằng hoạt động QLDM ĐTđang có sự xung đột quyền lợi với những hoạt động khác của CTCK nhưhoạt động môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán Những quy địnhcủa nhà nước về hoạt động của các quỹ đầu tư phần nào cũng ảnh hưởng đếnhoạt động QLDM ĐT chuyên nghiệp Việc quy định hoạt động của những tổchức nước ngoài vào TTCK cũng đã tạo ra rào cản lớn
36
Trang 37- Khuôn khổ pháp lý tạo ra cơ chế thúc đẩy sự phát triển của hoạt động
QLDM ĐT Khuôn khổ pháp lý một khi đã hoàn thiện, đầy đủ sẽ giúp kiểmsoát rủi ro đối với hoạt động QLDM ĐT tại các CTCK Tạo cơ chế minhbạch hơn đối với hoạt động của các CTCK, đồng thời những Khách hàng sửdụng dịch vụ này cảm thấy tin tưởng hơn
(4) Những yếu tố thuộc về mặt kỹ thuật QLDM ĐT
Mục tiêu của hoạt động QLDM ĐT là phải tập hợp nhiều loại chứng khoánkhác nhau và các tài sản khác nhau vào danh mục đầu tư đáp ứng các nhu cầu đầu
tư và sau đó quản lý các danh mục đầu tư này nhằm đạt tới mục đích đầu tư Có banhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển hoạt động QLDM
ĐT theo hướng tiếp cận một cách có hệ thống: thứ nhất, sự phát triển của các
thuyết đầu tư tài chính, thứ hai sự phát triển của cơ sở dữ liệu và các công cụ phân tích, thứ ba sự phát triển của kỹ thuật quản trị Những thuyết phân tích tài chính có
vai trò quan trọng giúp định hình từng bước trong quá trình phân tích đầu tư theodanh mục, đồng thời thấy được sự kế thừa giữa các học thuyết Trong hoạt độngQLDM ĐT, cơ sở dữ liệu có vai trò quan trọng vì nếu không có cơ sở dữ liệu thìnhững nghiên cứu đầu tư theo danh mục hoàn toàn không có cơ sở Việc nghiêncứu, theo dõi quản trị danh mục đầu tư rất phức tạp do vậy những công cụ phântích đóng vai trò tối quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động QLDM ĐT Những kỹthuật quản trị, quản lý, giám sát điều hành hoạt động QLDM ĐT, tạo tính chuyênmôn hoá trong từng khâu, từng bộ phận nếu hoạt động quản trị không đạt hiệu quảthì dù có dữ liệu tốt, công cụ phân tích tiên tiến cũng khó có thể tạo ra tính chuyênnghiệp, chuyên môn hoá trong hoạt động phân tích đầu tư cũng như quản trị đầu tưtheo danh mục, khó có thể theo dõi diễn biến danh mục đầu tư một cách kịp thời để
có những điều chỉnh phù hợp
1.3.2 Yếu tố chủ quan
(1) Định hướng phát triển của Công Ty Chứng Khoán
Đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động QLDM
ĐT của các CTCK Các CTCK khác nhau có những định hướng kinh doanh khácnhau, có những Công ty đẩy mạnh dịch vụ môi giới, có những Công ty đẩy mạnhdịch vụ tư vấn…Đối với những CTCK có định hướng phát triển mảng dịch vụ này
Trang 38ngay từ đầu thì họ sẽ có chiến lược cụ thể về con người, công nghệ …nhằm thựchiện hoạt động này đạt hiệu quả nhất.
(2) Khả năng về nguồn nhân lực của Công Ty Chứng Khoán
Nguồn nhân lực của CTCK là điều kiện cần thiết để triển khai hoạt độngQLDM ĐT, những CTCK có điều kiện về nguồn lực con người tốt sẽ có điều kiệnphát triển hoạt động này hơn các CTCK có sự hạn chế về lao động Bởi hoạt độngQLDM ĐT cần có một số lượng cán bộ làm việc tối thiểu mới có thể triển khai dịch
vụ này và đảm bảo hiệu quả chất lượng dịch vụ Chất lượng của đội ngũ cán bộ cóvai trò sống còn ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và tạo được sự tin tưởng của nhàđầu tư bởi chỉ có sự tin tưởng của nhà đầu tư mới đảm bảo cho sự phát triển về quy
mô của hoạt động QLDM ĐT Tại thị trường Mỹ Công ty PGS (Parker GlobalStrategies LLC) trong quy trình hoạt động QLDM ĐT của mình cần đến 48 chuyêngia làm việc lâu năm (kinh nghiệm làm việc 14 năm) mới đảm đương được nhữngcông việc của hoat động QLDM ĐT Còn tại Việt Nam các tổ chức đầu tư chuyênnghiệp như các quỹ đầu tư chuyên nghiệp cũng phải cần đến một đối ngũ nhân viênkhá lớn như Công ty quản lý quỹ đầu tư Việt Fund Management khi bắt đầu thànhlập và đi vào hoạt động cũng cần đến một đội ngũ chuyên viên lên tới 25 người vớinhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý đầy tư và thị trường chứng khoán
Do vậy nguồn nhân lực có vai trò tối quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạtđộng QLDM ĐT
(3) Khả năng về nguồn vốn
Hoạt động QLDM ĐT là hoạt động đầu tư chuyên nghiệp do những tổ chứcđầu tư chuyên nghiệp thực hiện Một trong những đặc trưng của hoạt động đầu tưtheo danh mục đó là vai trò tích tụ tập trung những đồng vốn nhỏ lẻ trong dânchúng mà nếu như đầu tư bằng đồng vốn nhỏ lẻ như vậy sẽ không hiệu quả, sự tích
tụ tập chung nguồn vốn sẽ tạo nên một lợi thế quy mô vốn lớn Lợi thế quy mô vốnlớn sẽ tạo ra cơ hội cho ban quản lý điều hành thực hiện đa dạng hoá đầu tư tuynhiên sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro xẩy ra với ban quản lý Nếu rủi ro xẩy
ra các tổ chức quản lý như CTCK, Công ty Quản Lý Quỹ thực hiện hoạt độngQLDM ĐT cần thiết phải có một nguồn vốn đủ lớn để đầu tư cơ sở vật chất đápững nhu cầu quản lý điều hành hoạt động đầu tư, đồng thời tạo lòng tin đối vớicông chúng đầu tư khi thực hiện uỷ thác vốn cho các tổ chức này Ở Việt nam
38
Trang 39Công ty quản lý quỹ liên doanh đầu tiên (VFM) khi bắt đầu đi vào hoạt động đã cótổng số vốn đầu tư ban đầu lên đến 16 tỷ đồng Vốn của các tổ chức thực hiện hoạtđộng QLDM ĐT lớn sẽ tạo ra sự tin tưởng đối với nhà đầu tư tạo thuận lợi cho các
tổ chức này kêu gọi vốn khi thành lập các quỹ đầu tư hay thu hút khách hàng thamgia vào hoạt động QLDM ĐT
Trong toàn bộ chương 1, luận văn đề cập tới những vấn đề cơ bản về đầu tư, đầu tư vào tài sản tài chính và những vấn đề cơ bản về hoạt động của CTCK mà tiêu biểu ở đây đó là hoạt động Quản Lý Danh Mục đầu Tư Chứng Khoán Đề tài
đã đưa ra vai trò của hoạt động QLDM ĐT đối với TTCK nói chung và đối với CTCK nói riêng Đồng thời đưa ra những lý thuyết cơ bản về đầu tư chứng khoán theo danh mục, những thuyết tài chính cơ bản ứng dụng vào hoạt động đầu tư theo danh mục và quản trị danh mục đầu tư Để phát triển nghiệp vụ QLDM ĐT cần thiết phải xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động QLDM ĐT thông qua xem xét những yếu tố chủ quan, yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động đó
Trang 40PHềNG
TƯ VẤN
PHềNG
TỰ DOANH PHÁT HÀNH
CHỦ TỊCH CễNG TY
BAN ĐIỀU HÀNH
PHềNG KIỂM SOÁT
PHềNG
KẾ TOÁN LƯU Kí
PHềNG KINH DOANH
PHềNG
ĐẠI Lí HẢI PHềNG
ĐẠI Lí
BÀ RỊA VŨNG TÀU
ĐẠI Lí KCN BIấN HOÀ
ĐẠI Lí CẦN THƠ
ĐẠI Lí
ĐÀ NĂNG
C H Ư Ơ N G 2Thực trạng hoạt động quản lý danh mục đầu t tại công
ty chứng khoán ngân hàng công thơng Việt Nam
2.1 TỔNG QUAN VỀ CễNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG CễNG THƯƠNG
2.1.1.2.Mụ hỡnh tổ chức Cụng Ty Chứng Khoỏn NH Cụng Thương Việt Nam
Biểu 3: Cơ cấu tổ chức Cụng Ty Chứng Khoỏn NH Cụng Thương Việt Nam
2.1.1.3 Đội ngũ nhõn sự
40