1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012

131 970 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Tác giả Nguyễn Phạm Hương Liên
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Thống kê Kinh tế - Xã hội
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo WTO Tổ chức Thương mại Thế giới thì: du lịch là hoạt động vềchuyến đi đến một môi trường khác với môi trường sống thường xuyên của conngười và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

DANH MỤC ĐỒ THỊ 8

LỜI MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 9

2 Mục tiêu nghiên cứu: 10

3 Đối tượng nghiên cứu: 11

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu: 11

5 Kết cấu đề tài: 11

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ KHÁCH DU LỊCH 12

1 Những vấn đề chung về hoạt động du lịch 12

1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch 12

1.2 Thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay 15

2 Những vấn đề chung về thống kê du lịch 21

2.1 Khái niệm thống kê du lịch 21

2.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ thống kê du lịch 21

2.3 Đặc điểm thống kê du lịch ở Việt Nam hiện nay 23

3 Phương pháp thống kê khách du lịch 25

3.1 Định nghĩa và phân loại khách du lịch 25

3.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê khách du lịch 33

3.2.1 Số lượt khách du lịch (K) 33

3.2.2 Số ngày khách du lịch (N) 34

3.2.3 Độ dài lưu trú bình quân (n) 34

Trang 2

3.2.4 Kết cấu khách du lịch/ kết cấu ngày khách du lịch ( , ) 35

3.3 Phương pháp phân tích thống kê khách du lịch 37

3.3.1 Phân tích số lượng khách du lịch 37

3.3.1.1 Phân tích biến động tổng lượng khách du lịch 37

3.3.1.2 Phân tích biến động kết cấu khách du lịch 39

3.3.2 Phân tích số ngày khách du lịch 39

3.3.3 Dự đoán số lượng khách và số ngày khách du lịch 41

3.4 Thực trạng thống kê khách du lịch Việt Nam hiện nay: 42

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ TÌNH HÌNH KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2008 VÀ DỰ ĐOÁN ĐẾN NĂM 2012 44

1 Đặc điểm nguồn tài liệu dùng trong phân tích 44

2 Phân tích biến động số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 và dự đoán đến năm 2012 45

2.1 Phân tích biến động chung của số lượng khách du lịch quốc tế dến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 và dự đoán đến năm 2012 45

2.1.1 Phân tích đặc điểm biến động của số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 45

2.1.2 Phân tích xu thế biến động của số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 52

2.1.3 Phân tích biến động thời vụ của số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 54

2.1.4 Phân tích biến động thời vụ kết hợp với thành phần xu thế của số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 57

Trang 3

2.1.5 Dự đoán số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tới năm 2012

61 2.2 Phân tích biến động cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai

đoạn 1995 – 2008 68

2.2.1 Phân tích biến động cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 theo thị trường khách đến 68

2.2.2 Phân tích biến động cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 theo mục đích chuyến đi 75

2.2.3 Phân tích biến động cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 theo phương tiện đến 79

3 Phân tích biến động số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 và dự đoán đến năm 2012 84

3.1 Phân tích đặc điểm biến động của số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2008 84

3.2 Phân tích xu thế biến động của số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 90

3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 92

3.4 Dự đoán số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đến năm 2012 94

CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 96

1 Đánh giá chung tình hình thống kê khách du lịch Việt Nam: 96

1.1 Thực trạng công tác thống kê du lịch ở Việt Nam: 96

1.2 Những mặt được và mặt hạn chế của thống kê du lịch tại Việt Nam: 98

1.2.1 Những mặt được: 98

1.2.2 Những mặt hạn chế: 98

Trang 4

2 Đánh giá chung tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai

đoạn 1995 – 2008: ……….99

3 Kiến nghị: 102

3.1 Về công tác thống kê du lịch: 102

3.2 Về chủ trương, chính sách đối với hoạt động du lịch: 103

4 Giải pháp: 104

4.1 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thống kê du lịch: 104

4.2 Nhóm giải pháp nhằm phục vụ chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010: ………105

4.3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững: 110

KẾT LUẬN 113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 115

Trang 7

Bảng 12: Tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo quốc tịch 69

Bảng 13: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo mục đích

chuyến đi giai đoạn 1995-2008 74

Bảng 14: Tỷ trọng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo mục đích đến 75

Bảng 15: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 78

Bảng 16: Tỷ trọng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 79

Bảng 17: Phân tích đặc điểm biến động số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 80

Bảng 18: Tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam 84

Bảng 19: Bảng phân tích biến động tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 85

Bảng 20 : Số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bình quân chung từng năm trong giai đoạn 1995 – 2008 : 87

Bảng 21: Số liệu về số ngày khách và số lượt khách năm 2000 và năm 2008:

91

Bảng 22: Dự đoán dựa vào hàm xu thế số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tới năm 2012: 93

Bảng 23: Dự đoán điểm và dự đoán khoảng cho số ngày khách du lịch quốc

tế đến Việt Nam tới năm 2012: 94

Trang 9

Đồ thị 10: Số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam bình quân chung từng năm trong giai đoạn 1995 – 2008: 88

Đồ thị 11: Xu thế biến động thực tế và lý thuyết qua thời gian của tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008: 90

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Trong thời đại ngày nay, Du lịch được coi là một trong những ngành côngnghiệp quan trọng nhất trên thế giới Ở rất nhiều quốc gia, Du lịch đã và đang trởthành ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân Du lịch không nhữngmang lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo nhiều việc làm, phát triển cácngành dịch vụ, cơ sở hạ tầng mà còn là phương tiện thúc đẩy hòa bình, giao lưuvăn hóa, tạo ra những giá trị vô hình nhưng bền chặt

Tại Việt Nam, thực hiện Chiến lược phát triển du lịch và Chương trình hànhđộng quốc gia về du lịch, nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư hàngnghìn tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ở các khu du lịch trọng điểm vớimục đích thu hút các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào du lịch ViệtNam Hàng trăm khách sạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, gia tăng số lượngphòng khách sạn và những sản phẩm du lịch đạt tiêu chuẩn phục vụ khách quốc

tế Công tác xúc tiến, quảng bá, đào tạo nhân lực cũng được đẩy mạnh Cùng vớiviệc hoàn thành, đưa vào triển khai Luật Du lịch là việc ban hành nhiều văn bảnhướng dẫn tạo ra một môi trường pháp lý rõ ràng hơn trong hoạt động kinh

Trang 10

doanh du lịch Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp dulịch Nhà nước cũng đã và đang được cổ phần hóa, sắp xếp lại theo hướng hìnhthành các tập đoàn du lịch mạnh, hình thức Công ty mẹ - công ty con để từngbước làm ăn hiệu quả trước môi trường cạnh tranh quốc tế Đặc biệt, khả năngthu hút vốn FDI của Việt Nam ngày càng được cải thiện Đây là nguồn vốn quantrọng để phát triển ngành du lịch Việt Nam theo kịp trình độ của các nước trongkhu vực và thế giới Nhiều tập đoàn kinh tế lớn đang hướng sự chú ý tới ViệtNam và đầu tư đón đầu trong lĩnh vực du lịch.

Tuy nhiên, du lịch Việt Nam đang trong giai đoạn mới gia nhập WTO, chonên phải vừa hợp tác, vừa tìm hiểu cơ chế và luật chơi quốc tế Vì vậy, có nhiềuhạn chế và khó khăn trong khi hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh Thực tế,năng lực cạnh tranh du lịch nước ta còn thấp bởi dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạtầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ còn kém, giá cả cao, sảnphẩm du lịch ít phong phú, dẫn đến du lịch nước ta chưa giữ chân được khách,chưa kéo dài thời gian lưu trú, tỷ lệ du khách quay lại lần hai còn thấp Hơn nữa,việc hội nhập kinh tế thế giới và đặc biệt là ảnh hưởng rất lớn của “cơn bão”khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên toàn cầu tạo ra áp lực rất lớn với doanhnghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh tranh Phần lớn doanh nghiệp du lịch của tathuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp, đội ngũ nhânlực du lịch thiếu và yếu về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm, nhất là thiếunhững người có chuyên môn cao Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu, trong quátrình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng vàthuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh và sự năng động củadoanh nghiệp

Trang 11

Từ thực trạng đó, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành Du lịch Việt Namhiện nay là phải tìm kiếm giải pháp để nâng cao chất lượng ngành Du lịch, cùngvới việc phát triển du lịch nội địa là nhiệm vụ quan trọng thu hút khách du lịch

quốc tế vào Việt Nam Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-

2008 và dự đoán đến năm 2012”.

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là vấn đề lý luận và thực tiễn của việc ápdụng phương pháp thống kê vào nghiên cứu thực hình khách du lịch quốc tế đếnViệt Nam; dự đoán số lượng khách quốc tế đến Việt Nam cho đến năm 2012;đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp thống kêkhách du lịch quốc tế đến cũng như giải pháp nhằm thúc đẩy số lượng kháchquốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn tới

3 Đối tượng nghiên cứu:

Khách du lịch quốc tế đến vào Việt Nam giai đoạn 1995-2008

4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về số lượng khách quốc tế đến, số ngày khách quốc tế đến

và kết cấu khách quốc tế đến Việt Nam chia theo quốc tịch, phương tiện và mụcđích đến

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là các phương pháp thống

kê phù hợp như: phương pháp đồ thị, phương pháp phân tích dựa vào dãy số thờigian, phương pháp chỉ số, phương pháp phân tổ, phương pháp sử dụng số tươngđối kết cấu và phương pháp dự đoán

5 Kết cấu đề tài:

Trang 12

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương với nội dungnhư sau:

Chương I: Một số vấn đề chung về thống kê khách du lịch.

Chương II: Phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012.

Chương III: Kiến nghị và giải pháp.

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ KHÁCH DU LỊCH

1 Những vấn đề chung về hoạt động du lịch

1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch

Trước tiên, hoạt động du lịch có thể được hiểu là các hoạt động của conngười đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian

ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định Mục đích của chuyến đikhông phải để thực hiện các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tớithăm

Trên đây là định nghĩa chung nhất, dễ hiểu nhất về hoạt động du lịch Tuynhiên còn một số định nghĩa khác về hoạt động du lịch có thể kể đến như sau:Theo Luật Du lịch Việt Nam – NXB chính trị quốc gia, trang 10, ban hànhngày 27/06/2005: du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham qua, tìmhiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 13

Theo WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) thì: du lịch là hoạt động vềchuyến đi đến một môi trường khác với môi trường sống thường xuyên của conngười và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đíchkhác ngoài các hoạt động để có thù lao tại nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1năm.

Đi sâu hơn vào định nghĩa của hoạt động du lịch ta có thể hiểu “môi trườngthường xuyên” là nơi ở, nơi đi làm, loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ởthường xuyên và các chuyến đi có tính chất hàng ngày; “trong khoảng thời gian

ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định” tức là 1 năm với du lịch quốc

tế và 6 tháng với du lịch trong nước

Khái niệm “nơi cư trú thường xuyên” hay “môi trường sống thường xuyên”

có thể được hiểu theo nhiều cách và trở thành chủ đề cho nhiều cuộc tranh luậnkhông những trên phạm vi quốc gia mà cả quốc tế Người ta có thể hiểu kháiniệm “nơi cư trú thường xuyên” cho phép một cá nhân có thể có nhiều hơn mộtnơi cư trú thường xuyên, ví dụ trong trường hợp một người có nhà ở thứ 2, vừa ởvới gia đình mình, vừa ở với ông bà để tiện chăm lo Ngoài ra thì khái niệm “nơi

cư trú thường xuyên” cũng cho phép một cá nhân có nhiều nơi hoạt động khácnhau nhưng được tính chung trong một môi trường sống, ví dụ như các tù nhânđang thụ án thì nơi cư trú thường xuyên của họ vừa là nhà ở theo đăng ký thườngtrú vừa là nhà tù bởi nhà tù là một phần của môi trường sống thường xuyên củahọ

Như vậy, có thể thấy “nơi cư trú thường xuyên” hay “môi trường sốngthường xuyên” còn là khái niệm đang được tranh cãi nhiều Tuy nhiên, theo cácphạm vi khác nhau thì ta có thể tạm hiểu khái niệm “nơi cư trú thường xuyên”hay “môi trường sống thường xuyên” theo các cách như sau:

Trang 14

- Trên phạm vi quốc tế: “nơi cư trú thường xuyên” được xác định là phạm

vi lãnh thổ quốc gia trừ các trường hợp sau đây:

 Người đến hoặc rời một nước với tư cách là dân di cư, tìm kiếmviệc làm có đưa theo cả người phụ thuộc

 Người lao động ở biên giới, sống ở nước này nhưng lại làm việc ởnước bên kia

 Nhân viên ngoại giao, lãnh sự và lực lượng vũ trang khi họ đi từnước mình đến nước mà họ làm nhiệm vụ, bao gồm cả những người phục vụ vàngười phụ thuộc đi theo họ

 Dân tị nạn hoặc dân du mục

 Người quá cảnh hoặc không chính thức vào một nước thông quakiểm soát hộ chiếu

- Trên quy mô quốc gia: “nơi cư trú thường xuyên” được tổ chức du lịch thếgiới (UNWTO) khuyến cáo các nước thành viên tự xác định Tại Việt Nam hiệnnay, có hai hướng để xác định “nơi cư trú thường xuyên”:

 Hướng thứ nhất: “nơi cư trú thường xuyên” trong phạm vi quốc giađược xác định như sau: các chuyến đi thường xuyên với tần suất 1 tuần 1 lần,các chuyến đi trong ngày với khoảng cách 40km tính từ nơi ở hoặc có nghỉ quađêm với khoảng cách 30km tính từ nơi ở

 Hướng thứ 2: “nơi cư trú thường xuyên” được xác định là cácchuyến đi trong địa giới hành chính Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ươngkhông kể trong ngày hay qua đêm, không kể có hay không nghỉ tại các cơ sở lưutrú

Có thể thấy được rằng, du lịch là ngành văn hóa, xã hội có nhiệm vụ phục vụnhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp các hoạt động

Trang 15

khác của con người Hoạt động du lịch có các đặc điểm chính đó là: phụ thuộctài nguyên du lịch; là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu đa dạng, trung

và cao cấp của khách du lịch; hoạt động du lịch ngoài kinh doanh dịch vụ cònphải đảm bảo nhu cầu an ninh, chính trị, trật tự an toàn cho du khách cũng nhưđịa phương tiếp nhận du khách

Hoạt động du lịch có ý nghĩa rất lớn đối với một quốc gia, không chỉ trên giác

độ kinh tế mà còn trên cả giác độ văn hóa – xã hội Trên giác độ kinh tế đó vừa

là ngành kinh doanh đạt hiệu quả cao, lợi nhuận lớn, tốc độ chu chuyển vốn lưuđộng nhanh và nhiều lại là ngành xuất khẩu tại chỗ, tạo việc làm cho lực lượnglớn lao động xã hội, cải tạo đời sống nhân dân Sự phát triển của hoạt động dulịch cũng kéo theo sự phát triển của các ngành khác như giao thông vận tải, bưuđiện, dịch vụ…Trên giác độ văn hóa – xã hội thì du lịch góp phần nâng cao vịthế, quảng bá hình ảnh của quốc gia trên trường quốc tế, góp phần bảo tồn và giữgìn truyền thống cũng như di sản dân tộc, nâng cao cuộc sống, góp phần hiểubiết thêm phong tục tập quán của các địa phương cũng như quốc gia khác

Hiện nay có rất nhiều loại hình du lịch đa dạng và phong phú Nếu căn cứtheo mục đích chuyến đi thì ta có thể chia du lịch thành các loại sau:

- Du lịch thuần túy: là hoạt động du lịch mà chủ yếu là đi du lịch, thămquan, ngắm cảnh, nghỉ ngơi, giải trí và không kết hợp với bất kì mục đích nàokhác Ví dụ: đi biển nghỉ mát vào mùa hè…

- Du lịch chữa bệnh: là hoạt động đến những vùng có thể chữa bệnh, vừa đểthăm quan nghỉ ngơi vừa để kết hợp điều trị Ví dụ: đi khi du lịch nghỉ dưỡngsuối nước nóng Kim Bôi – Hòa Bình

- Du lịch công vụ: là những chuyến đi kết hợp hội nghị, hội thảo và thămquan du lịch địa phương nơi tổ chức hội nghị, hội thảo

Trang 16

- Du lịch kết hợp nghiên cứu chuyên đề: sử học, sinh học, đại dương học…Kết hợp giữa việc nghiên cứu, tìm hiểu chuyên đề với du lịch địa phương nơithực hiện chuyên đề nghiên cứu.

- Du lịch thăm thân: kết hợp giữa việc đi thăm người thân và đi du lịch tạiđịa phương người thân đó sinh sống

Nếu căn cứ theo phạm vi không gian thì có thể chia du lịch ra làm 2 loại:

- Du lịch quốc tế: gồm du lịch quốc tế đến và du lịch ra nước ngoài

- Du lịch trong nước

1.2 Thực tiễn hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay

Trong khoảng thời gian hơn chục năm trở lại đây du lịch Việt Nam mới thực

sự được quan tâm và phát triển Với tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng,tốc độ phát triển của du lịch Việt Nam ngày càng cao tuy nhiên vẫn cần phảinâng cao chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật và đầu tư nâng caochất lượng nguồn nhân lực du lịch để chất lượng du lịch Việt Nam ngày cànghoàn thiện hơn

Về tốc độ phát triển: trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng du lịch Việt

Nam tương đối ổn định với tốc độ tăng trung bình ở mức tương đối cao (20%),thị phần du lịch Việt Nam đã tăng từ 5% ở năm 1995 lên tới 8% vào năm 2005.Đây được coi là một bước đi dài, khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của du lịchViệt Nam trên trường quốc tế Giai đoạn 1990 – 2000 có thể coi là giai đoạn bứtphá trong tăng trưởng và thu nhập của hoạt động du lịch tại Việt Nam Số lượtkhách quốc tế tăng lên tới 9 lần, từ 250 nghìn lượt người năm 1990 lên tới con số2.05 triệu lượt khách vào năm 2000 Tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khănnhư chiến tranh, khủng bố, dịch SARS, cúm gia cầm trong suốt giai đoạn nhữngnăm sau năm 2000 cho đến nay nhưng lượng khách và thu nhập của hoạt động

Trang 17

du lịch Việt Nam vẫn luôn giữ mức tăng trưởng 2 con số Có một điều rất đángkhích lệ, đó là hơn 10 năm trước, du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhấttrong khu vực nhưng hiện nay với sự bứt phá ngoạn mục trong những năm gầnđây, du lịch Việt Nam đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ đứng sau Malaysia,Singapor, Thái Lan và Indonesia Theo UNWTO, du lịch Việt Nam được coi làmột trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên cảthế giới Việt Nam đã được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới Đâythực sự là niềm khích lệ và tự hào lớn lao cho du lịch Việt Nam Trong nhữngnăm gần đây, tốc độ phát triển của du lịch Việt Nam là tương đối cao, đặc biệt lànăm 2007, số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã lên tới 4,2 triệu lượtkhách Tính từ tháng 6 năm 2008, tốc độ phát triển du lịch Việt Nam có xuhướng sụt giảm do ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu Kháchcủa các thị trường trọng điểm liên tục giảm (Nhật Bản giảm 5.9%; Pháp giảm1.6%, Hàn Quốc giảm 3.5%) Hàng loạt các thị trường không có đường baythẳng như Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ… giảm 3.2% Hiện nay, theo thống kêcủa các doanh nghiệp lữ hành, tình trạng khách du lịch giảm cho đến nay (tháng

2 năm 2009) vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi Nguy cơ giảm khác trong năm 2009

đã được thấy rõ khi mà lượng khách đặt trước cho năm 2009 giảm trung bình

20% so với cùng kỳ năm 2008 (Nguồn: www.vietnamtourism.com.vn)

Về tài nguyên du lịch: Việt Nam tự hào là một nước thuộc vùng nhiệt đới, có

bốn mùa xanh tươi Địa hình Việt nam có rừng, có núi, có sông, có biển, có đồngbằng và cả cao nguyên Núi non tạo nên những vùng cao có khí hậu gần với ônđới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều nơi nghỉ dưỡng và danh lamthắng cảnh như Sapa (Lào Cai); Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Đà Lạt (Lâm Đồng); núi

Bà Đen (Tây Ninh); động Tam Thanh (Lạng Sơn); di sản thiên nhiên thế giới

Trang 18

Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình); vịnh Hạ Long… Với địa hình có đến3260km bờ biển, với 125 bãi biển và 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, BãiCháy (Quảng Ninh); Đồ Sơn (Hải Phòng); Sầm Sơn (Thanh Hóa), Non nước (ĐàNẵng)… Việt Nam đã trở thành điểm đến yêu thích của các du khách yêu thíchhoạt động tắm biển, nghỉ dưỡng tại khác khu nghỉ gần bờ biển Ngoài ra, vớihàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó có khoảng

2500 di tích được xếp hạng bảo vệ) như đền Hùng (Cổ Loa), Văn Miếu (Hà Nội)

…Tự hào hơn cả là quần thể di tích cố đô Huế; phố cổ Hội An và khu đền tháp

Mỹ Sơn đã được Unesco ghi nhận là di sản văn hóa thế giới Tài nguyên du lịchViệt Nam còn rất phong phú, thể hiện ở những nguồn suối nước khoáng có chấtlượng cao, tốt cho sức khỏe của con người như suối khoáng Quang Hanh (QuảngNinh); suối khoáng Hội Vân (Bình Định); suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận);suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang); suối khoáng Kim Bôi (Hòa Bình)…Tạinhững khu suối nước khoáng này, khả năng phát triển du lịch nghỉ dưỡng, dulịch chữa bệnh là rất lớn, thu hút được nhiều khách du lịch không những chỉ ởtrong nước mà cả quốc tế đến thăm quan, nghỉ ngơi

Về nguồn lực con người: Có thể thấy một vấn đề rõ ràng đó là tốc độ phát

triển du lịch hiện nay càng cao thì càng kéo theo nhu cầu phát triển nguồn nhânlực du lịch càng lớn Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, có một thực tế đáng quantâm đó là nguồn nhân lực có trình độ Đại học chỉ chiếm có 3.11% trong số hơn 1triệu lao động của ngành Các cơ sở đào tạo nhân lực du lịch cũng chỉ đáp ứngđược 60% nhu cầu hiện tại Hơn thế, không chỉ thiếu về số lượng mà cả chấtlượng đào tạo nhân lực du lịch cũng chưa thực sự cao Việc đào tạo các nghệnhân, giám đốc cùng các chức vụ quản lý cao cấp khác không hề được chú trọng,thậm chí chưa có cơ sở đào tạo việc làm này Rất nhiều thị trường du lịch tiềm

Trang 19

năng bị bỏ ngỏ vì trình độ ngoại ngữ của nhân viên du lịch còn hạn chế Trình độngoại ngữ hạn chế, kỹ năng nghiệp vụ còn yếu khiến Việt Nam không khai tháchết được nguồn lực du lịch từ khách nước ngoài Dự báo cho thấy đến năm 2010,Việt Nam cần đạt được 1.4 triệu lao động trong ngành du lịch, mỗi năm số lượngcần tăng thêm 19.000 lao động nhưng con số hiện chỉ dừng ở mức 13.000 sinhviên ngành du lịch Nhược điểm của sinh viên ngành du lịch là không đượcchuẩn bị các kỹ năng “mềm”, nền tảng ngoại ngữ từ các bậc học dưới Ngoài ra,còn một vấn đề đáng phải quan tâm nữa đó là cơ sở vật chất không đồng bộ,chưa có chương trình đào tạo, tài liệu dạy nghề chuẩn cũng là nguyên nhân khiếnnguồn nhân lực ngành du lịch vừa thiếu vừa yếu Nhận thức được vấn đề cấpthiết này, hiện nay, việc nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực du lịch ViệtNam đang được thực hiện mạnh mẽ Ví dụ điển hình là Dự án Phát triển nguồnnhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ, phối hợp với Viện Quản lý và Pháttriển Châu Á Dự án sẽ triển khai tổ chức 2 khóa đào tạo về Kỹ năng giám sátcho các Đào tạo viên hệ thống VTOS (hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịchViệt Nam) đã được VTCB (Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ du lịch) côngnhận Chương trình sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nguồn nhân lực

du lịch nâng cao chất lượng đào tạo và trình độ nghiệp vụ của nhân viên thôngquá hình thành đội ngũ đào tạo viên, giám sát viên có đủ năng lực Học viên sẽđược trang bị những kiến thức và kỹ năng giám sát để có thể đảm nhiệm tốt vaitrò của các giám sát viên, trưởng bộ phận tại doanh nghiệp, giúp học viên kế hợptiêu chuẩn VTOS với các hoạt động thường ngày tại doanh nghiệp của mình

(Nguồn: Tạp chí Du lịch)

Về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật du lịch: tính đến năm 2007, Chính phủ đã

đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho Chương trình Hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ

Trang 20

tầng du lịch và hàng trăm tỷ đồng cho Chương trình hành động quốc gia về dulịch mà nội dung của nó chính là nâng cao năng lực du lịch thông qua các dự ánphát triển, quảng bá sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực Nhìn nhận về quy môkhách sạn, cơ sở lưu trú có thể thấy rằng, khách sạn Việt Nam có quy mô nhỏ vàchất lượng chưa thực sự cao Nếu chỉ tính khách sạn từ 1 đến 5 sao thì trung bìnhmỗi khách sạn Việt Nam chỉ có khoảng 42 buồng Nếu tính riêng các khách sạn

từ 4-5 sao thì bình quân mỗi khách sạn có 145 buồng Con số này chưa thực sựđáp ứng được nhu cầu về hoạt động ở của khách du lịch, từ khách du lịch trungđến cao cấp đến từ các nước phương Tây Không những vậy, nhìn chung cácngành hỗ trợ du lịch chưa phát triển cùng nhịp với sự phát triển của ngành dulịch Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam còn chưa thực sự tốt,phương tiện đi lại còn lạc hậu, đường vận chuyển hàng không phát triển chưatương xứng với tiềm năng Thêm một điều đáng đề cập đến nữa đó là việc ứngdụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử vào việc điều hành các tour dulịch và giao dịch giữa các nhà cung cấp dịch vụ di lịch chưa được nhiều Nhậnthức được những vấn đề cấp thiết này, hiện nay Việt Nam cũng đã và đang đầu

tư rất nhiều để nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, song song với việc nâng cấp cơ sở

hạ tầng giao thông để đảm bảo không có sự ngưng trệ trong quá trình lưu thôngcủa khách du lịch

Về chủ trương, chính sách phát triển du lịch Việt Nam: Có thể thấy rõ được

sự cố gắng nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển hoạt động dulịch thông qua việc ban hành Luật du lịch Luật Du lịch đã quy định cụ thể về tàinguyên du lịch, hoạt động du lịch cũng như quyền và nghĩa vụ của khách du lịch,các tổ chức cá nhân kinh doanh du lịch, tổ chức các nhân khác có hoạt động liênquan đến du lịch Nhờ đó mà các chính sách về du lịch trở nên rõ ràng hơn, công

Trang 21

khai, minh bạch với tất cả cộng đồng người Việt Nam cũng như nước ngoài đếnViệt Nam du lịch Cùng với đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hànhmột số hướng dẫn cụ thể về lưu trú du lịch, hướng dẫn du lịch và xúc tiến du lịchnhằm tăng hiệu quả trong công tác quản lý và kinh doanh du lịch Tuy nhiên cómột vấn đề cần được đề cập đến đó là sự liên kết, hợp tác giữa các Bộ ngành, địaphương, lãnh thổ có nhiều tiến bộ trong những năm gần đây nhưng vẫn còn thiếu

và yếu (Tổng cục Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công An) Chúng ta hiện vẫnchưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành (tài chính, hàng không, biên phòng,điện lực, viễn thông…) trong hỗ trợ phát triển du lịch Hệ thống thống kê ápdụng trong ngành du lịch Việt Nam cũng chưa được cải tiến nhiều

2 Những vấn đề chung về thống kê du lịch

2.1 Khái niệm thống kê du lịch

Thống kê du lịch nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặtchất của các hiện tượng & quá trình kinh tế, xã hội trong lĩnh vực du lịch, nghiêncứu biểu hiện về mặt lượng của các quy luật phát sinh trong lĩnh vực này

Thống kê du lịch không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng mà chỉphản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng, quá trình kinh tế, xã hội tronglĩnh vực du lịch thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng.Các con số thống kê du lịch này phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn cáchiện tượng cả biệt để đảm bảo bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫunhiên Đối tượng nghiên cứu của thống kê nói chung cũng như trong thống kê dulịch nói riêng bao giờ cũng phải tồn tại trong một điều kiện thời gian và địa điểm

cụ thể

2.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ thống kê du lịch

Trang 22

Ngày nay, thống kê du lịch trở nên vô cùng quan trọng trong tình hình cạnhtranh du lịch trên thế giới diễn ra mạnh mẽ Phải có hệ thống thống kê du lịch thìmới có đầy đủ thông tin về thị trường, xây dựng được hệ thống chỉ tiêu thu thậpthông tin thị trường Với những dữ liệu đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy ta mới

có thể tiến hành các phương pháp khác nhau về phân tích trong du lịch Đây làmột công việc hết sức cần thiết, góp phần đánh giá các khía cạnh khác nhau của

du lịch, hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quá trình ra quyết định và hoạch định chínhsách

Bằng việc vận dụng các phương pháp thống kê để phân tích một cách chínhxác tình hình thị trường có thể nghiên cứu từ phương diện định lượng, nhằm rút

ra các đặc trưng, tính quy luật làm cơ sở cho việc kết luận tình hình thị trườnghiện tại, tiến hành dự đoán, xây dựng chiến lược, đấu tranh thị trường Theo báocáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu xây dựng hệ thốngchỉ tiêu thống kê trong ngành du lịch”, tổ chức UNWTO đã đưa ra 5 đích cơ bảngắn với việc nâng cao hệ thống thống kê du lịch thế giới mà Việt Nam nên thamkhảo thực hiện như sau:

- Định nghĩa các biến thống kê phản ánh các viễn cảnh khác nhau của dulịch và đặc trưng để nhận diện nó

- Hài hòa các định nghĩa du lịch nội địa và quốc gia, vì chúng là các khíacạnh bổ sung của hiện tượng du lịch

- Giúp tạo thông tin du lịch có tính so sánh quốc tế và quốc gia, hướng dẫncác nước thành viên cũng như không phải thành viên, chấp nhận và phỏng theocác khái niệm được chuẩn hóa cho từng nước để đảm bảo tính có thể so sánh

Trang 23

- Điều phối và tích hợp thống kê du lịch với những hoạt động kinh tế khác,đặc biệt chú ý tới các định nghĩa và phân loại của thống kê kinh tế và nhân khẩuhọc cơ bản, Hệ thống tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán.

- Xem xét những giới hạn hiện hành về tính sẵn có và khả năng truy cập tớinhững thông tin thống kê cần thiết, dẫn đến tính phức tạp của hoạt động du lịch

Từ những vấn đề trên có thể rút ra được những nhiệm vụ chủ yếu của thống

kê du lịch Việt Nam hiện nay:

- Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu nhằm lượng hóa một cách có hệ thống &chính xác mọi hoạt động của lĩnh vực du lịch

- Nghiên cứu hệ thống các phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích và dựđoán các hoạt động trong quá trình kinh doanh du lịch

- Nghiên cứu đề xuất các phương pháp cần thiết nhằm khai thác tối đa cơ sởvật chất, kỹ thuật hiện có từng bước tận dụng tiềm năng du lịch phong phú hiệncó

2.3 Đặc điểm thống kê du lịch ở Việt Nam hiện nay

Cơ cấu tổ chức của cơ quan thống kê du lịch Việt Nam hiện nay là hình thức

cơ quan thống kê du lịch hai cấp Cơ cấu bao gồm: cơ quan thống kê quốc gia(nằm trong cơ quan quản lý nhà nước về Trung ương) và cơ quan thống kê địaphương (nằm trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Tỉnh, Thành phốtrực thuộc Trung ương và tương đương) Công tác thống kê du lịch hiện nayđược thực hiện theo ngành dọc từ Tổng cục thống kê đến các cục thống kê cáctỉnh thành phố và cuối cùng là các phòng thống kê ở các quận, huyện

Tổng cục Thống kê có vụ thống kê thương mại, dịch vụ và giá cả chuyêntrách thực hiện thống kê du lịch Ở các cấp địa phương có các cục thống kê tỉnh,thành phố và có phòng thống kê thương mại đảm nhiệm công tác thống kê du

Trang 24

lịch Tại các phòng thống kê quận, huyện cũng có bộ phận chuyên thống kêtrong lĩnh vực du lịch Bản thân tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng có

bộ phận đảm nhiệm công tác thống kê nhằm phân tích và đưa ra các quyết địnhđảm bảo hoạt động có hiệu quả hơn

Nhìn chung, những mặt được của thống kê du lịch ở Việt Nam hiện nay cóthể kể đến đó là:

- Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổng cục Thống kê dần hoàn thiện cácbáo cáo thống kê định kỳ, tiến hành một số cuộc điều tra phục vụ thống kê dulịch, nhờ đó mà thu thập được hệ thống số liệu hàng năm về hoạt động du lịch

để phục vụ cho quản lý và hoạch định chính sách phát triển du lịch

- Xây dựng được một số báo cáo: báo cáo về số lượng khách du lịch quốc tếđến Việt Nam theo tháng, quý, năm, theo phương tiện đến, quốc tịch, theo mụcđích chuyến đi…; báo cáo số lượng khách du lịch trong nước theo định kỳ 6tháng, năm; báo cáo thực trạng và cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế đến ViệtNam

Bên cạnh những mặt được thì hoạt động thống kê du lịch ở Việt Nam vẫn cònnhiều mặt hạn chế:

- Hiện tại, Tổng cục Du lịch chưa có đơn vị thực hiện công tác thống kê dulịch riêng biệt Số cán bộ đảm nhiệm công tác thống kê tại Tổng cục Du lịch cònmỏng so với nhiệm vụ đặt ra, cán bộ thống kê du lịch thường thay đổi nên thiếutính kế thừa

- Số liệu thống kê du lịch còn bị giới hạn trong phạm vi hẹp, chủ yếu chỉ tậptrung vào số liệu khách quốc tế đến Việt nam, phân loại theo thị trường khách,mục đích chuyến đi và phương tiện đến Thông tin du lịch cũng chưa được thu

Trang 25

thập đủ, chưa có độ tin cậy cao nên chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản của côngtác quản lý cũng như so sánh quốc tế.

- Chưa có hệ thống báo cáo thống nhất, chưa tham chiếu với hệ thống chỉtiêu quốc gia và quốc tế Hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch chưa được tổng hợp

và pháp lý hóa, các biểu mẫu báo cáo do các Vụ chức năng thực hiện còn độclập với nhau dẫn đến việc thông tin chưa được thống nhất

Nguyên nhân chính của những mặt hạn chế đó là do:

- Cán bộ làm thống kê tại Tổng cục Du lịch và các Sở còn mỏng và yếu,chưa có người làm nhiệm vụ chuyên trách

- Nhận thức về công tác thống kê du lịch còn chưa đúng, việc cung cấp sốliệu thống kê của các cơ quan liên ngành còn nhiều hạn chế Các chỉ tiêu thống

kê chưa được quy định cụ thể và thống nhất

- Kinh phí cho công tác thống kê du lịch còn hạn chế, chưa có phương tiệncho việc điều tra thống kê du lịch

3 Phương pháp thống kê khách du lịch

3.1 Định nghĩa và phân loại khách du lịch

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khách du lịch từ trước tới nay Đầu tiênphải kể đến đó là định nghĩa xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp, theo đókhách du lịch được hiểu là người thực hiện một cuộc hành trình lớn Năm 1800tại Anh, khách du lịch cũng được định nghĩa là người thực hiện cuộc hành trínhlớn trên đất liền xuyên nước Anh Đến đầu thế kỷ thứ XX, nhà kinh tế học người

Áo – Iozef Stander đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch là người khách xa hoa

ở theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn những nhu cầu sinhhoạt cap cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế Ngoài ra còn nhiều địnhnghĩa về khách du lịch khác tuy nhiên đều có điểm chung đó là: khách du lịch cư

Trang 26

trú ở ngoài nơi họ sinh sống thường xuyên và không thực hiện hành vi kiếm tiềntại nơi họ đến.

Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia đã đưa ra khái niệm về khách du lịch nướcngoài như sau: Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thườngxuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ

Năm 1950, Liên hiệp quốc tế của các tổ chức chính thức về du lịch – IUOTO( sau này là WTO) đã định nghĩa khách du lịch quốc tế có hai điểm khác vớiđịnh nghĩa của Liên hiệp các quốc gia vào năm 1937, đó là: sinh viên, nhữngngười đến học ở các trường được coi là khách du lịch và những người quá cảnhkhông được coi là khách du lịch kể cả họ hành trình qua một nước không dừnglại trong thời gian vượt qua 24 giờ hay hành trình trong khoảng thời gian dưới 24giờ và có dừng lại nhưng không phải mục đích du lịch

Năm 1963, tại Hội nghị Roma (Italia) do Liên Hiệp Quốc tổ chức về các vấn

đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế lại đưa ra định nghĩa về khách du lịch nhưsau: Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoàinơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ítnhất một buổi tối trọ) Động cơ khởi hành của những người này là: giải trí, chữabệnh, học tập với mục đích thể thao hoặc tôn giáo; đi du lịch kết hợp làm ăn,thăm gia đình, bạn bè, đi du lịch kết hợp với Hội nghị Những người sau khôngđược coi là khách du lịch quốc tế: những người ra nước ngoài để tìm kiếm việclàm hoặc làm ăn theo hoặc không theo hợp đồng; những cư dân ở vùng giáp biêngiới sống ở nước bên này nhưng làm việc ở nước bên cạnh; những người dân di

cư tạm thời hoặc cố định; những người tị nạn; người tha phương cầu thực, cácnhà ngoại giao và nhân viên các đại sứ quán, lãnh sự quán, các lực lượng bảo an

Trang 27

Năm 1989, tại hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan đã đưa ra khái niệm vềkhách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người đi thămmột đất nước khác với mục đích tham quan,nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trongkhoảng thời gian ít hơn 3 tháng, những người này không được làm gì để được trảthù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên củamình Như vậy, trong khái niệm này thì quy định về thời gian của chuyến đi dulịch đối với khách du lịch quốc tế là ít hơn 3 tháng.

Đối với khách du lịch trong nước thì Tiểu ban về các vấn đề kinh tế xã hộitrực thuộc Liên Hiệp Quốc cho rằng: Khách du lịch nội địa là công dân của mộtnước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cưtrú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay một đêmvới mọi mục đích trừ mục đích hoạt động để được trả thù lao tại nơi đến

Trước tình hình có nhiều khái niệm của các nước và các tổ chức về du lịchtrên thế giới, nghị quyết của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch họp tại OttawaCanada từ 24-28/06/1991 đã được đại hội đồng của tổ chức du lịch thế giớiWTO thông qua kỳ họp thứ 9 tại Buenos Aires – Agentina từ 30/09 đến04/10/1991 đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịchquốc tế là một người khách đi du lịch tới một đất nước không phải là đất nước

mà họ cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít nhất là một ngày đêmnhưng không vượt quá một năm và mục đích chính của chuyến đi không phải đểthực hiện hoạt động kiếm tiền trong phạm vi đất nước tới thăm

Ngày 04/03/1993, theo đề nghị của tổ chức du lịch thế giới WTO, Hội đồngthống kê Liên Hiệp Quốc đã công nhận những thuật ngữ để thống nhất việc soạnthảo thống kê du lịch như sau:

- Khách du lịch quốc tế (international tourist) gồm:

Trang 28

 Khách du lịch quốc tế đến (inbound tourist) gồm: những người từnước ngoài đến du lịch một quốc gia.

 Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (outbound tourist) gồm: nhữngngười đang sống trong một quốc gia đi du lịch ra nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (internal tourist) gồm: những người là công dâncủa một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốcgia đó đi du lịch trong nước

- Khách du lịch nội địa ( domestic tourist) gồm: khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế đến

- Khách du lịch quốc gia (national tourist) gồm: khách du lịch trong nước vàkhách du lịch quốc tế ra nước ngoài

Tại Việt Nam, theo điều 20, chương IV của pháp lệnh du lịch Việt Nam năm

1999 có định nghĩa về khách du lịch quốc tế như sau: Là người nước ngoài,người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việtnam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Khách du lịchnội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịchtrong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Theo Luật Du lịch – NXB chính trị quốc gia – 2005 – trang 10 định nghĩa:khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến

Từ đó, khách du lịch được phân ra làm các loại như sau :

- Khách du lịch quốc tế : là 1 người khách đi du lịch tới 1 đất nước khôngphải là đất nước mà họ cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít nhất là 1ngày đêm và không vượt quá 365 ngày Mục đích chính của chuyến đi khôngphải là để thực hiện các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi các nước tới thăm

Trang 29

- Khách du lịch trong nước : là khách cư trú ở 1 đất nước đi du lịch tới 1địa phương khác trong nước đó nhưng ngoài môi trường thường xuyên của họtrong khoảng thời gian ít nhất 1 ngày đêm nhưng không vượt quá 6 tháng Mụcđích chính của chuyến đi không phải để thực hiện hoạt động kiếm tiền trongphạm vi địa phương tới thăm.

- Khách thăm quan : là khách có các chuyến thăm ngắn ngày không nghỉ tại

cơ sở lưu trú có trả tiền, hoặc các chuyến thăm trong ngày tại điểm đến

- Khách du lịch nghỉ qua đêm : là khách nghỉ ít nhất một đêm tại một cơ sởlưu trú tập thể hoặc tư nhân tại nơi họ đến thăm

- Khách du lịch trong ngày : khách không nghỉ lại qua đêm tại một cơ sởlưu trú tập thể hoặc tư nhân tại nơi họ đến thăm Bao gồm : những chuyến đikhứ hồi trong ngày từ nơi cư trú thường xuyên ; những chuyến đi khứ hồi dàingày không nghỉ qua đêm tại bất cừ cơ sở lưu trú tập thể hoặc tư nhân tại nơi họđến thăm ; khách đường thủy (gồm cả thủy thủ đoàn và khách) đến một nước vàquay lại tàu để ngủ mỗi đêm mặc dù con tàu đó có thể đỗ lại bến cảng nhiềungày được tính là khách du lịch quốc tế trong ngày ; những khách cắm trại, dulịch « balo » không nghỉ đêm tại cơ sở lưu trú, mặc dù có thể họ ở lại nơi đếnnhiều ngày

- Khách du lịch quá cảnh : là khách du lịch đặc biệt, có thể là khách du lịchquốc tế cũng có thể là khách du lịch nội địa, khách du lịch nghỉ qua đêm khôngtại cơ sở lưu trú có trẻ tiền hoặc khách trong ngày Khách quá cảnh thườngkhông quay về nơi cư trú ngay mà dừng lại ở một nơi, một quốc gia trên đường

đi tới một địa điểm khác

- Khách du lịch địa phương : là người khách đi du lịch tới 1 địa điểm trongphạm vi địa phương mà họ sinh sống

Trang 30

Nếu phân loại khách theo thời gian lưu trú thì có thể phân loại như sau :

Nếu phân loại khách theo nguồn khách :

- Khách quốc tế đến : chia theo quốc tịch

- Khách du lịch ra nước ngoài : chia theo nước đến

- Khách du lịch trong nước : chia theo vùng, miền, địa phương

Nếu phân loại theo mục đích chuyến đi :

- Khách du lịch thuần túy : mục đích du lịch là nghỉ ngơi, vui chơi

- Khách du lịch công vụ : khách đi du lịch kết hợp với đi công vụ

- Khách du lịch thể thao : khách đi du lịch kết hợp với hoạt động thể thao

- Khách du lịch kết hợp chữa bênh : khách đi du lịch kết hợp việc chữabệnh

- Khách du lịch thăm thân

Nếu phân loại theo các tiêu thức nhân khẩu học :

- Giới tính : Nam hay Nữ

- Độ tuổi :

 Dưới 18 tuổi,

Trang 31

 Từ 18 – 25 tuổi (thường là khách tự chủ động du lịch)

 Từ 25-35 tuổi (khách du lịch theo gia đình)

 Từ 35-45 tuổi (chủ yếu là khách du lịch công vụ)

 Từ 45-55 tuổi (đi công vụ kết hợp)

 Từ 55 tuổi trở lên (khách đi du lịch thuần túy)

- Nghề nghiệp :

 Khách cao cấp của nhà nước

 Khách là các nhà quản lý (du lịch kết hợp công vụ, du lịch kết hợp hoạtđộng thể thao )

 Khách là những nhà nghiên cứu khoa học (du lịch kết hợp với hộinghị )

 Khách là thương gia

 Khách là nhân viên

 Các thành phần khác

Phân loại theo phương tiện đi lại : có thể hiểu phương tiện đi lại là phương

tiện chủ yếu được khách sử dụng trong chuyến đi Tuy nhiên cần phải phân biệt

rõ giữa phương tiện giao thông được dùng để đi tới điểm đến và phương tiệngiao thông dùng để di chuyển tại điểm đến Ví du : một khách Pháp đến ViệtNam bằng máy bay nhưng sử dụng ô tô và xe máy để đi du lịch qua các tỉnh tạiViệt Nam Như vậy, phương tiện chính để đi tới Việt Nam (điểm đến) của vịkhách này là máy bay, phương tiện khác để di chuyển tại điểm đến là ô tô và xemáy

Nếu phân loại theo cơ sở lưu trú : đối với khách du lịch qua đêm thường

chọn loại hình cơ sở lưu trú để nghỉ qua đêm Tại Việt Nam, Luật Du lịch –NXB chính trị quốc gia – trang 12 có định nghĩa về cơ sở lưu trú như sau : « Cơ

Trang 32

sở lưu trú là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụkhách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu » Từ đó taphân loại khách theo cơ sở lưu trú như sau :

- Khách du lịch nghỉ tại khách sạn : là khách nghỉ tại các cơ sở kinh doanhphục vụ nhu cầu của du khách trong thời gian ngắn (1 năm đối với khách du lịchquốc tế và 6 tháng đối với khách du lịch nội địa) ; khách sạn được phân theo sốsao (từ 1 sao đến 5 sao)

- Khách du lịch nghỉ tại motel : là khách nghỉ tại loại cơ sở lưu trú được xâydựng sát đường giao thông, có gara ô tô gần phòng ngủ, có các dịch vụ bảodưỡng, xăng, dầu và dịch vụ ăn uống

- Khách du lịch nghỉ tại biệt thự du lịch : là khách nghỉ tại loại cơ sở lưu trúsang trọng, biệt lập và đầy đủ tiện nghi

- Khách du lịch nghỉ tại nhà khách : là khách du lịch nghỉ tại cơ sở lưu trúbình dân, cơ sở lưu trú của một cơ quan hay tổ chức, đoàn thể nào đó

- Khách du lịch nghỉ tại tàu du lịch, thuyền du lịch : là khách du lịch trongsuốt chuyến đi cơ sở lưu trú qua đêm của họ chính là trên tàu, thuyền (phươngtiện di chuyển chính của họ)

- Khách du lịch sử dụng lều trại : là khách nghỉ qua đêm tại những khu đấtrộng rãi có thể cắm trại, lều hoặc do khách du lịch tự cắm trại

Nếu phân loại theo hình thức tổ chức chuyến đi :

- Khách du lịch theo tour du lịch : là khách sử dụng các gói sản phẩm dulịch của các doanh nghiệp lữ hành hay đại lý du lịch Các tour du lịch trọn góithường là hay kết hợp từ 2 dịch vụ du lịch trở lên và bán các dịch vụ này thôngqua các đại lý du lịch hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng như mộtsản phẩm đơn lẻ với giá trọn gói

Trang 33

- Khách du lịch theo tour tự tổ chức : là khách du lịch tự chọn hành trình, tựmua, thanh toán và tiêu dùng trực tiếp các dịch vụ du lịch trong chuyến đi.

Nếu phân loại theo « sản phẩm du lịch » : có thể phân theo một số loại chủ

yếu như sau :

đó có thể nghiên cứu quy mô của thị trường du lịch và là cơ sở để tính các chỉtiêu phân tích khác, phản ánh đặc trưng về hoạt động du lịch Các thông tin phântích dự báo đối với chỉ tiêu thống kê khách du lịch là cơ sở để lập kế hoạch chonhững chỉ tiêu quan trọng trong các lĩnh vực khác

3.2.1 Số lượt khách du lịch (K)

Số lượt khách du lịch (K) : là tổng số lượt khách đến và tiêu dùng sản phẩm

du lịch trong kỳ nghiên cứu Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ, đơn vị tính : lượtkhách Cách tổng hợp như sau :

Đối với khách du lịch quốc tế :

- Khách du lịch quốc tế đến :

Trang 34

 Phạm vi quốc gia (toàn ngành) : số khách du lịch quốc tế đến được thuthập qua các cửa khẩu, đường không, đường bộ và đường biển.

 Phạm vi từng đơn vị kinh doanh du lịch : số lượt khách du lịch quốc tế là

số lượt khách du lịch quốc tế đến mà đơn vị phục vụ trong kỳ nghiên cứu

- Khách đi du lịch ra nước ngoài :

 Phạm vi từng đơn vị kinh doanh : số khách mà đơn vị tổ chức cho họ đi dulịch ra nước ngoài

 Phạm vi quốc gia : có thể thu thập tại cửa khẩu hoặc cộng dồn số khách tạicác đơn vị

Đối với khách du lịch trong nước :

 Phạm vi từng đơn vị kinh doanh du lịch : số khách du lịch trong nước là

số lượt khách mà họ phục vụ trong kỳ nghiên cứu

 Phạm vi toàn ngành, cả nước : có thể thu thập qua điều tra hoặc lấy tổng

số lượt khách du lịch tất cả các đơn vị kinh doanh x hệ số tính đổi

Đối với khách du lịch địa phương : có thể thu thập số liệu qua điều tra

Thống kê lượng khách du lịch cho ta biết được tình hình hoạt động du lịch,khả năng thu hút của từng điểm du lịch từ đó hoạch định ra các kế hoạch chohoạt động du lịch trong thời gian tiếp theo

3.2.2 Số ngày khách du lịch (N)

Số ngày khách du lịch (N) : là tổng số ngày khách mà các đơn vị kinh

doanh phục vụ trong kỳ nghiên cứu Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, thời kỳ, có đơn vịtính là : ngày khách Có 2 phạm vi tính số ngày khách du lịch :

- Tính cho từng đơn vị kinh doanh du lịch : số ngày khách được xác địnhbằng cách cộng dồn số lượt khách có trong từng ngày của kỳ nghiên cứu

Trang 35

- Tính cho toàn ngành : thu thập bằng điều tra hoặc cộng dồn số ngày kháchcủa tất cả các đơn vị kinh doanh du lịch (tuy nhiên phương pháp này bỏ sót sốngày khách đối với Việt Kiều ở tại nhà).

Số ngày khách du lịch = quy mô đoàn khách thứ i x Độ dài lưu trú củađoàn khách thứ i

Chỉ tiêu số ngày khách du lịch (N) không những phản ánh kết quả hoạt độngcủa đơn vị kinh doanh du lịch mà còn có tác dụng trong việc lập kế hoạchmarketing và sửa chữa cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật du lịch

3.2.3 Độ dài lưu trú bình quân (n)

Độ dài ngày lưu trú (n) : là số ngày lưu trú bình quân một khách Đơn vị

Trang 36

Chỉ tiêu độ dài lưu trú phản ánh đặc trưng về lưu trú của khách du lịch, được

sử dụng để so sánh kết quả hoạt động kinh doanh du lịch giữa các doanh nghiệp

du lịch, địa phương hay vùng du lịch

3.2.4 Kết cấu khách du lịch/ kết cấu ngày khách du lịch ( , )

 Khách quốc tế đến: chia theo quốc tịch

 Khách đi du lịch ra nước ngoài: chia theo nước đến

 Khách du lịch trong nước: chia theo vùng, miền, tỉnh

- Theo mục đích chuyến đi:

Trang 37

 Kết cấu khách đến lần đầu hay đến lại.

 Kết cấu khách theo các kiểu lưu trú khác nhau

 Kết cấu khách đến theo phương tiện vận chuyển

 Kết cấu khách biết đến sản phẩm du lịch bằng các phương pháp quảng cáokhác nhau

Trang 38

- Theo đặc tính tinh thần:

 Kết cấu khách đi du lịch cá nhân hay du lịch tập thể

 Kết cấu khách đi du lịch theo quyết định của bản thân hay của người khác

 Kết cấu khách đi du lịch theo cách đánh giá của họ đối với sản phẩm dulịch

3.3 Phương pháp phân tích thống kê khách du lịch

3.3.1 Phân tích số lượng khách du lịch 

3.3.1.1 Phân tích biến động tổng lượng khách du lịch 

Phân tích đặc điểm biến động của chỉ tiêu số lượt khách du lịch : tính các chỉ

tiêu để phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng theo thời gian

 Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối (sử dụng công thức : lượng tăng(hoặc) giảm tuyệt đối liên hoàn, lượng tăng (hoặc) giảm tuyệt đối bình quân :dùng để biểu thị số lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối của số lượt khách du lịchtheo thời gian

 Mức độ bình quân theo thời gian : dùng để tính số lượt khách trung bìnhqua thời gian

 Tốc độ phát triển và tốc độ tăng (hoặc giảm) (sử dụng công thức : tốc độphát triển liên hoàn, tốc độ phát triển bình quân, tốc độ tăng (hoặc giảm) liênhoàn, tốc độ tăng (hoặc giảm bình quân : xác định tốc độ, xu hướng biến độngcủa số lượt khách theo thời gian và xác định xem số lượt khách tăng (giảm) baonhiêu lần kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc

 Giá trị tuyệt đối 1% của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn : xác định xem

cứ 1% tốc độ tăng (giảm) của số lượt khách theo thời gian thì tương ứng với mộtlượng tuyệt đối là bao nhiêu lượt khách

Phân tích xu thế biến động của số lượt khách du lịch theo thời gian   :

Trang 39

 Sử dụng đồ thị biểu diễn giá trị của số lượt khách du lịch theo thời gian :thấy được sự thay đổi, xu hướng biến động của số lượt khách du lịch theo thờigian.

 Sử dụng phương pháp hàm xu thế : thường dùng dạng hàm tuyến tính, bậc

2, bậc 3 và hàm mũ để phân tích sự biến động của số lượt khách du lịch theo thờigian

Phân tích biến động thời vụ của chỉ tiêu số lượt khách du lịch   :

 Tính các chỉ số thời vụ : xác định ảnh hưởng của yếu tố thời vụ đến chỉtiêu số lượt khách du lịch

 Phân tích các thành phần của dãy số thời gian : phân tích theo kết hợpcộng và theo kết hợp nhân : xác định được tính chất, vai trò của mỗi thành phần(thành phần xu thế, thành phần thời vụ và thành phần ngẫu nhiên) trong quá trìnhbiến động của hiện tượng

3.3.1.2 Phân tích biến động kết cấu khách du lịch 

Sử dụng phương pháp phân tổ : phân loại khách theo thị trường, theo phươngtiện đến và mục đích đến

Sử dụng số tương đối kết cấu : xác định được tỷ trọng của loại khách trêntổng số khách, số ngày khách của từng loại khách trên tổng số ngày khách từ đóxác định được loại khách nào chiếm tỷ trọng lớn để đầu tư chiến lược nâng cao

số lượt khách du lịch

3.3.2 Phân tích số ngày khách du lịch

Phân tích biến động số ngày khách du lịch qua thời gian sử dụng các phươngpháp tương tự như phương pháp phân tích biến động tổng lượng khách du lịch

Phương pháp chỉ số : phân tích được biến động của tổng ngày khách du lịch

thông qua các chỉ tiêu hệ thống (số ngày lưu trú bình quân 1 khách của từng loại

Trang 40

khách, số lượt khách của từng loại khách, số ngày lưu trú bình quân chung củakhách) ; phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của tổng ngàykhách du lịch.

 Mô hình 1 : phân tích nhân tố ảnh hưởng Tổng ngày khách du lịch (N) do

ảnh hưởng của 2 nhân tố : số ngày lưu trú bình quân 1 khách của từng loại khách(ni) và số lượt khách của từng loại khách (ki)

Trong đó :

K : tổng số lượt khách

 : số lượt khách của từng loại khách

 : số ngày lưu trú bình quân 1 khách của từng loại khách

 Mô hình 2 : phân tích nhân tố ảnh hưởng Tổng ngày khách du lịch do ảnh

hưởng của số ngày lưu trú bình quân chung của khách ( ) và tổng số lượt khách(K)

Trong đó :

 : số ngày lưu trú bình quân chung của khách

K : tổng số lượt khách

Ngày đăng: 30/05/2014, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 1 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 – (Trang 40)
Bảng 2: Bảng phân tích biến động tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 Năm - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 2 Bảng phân tích biến động tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 Năm (Trang 42)
Đồ thị 2: Xu thế biến động thực tế và lý thuyết qua thời gian của số lượt - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
th ị 2: Xu thế biến động thực tế và lý thuyết qua thời gian của số lượt (Trang 47)
Bảng 4: Bảng Buys-Ballot: - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 4 Bảng Buys-Ballot: (Trang 54)
Bảng 5: Dự đoán dựa vào hàm xu thế số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 5 Dự đoán dựa vào hàm xu thế số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt (Trang 56)
Bảng 10: Dự đoán số lượt khách quốc tế du lịch đến Việt Nam tới năm 2012 - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 10 Dự đoán số lượt khách quốc tế du lịch đến Việt Nam tới năm 2012 (Trang 62)
Bảng 11: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo quốc tịch giai đoạn 1995-2008 - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 11 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo quốc tịch giai đoạn 1995-2008 (Trang 64)
Bảng 12: Tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo quốc tịch - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 12 Tỷ trọng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo quốc tịch (Trang 66)
Bảng 13: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo mục đích chuyến đi giai đoạn 1995-2008 - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 13 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam theo mục đích chuyến đi giai đoạn 1995-2008 (Trang 71)
Bảng 14: Tỷ trọng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo mục đích đến - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 14 Tỷ trọng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 theo mục đích đến (Trang 72)
Bảng 15: Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 15 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 (Trang 75)
Bảng 17: Phân tích đặc điểm biến động số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 Phương - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 17 Phân tích đặc điểm biến động số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt nam theo phương tiện đến giai đoạn 1995-2008 Phương (Trang 77)
Đồ thị 9: Tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 - - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
th ị 9: Tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995 - (Trang 81)
Bảng 18: Tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Năm Tổng số ngày - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 18 Tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Năm Tổng số ngày (Trang 81)
Bảng 19: Bảng phân tích biến động tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 Năm - phân tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến việt nam giai đoạn 1995-2008 và dự đoán đến năm 2012
Bảng 19 Bảng phân tích biến động tổng số ngày khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-2008 Năm (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w