1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và đánh giá kết quả can thiệp điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại tỉnh Nghệ An (Ngày công bố: 23/9/2020)

202 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và đánh giá kết quả can thiệp điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính tại tỉnh Nghệ An
Tác giả Lê Nhật Huy
Người hướng dẫn PGS.TS Chu Thị Hạnh
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Nội Hô hấp
Thể loại Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2.1. Dịch tễ COPD trên thế giới (14)
  • 1.2.2. Tình hình dịch tễ COPD ở Việt Nam (18)
  • 1.3. Các YTNC của COPD (20)
    • 1.3.1. Các yếu tố môi trường (20)
    • 1.3.2. Các yếu tố cơ địa (25)
  • 1.4. Sinh lý bệnh học COPD (27)
  • 1.5. Lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán COPD (28)
    • 1.5.1. Biểu hiện lâm sàng của COPD (28)
    • 1.5.2. Cận lâm sàng (30)
    • 1.5.3. Chẩn đoán COPD (32)
  • 1.6. Các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học (38)
    • 1.6.1. Nghiên cứu cắt ngang trong điều tra dịch tễ học COPD (39)
    • 1.6.2. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (39)
  • 1.7. Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe (40)
  • 1.8. Quản lý COPD tại cộng đồng (42)
  • 1.9. Nghiên cứu về tuân thủ điều trị của bệnh nhân mắc COPD (43)
    • 1.9.1. Khái niệm, nghiên cứu tuân thủ điều trị đối với COPD (43)
    • 1.9.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị COPD (44)
    • 1.9.3. Các biện pháp đánh giá tuân thủ điều trị COPD (44)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (46)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu (48)
      • 2.2.3. Biến số và chỉ số nghiên cứu (53)
    • 2.3. Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiên cứu (58)
      • 2.3.1. Cán bộ tham gia nghiên cứu (58)
      • 2.3.2. Bộ câu hỏi (60)
      • 2.3.3. Phương tiện nghiên cứu (60)
      • 2.3.4. Triển khai thực hiện nghiên cứu (61)
    • 2.4. Sai số và cách hạn chế (66)
    • 2.5. Xử lý số liệu (67)
    • 2.6. Đạo đức nghiên cứu (68)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (46)
    • 3.1. Tỷ lệ mắc và YTNC của COPD ở người từ 40 tuổi trở lên (71)
      • 3.1.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (71)
      • 3.1.2. Kết quả về tỷ lệ mắc COPD tại tỉnh Nghệ An (76)
      • 3.1.3. Liên quan giữa các YTNC với COPD (77)
      • 3.1.4. Phân tích đa biến hồi quy Logistic các yếu tố liên quan đến (82)
    • 3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của đối tượng mắc COPD (84)
      • 3.2.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu (84)
      • 3.2.2. Kết quả CNTK của đối tượng nghiên cứu (87)
      • 3.2.3. Kết quả điện tâm đồ của đối tượng mắc COPD (92)
    • 3.3. Kết quả đánh giá hiệu quả can thiệp tư vấn điều trị (93)
      • 4.1.1. Phương pháp nghiên cứu (107)
      • 4.1.2. Tỷ lệ mắc và các YTNC liên quan đến COPD (110)
      • 4.1.3. Kết quả về tỷ lệ mắc COPD (113)
      • 4.1.4. Ảnh hưởng của các YTNC với COPD (115)
    • 4.2. Đặc điểm lâm sàng, CNTK và điện tâm đồ của đối tượng mắc (124)
      • 4.2.1. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng mắc COPD (124)
      • 4.2.2. Đặc điểm CNTK (127)
      • 4.2.3. Đặc điểm điện tâm đồ (129)
    • 4.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cho người bệnh COPD (130)
      • 4.3.1. Đánh giá hiệu quả can thiệp về đặc điểm lâm sàng (131)
      • 4.3.2. Đánh giá kỹ thuật dùng dụng cụ phân phối thuốc đường hô hấp . 126 4.4. Kết quả đạt được và hạn chế của nghiên cứu (137)
  • KẾT LUẬN (62)
  • PHỤ LỤC (169)

Nội dung

Dịch tễ COPD trên thế giới

Nghiên cứu dịch tễ học COPD chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển do yêu cầu về thời gian, công sức và chi phí Trước đây, các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh không thống nhất giữa các quốc gia, cùng với sự khác biệt về địa lý, khí hậu và phong tục tập quán, đã dẫn đến sự chênh lệch tỷ lệ mắc COPD toàn cầu Kết quả nghiên cứu cũng bị ảnh hưởng bởi phương pháp chọn mẫu, sự tham gia của đối tượng và chất lượng kỹ thuật đo chức năng thông khí Theo nghiên cứu tổng quan của Halbert RJ (2006) từ 1990 - 2004, tỷ lệ COPD qua phân tích gộp là 7,6%, viêm phế quản mạn là 6,4%, và khí phế thũng là 1,8% Tỷ lệ lưu hành COPD qua nghiên cứu sàng lọc là 8,9%, qua khai báo của bệnh nhân là 4,9%, qua chẩn đoán lâm sàng là 5,2%, và kết hợp khám lâm sàng với chụp X-quang phổi là 13,7%.

Theo dự báo của WHO, đến năm 2020, COPD sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3, chỉ sau bệnh mạch vành và mạch não Tỷ lệ tử vong do COPD năm 2000 là 2,95 triệu người, đứng thứ 4 trong các nguyên nhân gây tử vong, nhưng đến năm 2015, con số này đã tăng lên 3,17 triệu người, đưa COPD lên vị trí thứ 3, ngang với các bệnh lý nhiễm trùng đường hô hấp dưới Báo cáo của WHO năm 2016 cho thấy trong tổng số 56,9 triệu ca tử vong trên toàn cầu, COPD là nguyên nhân đứng thứ 3 Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính của COPD, gây ra 7,1 triệu ca tử vong, và dự báo tỷ lệ tử vong do COPD sẽ tiếp tục tăng trong khi các bệnh lý nhiễm trùng có xu hướng giảm.

Biểu đồ 1.1 Mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới [16]

Tại Hoa Kỳ, COPD là nguyên nhân tử vong đứng thứ ba, với khoảng 100.000 ca tử vong mỗi năm Năm 2010, có khoảng 15 triệu người trưởng thành (6,3%) được chẩn đoán mắc COPD, trong khi 12 triệu trường hợp tiềm ẩn vẫn chưa được phát hiện Tỷ lệ mắc COPD tăng theo độ tuổi, từ 3,2% ở nhóm 18-44 tuổi lên 11,6% ở người từ 65 tuổi trở lên Tổng chi phí hàng năm cho COPD được ước tính là rất cao.

2010 là 49,9 tỷ đô la Khả năng làm việc giảm xuống 8,6% liên quan đến COPD [17],[18],[19]

Bệnh COPD vẫn chưa được biết đến nhiều tại Nam Phi, với rất ít nghiên cứu dịch tễ về tình trạng này Một phân tích tổng hợp từ 9 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc COPD dao động từ 4,1% đến 24,8%, tùy thuộc vào tiêu chí chẩn đoán Cụ thể, 5 nghiên cứu sử dụng CNTK ghi nhận tỷ lệ mắc trung bình là 13,4%, trong khi các nghiên cứu khác dựa trên bộ câu hỏi và dấu hiệu lâm sàng cho kết quả thấp hơn, khoảng 4%.

Mười nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới

Nguyên nhân khác Bệnh tim thiếu máu Đột quỵ

Nhiễm khuẩn hô hấp dưới, ung thư phổi, phế quản và khí quản, cũng như HIV/AIDS và đái tháo đường, là những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng Tiêu chảy và tai nạn cũng góp phần vào tỷ lệ tử vong Năm 2015, nghiên cứu cắt ngang của Frederik van Gemert và cộng sự đã chỉ ra mối liên hệ giữa bệnh tim và tăng huyết áp.

Tại quận Masindi, Uganda, một nghiên cứu trên 588 người cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD đạt 16,2%, không có sự khác biệt lớn giữa nam và nữ, với khoảng 40% bệnh nhân trong độ tuổi 30-40 Đáng chú ý, 31% nam giới và 74% nữ giới mắc COPD không liên quan đến khói thuốc lá, trong khi phần lớn bệnh nhân tiếp xúc với nhiên liệu sinh khối, đặc biệt là phụ nữ nấu ăn từ 3 đến 5 giờ mỗi ngày trong nhiều năm Tương tự, một nghiên cứu tại Pháp năm 2005 cho thấy tỷ lệ COPD ở hơn 5000 người trên 45 tuổi là 8,4%, với 10,6% ở nam và 6,7% ở nữ.

Dự báo mô hình dịch tễ COPD cho thấy đến năm 2025, tỷ lệ mắc COPD tại Pháp sẽ gia tăng, đặc biệt ở nhóm GOLD 3-4 với mức tăng gấp 4 lần, trong đó nữ giới sẽ tăng 23% và nhóm người trên 75 tuổi sẽ tăng 21%.

Tại Anh vào năm 2011, khoảng 1,2 triệu người (2% dân số) đã được chẩn đoán COPD – lớn hơn đáng kể so với 835.000 người theo ước tính của

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đã trở thành bệnh phổ biến nhất tại Anh, chỉ sau hen phế quản, với tỷ lệ mắc tăng 27% trong giai đoạn 2004 – 2008 Mặc dù tỷ lệ mắc đã giảm và ổn định dưới 115.000 trường hợp chẩn đoán mới vào năm 2012, nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn và có tỷ lệ tử vong cao hơn so với phụ nữ COPD hiếm gặp ở người dưới 40 tuổi, nhưng ảnh hưởng đến 9% người trên 70 tuổi Tỷ lệ mắc và tử vong do COPD cao nhất ở Scotland và phía Bắc nước Anh, với gần 30.000 ca tử vong hàng năm, khiến đây trở thành nguyên nhân gây tử vong thứ hai do bệnh phổi và thứ năm tại Anh Từ 2004 đến 2012, tỷ lệ tử vong vì COPD đã tăng, đứng thứ 3 tại Châu Âu Hàng năm, có hơn 140.000 người nhập viện vì đợt cấp COPD, chiếm hơn một triệu ngày điều trị nội trú, tương đương 1,7% tổng số ngày điều trị so với các bệnh khác.

Một nghiên cứu tại Trung Quốc trên 20.245 người từ 40 tuổi trở lên cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD là 8,2%, với 12,4% ở nam và 5,1% ở nữ Tỷ lệ này cao hơn ở khu vực nông thôn, những người có tiền sử hút thuốc, lớn tuổi, chỉ số BMI thấp, tiếp xúc với bụi nghề nghiệp hoặc nhiên liệu sinh khối, và những người có tiền sử bệnh phổi thời thơ ấu.

Tình hình dịch tễ COPD ở Việt Nam

Một nghiên cứu năm 2003 về COPD tại 12 nước thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã ước tính tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 30 tuổi trở lên Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia, với mức thấp nhất là 3,5% ở Hồng Kông và Singapore, 4,7% ở Úc, 6,1% ở Nhật Bản, 6,5% ở Trung Quốc, và cao nhất là 6,7% ở Việt Nam.

Nghiên cứu tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ năm 1996 đến 2000 cho thấy trong số 3.606 bệnh nhân điều trị, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán COPD khi ra viện chiếm 25,1%, đứng đầu trong các bệnh lý về phổi Đặc biệt, có 15,7% trong số này được chẩn đoán là tâm phế mạn.

Nghiên cứu dịch tễ của Ngô Quý Châu và cộng sự (2006) tại thành phố

Hà Nội, sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang trên đối tượng là 2583 người

Tỷ lệ mắc bệnh COPD ở người trên 40 tuổi tại Hà Nội và Bắc Giang là 3,6%, với nam giới chiếm 6,5% và nữ giới 1,2% Nghiên cứu của Phan Thu Phương (2010) cho thấy tỷ lệ mắc COPD chung là 4,7%, trong đó nam giới là 7,1% và nữ giới là 2,5% Một nghiên cứu khác của Chu Thị Hạnh (2007) trên công nhân từ 40 đến 69 tuổi tại Hà Nội ghi nhận tỷ lệ mắc COPD là 3%, với nam giới 4,5% và nữ giới 0,7% Sự khác biệt trong tỷ lệ mắc bệnh có thể do thiếu đối tượng người cao tuổi (trên 70 tuổi) trong nghiên cứu này.

Theo điều tra dịch tễ COPD toàn quốc năm 2006 của Đinh Ngọc Sỹ, tỷ lệ COPD ở người từ 15 tuổi trở lên là 2,2%, trong đó nam giới chiếm 3,5% và nữ giới 1,1% Tỷ lệ này cao hơn ở khu vực nông thôn (2,6%) so với thành thị (1,9%) và thấp nhất ở miền Nam (1,0%) Đối với nhóm tuổi từ 40 trở lên, tỷ lệ COPD là 4,2%, với nam giới là 7,1% và nữ giới là 1,9% Khu vực nông thôn có tỷ lệ cao nhất (4,7%), trong khi miền Nam lại thấp nhất (1,9%) Một thách thức lớn trong việc chẩn đoán sớm COPD là có đến 38,4% bệnh nhân (205/534) không có triệu chứng như ho, khạc đờm hay khó thở Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đo chức năng hô hấp ở nhóm nguy cơ cao.

Nghiên cứu của Nguyễn Viết Nhung và cộng sự (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh COPD ở người không hút thuốc tại Việt Nam và Indonesia là 6,8%, với 12,9% ở nam giới và 4,4% ở nữ giới Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc COPD cao hơn so với Indonesia, với 8,1% so với 6,3%, và tỷ lệ này cũng cao hơn ở khu vực thành phố so với nông thôn.

Nghệ An, tỉnh lớn nhất Việt Nam về diện tích và đứng thứ tư về dân số với hơn 3,3 triệu người, có mật độ dân cư phân bố không đồng đều Khu vực đồng bằng và ven biển có mật độ cao, trong khi vùng núi và núi cao lại thưa thớt do địa hình hiểm trở và giao thông khó khăn Cơ cấu dân số của tỉnh được phân chia thành 14,73% thành thị và 85,27% nông thôn, với khoảng cách thu nhập không đồng đều, dao động từ 1.800 – 2.500 USD/người ở khu vực thành thị.

1000 USD/người ở một số huyện miền núi (Nguồn “Cục Thống kê tỉnh Nghệ

Hệ thống y tế ở các tuyến cơ sở gặp nhiều khó khăn, với thiếu hụt nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính còn hạn chế, dẫn đến nhận thức của người dân về tác hại của bệnh này chưa đầy đủ.

Nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh và cộng sự năm 2013 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh COPD ở những người có yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, thuốc lào, ăn trầu, và sử dụng than củi là 6,42%, chủ yếu ở nam giới (83,13%) và nhóm tuổi trên 60 chiếm 59,81% Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xác định được tỷ lệ mắc COPD toàn tỉnh và chỉ tập trung vào những người có yếu tố nguy cơ cao, do đó chưa phản ánh đầy đủ thực trạng dịch tễ COPD tại Nghệ An.

Các YTNC của COPD

Các yếu tố môi trường

Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), với khoảng 15 - 20% người hút thuốc mắc bệnh này, theo Hội lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) Đáng chú ý, 80 - 90% bệnh nhân COPD có tiền sử nghiện thuốc lá.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng người hút thuốc có triệu chứng hô hấp, rối loạn hệ thần kinh trung ương và tỷ lệ tử vong cao hơn so với người không hút thuốc Triệu chứng ho và khạc đờm có thể xuất hiện ngay từ khi bắt đầu hút thuốc, trong khi triệu chứng tắc nghẽn đường thở thường chỉ xuất hiện sau 20 năm.

Hút thuốc lá trong 30 năm hoặc sau tuổi 50 có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc bệnh COPD Nguy cơ này phụ thuộc vào tuổi bắt đầu, thời gian và mức độ hút thuốc, cũng như sự tương tác với các yếu tố môi trường và di truyền Khói thuốc chứa nhiều chất oxy hóa, gây ra viêm ở đường thở lớn, đường thở nhỏ và nhu mô phổi Quá trình viêm và sự phá hủy cấu trúc của đường thở và nhu mô phổi dẫn đến tắc nghẽn đường thở, ảnh hưởng đến cả những người hút thuốc có chức năng hô hấp bình thường.

Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và thời gian hút thuốc có liên quan đến tỷ lệ tử vong do bệnh này Nghiên cứu dịch tễ học tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc hút thuốc và sự xuất hiện các triệu chứng hô hấp, với những người hút thuốc có tỷ lệ mắc bệnh cao gấp nhiều lần.

Trong nhóm người mắc COPD, tỷ lệ người hút thuốc chiếm 65,5%, trong đó 54,94% hút hơn 15 bao-năm Những người hút thuốc có nguy cơ mắc COPD cao gấp 2 đến 5 lần so với những người không hút thuốc.

Hút thuốc lá vẫn phổ biến ở các nước phát triển, mặc dù số lượng người hút đang giảm chậm Ngược lại, tại các nước đang phát triển, số lượng người hút thuốc đang gia tăng nhanh chóng, với dự đoán đến năm 2030 sẽ có 10 triệu ca tử vong mỗi năm liên quan đến thuốc lá, trong đó một nửa ở độ tuổi 35 - 69 Khoảng 82% người hút thuốc lá sống ở các nước đang phát triển, và 17% dân số hút thuốc lá toàn cầu sống tại Ấn Độ Tại Ấn Độ, tỷ lệ hút thuốc lá là 28,5% ở nam giới và 2,1% ở nữ giới, trong đó 65% nam giới và 33% phụ nữ sử dụng thuốc lá cuộn (bidi).

Hút thuốc thụ động là yếu tố nguy cơ chính đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) Những người sống hoặc làm việc cùng với người hút thuốc sẽ hít phải khói thuốc lá, dẫn đến sự tích tụ trong phổi và tăng nồng độ nicotin cũng như carboxyhemoglobin trong máu Họ cũng có thể gặp phải các triệu chứng hô hấp tương tự như những người hút thuốc lá chủ động.

Nghiên cứu tại Thụy Điển (2014) cho thấy có mối liên quan giữa COPD và hút thuốc thụ động ở người không hút thuốc lá, với 8,0% phơi nhiễm tại nhà và 8,3% tại nơi làm việc Tỷ lệ mắc COPD là 6,6%, trong đó GOLD 1-2 chiếm 3,4%, và tỷ lệ này tăng theo tuổi và thời gian phơi nhiễm Cụ thể, tỷ lệ COPD là 2,3% dưới 45 tuổi, 4,8% từ 46 - 65 tuổi và 15,4% trên 66 tuổi, không có sự khác biệt về giới tính Một nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc COPD giữa những người tiếp xúc và không tiếp xúc với khói thuốc, cho thấy khói thuốc có thể không phải là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự tiến triển của COPD ở người không hút thuốc Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hút thuốc lá thụ động còn hạn chế, có thể do khó khăn trong việc xác định thời gian và mức độ phơi nhiễm với khói thuốc.

 Ô nhiễm môi trường và ô nhiễm trong gia đình

Mức độ ô nhiễm không khí đang gia tăng, với các khí thải từ chất đốt gia đình, xe cộ và nhà máy công nghiệp làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong Nghiên cứu tại Ấn Độ và Trung Quốc cho thấy, mật độ hạt bụi PM2.5 và PM10 tăng 10 µg/m³ sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong lên 0,6%, cao hơn so với ảnh hưởng của nhiệt độ cao và nghèo đói Nghiên cứu của Doiron D và CS (2019) tại Anh chỉ ra rằng, sự gia tăng nồng độ PM10 và PM2.5 liên quan đến suy giảm chức năng phổi, với FEV1 giảm 83,13 mL và FVC giảm 73,75 mL, đồng thời tỷ lệ COPD cũng cao hơn ở những khu vực có mật độ ô nhiễm cao.

Ô nhiễm không khí trong gia đình, đặc biệt là từ PM2.5 và PM10, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng phổi và bệnh lý COPD Ở các nước đang phát triển, khoảng 50% dân số sử dụng khí tự nhiên, củi, rơm, và than đá trong nấu ăn, dẫn đến ô nhiễm môi trường sống Mặc dù hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ra COPD, nhưng phơi nhiễm với chất đốt sinh khối đang trở thành yếu tố nguy cơ đáng chú ý, với khoảng 3 tỷ người trên toàn thế giới tiếp xúc hàng ngày Nghiên cứu cho thấy chất đốt sinh khối có thể làm tăng viêm phổi và suy giảm phản ứng miễn dịch bẩm sinh, ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của phổi.

Tại Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh COPD ở nữ giới gia tăng không phải do phơi nhiễm khói thuốc, mà chủ yếu do tiếp xúc với không khí trong nhà từ việc sử dụng nhiên liệu rắn dễ cháy để nấu ăn So sánh giữa nông thôn (Yunyan) và thành thị (Liwang), tỷ lệ mắc COPD ở cả hai khu vực đều là 9,4%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới là 7,2% tại nông thôn so với 2,5% tại thành thị Sử dụng chất đốt sinh khối ở Yunyan cao hơn nhiều so với Liwang (88,1% so với 0,7%) Phân tích đơn biến cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa COPD và phơi nhiễm khí đốt.

 Tiếp xúc với khói và bụi nghề nghiệp

Yếu tố môi trường nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bệnh lý hô hấp, đặc biệt là COPD Nghiên cứu của Schilling và cộng sự vào những năm 1960 đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp và khả năng mắc COPD, thông qua việc điều tra công nhân trong nhà máy sợi bông Kết quả cho thấy bụi bông là yếu tố nguy cơ tiềm ẩn của COPD Nhiều nghiên cứu sau đó cũng xác nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa COPD và yếu tố nghề nghiệp Một nghiên cứu tại Na Uy cho thấy những người làm việc trong môi trường tiếp xúc với quartz, khí metan, bụi nhôm, nghề hàn hoặc amiăng có tỷ lệ tắc nghẽn đường thở từ 2,3% đến 2,7%.

Tại Pháp, một nghiên cứu COPD liên quan tới nghề nghệp từ 2004 –

2012 tại 7 trung tâm với 1094 người cho kết quả: 4 nghề liên quan tới COPD cao nhất là thợ lò đúc (13,3%), gia công dụng cụ (10,8%), nông nghiệp (8,7%) và chế biến gỗ (7,3%) [46]

Nghiên cứu tại Châu Âu trong 20 năm qua cho thấy tỷ lệ mắc COPD ở nhóm phơi nhiễm với các yếu tố nghề nghiệp cao hơn so với nhóm không phơi nhiễm Cụ thể, phơi nhiễm với khí và khói có tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,5 (95% CI 1,1-3,8), trong khi phơi nhiễm với thuốc trừ sâu có OR là 2,3 (95% CI 1,1-4,2) và bụi sinh học có OR là 1,6 (95% CI).

CI 1,1-2,3) và không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhóm ảnh hưởng của phơi nhiễm nghề nghiệp [47]

Nghiên cứu của Chu Thị Hạnh (2007) về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) trên công nhân tại một số nhà máy ở Hà Nội cho thấy rằng, những công nhân làm việc trong các phân xưởng sản xuất có tiếp xúc với bụi có tỷ lệ triệu chứng hô hấp cao hơn so với nhóm công nhân không tiếp xúc.

Sự phát triển của bệnh lý đường hô hấp ở người lớn có liên quan đến tiền sử bệnh hô hấp thời thơ ấu, đặc biệt là viêm phổi ở trẻ nhỏ và COPD Nghiên cứu của Lystrap và CS (2015) cho thấy tiền sử viêm phổi ở trẻ em dưới 16 tuổi có liên quan đến nguy cơ mắc COPD ở người trưởng thành hút thuốc lá (OR 1,40; 95% CI 1,17-1,66) và gia tăng dày thành phế quản trên cắt lớp vi tính Sự kết hợp giữa viêm phổi và hút thuốc lá làm tăng nguy cơ phát triển COPD (OR 1,85; 95%).

Các yếu tố cơ địa

Thiếu hụt 𝛼1-antitrypsin là yếu tố nguy cơ di truyền đã được xác định liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên đến 30 lần, mặc dù chỉ chiếm dưới 1% tổng số trường hợp COPD Việc định lượng 𝛼1-antitrypsin và chẩn đoán sớm COPD ở những bệnh nhân có thiếu hụt protein này có thể giúp thực hiện các can thiệp sớm như cai thuốc lá, xét nghiệm cho các thành viên trong gia đình, tư vấn di truyền và áp dụng liệu pháp thay thế.

Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính của COPD, và những người có thiếu hụt 𝛼1-antitrypsin thường phát triển khí phế thũng sớm hơn so với những người không hút thuốc và không thiếu hụt 𝛼1-antitrypsin Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân COPD có thiếu hụt 𝛼1-antitrypsin thường xuất hiện ở độ tuổi 30 - 40, đặc biệt ở những người có tiền sử hút thuốc Nghiên cứu của Larsson trên 246 bệnh nhân cho thấy tuổi trung bình xuất hiện triệu chứng khó thở ở nhóm hút thuốc là 40 tuổi, trong khi nhóm không hút thuốc là 53 tuổi, với tỷ lệ tử vong do COPD trong vòng 14 năm lên tới 61,5%.

 Tăng đáp ứng đường thở

Hen phế quản và tăng đáp ứng đường thở là những yếu tố nguy cơ chính của COPD Những người mắc hen phế quản có nguy cơ phát triển COPD cao gấp 12 lần so với những người không mắc Tăng đáp ứng đường thở, đứng thứ hai sau hút thuốc lá, có thể xảy ra mà không kèm theo hen phế quản và đã được xác nhận là yếu tố dự báo độc lập về COPD cũng như suy giảm chức năng phổi ở bệnh nhân COPD mức độ nhẹ.

Trong quá khứ, tỷ lệ mắc và tử vong do COPD ở nam giới cao hơn nữ giới Tuy nhiên, trong 15 năm qua, tỷ lệ mắc COPD ở nữ giới đã tăng nhanh hơn so với nam giới Sự khác biệt này có thể liên quan đến tình trạng hút thuốc ở nữ giới tại các nước phát triển, cũng như các yếu tố nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường.

Tỷ lệ mắc bệnh COPD, mức độ tàn phế và tỷ lệ tử vong đều tăng theo lứa tuổi, với sự gia tăng tỷ lệ mắc trong những năm gần đây do dân số già hóa và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và nhiễm trùng cấp giảm Yếu tố tuổi tác liên quan đến sự suy giảm chức năng phổi theo thời gian, với một tổng quan hệ thống cho thấy tỷ lệ suy giảm FEV1 dao động từ 17,7 đến 46,4 mL/năm, trung bình là 22,4 mL/năm, và nam giới có tốc độ giảm nhanh hơn nữ giới Chỉ số FEV1/FVC giảm 0,29% mỗi năm, trong khi nghiên cứu của Oostrom SH và CS (2018) chỉ ra rằng tỷ lệ FEV1 giảm theo độ tuổi, đặc biệt là ở những người hút thuốc lá.

Sinh lý bệnh học COPD

Những thay đổi sinh lý bệnh của COPD bao gồm tăng tiết nhầy, giảm chức năng tế bào lông chuyển, tắc nghẽn lưu lượng thở, giãn phế nang, rối loạn trao đổi khí, và tăng áp lực động mạch phổi Tình trạng tăng tiết nhầy và giảm chức năng tế bào lông chuyển dẫn đến triệu chứng ho và khạc đờm mạn tính, thường xuất hiện nhiều năm trước khi có rối loạn về chức năng hô hấp Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân COPD đều có triệu chứng ho khạc đờm Hiện tượng tiết nhầy xảy ra do các đường dẫn khí bị kích thích mạn tính bởi khói thuốc và chất khí độc hại, làm tăng số lượng tế bào có chân và gây phì đại tuyến dưới niêm mạc Các chất trung gian hóa học và proteinase có thể kích thích trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các receptor, dẫn đến tăng tiết nhầy.

Tắc nghẽn đường dẫn khí ở bệnh nhân COPD xảy ra do viêm, co thắt, và tăng tiết dịch rỉ viêm trong đường dẫn khí Hiện tượng tái cấu trúc không bình thường này dẫn đến tăng kháng trở đường thở, làm giảm chỉ số FEV1 và tỷ lệ FEV1/FVC.

Yếu tố làm tăng tắc nghẽn đường thở bao gồm sự phá hủy các phế nang, dẫn đến mất tính đàn hồi của phổi và giảm lực đàn hồi, từ đó làm giảm lưu lượng thở Tình trạng tắc nghẽn này dần tạo ra các bẫy khí, gây giãn phổi và làm giảm dung tích hít vào cũng như dung tích cặn chức năng.

Sự thay đổi về giải phẫu đường thở, bao gồm tắc nghẽn đường thở, giãn phế nang và các biến đổi về mạch máu ở phổi, dẫn đến việc giảm khả năng khuếch tán khí và khả năng trao đổi khí tại các phế nang, đồng thời làm tăng khoảng chết.

Tăng áp lực động mạch phổi thường xảy ra ở giai đoạn nặng của COPD (giai đoạn 4) khi có hạ oxy máu nghiêm trọng (PaO2 < 8,0 kPa hoặc 60 mmHg) Ngay cả ở giai đoạn GOLD nhẹ hoặc ở những người hút thuốc lá, khí phế thũng có thể phát triển và gây ra những bất thường đáng kể trong lưu lượng máu động mạch phổi, dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn Tăng áp lực động mạch phổi là nguyên nhân chính dẫn đến tâm phế mạn, một biến chứng tim mạch nghiêm trọng của COPD.

Lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán COPD

Biểu hiện lâm sàng của COPD

Các triệu chứng cơ năng

Ho mạn tính là triệu chứng đầu tiên của bệnh, với ho có đờm xuất hiện ở 50% người hút thuốc trong 10 năm đầu Các triệu chứng này có thể thay đổi hàng ngày và xuất hiện trước khi có tắc nghẽn đường thở Trong giai đoạn ổn định, bệnh nhân thường ho khạc đờm nhầy, với số lượng đờm khác nhau Tần suất triệu chứng cao hơn vào buổi sáng và ban ngày so với ban đêm Trong đợt cấp do bội nhiễm, bệnh nhân thường khạc đờm mủ, nhưng một số trường hợp có thể tiến triển mà không có triệu chứng ho Tại Việt Nam, tỷ lệ ho - khạc đờm là 72,2% - 70,8%, trong khi nhóm không có triệu chứng chiếm 13,9% Khó thở khi gắng sức, cảm giác tức ngực và thở hổn hển là những triệu chứng khiến bệnh nhân lo lắng, và khó thở cũng thường gặp trong các bệnh lý tim mạch Mức độ khó thở có thể dễ dàng đánh giá qua khả năng hoạt động hàng ngày hoặc theo thang điểm mMRC Đau ngực là triệu chứng phổ biến, nhưng các xét nghiệm tìm nguyên nhân thường âm tính ở bệnh nhân COPD.

Nghiên cứu năm 2016 cho thấy tỷ lệ đau ngực ở bệnh nhân COPD dao động từ 22% đến 54% Nguyên nhân gây đau ngực có thể bao gồm trào ngược dạ dày – thực quản, mất co giãn màng phổi, co thắt phế quản, yếu tố thần kinh và receptor cảm nhận đau, cũng như biến dạng của lồng ngực và xương sườn Trong các đợt cấp của COPD, việc xác định nguyên nhân đau ngực là rất quan trọng, bao gồm tổn thương màng phổi, viêm phổi màng phổi và tắc mạch phổi, nhằm đảm bảo điều trị kịp thời.

Giảm cân, ăn uống kém và suy nhược cơ là những triệu chứng thường thấy trong giai đoạn nặng của bệnh, đồng thời cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý khác như lao hoặc ung thư phổi.

Khám lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe, nhưng các dấu hiệu chỉ mang tính gợi ý khi chẩn đoán COPD Các dấu hiệu thực thể thường xuất hiện muộn khi chức năng hô hấp đã suy giảm đáng kể Ở giai đoạn sớm của bệnh, khám phổi có thể bình thường; khi tắc nghẽn ở mức độ trung bình, có thể thấy lồng ngực hình thùng, gõ vang và rì rào phế nang giảm.

RG (1993), dấu hiệu rì rào phế nang giảm có độ nhạy trung bình 67% và độ đặc hiệu trung bình 98% [77]

Trong giai đoạn nặng của bệnh, bệnh nhân có thể gặp khó thở nhiều, co kéo cơ hô hấp phụ, và khi khám phổi sẽ thấy rì rào phế nang giảm đáng kể, có thể xuất hiện các âm thanh như ran rít, ran ngáy, ran ẩm và ran nổ Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu suy hô hấp mạn tính như tím môi, tím đầu chi, thở nhanh và co kéo cơ hô hấp phụ sẽ xuất hiện, cùng với các biểu hiện của suy tim phải Dấu hiệu Hoover, thể hiện bằng việc giảm bất thường đường kính lồng ngực khi hít vào, là một triệu chứng điển hình ở bệnh nhân mắc COPD Nghiên cứu của Garcia-Pachon (2006) cho thấy dấu hiệu Hoover xuất hiện ở 45% bệnh nhân khi khám lâm sàng, đặc biệt phổ biến ở nhóm COPD giai đoạn rất nặng với tỷ lệ lên đến 76%.

Cận lâm sàng

Đo CNTK phổi (spirometry) là tiêu chuẩn vàng cho việc chẩn đoán bệnh, đặc biệt là trong việc phát hiện sớm và xác định mức độ nặng nhẹ của bệnh Rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn sau khi thực hiện test hồi phục phế quản (HPPQ) với liều lượng 400 µg salbutamol hoặc 80 µg ipratropium, hoặc kết hợp cả hai, được chỉ ra qua chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 0,7 sau test HPPQ.

Bệnh nhân COPD thường có kết quả test HPPQ âm tính, với chỉ số FEV1 tăng dưới 12% và dưới 200ml Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có kiểu hình chồng lấp giữa hen và COPD, kết quả test HPPQ có thể dương tính, với chỉ số FEV1 tăng từ 12% trở lên và từ 200ml trở lên, hoặc dương tính mạnh khi FEV1 tăng từ 15% trở lên và từ 400ml trở lên.

FEV1 là chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ nặng nhẹ của COPD, theo dõi tiến triển lâm sàng, đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mối tương quan giữa FEV1 và triệu chứng lâm sàng không phải lúc nào cũng tương xứng với tình trạng sức khỏe suy giảm Do đó, việc đánh giá triệu chứng thông qua thang điểm mMRC hoặc CAT, cũng như đánh giá nguy cơ đợt cấp, là rất cần thiết.

Bệnh nhân mắc COPD có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tử vong [84]

Bệnh nhân mắc COPD có nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim mạch như thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, suy tim và tăng huyết áp, do các yếu tố nguy cơ chung như hút thuốc, tuổi cao và tình trạng kinh tế xã hội Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa suy giảm chức năng phổi và tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, không phụ thuộc vào tình trạng hút thuốc và tuổi tác Finkelstein (2009) chỉ ra rằng bệnh nhân COPD có nguy cơ nhồi máu cơ tim cao gấp 2 lần và rối loạn nhịp tim gấp 2,4 lần so với nhóm không mắc COPD Các bất thường trên điện tâm đồ ở bệnh nhân COPD thường liên quan đến tăng áp lực động mạch phổi và các thay đổi giải phẫu như dày nhĩ phải và phì đại thất phải Điện tâm đồ cũng có giá trị trong chẩn đoán các rối loạn nhịp tim và các bất thường khác, do đó việc xác định các bất thường này là rất quan trọng trong quản lý và điều trị bệnh nhân COPD.

Chụp x-quang phổi là công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và đánh giá các bệnh lý như ung thư phổi, giãn phế quản, và lao phổi Mặc dù chụp x-quang thường quy có độ nhạy không cao trong chẩn đoán COPD, nghiên cứu của Miniati và cộng sự vào năm 2008 cho thấy những bác sĩ có kinh nghiệm có thể chẩn đoán khí phế thũng mức độ vừa và nặng với độ nhạy và độ đặc hiệu trên 90%.

Các hình ảnh x-quang thường gặp bao gồm:

+ Hình ảnh dày thành phế quản: Trên phim x-quang phổi thấy dấu hiệu đường ray xe điện hoặc dấu hiệu hình nhẫn dương tính

Hình ảnh phổi bẩn có liên quan đến viêm mạn tính và xơ hóa nhẹ, với thành phế quản dày tạo ra các hình ảnh đường ray và ống nhòm (hội chứng phế quản) Khi có bội nhiễm viêm phế nang xung quanh phế quản, xuất hiện các bóng, nốt mờ (hội chứng phế nang) và các ổ sáng hình ống, cùng với hình ảnh vòng tròn rõ ràng ở hai nền phổi Viêm xung quanh phế quản góp phần tạo nên hình ảnh phổi bẩn (dirty lung), mặc dù không đặc hiệu Nghiên cứu của Phan Thu Phương (2010) và Chu Thị Hạnh đã chỉ ra những mối liên hệ này.

(2007) cho thấy, hình ảnh phổi bẩn gặp tương ứng 88,9% và 51,6%, trường phổi quá sáng gặp 50,7% và 22,6% [30],[31]

Khi COPD ở giai đoạn nặng có tăng áp lực động mạch phổi, tâm phế mạn có thể gặp hình ảnh:

Trường phổi quá sáng với cơ hoành hạ thấp, hình ảnh cơ hoành có dạng bậc thang, khoang liên sườn giãn rộng Có thể quan sát thấy các bóng, kén khí hoặc nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính lớn hơn 16mm theo chỉ số Johnson–Wood.

+ Động mạch phổi ngoại vi thưa thớt tạo nên một vùng giảm động mạch kết hợp với hình ảnh căng giãn phổi

+ Hình ảnh động mạch phổi tăng đậm: mạch máu nhìn thấy rõ, tăng kích thước và phân bố sát tới vùng ngoại vi của phổi

Chụp cắt lớp vi tính:

Chụp cắt lớp vi tính (CT) có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn chụp x-quang trong việc phát hiện khí phế thũng, đặc biệt là với kỹ thuật chụp lớp mỏng 1 mm có độ phân giải cao Tuy nhiên, CT không cần thiết cho chẩn đoán COPD thường quy và thường chỉ được chỉ định khi có biến chứng như viêm phổi, tràn khí màng phổi, kén khí lớn, hoặc trong các trường hợp sàng lọc ung thư phổi, chuẩn bị cho thủ thuật đặt van nội khí quản, phẫu thuật giảm thể tích phổi hoặc ghép phổi.

Chẩn đoán COPD

Chẩn đoán COPD nên được xem xét ở bệnh nhân có triệu chứng ho, khạc đờm mạn tính, và khó thở ngày càng nặng hơn, đặc biệt nếu có tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Đo chức năng hô hấp là phương pháp chuẩn vàng để xác định chẩn đoán, với chỉ số FEV1/FVC dưới 0,7 không hồi phục sau khi thực hiện test HPPQ.

Chẩn đoán một số kiểu hình COPD

Kiểu hình là thuộc tính mô tả bệnh COPD, phản ánh sự khác biệt giữa các bệnh nhân và liên quan đến các kết quả lâm sàng quan trọng như triệu chứng, đợt cấp, đáp ứng điều trị, tiến triển bệnh và tỷ lệ tử vong.

Kiểu hình viêm phế quản mạn tính chiếm ưu thế thường gặp ở bệnh nhân giãn phế quản trung tâm tiểu thùy, thường là những người béo, tím và ít khó thở hơn Họ luôn có triệu chứng của tăng áp lực động mạch phổi, khạc đờm nhiều và tắc nghẽn đường thở ở mức độ trung bình Trên phim chụp cắt lớp vi tính, không thấy hình ảnh giãn phế nang Các dấu hiệu của tâm phế mạn xuất hiện rõ rệt và sớm, bao gồm phù mắt cá chân, tĩnh mạch cổ nổi, gan to, giảm oxy và tăng khí CO2 trong máu, cũng như giảm oxy máu khi ngủ và CNTK biến đổi chậm.

Kiểu hình khí phế thũng chiếm ưu thế thường gặp ở bệnh nhân giãn phế nang thể toàn tiểu thùy, với đặc điểm gầy, môi hồng, và khó thở khi nghỉ ngơi Họ sử dụng các cơ hô hấp phụ, lồng ngực căng giãn, và có dung tích toàn phổi tăng Khạc đờm ít, đo CNTK cho thấy tắc nghẽn đường thở nặng, khí máu biến đổi chậm, và hình ảnh giãn phế nang trên phim chụp cắt lớp vi tính Dấu hiệu suy hô hấp và suy tim thường xuất hiện muộn hơn.

Kiểu hình đợt cấp thường xuyên, với ít nhất hai đợt cấp trở lên, là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất cho sự xuất hiện của đợt cấp Tiền sử có đợt cấp thường xuyên trong năm trước, có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh, đóng vai trò quyết định trong việc dự đoán các đợt cấp tiếp theo.

Kiểu hình giãn phế quản thường biểu hiện qua ho khạc đờm với số lượng nhiều, kèm theo hình ảnh giãn phế quản và khí phế thũng trên phim chụp cắt lớp độ phân giải cao Tình trạng này thường gặp ở những bệnh nhân thiếu hụt α1-antitrypsine.

Kiểu hình chồng lấp COPD – Hen (ACO) được đặc trưng bởi sự giới hạn luồng khí thở dai dẳng, kết hợp các đặc điểm của hen và COPD Bệnh nhân ACO thường trải qua nhiều đợt kịch phát, dẫn đến chất lượng cuộc sống kém, suy giảm chức năng phổi nhanh chóng và tỷ lệ tử vong cao Chi phí điều trị cho bệnh nhân ACO cũng rất tốn kém.

Mục tiêu của đánh giá COPD là xác định mức độ hạn chế luồng khí thở và tác động của nó đến sức khỏe bệnh nhân, cũng như nguy cơ các biến cố trong tương lai như đợt cấp, nhập viện hoặc tử vong Đánh giá COPD dựa trên mức độ tắc nghẽn đường thở, mức độ nặng của triệu chứng, ảnh hưởng của bệnh đến sức khỏe và cuộc sống của bệnh nhân, nguy cơ nặng của bệnh (tiền sử đợt cấp/năm trước) và các bệnh lý đồng mắc.

Bảng 1.1 Phân loại mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD [5]

Giai đoạn GOLD Giá trị FEV1 sau test hồi phụ phế quản Giai đoạn 1 (nhẹ) FEV1 ≥ 80% trị số lý thuyết

Giai đoạn 2 (trung bình) của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) được xác định khi giá trị FEV1 nằm trong khoảng 50% đến dưới 80% so với trị số lý thuyết Giai đoạn 3 (nặng) xảy ra khi FEV1 từ 30% đến dưới 50% trị số lý thuyết, trong khi giai đoạn 4 (rất nặng) là khi FEV1 dưới 30% trị số lý thuyết Để đánh giá triệu chứng, thường sử dụng hai công cụ phổ biến là Bộ câu hỏi sửa đổi của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh (mMRC) và Bộ câu hỏi đánh giá COPD (CAT).

Bộ câu hỏi mMRC được coi là công cụ đánh giá hiệu quả các triệu chứng, có mối liên hệ chặt chẽ với các chỉ số sức khỏe khác và có khả năng dự đoán nguy cơ tử vong trong tương lai.

Bảng 1.2 Bảng đánh giá COPD theo bảng điểm mMRC [1]

Bảng điểm đánh giá khó thở mMRC Điểm

Khó thở khi gắng sức mạnh 0

Khó thở khi đi bộ nhanh trên đường bằng hoặc khi leo dốc nhẹ là một triệu chứng đáng chú ý Người bệnh thường đi bộ chậm hơn so với những người cùng tuổi do gặp khó khăn trong việc thở, hoặc phải dừng lại để lấy hơi khi cố gắng duy trì tốc độ tương tự.

Phải dừng lại để thở khi đi bộ khoảng 100m hay vài phút trên đường bằng 3 Khó thở nhiều đến nỗi không thể ra khỏi nhà, khi thay quần áo 4

Bộ câu hỏi CAT, gồm 8 câu hỏi với tổng điểm 40, được sử dụng toàn cầu để đánh giá tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mắc COPD và có mối tương quan chặt chẽ với bộ câu hỏi SGRQ về chất lượng cuộc sống và sức khỏe.

Hình 1.1 Đánh giá COPD theo thang điểm CAT Đánh giá nguy cơ đợt cấp:

Dựa vào tiền sử đợt cấp trong năm trước, số đợt cấp/năm được phân loại như sau: 0 - 1 đợt cấp nhẹ không cần nhập viện và không sử dụng kháng sinh hoặc corticosteroid được xem là nguy cơ thấp Ngược lại, nếu có từ 2 đợt cấp trở lên hoặc ít nhất 1 đợt cấp nặng phải nhập viện, hoặc đợt cấp mức độ trung bình cần sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid, thì được định nghĩa là nguy cơ cao Việc đánh giá COPD được thực hiện theo nhóm ABCD.

Phân nhóm ABCD chủ yếu dựa vào:

+ Mức độ triệu chứng, ảnh hưởng của bệnh (mMRC, CAT)

+ Nguy cơ đợt cấp (tiền sử đợt cấp/năm, mức độ nặng đợt cấp)

Hình 1.2 Đánh giá COPD theo nhóm ABCD (Theo GOLD 2019) [5]

Nhóm A - Nguy cơ thấp, ít triệu chứng: Người bệnh có 0 - 1 đợt cấp trong 12 tháng qua, không cần nhập viện hay sử dụng kháng sinh, corticosteroid, và chỉ số CAT dưới 10 hoặc mMRC từ 0 - 1.

Nhóm B có nguy cơ thấp với nhiều triệu chứng, bao gồm 0 - 1 đợt cấp trong 12 tháng qua, không cần nhập viện và không sử dụng kháng sinh hay corticosteroid, đồng thời có chỉ số CAT ≥ 10 hoặc mMRC ≥ 2.

Các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học

Nghiên cứu cắt ngang trong điều tra dịch tễ học COPD

- Một mẫu nghiên cứu gồm các đối tượng thăm dò ngắn hạn để nắm bắt các hiện tượng có mặt khi điều tra

+ Lợi ích của phương pháp này hạn chế vì chỉ tìm được độ lưu hành của một quần thể trong một thời gian nhất định

+ Có thể là khởi đầu cho các phương pháp nghiên cứu dọc hay phương pháp bệnh - chứng

+ Có thể tìm được mối liên quan với một nguyên nhân hay tìm giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh

- Phải tiêu chuẩn hóa các khám xét và kỹ thuật thăm dò

- Soạn thảo bộ câu hỏi: đầy đủ, đơn giản, dễ hiểu

- Thăm khám bộ máy hô hấp: trình tự và tiêu chuẩn rõ ràng

- Đo CNTK, các test về thông khí.

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng

Thử nghiệm lâm sàng là nghiên cứu can thiệp nhằm kiểm định giả thuyết về hiệu quả của thuốc hoặc phương pháp điều trị mới Trong các nghiên cứu phân tích dịch tễ học như nghiên cứu đoàn hệ và nghiên cứu bệnh chứng, việc thiết lập nhóm đối chứng là cần thiết Để giảm thiểu sai số, yếu tố ngẫu nhiên phải được tuân thủ, và kỹ thuật “làm mù đôi” cũng cần được áp dụng.

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial) là một phương pháp dịch tễ học nhằm đánh giá ảnh hưởng của một can thiệp cụ thể, thường liên quan đến điều trị bệnh Trong nghiên cứu này, các đối tượng được phân chia ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp và nhóm chứng, và kết quả được đánh giá thông qua việc so sánh sự khác biệt trước và sau khi thực hiện nghiên cứu.

Nghiên cứu của Jolly K và cộng sự (2018) đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng với 577 bệnh nhân COPD có thang điểm mMRC từ 1 - 2 Nhóm can thiệp nhận được tư vấn qua điện thoại về cai thuốc lá, tăng cường hoạt động thể lực, quản lý điều trị bằng thuốc và lập kế hoạch hành động, trong khi nhóm chứng chỉ nhận tờ rơi về COPD Sau 6 tháng, kết quả cho thấy nhóm can thiệp có hoạt động thể chất tốt hơn, sử dụng thuốc kháng sinh ít hơn và kỹ thuật sử dụng ống hít hiệu quả hơn.

Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe

Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của mỗi người Hiểu biết về nguyên nhân và hậu quả của các hành vi có hại giúp cá nhân điều chỉnh hành vi và duy trì thói quen có lợi cho sức khỏe Truyền thông giáo dục sức khỏe chuyển đổi từ không biết sang hiểu biết, từ đó thúc đẩy hành động phòng tránh bệnh và xử trí điều trị kịp thời Kỹ năng giao tiếp trong truyền thông là yếu tố then chốt, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả can thiệp đối với cá nhân và tổ chức.

Truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và cải thiện thực hành của con người về sức khỏe.

Nghiên cứu của Paul Hernandez (2013) chỉ ra rằng tại Canada, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe về COPD rất phong phú, nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống trong việc chăm sóc giữa bác sĩ hô hấp và bệnh nhân, chủ yếu do sự khác biệt trong nhận thức về bệnh.

Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe bao gồm 2 phương pháp: trực tiếp và gián tiếp

Truyền thông gián tiếp bao gồm việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, phát thanh, báo chí, cũng như các hình thức viết bài, tin tức, ảnh, pano, áp phích, băng rôn, tờ rơi, sách, sổ tay hướng dẫn, internet, điện thoại và tin nhắn.

Truyền thông trực tiếp bao gồm các hoạt động như tư vấn cá nhân về sức khỏe, làm mẫu, thăm hộ gia đình, sinh hoạt câu lạc bộ, tập huấn, mít tinh, hội thảo, tuần hành, tọa đàm, hội trại, truyền thông lồng ghép, hội thi và lễ phát động.

Người mắc COPD cần áp dụng nhiều biện pháp thực hành như phục hồi chức năng hô hấp, cai thuốc, rèn luyện sức khỏe và chế độ ăn hợp lý Thuốc điều trị chủ yếu là thuốc giãn phế quản, cần sử dụng liên tục trong suốt quá trình bệnh, kể cả giai đoạn ổn định Việc thực hành đúng các bước sử dụng thuốc dạng hít không chỉ tăng hiệu quả điều trị mà còn tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng dụng cụ phân phối thuốc đường hô hấp gặp nhiều thách thức, với tỷ lệ bác sĩ và bệnh nhân thực hiện sai các bước quan trọng rất cao.

Các biện pháp can thiệp trong COPD nhằm giảm các yếu tố nguy cơ, ngăn ngừa tình trạng bệnh nặng lên, giảm số lần cấp cứu và nhập viện, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân Tại Mỹ, khoảng 20% bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD tái nhập viện trong vòng 30 ngày, và 34% trong vòng 90 ngày Nguyên nhân tái nhập viện chủ yếu do điều kiện y tế tại cơ sở không đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân, với 70,5% bệnh nhân cho biết lý do này.

Bệnh nhân COPD thường xuyên nhập viện do đợt cấp cần được đánh giá kỹ lưỡng về nguyên nhân, mức độ tắc nghẽn, chất lượng chăm sóc sức khỏe, độ tuổi và sự hiện diện của các bệnh đồng mắc để có thể can thiệp kịp thời.

Nghiên cứu thuần tập tại Đài Loan (2006) với 3015 bệnh nhân COPD cho thấy rằng những bệnh nhân được chăm sóc liên tục theo chỉ số COCI sẽ có tần suất nhập viện thấp hơn Các tác giả khuyến cáo rằng để giảm nguy cơ nhập viện trong tương lai, các chính sách y tế cần khuyến khích bác sĩ và bệnh nhân duy trì mối liên hệ lâu dài nhằm nâng cao sức khỏe cho bệnh nhân ngoại trú.

Truyền thông giáo dục sức khỏe không chỉ quan trọng đối với bệnh nhân mắc COPD mà còn cần chú trọng đến gia đình và người chăm sóc Bệnh nhân thường phải đối mặt với các triệu chứng nghiêm trọng, dẫn đến hoạt động hạn chế, cách ly xã hội và chất lượng cuộc sống kém Gia đình cũng gặp nhiều thách thức và cần hỗ trợ về cả thể chất lẫn tinh thần Clare Gardiner (2010) nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân COPD, đồng thời cung cấp giáo dục và đào tạo cho các chuyên gia y tế, và tiếp tục nghiên cứu để phát triển các biện pháp chăm sóc tốt nhất.

Quản lý COPD tại cộng đồng

Việt Nam có tỷ lệ mắc và tử vong do COPD cao, với khoảng 4,2% dân số trên 40 tuổi mắc bệnh và 37,5% trong số đó có triệu chứng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt hàng ngày Điều trị ngoại trú COPD ở giai đoạn ổn định là giải pháp hiệu quả, giúp giảm chi phí điều trị từ hơn 200 triệu đồng cho đợt cấp xuống chỉ còn khoảng 20 triệu đồng cho giai đoạn ổn định, tương đương với việc tiết kiệm 90% chi phí Do đó, việc xây dựng Đơn vị quản lý COPD ngoại trú đạt chuẩn tại tuyến quận/huyện là giải pháp kinh tế nhất để giảm gánh nặng đợt cấp COPD.

Việc thiết lập các đơn vị quản lý COPD thống nhất và chuẩn hóa mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc sẽ giúp bệnh nhân dễ dàng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, từ đó giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng sống Để đạt được mục tiêu này, cần có sự chỉ đạo mạnh mẽ và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các Hội chuyên ngành, cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế và sự tham gia tích cực của bệnh nhân.

Nghiên cứu cho thấy chỉ 5% bệnh nhân ở Việt Nam được chẩn đoán và điều trị đúng cách, trong khi 29% chỉ đi khám bác sĩ khi có triệu chứng và 43% tự mua thuốc hoặc sử dụng theo đơn cũ Đặc biệt, có đến 89% không được điều trị dự phòng Vì vậy, việc phát hiện sớm và quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) trong cộng đồng là một can thiệp cần thiết và có tính hiệu quả cao.

Nghiên cứu về tuân thủ điều trị của bệnh nhân mắc COPD

Khái niệm, nghiên cứu tuân thủ điều trị đối với COPD

Theo WHO, tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của bệnh nhân trong việc thực hiện đúng các khuyến cáo từ bác sĩ, bao gồm sử dụng thuốc, thay đổi chế độ ăn uống và lối sống Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò chủ động của bệnh nhân trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh cho chính mình.

Nghiên cứu toàn cầu cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc xịt hít đường hô hấp tương đối thấp Cụ thể, trong nghiên cứu LASSYC với 795 bệnh nhân COPD, chỉ có 51% bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt Tại Đan Mạch, tỷ lệ tuân thủ điều trị đối với thuốc ICS/LABA dao động từ 29% đến 56%, thuốc LAMA từ 51% đến 68%, và thuốc LABA từ 25% đến 62%.

Các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị COPD

Đánh giá tuân thủ điều trị cần xem xét nhiều yếu tố như tuổi, giới tính, giáo dục, chủng tộc, tình trạng hút thuốc, số lượng thuốc hàng ngày, giai đoạn bệnh và chi phí điều trị Đường dùng thuốc cũng rất quan trọng, với thuốc uống có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với thuốc dạng hít Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng các loại bình xịt-hít khác nhau ảnh hưởng khác nhau đến tuân thủ điều trị Một nghiên cứu tại Pháp cho thấy hình dạng bình, bộ đếm liều và khả năng tái sử dụng là những yếu tố mà bệnh nhân thường ưu tiên lựa chọn.

Tác dụng phụ và giá cả là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị Nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân ngừng thuốc do gặp tác dụng phụ hoặc phải sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau Hơn nữa, bệnh nhân cũng có thể dừng điều trị khi không thấy triệu chứng lâm sàng Do đó, việc tư vấn thường xuyên, giải thích rõ ràng về bệnh và phương pháp điều trị, cùng với việc theo dõi và giám sát bệnh nhân liên tục, đã được chứng minh là những biện pháp hiệu quả để cải thiện tuân thủ điều trị.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 4.000 đối tượng từ 40 tuổi trở lên, phân bố trên 4 vùng miền tỉnh Nghệ An trong thời gian 01/2017 đến 02/2019

- Người dân từ 40 tuổi trở lên sống tại Nghệ An theo cỡ mẫu đã chọn

- Người mắc COPD trong nhóm nghiên cứu can thiệp: đủ sức khỏe, tinh thần, thời gian tham gia nghiên cứu

Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo GOLD

- Chẩn đoán lâm sàng được xem xét ở những trường hợp sau:

+ Khó thở tiến triển nặng dần theo thời gian, tăng khi gắng sức

+ Ho mạn tính, có thể không thường xuyên

Tiền sử bệnh nhân bao gồm việc hút thuốc lá và thuốc lào, cũng như tiếp xúc với ô nhiễm môi trường trong và ngoài nhà như khói bếp và chất đốt Ngoài ra, bụi nghề nghiệp (bụi hữu cơ và vô cơ) cùng với hơi và khí độc cũng là những yếu tố nguy cơ Những yếu tố này có thể dẫn đến nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới tái diễn, lao phổi, và tăng phản ứng đường thở, bao gồm hen phế quản hoặc viêm phế quản co thắt.

- Đo CNTK bằng máy Spirometry và làm test HPPQ cho các trường hợp có rối loạn thông khí tắc nghẽn

- Chẩn đoán xác định COPD khi: chỉ số FEV1/FVC < 70% sau test HPPQ (chỉ số FEV1 tăng < 200ml và tăng < 12% sau test HPPQ)

- Đối tượng có: rối loạn tâm thần, không hợp tác, không trả lời được bộ câu hỏi

- Đối tượng mắc một số bệnh gây cản trở đo và ảnh hưởng kết quả CNTK

- Đối tượng tạm trú, tạm vắng, sống tại xã dưới 5 năm

- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

Nghệ An được chia thành 4 vùng miền: vùng núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển, bao gồm các huyện Tương Dương, Tân Kỳ, Diễn Châu và Quỳnh Lưu Nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng được thực hiện tại 20 trạm y tế xã thuộc 4 huyện này Địa điểm can thiệp cho bệnh nhân COPD là tại 4 trung tâm y tế huyện.

Từ tháng 01/2017 đến tháng 02/2019 được chia làm các giai đoạn:

+ Lập kế hoạch, xin chủ trương các cơ quan quản lý + Lựa chọn, tập huấn cho CBYT tham gia đề tài

+ Chuẩn bị phương tiện, máy móc trang thiết bị y tế

+ Gặp gỡ chính quyền các xã, CBYT xã, các trung tâm y tế huyện

+ Điều tra dịch tễ học COPD tại 20 trạm y tế tuyến xã

+ Tập huấn CBYT tuyến cơ sở tại trung tâm y tế huyện

Can thiệp cộng đồng cho người bệnh mắc COPD, sinh hoạt câu lạc bộ người bệnh trong vòng 12 tháng

Từ tháng 3-5/2019 phân tích số liệu và hoàn thành nghiên cứu

• Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích

+ Xác định tỷ lệ mắc COPD ở người từ 40 tuổi trở lên tại Nghệ An + Phân tích các YTNC của bệnh

+ Đánh giá triệu chứng lâm sàng, phân tích CNTK và hình ảnh điện tâm đồ ở nhóm bệnh nhân mắc COPD

• Phương pháp nghiên cứu tư vấn điều trị có đối chứng dành cho đối tượng bệnh nhân mắc COPD

Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của người mắc COPD là rất quan trọng Chúng tôi sẽ tiến hành can thiệp tư vấn điều trị và tổ chức các hoạt động trong câu lạc bộ dành cho bệnh nhân COPD trong vòng 12 tháng.

+ Điều tra cắt ngang đánh giá hiệu quả sau 1 năm can thiệp

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu 2.2.2.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu dịch tễ cắt ngang

- Công thức tính cỡ mẫu: n =𝑍 1−𝛼/2 2 𝑝(1−𝑝)

• 𝑍 1−𝛼/2 (Hệ số tin cậy) = 1,96 (thang phân vị chuẩn ở mức ý nghĩa 𝛼 = 0,05)

• p = 0,05 (Tỷ lệ COPD ước đoán, lấy p = 5% theo các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam [8],[29],[30])

• d: mức độ tin cậy (độ chính xác mong muốn), chọn d = 0,01

• DE = 2 (hệ số thiết kế nghiên cứu)

Cỡ mẫu tính toán cho nghiên cứu là n = 3650 người Để đảm bảo độ chính xác, chúng tôi đã thêm 10% để phòng trừ sai số do những trường hợp vắng mặt hoặc không hợp tác trong quá trình điều tra, do đó số đối tượng thực tế cần cho nghiên cứu là n = 4000 người.

Chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều bậc để chọn ra 4.000 đối tượng từ 40 tuổi trở lên để tiến hành nghiên cứu

Tỉnh Nghệ An được chia thành 4 tầng: miền núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển Mỗi tầng sẽ có một huyện hoặc thị xã được chọn ngẫu nhiên để đại diện cho 4 vùng sinh thái của tỉnh.

Miền núi bao gồm 10 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Thanh Chương và Tương Dương Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn huyện Tương Dương làm đối tượng khảo sát.

• Vùng trung du gồm 4 huyện: Đô Lương, Nam Đàn, Tân Kỳ, Yên Thành Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 01 huyện nghiên cứu đó là huyện Tân Kỳ

• Vùng đồng bằng bao gồm: Thành phố Vinh, Hưng Nguyên, Diễn Châu Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 01 huyện nghiên cứu đó là huyện Diễn Châu

• Vùng ven biển: Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Cửa Lò Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 01 huyện nghiên cứu đó là huyện Quỳnh Lưu

+ Bậc 2: Tại mỗi huyện/thị chúng tôi tiến hành chọn 05 xã/phường để tiến hành nghiên cứu theo phương pháp sau:

- Lập danh sách các xã, các thị trấn và các phường của 5 huyện nghiên cứu

Dữ liệu về dân số của các xã, phường, và thị trấn thuộc 5 huyện được tham khảo từ kết quả điều tra dân số năm 1999 do Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện.

- Điền dân số từng xã/thị trấn/phường

- Tính dân số cộng dồn của 5 huyện (phụ lục I)

- Tính khoảng cách mẫu k: k = Tổng dân số tích lũy

- Chọn số ngẫu nhiên (tra bảng số ngẫu nhiên) đi từ 1 - k, xã đầu tiên được chọn là xã có dân số cộng dồn chứa số ngẫu nhiên đó

- Các xã tiếp theo là các xã có dân số cộng dồn được xác định theo công thức:

= SNN + (m - 1) x k m: số thứ tự của xã điều tra k : khoảng cách mẫu SNN: số ngẫu nhiên

Xã thứ nhất : có chứa SNN + (1 - 1) x k

Xã thứ hai : có chứa SNN + (2 - 1) x k

Xã thứ ba : có chứa SNN + (3 - 1) x k

Xã thứ tư : có chứa SNN + (4 - 1) x k

Xã thứ năm : có chứa SNN + (5 - 1) x k

Chọn các xã tại huyện Diễn Châu

Tổng dân số tích lũy 275556 người, k1 = 275556 : 5 = 55111

+ Chúng tôi chọn số ngẫu nhiên 50888

Theo bảng thống kê dân số huyện Diễn Châu, số ngẫu nhiên được chọn tương ứng với số dân cộng dồn của xã Diễn Hạnh, do đó xã Diễn Hạnh là xã đầu tiên được lựa chọn.

Chúng tôi đã chọn xã Diễn Kỷ với tổng số 105999, được tính từ 50888 cộng với 55111 Tiếp theo, xã Diễn Phong được lựa chọn với tổng số 161110, tính từ 50888 cộng với 2 lần 55111 Xã Diễn Thịnh có tổng số 216221, được tính từ 50888 cộng với 3 lần 55111 Cuối cùng, xã Diễn Yên được chọn với tổng số 271332, tính từ 50888 cộng với 4 lần 55111.

Chọn các xã tại huyện Tân Kỳ

Tổng dân số tích lũy 125189 người, k2 = 125189 : 5 = 25038 + Chúng tôi chọn số ngẫu nhiên 24871

Theo bảng thống kê dân số huyện Tân Kỳ, chúng tôi nhận thấy rằng số ngẫu nhiên được chọn tương ứng với số dân cộng dồn của xã Kỳ Sơn Do đó, xã Kỳ Sơn là xã đầu tiên được lựa chọn.

Chúng tôi đã chọn xã Nghĩa Dũng với tổng số 49909, xã Nghĩa Bình với tổng số 74947, thị trấn Tân Kỳ với tổng số 99985, và xã Nghĩa Hành với tổng số 125023.

Chọn các xã tại huyện Tương Dương

Tổng dân số tích lũy 69566 người, k3 = 69566 : 5 = 13913 + Chúng tôi chọn số ngẫu nhiên 11879

Theo bảng thống kê dân số huyện Tương Dương, số liệu ngẫu nhiên mà chúng tôi chọn tương ứng với số dân cộng dồn của Thị trấn Hòa Bình, do đó Hòa Bình là xã đầu tiên được lựa chọn.

Chúng tôi đã chọn xã Tam Đình với tổng số 25798, xã Tam Quang với tổng số 39705, xã Tam Thái với tổng số 53618, và xã Thạch Giám với tổng số 67531.

Chọn các xã tại huyện Quỳnh Lưu

Tổng dân số tích lũy 254785 người, k4 = 254785 : 5 = 50975 + Chúng tôi chọn số ngẫu nhiên 49537

Theo bảng thống kê dân số huyện Quỳnh Lưu, chúng tôi nhận thấy rằng số ngẫu nhiên được chọn tương ứng với số dân cộng dồn của xã Quỳnh Diễn, do đó xã Quỳnh Diễn là xã đầu tiên được lựa chọn.

Chúng tôi đã chọn xã Quỳnh Hưng với tổng số 100512 người, xã Quỳnh Tân với 151487 người, xã Quỳnh Thuận với 202462 người, và xã Tiến Thủy với 253437 người Tại mỗi xã, chúng tôi sẽ chọn ngẫu nhiên 2 thôn/xóm, và từ mỗi thôn/xóm, toàn bộ người từ 40 tuổi trở lên sẽ được lựa chọn dựa trên danh sách do Ủy ban nhân dân xã cung cấp, ước tính mỗi thôn/xóm có khoảng 100 người.

Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiên cứu

2.3.1 Cán bộ tham gia nghiên cứu

- Học viên cùng CBYT thuộc Khoa Hô hấp, Khoa Khám bệnh, Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh Nghệ An

Cán bộ tham gia nghiên cứu đều có chứng chỉ chuyên ngành hô hấp và tim mạch, bao gồm khả năng đo và đọc chỉ số CNTK, điện tâm đồ, cũng như thực hiện khám chuyên khoa hô hấp và tim mạch.

Học viên và cán bộ y tế tham gia nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai đã được đào tạo bài bản theo “Dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản” từ năm 2012 Đến nay, họ đã tập huấn cho 19/21 huyện/thị/thành phố về Dự án COPD & HPQ tuyến tỉnh, thực hiện khám sàng lọc và đo CNTK cho hơn 25.000 người, đồng thời quản lý ngoại trú cho hơn 1.000 bệnh nhân.

Để thu thập thông tin hiệu quả, cần thực hiện các bước quan sát và ghi chép phiếu phỏng vấn một cách cẩn thận Hướng dẫn khai thác các yếu tố nguy cơ (YTNC) liên quan đến tiền sử bệnh hô hấp là rất quan trọng Đồng thời, cần chú ý đến các triệu chứng như khó thở, ho và khạc đờm mạn tính để có cái nhìn tổng quát về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Kỹ năng tư vấn, làm mẫu và thảo luận nhóm về sức khỏe là rất quan trọng Việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành trong khám lâm sàng giúp phát hiện, chẩn đoán và điều trị hiệu quả các đợt cấp cũng như giai đoạn ổn định tại nhà, theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Hướng dẫn sử dụng thuốc giãn phế quản bao gồm cách sử dụng dụng cụ phân phối thuốc đường hô hấp, đánh giá đúng hay sai trong việc sử dụng của người bệnh, và kiểm tra cũng như ghi nhận kết quả.

Tập huấn tư vấn ngắn và điều trị cai nghiện thuốc lá được thiết kế cho ba nhóm đối tượng: người muốn cai thuốc lá, người chưa muốn cai thuốc lá, và người vừa mới cai thuốc lá Mỗi nhóm sẽ nhận được tư vấn điều trị hỗ trợ phù hợp để giúp họ trong quá trình cai nghiện và ngăn ngừa tái nghiện Bên cạnh đó, cán bộ y tế cũng được đào tạo và hướng dẫn sử dụng “Mười khuyến cáo chính trong tư vấn điều trị cai thuốc lá” và “Năm bước trong tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá” theo tài liệu của Bộ Y tế.

+ Đào tạo tại tuyến huyện và tuyến xã:

Tất cả các cán bộ y tế, bao gồm bác sĩ tuyến xã và tuyến huyện từ 4 huyện nghiên cứu, đã được đào tạo về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) theo tài liệu hướng dẫn.

Dự án phòng chống COPD và HPQ tuyến trung ương và Bộ Y tế

Học viên được tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành cho cán bộ y tế cơ sở về COPD, bao gồm nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, cách phát hiện, chẩn đoán và điều trị đợt cấp cũng như điều trị dự phòng tại nhà Tập huấn cũng bao gồm cách sử dụng thuốc GPQ theo phác đồ của Bộ Y tế, hướng dẫn thực hành dụng cụ phân phối thuốc, và tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ cho bệnh nhân Đồng thời, chương trình phối hợp lồng ghép các mục tiêu y tế - dân số của Chính phủ giai đoạn 2016-2020.

Chúng tôi đã sử dụng bộ câu hỏi điều tra dịch tễ học lâm sàng và bộ KAP từ “Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản” để phỏng vấn đối tượng nghiên cứu Nội dung bộ câu hỏi được thiết kế chi tiết, chính xác và dễ hiểu, nhằm thu thập thông tin về triệu chứng lâm sàng và tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ.

Bộ câu hỏi này đã được áp dụng trong nghiên cứu COPD tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và đã được công bố trong nhiều luận án và tạp chí uy tín.

Máy đo CNTK: máy Chestgraph HI 105 (Nhật Bản)

Máy điện tim: máy điện tim 3 cần Nihon Kohden (Nhật Bản)

Công cụ thăm khám bao gồm ống nghe, máy đo huyết áp, cân và thước đo chiều cao Đối với dụng cụ phân phối thuốc, có bình xịt định liều pMDI, bình hít Turbuhaler và máy khí dung.

Máy tính, máy chiếu và điện thoại được sử dụng để hỗ trợ hoạt động của câu lạc bộ người bệnh Cung cấp tài liệu chuyên môn cho cán bộ y tế cơ sở, cùng với tờ áp phích và tờ rơi dành cho người bệnh Ngoài ra, có bài phát thanh về phòng chống và điều trị COPD được phát sóng cho các xã, và chương trình truyền hình địa phương cũng được xây dựng nhằm nâng cao nhận thức về phòng chống COPD.

2.3.4 Triển khai thực hiện nghiên cứu 2.3.4.1 Kỹ thuật thu thập thông tin:

Lập danh sách người dân từ 40 tuổi trở lên tham gia nghiên cứu do xã cung cấp Những đối tượng không đủ tiêu chuẩn như khác thôn/xóm, không đúng độ tuổi, hoặc không đo được chỉ số CNTK sẽ được đưa vào danh sách riêng.

Điều tra dịch tễ học được thực hiện thông qua bộ câu hỏi (Phụ lục IV), bao gồm thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, khai thác triệu chứng cơ năng, tiền sử bệnh lý hô hấp và tiền sử tiếp xúc với yếu tố nguy cơ.

Khám lâm sàng được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa Hô hấp tại tuyến tỉnh, với tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám theo thứ tự đã định.

- Khám toàn trạng, đo chiều cao, cân nặng (tính chỉ số BMI)

- Đo huyết áp: Bệnh nhân được nghỉ ngơi 5-10 phút trước khi đo và không dùng chất kích thích trước 2 giờ Đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ

- Khám chuyên khoa Hô hấp theo thứ tự: Nhìn - Sờ - Gõ – Nghe

Kết quả khám được ghi chép vào phiếu khám lâm sàng (Phụ lục IV)

Sai số và cách hạn chế

Trong nghiên cứu, có thể xảy ra sai số do quá trình điều tra, thu thập và nhập liệu, cũng như từ các tiêu chuẩn đánh giá và chẩn đoán không chính xác Đặc biệt, thông tin từ các đối tượng cung cấp có thể chưa đầy đủ và chính xác Để hạn chế những sai số này, cần áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ trong từng giai đoạn của nghiên cứu.

- Lấy cỡ mẫu của ĐTNC đủ lớn cho nghiên cứu tỷ lệ và can thiệp

Bộ câu hỏi điều tra dịch tễ về COPD và bộ câu hỏi điều tra KAP đã được sử dụng hiệu quả trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây, với nội dung rõ ràng và dễ hiểu.

- Tập huấn kỹ cho điều tra viên là CBYT để lấy số liệu thống nhất

- Giải thích rõ cho người bệnh về mục tiêu nghiên cứu, tính bảo mật, quyền từ chối hoặc dừng tham gia phỏng vấn

- Giám sát quá trình thu thập số liệu nghiên cứu

- Khám bệnh, đo và đọc kết quả CNTK, đo và đọc kết quả điện tâm đồ được thực hiện bởi các CBYT có nhiều kinh nghiệm

- Đánh giá can thiệp theo đúng bộ câu hỏi, bảng kiểm theo các tiêu chuẩn trên

- Số liệu được nhập độc lập 2 lần, làm sạch số liệu trước khi tiến hành phân tích.

Xử lý số liệu

- Số liệu được quản lý và làm sạch trên chương trình Microsoft Access

- Xử lý theo chương trình STATA 13

- Các thuật toán được sử dụng trong nghiên cứu:

+ Tính số trung bình, tỷ lệ phần trăm (%)

Để kiểm định sự khác biệt trước và sau can thiệp, sử dụng kiểm định chi bình phương (𝑋²) khi giá trị mong đợi của các ô lớn hơn hoặc bằng 5 Nếu giá trị trong các ô nhỏ hơn 5, áp dụng kiểm định chính xác theo Fisher Để xác định tỷ lệ odds (OR), sử dụng kiểm định Mantel-Haenszel.

+ Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui Logistic và tỉ suất chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% để phân tích mối liên quan giữa các YTNC và COPD

Yếu tố nguy cơ Bệnh

Có bệnh Không có bệnh

Khi tỷ lệ odds (OR) bằng 1, không có mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ (YTNC) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) Nếu OR lớn hơn 1, có mối liên quan thuận chiều giữa YTNC và COPD, trong khi khi OR nhỏ hơn 1, có mối liên quan nghịch chiều Phân tích đa biến cho phép xem xét mối liên quan giữa một YTNC và COPD, đồng thời cân nhắc các YTNC khác trong phương trình hồi quy đa biến.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 17/07/2023, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GOLD (2018), Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease http://ww.goldcopd.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease
Tác giả: GOLD
Năm: 2018
2. Murray, C. J. and Lopez, A. D. (1997). Alternative projections of mortality and disability by cause 1990-2020: Global Burden of Disease Study. Lancet. 349(9064), pp. 1498-504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alternative projections of mortality and disability by cause 1990-2020: Global Burden of Disease Study
Tác giả: C. J. Murray, A. D. Lopez
Nhà XB: Lancet
Năm: 1997
3. Global Burden of Disease Study 2017 - Causes of Death Collaborators (2018). Global, regional, and national age-sex-specific mortality for 282 causes of death in 195 countries and territories, 1980-2017: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2017. Lancet.392(10159), pp. 1736-1788 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global, regional, and national age-sex-specific mortality for 282 causes of death in 195 countries and territories, 1980-2017: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2017
Tác giả: Global Burden of Disease Study 2017 - Causes of Death Collaborators
Nhà XB: Lancet
Năm: 2018
4. Rabe, K. F. and Watz, H. (2017). Chronic obstructive pulmonary disease. Lancet. 389(10082), pp. 1931-1940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronic obstructive pulmonary disease
Tác giả: Rabe, K. F., Watz, H
Nhà XB: Lancet
Năm: 2017
5. GOLD (2019), Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary Disease, Report.www.goldcopd.org (Accessed on February 04, 2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention of Chronic Obstructive Pulmonary Disease
Tác giả: GOLD
Năm: 2019
6. Nguyễn Viết Tiến, Ngô Quý Châu, Lương Ngọc Khuê và cộng sự (2018), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, Nhà xuất bản Y học, Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Tác giả: Nguyễn Viết Tiến, Ngô Quý Châu, Lương Ngọc Khuê, cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2018
7. Kaplan, A. and Thomas, M. (2017). Screening for COPD: the gap between logic and evidence. Eur Respir Rev. 26(143) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Screening for COPD: the gap between logic and evidence
Tác giả: Kaplan, A., Thomas, M
Nhà XB: Eur Respir Rev
Năm: 2017
8. Đinh Ngọc Sỹ (2009). Nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh phổi phế quản mạn tính ở Việt Nam. Y học thực hành. 704(2), pp. 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình dịch tễ bệnh phổi phế quản mạn tính ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Ngọc Sỹ
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2009
9. Lê Nhật Huy, Trần Thị Hồng Thanh, Dương Đình Chỉnh. (2015). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện tỉnh Nghệ An. Y học thực hành. 6(968), pp. 59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện tỉnh Nghệ An
Tác giả: Lê Nhật Huy, Trần Thị Hồng Thanh, Dương Đình Chỉnh
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2015
10. Lancet (1965). Definition and classification of chronic bronchitis for clinical and epidemiological purposes. A report to the Medical Research Council by their Committee on the Aetiology of Chronic Bronchitis.Lancet. 1(7389), pp. 775-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Definition and classification of chronic bronchitis for clinical and epidemiological purposes
Tác giả: Committee on the Aetiology of Chronic Bronchitis
Nhà XB: Lancet
Năm: 1965
11. Petty, T. L. (2006). The history of COPD. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis. 1(1), pp. 3-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The history of COPD
Tác giả: T. L. Petty
Nhà XB: Int J Chron Obstruct Pulmon Dis
Năm: 2006
12. Pauwels, R. A., Buist, A. S., Calverley, P. M., et al. (2001). Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease. NHLBI/WHO Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD) Workshop summary. Am J Respir Crit Care Med. 163(5), pp. 1256-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global strategy for the diagnosis, management, and prevention of chronic obstructive pulmonary disease
Tác giả: Pauwels, R. A., Buist, A. S., Calverley, P. M
Nhà XB: Am J Respir Crit Care Med
Năm: 2001
13. Vogelmeier, C. F., Criner, G. J., Martinez, F. J., et al. (2017). Global Strategy for the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Lung Disease 2017 Report. GOLD Executive Summary. Am J Respir Crit Care Med. 195(5), pp. 557-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Strategy for the Diagnosis, Management, and Prevention of Chronic Obstructive Lung Disease 2017 Report
Tác giả: Vogelmeier, C. F., Criner, G. J., Martinez, F. J., et al
Nhà XB: Am J Respir Crit Care Med
Năm: 2017
14. Halbert R, Natoli L, Gano A et al (2006). “Global Burden of COPD: systematic review and meta – analysis”. Eur Respir J. 28, pp. pp. 523 - 532 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Burden of COPD: systematic review and meta – analysis
Tác giả: Halbert R, Natoli L, Gano A
Nhà XB: Eur Respir J
Năm: 2006
15. Vogelmeier C.F, Criner G.J, Martinez F.J, et al (2017). Global, regional, and national deaths, prevalence, disability-adjusted life years, and years lived with disability for chronic obstructive pulmonary disease and asthma, 1990-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015. Lancet Respir Med. 5(9), pp. 691-706 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global, regional, and national deaths, prevalence, disability-adjusted life years, and years lived with disability for chronic obstructive pulmonary disease and asthma, 1990-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015
Tác giả: Vogelmeier C.F, Criner G.J, Martinez F.J, et al
Nhà XB: Lancet Respir Med
Năm: 2017
17. Rosenberg, S. R., Kalhan, R., and Mannino, D. M. (2015). Epidemiology of Chronic Obstructive Pulmonary Disease: Prevalence, Morbidity, Mortality, and Risk Factors. Semin Respir Crit Care Med. 36(4), pp.457-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology of Chronic Obstructive Pulmonary Disease: Prevalence, Morbidity, Mortality, and Risk Factors
Tác giả: S. R. Rosenberg, R. Kalhan, D. M. Mannino
Nhà XB: Semin Respir Crit Care Med
Năm: 2015
19. Ford, E. S., Croft, J. B., Mannino, D. M., et al. (2013). COPD surveillance--United States, 1999-2011. Chest. 144(1), pp. 284-305 Sách, tạp chí
Tiêu đề: COPD surveillance--United States, 1999-2011
Tác giả: Ford, E. S., Croft, J. B., Mannino, D. M., et al
Nhà XB: Chest
Năm: 2013
20. Finney, L. J., Feary, J. R., Leonardi-Bee, J., et al. (2013). Chronic obstructive pulmonary disease in sub-Saharan Africa: a systematic review. Int J Tuberc Lung Dis. 17(5), pp. 583-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chronic obstructive pulmonary disease in sub-Saharan Africa: a systematic review
Tác giả: Finney, L. J., Feary, J. R., Leonardi-Bee, J., et al
Nhà XB: Int J Tuberc Lung Dis
Năm: 2013
21. Salvi, S. (2015). The silent epidemic of COPD in Africa. Lancet Glob Health. 3(1), pp. e6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The silent epidemic of COPD in Africa
Tác giả: Salvi, S
Nhà XB: Lancet Glob Health
Năm: 2015
22. Van Gemert, F., Kirenga, B., Chavannes, N., et al. (2015). Prevalence of chronic obstructive pulmonary disease and associated risk factors in Uganda (FRESH AIR Uganda): a prospective cross-sectional observational study. Lancet Glob Health. 3(1), pp. e44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of chronic obstructive pulmonary disease and associated risk factors in Uganda (FRESH AIR Uganda): a prospective cross-sectional observational study
Tác giả: Van Gemert, F., Kirenga, B., Chavannes, N
Nhà XB: Lancet Glob Health
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w