1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự.

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 34,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tục rút gọn là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự. Việc ban hành thủ tục rút gọn đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời. Trong thủ tục rút gọn, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định một cách tương đối đầy đủ về điều kiện áp dụng gồm bốn điều kiện đựợc quy định tại Điều 319. Tuy nhiên, quy định này vẫn có những hạn chế, gây khó khắn trong việc áp dụng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này và để khắc phục những hạn chế, sau đây bài tiểu luận của em xin đi vào đề bài : “ Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự ”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Thủ tục rút gọn là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự Việc ban hành thủ tục rút gọn đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời Trong thủ tục rút gọn, Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định một cách tương đối đầy đủ về điều kiện áp dụng gồm bốn điều kiện đựợc quy định tại Điều

319 Tuy nhiên, quy định này vẫn có những hạn chế, gây khó khắn trong việc áp dụng Để hiểu rõ hơn về vấn đề này và để khắc phục những hạn chế, sau đây bài tiểu luận của em xin đi vào đề bài : “ Quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự ” Bài làm sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài làm hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm

ơn !

NỘI DUNG I.KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỦ TỤC RÚT GỌN

1.Khái niệm.

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (TTHS) chưa đưa ra một khái niệm chính thức về thủ tục rút gọn Căn cứ vào điều kiện áp dụng và các đặc điểm đặc trưng có thể đưa ra khái niệm về thủ tục rút gọn như sau:

Thủ tục rút gọn là thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với những vụ án về tội phạm ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ

rõ ràng, người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang và có căn cước lai lịch

rõ ràng 1

1 http://www.dhluathn.com/2015/01/quy-inh-ve-ieu-kien-ap-dung-thu-tuc-rut.html

Trang 2

2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn.

Việc áp dụng thủ tục rút gọn góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức trong việc giải quyết những vụ án đơn giản để tập trung vào giải quyết những vụ án tích cực, nghiêm trọng Đồng tời góp phần khắc phục tình trạng án tồn đọng kéo dài và việc vi phạm các quy định về thời hạn tố tụng Một ý nghĩa quan trọng nữa

là góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong các trại tạm giam và những khó khăn trong tổ chức tạm giam , tạm giữ và góp phần nhanh chóng khôi phục các quan hệ xã hội bị xâm hại

II ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 319 BLTTHS NĂM 2003

1.Điều kiện thứ nhất : Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang

Người phạm tội bi bắt quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt

Khoản 1, Điều 82 BLTTHS năm 2003 quy định : Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt cũng như người đang bị truy nã thì bất kì người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất Các cơ quan này phải lập biên bản và gửi ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền Như vậy,

điều luật quy định ba trường hợp phạm tội quả tang, đó là :

Thứ nhất, người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện: ở trường hợp này

được hiểu là người đang thực hiện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể theo BLHS nhưng chứ chưa hoàn thành tội phạm đã

bị phát hiện Đang thực hiện tội phạm được hiểu là đang thực hiện những hành vi làm cơ sở tiền đề trước hành vi phạm tội, những hành vi này không phải là hành vi chuẩn bị phạm tội mà đây là những hành vi rất gần, không thể tách rời ra được với hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm nên được coi là hành vi thực hiện tội

Trang 3

phạm.; hoặc đã thực hiện hành vi khách quan của tội phạm nhưng chưa thực hiện được hết các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, hoặc mới thực hiện được một số trong số những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm

Thứ hai, người thực hiện hành vi phạm tội ngay sau khi thực hiện tội phạm

thì bị phát hiện Trường hợp này các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm

đã được thực hiện hết, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm đã thỏa mãn đầy đủ, tội phạm cũng vừa được hoàn thành nhưng người thực hiện hành vi chưa kịp xóa dấu vết của tội phạm hoặc đnag cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội thì bị phát hiện

và bắt giữ Trong trường hợp có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm phát hiện ngay thì mặc dù không có vật chứng để lại cũng là phạm tội quả tang

Thứ ba, người thực hiện hành vi phạm tội đang bị đuổi bắt: Trường hợp này

người đang thực hiện phạm tội hoăc nagy sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt Trường hợp này khác với bắt trong trường hợp khẩn cấp là việc thực hện tội phạm, chạy trốn và bị đuổi bắt có sự liên tục, không bị gián đoạn về thời gian và về diễn biến sự việc Địa điểm bắt không phải

là hiện trường vụ án

Đặc điểm của vụ án mà người phạm tội bị bắt quả tang là hành vi phạm tội

đã cụ thể, rõ rang, chứng cứ, tang vật của vụ án được thu giữ đầy đủ nên người phạm tội buộc phải nhận tội ngay, tội phạm nhanh chóng được xác định

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 84 BLTTHS 2003 việc bắt quả tang phải được lập thành văn bản Sau k hi bị bắt hoặc nhận người phạm tội quả tang cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24h phải đưa ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt

Điều kiện “người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang” là điều kiện

đầu tiên rất quan trọng để xác định vụ án có được đưa ra xét xử hay không theo

Trang 4

thủ tục TTHS rút gọn hay không Điều này có ý nghĩa quan trọng để quyết định vụ

án giải quyết theo thủ tục rút gọn vì đặc điểm của phạm tội quả tang sẽ đảm bảo cho thời gian tố tụng sau này được nhanh chóng, mặt khác yếu tố này có ý nghĩa để xác định cho điều kiện tiếp theo “ sự việc phạm tội đơn giản, chững cứ rõ ràng”

2.Điều kiện thứ hai: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng.

Điều kiện về tính chất của hành vi phạm tội cụ thể là dấu hiệu thể hiện rõ bản chất của vụ việc có thuộc loại tội phạm được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn hay không

Điều kiện này gồm hai dấu hiệu :sự việc phạm tội đơn giản và sự việc phạm tội có chứng cứ rõ rang Căn cứ vào thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, có thể hiểu hai điều kiện này nhưu sau:

Sự việc phạm tội đơn giản là những vụ án không có những tình tiết phải mất nhiều thời gian để điều tra , xác định theo quy định tại Điều 63 BLTTHS Việc xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm được thực hiện khá dễ dàng, nhanh chóng, tội phạm đã được thực hiện không có đồng phạm, hoặc nếu có thì chỉ có một đồng phạm Cụ thể:

+ Hành vi phạm tội thường do một người thực hiện , trong trường hợp có đồng phạm thì số đồng phạm không nhiều và sự câu kết giữa những người này không chặt chẽ Tội phạm được thực hiện tại một địa điểnm nhất định và không có liên quan đến địa điểm khác

+ Mục đích của tội phạm thường là các lợi ích vật chất, động cơ phạm tội mang tính chất vụ lợi, nhất thời nên dễ dàng xác định được

Trang 5

+ Sự việc phạm tội không liên quan đến những vấn đề chính trị , an ninh, xã hội , tôn giáo, phong tục tập quán hoặc những vấn đề khác có tính chất phức tạp Việc giải quyết vụ án cũng không đòi hỏi những hoạt động điều tra phức tạp

Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng: chứng cứ rõ ràng là chứng cứ đã được thu thập tương đối đầy đủ ngay từ đầu, thông qua biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hai, người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội, các tang vật thu tại hiện trường2… Chứng cứ và quá trình thu thập , bảo quản chứng cứ đều hợp pháp, có độ tin cậy cao Chứng cứ phải được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà BKTTHS quy định Các chứng cứ có giá trị chứng minh trực tiếp, khách quan và hợp pháp

Do người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang khi đnag thực hiện tội phạm nên chứng cứ ở đây chủ yếu là lời khai người trực tiếp chứng kiến và người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt giữ, lời khai của người bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang có giá trị chứng minh cao và không phải mất thời gian điều tra, xác minh

Tất cả các yếu tố trên phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng của vụ án phải luôn được bảo đảm Nếu thủ tục rút gọn đã được áp dụng mà sau đó phát hiện vụ án có những tình tiết phức tạp phải điều tra bổ sung, cần thời gian xác định thêm thì thủ tục rút gọn bị hủy bỏ, vụ án phải chuyển về thủ tục thông thường để giải quyết

2 ThS Thái Chí Bình, Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn, vướng mắc, kiến nghị hoàn thiện, ngày 19/03/2015

Trang 6

3.Điều kiện thứ ba : tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng.

Khoản 3, Điều 8 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 ( sau đây gọi

tắt là BLHS năm 2009) quy định: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hiểm không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là

ba năm tù” Việc đặt ra điều kiện về loại tội phạm để áp dụng thủ tục rút gọn là

điều cần thiết Điều này một mặt sẽ khoanh vùn rõ ràng các loại tội phạm có thể được áp dụng thủ tục rút gọn, giúp cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng, mặt khác cũng tránh được khả năng tùy tiện của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 8 BLHS năm 2009, để xác định tội phạm ít nghiêm trọng cần phải dựa trên hai dấu hiệu: dấu hiệu về mặt nội dung chính trị xã hội và dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý Dấu hiệu về mặt nội dung chính trị - xã hội là tính nguy hiểm cho xã hội Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội Dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý là tính chịu hình phạt Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến ba năm tù

Do hậu quả mà tội phạm gây ra cho xã hội và hậu quả pháp lý mà người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng có thể phải gánh chịu là không lớn nên việc xử

lý có thể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp thực hiện tội phạm khác và viêc khắc phục hậu quả cũng dễ dàng hơn

BLHS năm 2009 có 146/267 Điều luật quy định về tội phạm ít nghiêm trọng Tuy nhiên không phải tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng đều có thể áp dụng thủ tục rút gọn vì còn phụ thuộc vào điều kiện khác, đặc biệt là điều kiện sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, Nhiều vụ án thuộc loại tội ít nghiêm trọng nhưng lại phức tạp trong việc thu thập chứng cứ như các tội gây rối trật tự công cộng, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp… thì cũng không thể áp dụng thủ tục

Trang 7

rút gọn Do đó số lượng vụ án ít nghiêm trọng được áp dụng để giải quyết theo thủ tục rút gọn là rất hạn chế, Trong khi thực tiễn xét xử lại có nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng, hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện 1, 2, 4 quy định tại điều 319 song không thể áp dụng được tục rút gọn vì không thỏa mãn với điều kiện tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng

4.Điều kiện 4: người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.

Vấn đề căn cước, lai lịch của bị can, bị cáo là một trong những vấn đề cần chứng minh của vụ án hình sự theo quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003, vấn

đề này có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án : lý lịch của bị can, bị cáo liên quan đến năng lực trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo, liên quan đến việc quyết định hình phạt Căn cước lai lịch của người phạm tội đã rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh có thể được rút ngắn và bảo đảm thời gian tố tụng Đặc điểm về căn cước, lai lịch của người phạm tội được hiểu một cách chung nhất là đặc điểm về nhân thân của người phạm tội Nhân thân của người phạm tội bao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc, trình độ văn hóa, tiền án, tiền sự …

Khi quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ án, việc xác định căn cưới, lai lịch của bị can rõ ràng hay không có thể dựa vào lời khai ban đầu của

bị can về lý lịch của họ Đối với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn thì không những lý lịch của bị can, bị cáo phải rõ ràng, có giấy tờ chứng minh hợp pháp, những thông tin về vấn đề này cụ thể, độ tin cậy cao mà còn đòi hỏi việc xác minh căn cước lai lịch của người phạm tội dễ dàng, nhanh chóng, không ảnh hưởng tới thời hạn áp dụng

Bốn điều kiện trên đây một mặt độc lập với nhau, mặt khác lại có mối quan

hệ bổ trợ Vì thế khi xem xét áp dụng thủ tục rút gọn cần phân tích, đánh giá từng điều kiện trong mối liên hệ tổng thể với các điều kiện khác và chỉ quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi cả bốn tiêu chí trên đều bảo đảm Trong quá

Trang 8

trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn nếu một trong các điều kiện này mất đi thì vụ án phải chuyển về thủ tục thông thường để giải quyết

III.MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN 1.Về tính ràng buộc trong việc áp dụng 3

Theo Điều 319 BLTTHS, “TTRG chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:…” Đồng thời, khoản 1 Điều 320 BLTTHS còn quy định, “Sau khi khởi

tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra (viết tắt là CQĐT) hoặc xét thấy vụ án

có đủ các điều kiện quy định tại Điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra quyết định áp dụng TTRG” Với các quy định này thì việc có quyết định áp dụng

TTRG hay không tùy thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng vì điều luật chỉ quy định

là “có thể” mà không phải là “phải” ra quyết định áp dụng TTRG Bên cạnh đó, khi không đủ điều kiện mà áp dụng cũng bị xem là vi phạm các điều kiện này Nhìn chung, các quy định này không tạo ra sự ràng buộc cũng như kích thích các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng TTRG trong điều tra, truy tố, xét xử Cho nên, để tạo ra sự ràng buộc các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng TTRG thì cần quy định bắt buộc chứ không tùy nghi như quy định tại Điều 319 và khoản 1 Điều 320 BLTTHS

Điều này đã được sửa đổi theo hướng phải ra quyết định, có tính chất bắt buộc quy định tại Điều 457 BLTTHS năm 2015

2 Đối với quy định của từng điều kiện cụ thể

tang”

3 ThS Thái Chí Bình, Quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn, vướng mắc, kiến nghị hoàn thiện, ngày 19/03/2015

Trang 9

Trong thực tiễn, có rất nhiều vụ án người phạm tội bị bắt khẩn cấp, tuy không phải thuộc trường hợp phạm tội quả tang, nhưng lại có nội dung đơn giản, dễ dàng kiểm tra, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án; hoặc trong những vụ án có người phạm tội tự thú về hành vi phạm tội của mình mà hành vi phạm tội đó cũng rất đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm ít nghiêm trọng nhưng vì không phải là trường hợp phạm tội quả tang nên cũng không được áp dụng TTRG Do đó, để phục vụ công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả và đạt mục đích, ý nghĩa của TTRG, cần mở rộng phạm vi áp dụng đối với điều kiện thứ nhất này Theo đó, khi bắt khẩn cấp, người phạm tội đầu thú, tự thú vẫn có thể áp dụng TTRG nếu đảm bảo các điều kiện khác được quy định tại Điều 319 BLTTHS

BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng thuộc khoản này là “hoặc người đó tự thú”

Trong thực tiễn áp dụng điều kiện này, việc hiểu để vận cụng các thuật ngữ

“sự việc phạm tội đơn giản”, “chứng cứ rõ ràng” chưa được thống nhất Có quan điểm cho rằng, để đáp ứng điều kiện này thì các tình tiết trong vụ án phải dễ dàng

đánh giá mà không phụ thuộc vụ án đó có đồng phạm hay không, người phạm tội

phạm một hay nhiều tội… Quan điểm khác lại cho rằng, khi vụ án có đồng phạm,

người phạm tội phạm nhiều tội thì vụ án đó không đáp ứng điều kiện này Cho nên, đòi hỏi phải có sự quy định rõ ràng các thuật ngữ này để áp dụng thống nhất

trọng”

Nghiên cứu các tội phạm cụ thể trong BLHS thì không hẳn tội phạm ít nghiêm trọng sẽ dễ dàng thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hơn tội phạm nghiêm trọng Tuy nhiên, do khoản 3 Điều 319 BLTTHS quy định chỉ áp dụng TTRG đối với tội phạm ít nghiêm trọng nên có rất nhiều vụ án có thể áp dụng được TTRG, nhưng phải giải quyết theo thủ tục chung, làm mất nhiều thời gian,

Trang 10

không hạn chế được lượng án tồn đọng, tốn kém về chi phí vật chất, gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia tố tụng hình sự, đôi khi còn vi phạm cả về thời hạn tạm giữ, tạm giam, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Theo đó để hoàn toàn có thể áp dụng TTRG đối với tội phạm nghiêm trọng Bởi

vì, việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác phụ thuộc vào sự đơn giản, rõ ràng của các tình tiết trong vụ án mà không phụ thuộc vào sự phân loại về tính chất nguy hiểm của tội phạm Hơn nữa, việc phân loại tội phạm ở nước ta theo mức cao nhất của khung hình phạt chứ không phải theo sự đơn giản hay phức tạp của hành

vi phạm tội Vì vậy, cần mở rộng loại tội được giải quyết theo TTRG đối với cả tội nghiêm trọng

Việc áp dụng căn cứ này trong thực tiễn có vướng mắc qua việc xác định thế nào là “có căn cước, lai lịch rõ ràng” Căn cước, lai lịch thuộc điều kiện này được hiểu là các yếu tố nhân thân của người phạm tội có liên quan đến việc định tội, định khung, xác định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có ý nghĩa đến việc quyết định hình phạt và chúng phụ thuộc vào từng vụ án khác nhau4 Cho nên, để đảm bảo được điều kiện “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng” phải chứng minh được các yếu tố này, còn các nội dung khác thuộc về nhân thân người phạm tội, không nhất thiết phải làm rõ Bên cạnh đó, một trong những ý nghĩa của TTRG là giải quyết vụ án được nhanh chóng nên việc xác định căn cước, lai lịch còn phải đảm bảo điều kiện dễ dàng, nhanh chóng Nếu việc xác định đó tốn nhiều thời gian thì không đáp ứng mục đích, ý nghĩa của TTRG Vì vậy, em cho rằng cần bổ sung “xác định dễ dàng, nhanh chóng” bên cạnh “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng”

4 http://text.123doc.org/document/262014-thu-tuc-rut-gon-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam.htm

Ngày đăng: 17/07/2023, 15:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w