1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Tác giả Đỗ Trang Nhung
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 741,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như chúg ta đã biết, đại dịch Covid đang diê ra mạnh me trên toàn thế giơ nói chung và Việt Nam nói riêng. Tính từ thời điểm Covid xảy ra, nền kinh tế thị trường của nươ ta có rất nhiều biến động mạnh mẽ Rất nhiều doanh nghiệp đã tuyên bố phá sản vi không thể trụ vững sau tìh hìh dịch bệnh. Vậy phá sản là gì thủ tục phá sản được hiểu như thế nào và một chủ thể có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hiện đang được pháp luật quy định ra sao? Để tì hiểu sâ hơn về vấn đề này, trong lần làm bài tập họ ki môn Luật Thương Mại này, em xin phé lựa chọ đề bài tập số 12 Bìh luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để thực hiện. Trong quá trìh làm bài, do chưa đủ kiến thức và kĩ năng, bài làm ắt hẳn se xảy ra sai sót. Em mong thầy cô thông cảm cho em. Em xin châ thành cảm ơn NỘI DUNG CHÍ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI

thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN 1

1 Khái niệm phá sản 1

2 Thủ tục phá sản 2

3 Đơn yêu cầu và chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 2

II BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHỦ THỂ NỘP ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN 3

1 Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 3

2 Quy định chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 4

2.1 Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần 4

2.2 Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở 6

2.3 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng 8

2.4 Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã 10

3 Các chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 10

3.1 Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã 10

3.2 Người quản lí doanh nghiệp 11

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỂ NỘP ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN 13

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, phá sản đã trở thành một hiện tượng, một xu thế tất yếu của quá trình cạnh tranh Ở mức độ và phạm vi khác nhau, phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả kinh tế - xã hội nhất định mà trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ nợ, bản thân doanh nghiệp mắc nợ và những người làm công

Để đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể nêu trên, các nhà làm luật đã đưa ra những yêu cầu và giải quyết yêu cầu phá sản ở Việt Nam, trong đó có những quy định về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Để làm rõ hơn về chủ thể nộp

đơn yêu cầu phá sản, em xin lựa chọn đề bài “Bình luận các quy định pháp luật

hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản”

Do hiểu biết của em còn hạn hẹp nên bài làm không tránh khỏi những sai sót,

em rất mong nhận được sự giúp đỡ cảu thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN

1 Khái niệm phá sản

Một doanh nghiệp cũng được coi là thực thể sống của xã hội, cũng có quá trình hình thành, phát triển và suy vong Giai đoạn suy vong của doanh nghiệp người

ta gọi là phá sản

Theo khoản 2 Điều 4 Luật phá sản năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”

Thuật ngữ “phá sản” thường được sử dụng để chỉ những doanh nghiệp bị lâm

vào tình trạng hỗn loạn về tài chính và không còn khả năng thanh toán các khoản

nợ Có nhiều mức độ phá sản khác nhau, bao gồm từ tình trạng bị mất khả năng

Trang 4

2

thanh toán tạm thời cho đến những trường hợp chấm dứt sự hoạt động của doanh nghiệp với tư cách một thực thể kinh doanh

Như vậy, phá sản luôn là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường

Nó hiện hữu như là một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc và đào thải tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất kể nền kinh tế đó phát triển ở các nước trên thế giới hay là kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2 Thủ tục phá sản

Thủ tục phá sản là thứ tự, cách thức giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo

quy định của pháp luật phá sản

Thủ tục phá sản là thủ tục do cơ quan tư pháp tiến hành Đối tượng của hoạt

động tố tụng là các quan hệ pháp lí phát sinh giữa các chủ nợ (bên có quyền được thanh toán) và con nợ (bên có nghĩa vụ thanh toán) theo một cơ chế đặc biệt Về bản chất thì thủ tục phá sản là giải quyết toàn bộ số nợ của các chủ nợ đối với con nợ một cách tập thể Ở nhiều trường hợp, thủ tục phá sản còn có thể mở ra cơ hội phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh cho con nợ, ngược lại cũng có thể chấm dứt sự tồn tại pháp lí của con nợ bị phá sản

Thủ tục phá sản được nhà nước ghi nhận để bảo vệ lợi ích của nhiều chủ thể khác

nhau trong nền kinh tế Đó là:

- Để bảo vệ một cách hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ

- Để bảo vệ lợi ích của người mắc nợ, tạo cơ hội để người mắc nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự và để góp phần bảo vệ lợi ích của người lao động

3 Đơn yêu cầu và chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

 Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Căn cứ pháp lí: Điều 26, Điều 27, Điều 28 và Điều 29 Luật phá sản năm 2014

Trang 5

3

Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục bắt buộc đầu tiên của trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó hay không? Đây là một loại văn bản trong đó thể hiện ý chí của chủ thể làm đơn mong muốn Tòa án xem xét về tình trạng tài chính của doanh nghiệp, hợp tác xã từ đó xem xét yêu cầu mở thủ tục phá sản

 Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Căn cứ pháp lí: Điều 5 Luật phá sản năm 2014

Là những cá nhân có liên quan tới doanh nghiệp, hợp tác xã đnag lâm vào tình trạng phá sản có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản

*Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ nộp đơn mở thủ tục của các chủ thể sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Việc xác định thời điểm mở thủ tục phá sản là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp và hợp tác xã.Thời điểm phù hợp nhất là khi doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán trong khoảng thời gian quy định của pháp luật, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục thanh toán vào thời điểm này sẽ có lợi cho cả con

nợ, chủ nợ và người lao động

II BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHỦ THỂ NỘP ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

1 Chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 phân các chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

thành hai nhóm: Nhóm có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và nhóm có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nhóm chủ thể có quyền nộp đơn yêu

cầu bao gồm: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ

Trang 6

4

thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng; Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác

xã Những chủ thể bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán bao gồm: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã; Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh

2 Quy định chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

2.1 Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần

 Căn cứ pháp lí: khoản 1 Điều 5 Luật phá sản 2014

 Ưu điểm

Chủ thể đầu tiên có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là các chủ nợ không có đảm bảo hay có đảm bảo một phần Chủ nợ của doanh nghiệp là người cho doanh nghiệp vay tài sản thông qua một hợp đồng vay nợ Theo Điều 4 Luật Phá sản 2014 thì có 3 loại chủ nợ của doanh nghiệp, đó là: chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có đảm bảo đảm

“4 Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba

Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba

Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.”

Trang 7

5

Về nguyên tắc, các chủ nợ đều bình đẳng như nhau nhưng không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ được pháp luật dành cho chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

 Nhược điểm

Luật Phá sản năm 2014 vẫn chỉ trao quyền chủ động nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần Việc các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ đề bàn luận trên nhiều diễn đàn nghiên cứu khoa học với các quan điểm trái chiều khác nhau Thủ tục phá sản là một phương thức đòi nợ đặc biệt, việc không cho chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn phương thức đòi nợ hữu hiệu này của chủ nợ có bảo đảm Việc cho phép các chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ góp phần phát hiện sớm tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã, nhờ đó phần nào

có thể hạn chế thiệt hại của chủ thể khác nếu có rủi ro xảy ra

Hơn nữa, có một thực trạng cần ghi nhận là: Đối với nhóm chủ nợ có quyền nộp đơn (chủ yếu là chủ nợ không có bảo đảm), họ thường không ưu tiên sử dụng quyền này trên thực tế Đến giai đoạn thi hành quyết định tuyên bố phá sản, tài sản còn lại (tài sản không dùng để bảo đảm) được thanh lý theo thứ tự thanh toán được luật quy định Thực tế, chủ nợ không có bảo đảm gần như không được phân chia hoặc nhận được với số tiền không đáng kể Do vậy, họ sẽ ưu tiên lựa chọn hướng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Và như vậy, ý nghĩa của việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn mang tính thực tế

Trang 8

6

Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 chưa thống nhất trong quy định về quyền yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ: Theo quy định của pháp luật phá sản, chủ thể có thẩm quyền yêu cầu định giá lại là chấp hành viên Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014 có quy định về việc định giá lại tài sản,

cụ thể: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”; khoản 2

Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định:

“Nếu phát hiện quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, chấp hành viên yêu cầu quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản

1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định này”

Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự, đồng nghĩa với nó là những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầu việc định giá lại như quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, điều này có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án

2.2 Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở

những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở

 Căn cứ pháp lí: khoản 2 Điều 5 Luật phá sản 2014

 Ưu điểm

Người lao động là người đóng góp trực tiếp công sức của mình để duy trì hoạt động của doanh nghiệp Họ đem sức lao động của mình để trao đổi lấy tiền lương thông qua hợp đồng lao động với doanh nghiệp Có thể nhận thấy, khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán, không dễ gì để doanh nghiệp đó có thể giải quyết các khoản nợ, bao gồm cả nợ lương của người lao động Người lao động hầu như

Trang 9

7

không có gì bảo đảm khi bị nợ lương, trong khi sức lao động của họ thì đã đóng góp cho doanh nghiệp

Hơn nữa, tiền lương còn là nguồn thu nhập chính của họ, thậm chí của cả gia đình họ Ngoài lương, người lao động còn có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp nợ 3 tháng trở lên bao gồm trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quyền lợi khác theo ký kết hợp đồng lao động và thỏa ước lao động lao động tập thể đã ký Vì vậy, sẽ là hợp lý khi quy định cho người lao động

có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Việc cho người lao động có thể tự nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một bước tiến của Luật Phá sản 2014 so với Luật Phá sản 2004 Luật Phá sản 2004 quy định người lao động thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thông qua người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn mà không được nộp đơn trực tiếp, tức là chỉ có tập thể người lao động mới được nộp đơn yêu cầu phá sản Luật Phá sản 2014, bên cạnh công đoàn cơ sở, quyền được nộp đơn yêu cầu phá sản còn được trao cho người lao động và công đoàn công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở, trong trường hợp công đoàn cơ sở chưa thành lập Hơn nữa, nó còn cho phép người lao động không cần phải nộp lệ phí khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Quy định của Luật Phá sản 2014 đã bảo vệ quyền và lợi chính đáng của người lao động, những người đã tham gia đóng góp trực tiếp sức lực của mình vào hoạt động của công ty

 Nhược điểm

Trên một khía cạnh khác, việc người lao động có thể được trực tiếp nộp đơn yêu cầu cũng ít nhiều gây khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã, dễ xảy ra tình trạng đơn yêu cầu không trung thực, vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 19 Luật Phá sản 2014

Trang 10

8

Hơn nữa, trên thực tế, rất hiếm gặp trường hợp người lao động thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của mình Điều này cũng dễ hiểu bởi khi thủ tục phá sản được tiến hành, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đứng trước hai khả năng: Một là, phục hồi thành công; hai là, bị tuyên bố phá sản Điều đáng buồn trong thực tế là việc mở thủ tục phá sản thường đồng nghĩa với việc tìm

ra cách thức tốt nhất để chia sẻ tổn thất tài chính chứ không phải là triển vọng phục hồi được hoạt động kinh doanh

Vì vậy, việc thông qua thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi, người lao động tránh được tình trạng mất việc không được kỳ vọng lớn lao Theo khoản 7 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, đương nhiên các hợp đồng lao động mà doanh nghiệp đã ký sẽ chấm dứt Mặc dù, người lao động được ưu tiên thanh toán song nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản sau khi thanh toán hết cho chủ nợ có bảo đảm, chi phí phá sản thì nguy

cơ người lao động không nhận được thanh toán là rất lớn Chính vì vậy, sự quan tâm, hào hứng của người lao động về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không nhiều, còn chưa kể đến cơ chế người lao động cử đại diện không được quy định chi tiết

Khoản 2 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 quy định đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền tham gia hội nghị chủ nợ Tuy nhiên, nếu như Luật Phá sản năm 2004 có quy định cụ thể về cơ chế cử đại diện cho người lao động (tại khoản 1 Điều 14) thì Luật Phá sản năm 2014 hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này Do đó, người lao động khó có định hướng cụ thể trong việc ủy quyền cho chủ thể tham gia hội nghị chủ nợ

2.3 Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng

 Căn cứ pháp lí: khoản 5 Điều 5 Luật phá sản năm 2014

Ngày đăng: 17/07/2023, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w