1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy định thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật pháp và chính sách về phá sản doanh nghiệp
Thể loại Điều tra, nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 778,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phá sản là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt: “Phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại hoàn toàn.”1 Theo kinh tế, phá sản được hiểu là tình trạng làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ. Phá sản ngoài việc kéo theo những hậu quả về kinh tế, xã hội thì cũng có ý nghĩa trong sự vận hành nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển mới. Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, khái niệm phá sản được đưa ra lần đầu tiên trong Luật Phá sản 2014. Luật Phá sản 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.” Từ những khái niệm trên, ta nhận có thể hiểu phá sản được xác định qua việc doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán các khoản nợ và bị Tòa án tuyên bố phá sản. 1.2. Khái niệm chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Chủ nợ là một trong các chủ thể tham gia vào thủ tục phá sản. Khoản 3 Điều 4 Luật Phá sản 2014 đưa ra khái niệm về chủ nợ như sau: “Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, c

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined

NỘI DUNG 3

I MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ VÀ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CHỦ NỢ KHÔNG CÓ BẢO ĐẢM, CHỦ NỢ CÓ BẢO ĐẢM 3

1 Chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 3

1.1 Khái niệm phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 3

1.2 Khái niệm chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã 3

2 Quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ trong thủ tục phá sản theo quy định Luật Phá sản 4

2.1 Giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 4

2.2 Giai đoạn tham gia hội nghị chủ nợ 6

2.3 Giai đoạn thanh lý tài sản thu hồi nợ 7

II BÌNH LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM 7

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN VÀ LỢI ÍCH CỦA CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN 10

1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật 11

2 Kiến nghị khác 11

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

NỘI DUNG

I MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ VÀ QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CHỦ NỢ KHÔNG

CÓ BẢO ĐẢM, CHỦ NỢ CÓ BẢO ĐẢM

1 Chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

1.1 Khái niệm phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Phá sản là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo từ điển Tiếng Việt: “Phá sản là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn

gì, và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại hoàn toàn.”1

Theo kinh tế, phá sản được hiểu là tình trạng làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ Phá sản ngoài việc kéo theo những hậu quả về kinh tế, xã hội thì cũng có ý nghĩa trong sự vận hành nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển mới

Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý, khái niệm phá sản được đưa ra lần đầu tiên trong Luật Phá sản 2014 Luật Phá sản 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”

Từ những khái niệm trên, ta nhận có thể hiểu phá sản được xác định qua

việc doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán các khoản nợ và bị Tòa

án tuyên bố phá sản

1.2 Khái niệm chủ nợ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Chủ nợ là một trong các chủ thể tham gia vào thủ tục phá sản Khoản 3 Điều 4 Luật Phá sản 2014 đưa ra khái niệm về chủ nợ như sau: “Chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm.”

Căn cứ vào mối tương quan giữa khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm, chủ

nợ gồm có: chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần, chủ nợ có bảo đảm

1 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003

Trang 4

Chủ nợ không có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu

doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.2

Chủ nợ có bảo đảm là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh

nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba.3

Chủ nợ có bảo đảm một phần là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu

cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn khoản nợ đó.4

2 Quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ trong thủ tục phá sản theo quy định Luật Phá sản

Tùy vào từng loại chủ nợ và từng gia đoạn của thủ tục phá sản mà chủ nợ

có quyền, lợi ích hợp pháp khác nhau Từ phần này, ta chú trọng vào tìm hiểu về

quyền và lợi ích của chủ nợ không có bảo đảm và bảo đảm một phần (gọi tắt là

chủ nợ)

2.1 Giai đoạn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đầu tiên, trong giai đoạn này chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở

thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản 2014

Trong các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ nợ không có bảo đảo, chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ thể được đưa lên đầu tiên bởi vì thông thường, chủ nợ sẽ là người chịu ảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp nhất khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán

Thứ hai, Chủ nợ có những quyền mà Điều 19 Luật Phá sản 2014 quy định cho những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản, tham gia vào thủ tục phá sản

2 Khoản 4 Điều 3 Luật Phá sản 2014

3 Khoản 5 Điều 3 Luật Phá sản 2014

4 Khoản 6 Điều 3 Luật Phá sản 2014

Trang 5

Thứ ba, khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ nợ có quyền kê khai

những khoản nợ đến hạn và kèm theo tài liệu chứng minh Ngoài ra, chủ nợ còn

có quyền để xuất việc Tòa án chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản5 Việc quy định chủ nợ quyền tự kê khai và chứng minh khoản

nợ là hoàn toàn hợp lý, vì chỉ có chủ nợ mới là người biết chi tiết về các khoản

nợ

Thứ tư, chủ nợ còn có quyền đề nghị xem xét lại quyết định khi thấy không

hợp lý, không đúng pháp luật cũng như quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm sau khi Tòa án ra Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong thời hạn

03 ngày làm việc từ ngày nhận được quyết định trả lại

Thứ năm, chủ nợ có quyền làm đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dẫn có

thẩm quyền xem xét lại quyết định thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Đối với những quyết định đề nghị, yêu cầu xem xét lại các Quyết định của Tòa án như đã nêu ở trên, các nhà làm luật muốn dành cho chủ

nợ tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc theo dõi giám sát các hoạt động, các Quyết định của Tòa ẩn Nếu chủ nợ nhận thấy những quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết có biểu hiện sai phạm hoặc sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của mình thì chủ nợ sẽ sử dụng quyền đề nghị, yêu cầu xem xét lại các quyết định đó.6

Thứ sáu, sau khi Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ thì

chủ còn có quyền đề nghị bằng văn bản gửi Tòa án nhân dân để các bên thương lượng việc rút đơn

Đây là điểm mới của Luật Phá sản 2014 so với Luật Phá sản (2004) là quy định thêm quyền thương lượng giữa hai bên Đó chính là sự tôn trọng tự do thỏa

5 Điều 26 Luật Phá sản 2014

6 Trần Minh Quân (2018), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản

và thực tiễn thi hành tại Hà Nội , Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

Trang 6

thuận giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ, mặc dù chủ nợ đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.7

2.2 Giai đoạn tham gia hội nghị chủ nợ

Chử nợ là chủ thể trước tiên có quyền tham gia hội nghị chủ nợ Các chủ

nợ có tên trong danh sách chủ nợ có thể trực tiếp tham gia hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người đại diện tham gia Trong giai đoạn này, chủ nợ có quyền tham gia vào các hoạt động sau:

- Biểu quyết thông qua việc cử Thư ký Hội nghị chủ nợ theo đề xuất của Quản tài viên hay doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để ghi biên bản Hội nghị chủ nợ

- Chủ nợ hoặc người đại diện hợp pháp của chủ nợ trình bày về những vấn

đề cụ thể yêu cầu giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu giải quyết phá sån

- Thảo luận về các nội dung do Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo và ý kiến của những người tham gia Hội nghị chủ

nợ

- Quyền đề nghị Thẩm phán ra quyết định thay người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

- Quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ

- Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho 65 % tổng số nợ không có bảo đảm lên biểu quyết tán thành Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ

Quyền biểu quyết tại Hội nghị chủ nợ chỉ được giành cho chủ nợ không có bảo đảm vì đây là chủ thể khó có thể thu hồi nợ được một cách đầy đủ, do việc thanh toán nợ sẽ chỉ dựa trên phần tài sản còn lại của doanh nghiệp cũng như phân chia theo thứ tự

7 Trần Minh Quân (2018), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản và thực tiễn thi hành tại Hà Nội , Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội

Trang 7

2.3 Giai đoạn thanh lý tài sản thu hồi nợ

Sau khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì việc thu hồi

nợ, phân chia tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự luật định Luật Phá sản 2014 quy định thứ tự phân chia tài sản của doanh nghiệp như sau: 8

- Chi phí phá sản

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao tập thể

đã ký kết

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán

do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ

II BÌNH LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM

Luật Phá sản 2014 đã quy định khá chặt chẽ để bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ nợ trong thủ tục phá sản Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đã nhảy

ra một số lỗ hổng nhất định, quyền và lợi ích của các chủ nợ vẫn bị xâm phạm trong moojjt số trường hợp nhất định

Quy định về quyền và lợi ích của chủ nợ chưa thật sự thỏa đáng:

Thứ nhất, thủ tục mất rườm rà, mất nhiều thời gian ảnh hưởng trực tiếp tới

lợi ích chủ nợ

Chúng ta thấy, từ khi chủ nợ đưa thủ tục phá sản thì đã quá thời hạn 3 tháng (Khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản 2014) Mặt khác tại khoản 1, Điều 31 là khi tiếp nhận thì phải phân công thẩm phán 3 ngày Tại khoản 1, Điều 32, sau 3 ngày làm việc thì phải xem xét đơn, nhưng nếu xem xét đơn có trục trặc, không phù hợp với nội dung thì lại mất thời gian điều chỉnh Sau đó còn phải nộp lệ phí nữa thì tiền bạc, tỷ lệ nộp thế nào chắc chắn cũng gặp nhiều khó khăn Tiếp theo

là quy định về hội nghị chủ nợ tại Điều 75 thì hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, nếu

8 Khoản 1 Điều 54 Luật Phá sản 2014

Trang 8

như không bảo đảm thì tiến hành lần thứ hai cũng mất thời gian từ 20 – 30 ngày, thậm trí có thể lâu hơn

Nên tính toán cho hợp lý về thời gian và trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian đưa ra vụ việc để tuyên bố phá sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ

nợ nhất là những chủ nợ khôn có tài sản đảm bảo hoặc đảm bảo 1 phần và ngăn bớt tình trạng hiện nay, nhiều doanh nghiệp tính toán với điều kiện này, điều kiện khác cố tình dây dưa không thực hiện các bước phá sản hoặc cố tình lợi dụng vấn đề này

Trên thực tế, việc xác định rõ nợ có đảm bảo hay đảm bảo một phần đến nay còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do sự biến động của giá trị tài sản bảo đảm9 Do đó trong thời gian thực hiện thủ tục phá sản, giá trị tài sản bảo đảm có thể thay đổi và việc xác định còn dưa vào nhiều căn cứ Cuối cùng sẽ dẫn đến tranh chấp giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã, giữa các chủ nợ với nhau

Thứ hai, Quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán là không hợp lý

Việc ưu tiên thanh toán trước cho các chủ nợ có bảo đảm trước khoản nợ không có bảo đảm, bảo đảm một phần có sự bất hợp lý Các khoản nợ có bảo đảm đã có tài sản bảo đảm việc thực hiện trả nợ, những các khoản nợ không có bảo đảm đã không có gì để thanh toán lại còn không được ưu tiên thanh toán trước Việc quy định như vậy là đi trái lại mục đích của phá sản, quyền lời của các chủ nợ không có bảo đảm bị xâm phạm nghiêm trọng

Vụ việc phá sản của công ty chuyển phát nhanh GNN Express

Ra đời năm 2006 trong bối cảnh thị trường chuyển phát nhanh Việt Nam còn sơ khai, GNN Express từng là đơn vị chuyển phát có mạng lưới rộng khắp

cả nước Doanh nghiệp đã triển khai nhận hàng tại Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, TP.HCM, Biên Hòa và Cần Thơ cùng mạng lưới chuyển phát đến 63 tỉnh, thành phố trên cả nước

9 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản 2014, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Hà Nội.

Trang 9

Tối 1/9/2018, công ty chuyển phát nhanh GNN (GNN Express) phát đi thông báo trên fanpage chính thức về việc doanh nghiệp này dừng hoạt động do

"không còn đủ khả năng tài chính" Theo nội dung thông báo, do hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, công ty đã không cân đối được thu chi dẫn đến sử dụng và lạm dụng tiền thu hộ (COD) của khách hàng vào các hoạt động khác Mức nợ hiện lên đến 5,5 tỷ đồng Ngoài việc lạm dụng 5,5 tỷ đồng tiền COD, công ty này còn nợ ngân hàng khoản vay mua 6 ôtô, vay tín chấp 1,7 tỷ đồng, nợ người thân, bạn bè 3,5 tỷ đồng, nợ đối tác gửi qua hàng không 1 tỷ đồng, nợ lương của người lao động 700 triệu đồng và nợ bảo hiểm xã hội 200 triệu đồng Ngay sau khi GNN tuyên bố phá sản, nhiều chủ nợ là các đối tác của doanh nghiệp này lo lắng về việc thu hồi nợ Có một nhóm khoảng 28 khách hàng lớn

mà GNN Express nợ từ 50 triệu đồng đến 400 triệu đồng, thậm chí nhiều hơn Đây là những khách hàng bức xúc nhất, liên tục gọi điện cũng như đến tận trụ sở công ty để đòi tiền

Ông Hoàng Ngọc – Tổng giám đốc GNN Express khẳng định, ông không

né tránh trách nhiệm “Vấn đề của tôi là thời gian, không thể trong chốc lát hoàn trả tiền cho khách Tôi rất thiện chí xử lý việc này, quan trọng là có thời gian để tôi và gia đình thu xếp Doanh nghiệp có thể thu hồi khoản công nợ 800 triệu đồng, trong đó dành 200 triệu trả lương nhân viên, số còn lại có thể thanh toán trả khách hàng Khách hàng được ưu tiên trả lại là những người có khoản nợ dưới 2 triệu đồng trước ngày 15/9 Còn những người nợ nhiều, doanh nghiệp chỉ cam kết trả khoảng 20% nợ trong tháng 9 và mỗi tháng tiếp theo thanh toán 10% cho đến khi tất toán”

Theo quy định tại Điều 54 Luật Phá sản 2014 thì thứ tự ưu tiên khi xử lý tà sản: Thanh toán chi phí phá sản, khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết Tiếp theo, sau khi thanh toán các khoản chi phí trên mà còn tiền thì mới thanh toán cho các chủ nợ theo tỷ lệ nhất

Trang 10

định Như vậy những chủ nợ sẽ gặp rất nhiều rủi ro, có thể sẽ không có cơ hội thu hồi nợ vì tài sản không còn

Thứ ba, về vấn đề xem xét lại và kháng nghị với quyết định mở hoặc không

mở thủ tục phá sản

Quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ là một quyền quan trọng ảnh hưởng tới lợi ích của chủ nợ Theo lẽ thường, khi chủ nợ nộp đơn và Tòa án xem xét quyết định cho mở hoặc không mở thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản khi đủ diều kiện, đúng yêu cầu của pháp luật đã được Tòa án cân nhắc xém xét, vậy mà người tham gia thủ tục phá sản lại có quyền đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị xem xét lại quyết định mở thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản mới chỉ là thủ tục bắt đầu việc xem xét xem cho doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản hay không phá sản Vì vậy nếu quy định như thế sẽ ảnh hưởng tới việc có thể đòi lại được nợ của chủ nợ hay không, các doanh nhiệp hợp tác xã sẽ lợi dụng điều này gây ảnh hưởng cũng như mất thời gian trong việc đòi lại nợ của chủ nợ

Năm 2018 VKSND tối cao đã tổ chức thành công Hội nghị sơ kết 3 năm thi hành Luật Phá sản Trong 5 năm tổng số vụ việc có đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị đối với quyết định không mở thủ tục phá sản, quyết định mở thủ tục phá sản và quyết định tuyên bố phá sản là 325 vụ việc, Tòa án mở phiên họp xem xét lại đề nghị, kháng nghị là 286 phiên họp (đạt 88%); số vụ việc Tòa án chưa mở phiên họp là 39 vụ việc (chiếm 12%).10 Chỉ trong số liệu này ta thấy được số lượng đơn yêu cầu xem xét lại hay kháng nghị đối với quyết định của Tòa án là rất cao, điều này vừa làm cho công việc Tòa án như nhân đôi lên, lại xem xét lại một lần nữa, thêm vào đó lại xuất hiện những vụ việc chưa mở phiên họp kéo dài thời gian gây ảnh hưởng tới lợi ích của chủ nợ rất nhiều

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN

VÀ LỢI ÍCH CỦA CHỦ NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN

10 Công thông tin điện tử VSKND tỉnh Phú Yên, Tổng kết 5 năm thi hành Luật Phá sản và Pháp lệnh số 09 trong ngành KSND, https://www.vkspy.gov.vn/tong-ket-5-nam-thi-hanh-luat-pha-san-va-phap-lenh-so-09-trong-nganh-ksnd-17_11884.html , ngày truy cập 7/7/2021

Ngày đăng: 17/07/2023, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w