Khả năng TĐG các PCYC giúp các em xác định đúng đắn mức độ tồn tại các PCYC, chỉ ra các biểu hiện, từ đó đặt mục đích, lập kế hoạch cho hoạt động học tập và rèn luyện bản thân, đồng thời
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2Chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã đem lại cho tôi những tri thức tâm lý học để đủ mạnh dạn và tự tin lựa chọn đề tài này
Cảm ơn các bạn lớp Tâm lý học K18 và K19 đã chia sẻ, động viên tôi những lúc khó khăn khi thực hiện luận văn
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh của các trường THPT ở TP Phan Thiết đã nhiệt tình ủng hộ
và hợp tác để chúng tôi có những kết quả khách quan, trung thực nhất
Cảm ơn những đồng nghiệp ở trường CĐ cộng đồng Bình Thuận đã hỗ trợ và góp ý chân thành cho luận văn
Cảm ơn gia đình đã tạo những điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc cần nhiều thời gian và sự chia sẻ này
Đặc biệt, xin tri ân thầy Trương Công Thanh, người hướng dẫn tôi thực hiện luận văn Nếu không có sự quan tâm, động viên cũng như những ý kiến quý giá của thầy, tôi khó có thể hoàn thành luận văn
Xin tri ân tất cả!
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hồng Thắm
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, tự ý thức và mức độ phát triển cao của nó là TĐG có vai trò rất to lớn TĐG là khả năng cá nhân xác định những phẩm chất và năng lực hiện có của bản thân đang ở mức độ nào, có đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp Trên
cơ sở TĐG, cá nhân sẽ hướng đến khắc phục những thiếu sót, phát huy những phẩm
chất, hành vi tốt đẹp Họ còn biết định hướng sự hình thành nhân cách nói chung phù hợp với hình ảnh lý tưởng khái quát đang được xây dựng ở bản thân[5;10] Do
đó, tìm hiểu TĐG có lợi cho cả HS và giáo viên trong quá trình giáo dục Với HS, đánh giá bản thân một cách đúng đắn, phù hợp sẽ là điều kiện tích cực đối với sự phát triển toàn diện nhân cách Hơn nữa, việc phân tích bản thân có mục đích là dấu hiệu cơ bản của một nhân cách đang trưởng thành và tiền đề của tự giáo dục, tự hoàn thiện.Với giáo viên, tìm hiểu khả năng TĐG của HS là cơ sở để lựa chọn biện pháp và xây dựng môi trường giáo dục Khả năng này vừa là một trong những tiêu chí để ĐG sự phát triển nhân cách của HS vừa là cơ sở của nguyên tắc giáo dục phát huy ý thức tự giáo dục của HS
Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ở lứa tuổi THPT, HS thường chú ý đến thế giới nội tâm, những năng lực và phẩm chất của cá nhân Theo kết quả nghiên cứu của I.X.Côn , B.N.Voncov, A.N.Lutoxki, các em thường đặt các PCYC vào vị trí ưu tiên trong trình tự các vấn đề được ĐG.[4;136] Như vậy, các PCYC là một trong những mối quan tâm hàng đầu khi ĐG bản thân của HS Các PCYC vừa là đặc trưng cho cá nhân với tư cách là một nhân cách vừa có ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống, trong hoạt động học tập Hơn nữa, hoạt động học tập, rèn luyện ở lứa tuổi THPT đặt ra những yêu cầu ngày càng cao buộc HS phải phát huy những phẩm chất vốn có để hoàn thành nhiệm vụ được giao Khả năng TĐG các PCYC giúp các em xác định đúng đắn mức độ tồn tại các PCYC, chỉ ra các biểu hiện, từ đó đặt mục đích, lập kế hoạch cho hoạt động học tập và rèn luyện bản thân, đồng thời,
HS có thể vận dụng để TĐG các phẩm chất, đặc điểm khác của nhân cách
Trang 5Mặt khác, khả năng TĐG nói chung, TĐG các PCYC nói riêng một cách chính xác, phù hợp là một trong những đòi hỏi của thị trường lao động trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Muốn trở thành người lao động trong thời đại này, mỗi cá nhân phải biết bản thân có những năng lực và phẩm chất
gì, có mặt mạnh yếu nào Nghĩa là mỗi cá nhân cần phát huy khả năng TĐG, đặc biệt là khả năng TĐG các PCYC Những năm cuối thế kỷ 20 và thập niên đầu thế kỉ
21, các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, những người thành công trong công việc, cuộc sống không hẳn là những người có chỉ số thông minh (IQ) hay chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) cao mà là những người có chỉ số vượt khó (AQ) cao Đó là chỉ số về các PCYC, tính mục đích, nỗ lực vượt khó, tính tự chủ, lòng can đảm… Như vậy,
sự “tự biết mình”, cụ thể là khả năng TĐG những PCYC sẽ là hành trang giúp HS
thành công trong học tập và cuộc sống sau này
Từ lâu, TĐG đã được nghiên cứu ở các nước phương Tây, riêng ở Việt Nam, TĐG bắt đầu được quan tâm từ những năm tám mươi của thế kỉ trước Các nghiên cứu chủ yếu tập trung những vấn đề: TĐG thái độ học tập, tính tích cực học tập, thái
độ với tập thể, các phẩm chất nghề nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến sự TĐG… Đối tượng của đa số các công trình này là sinh viên, HS tiểu học, HS THCS, đề tài
về TĐG của HS THPT rất ít Hơn nữa, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào về khả năng TĐG một phẩm chất cụ thể của nhân cách nói chung, TĐG PCYC của HS THPT nói riêng Vì vậy, tìm hiểu về khả năng TĐG các PCYC của HS THPT càng có ý nghĩa thiết thực
Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí của học sinh trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra thực trạng khả năng TĐG của HS THPT qua sự TĐG về PCYC Trên
cơ sở đó, đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục góp phần nâng cao khả năng TĐG của HS THPT làm cơ sở cho việc tự giáo dục và hoàn thiện bản thân
Trang 63 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng TĐG các PCYC của HS THPT
5 Giả thuyết nghiên cứu
Khả năng TĐG các PCYC của HS THPT chưa cao Điều đó có thể do ảnh hưởng của một số yếu tố Nếu áp dụng một số biện pháp giáo dục phù hợp có thể góp phần nâng cao khả năng TĐG PCYC của HS
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận tâm lý học về khả năng TĐG nói chung, khả năng TĐG PCYC nói riêng
Nghiên cứu thực trạng khả năng TĐG PCYC của HS THPT
Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục phù hợp để nâng cao khả năng TĐG PCYC của HS THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 77.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tham khảo và phân tích các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, được thực hiện qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Lấy ý kiến thăm dò bằng các câu hỏi mở
Giai đoạn 2: Thu thập ý kiến ĐG bằng phiếu thăm dò với các câu hỏi có
nhiều lựa chọn Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng TĐG PCYC của HS THPT
7.5 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu
8 Đóng góp mới của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về khả năng TĐG nói chung, khả năng TĐG PCYC nói riêng của HS THPT và những yếu tố tác động đến nó
Xây dựng được bảng hỏi và đề xuất cách thức đánh giá khả năng TĐG của
HS THPT, cung cấp thêm những dữ kiện thực tiễn về khả năng TĐG của HS THPT, kết quả nghiên cứu có thể làm tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo, làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các biện pháp rèn PCYC cho HS THPT
Trang 81.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề TĐG của HS đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm ở các nước thuộc Liên Xô (cũ), Ba Lan, Đức,… Họ đã có những đóng góp quan trọng cho các vấn đề lý luận cơ bản của TĐG như: quan điểm tiếp cận, bản chất, nội dung, con đường hình thành, vai trò của TĐG, phương pháp nghiên cứu TĐG,…
A.I.Lipkina và L.A.Rưbak trong công trình “Tính phê phán và TĐG trong
hoạt động học tập” đã xác định bản chất tâm lý và nguồn gốc của TĐG Theo họ, bản chất tâm lý của TĐG là: “thành phần không thể tách rời của ý thức, của sự phản ánh chính bản thân mình cũng như mối quan hệ của mình với người khác, với thực tế xung quanh”.[18;12] Như vậy, khi xem TĐG là sự phản ánh hiện thực
khách quan – bản thân và mối quan hệ xã hội của cá nhân, TĐG là hiện tượng tâm
lý có thể nhận thức và ĐG được Họ cũng chỉ ra nguồn gốc của TĐG là: “Sự phát triển lịch sử xã hội tác động vào cá nhân thông qua hoạt động ngày càng phát triển, càng phức tạp của bản thân”.[18;12] Là hiện tượng tâm lý, TĐG chịu sự chi phối
của các yếu tố lịch sử, xã hội thông qua hoạt động và giao lưu của cá nhân Vì thế, khi nghiên cứu TĐG cần đặt trong lĩnh vực hoạt động cụ thể, một bối cảnh nhất định Kết luận trên cũng xác định TĐG mang tính chất xã hội Những quan hệ xã hội, chuẩn mực xã hội,… được cá nhân lĩnh hội thông qua hoạt động và giao tiếp sẽ trở thành những tiêu chuẩn để ĐG người khác và bản thân Cho nên, khi xem xét TĐG của cá nhân cần lưu ý đến tiêu chuẩn xã hội và hoàn cảnh TĐG
Khi nghiên cứu về “Sự TĐG và vai trò của nó trong quá trình hình thành
nhân cách”, V.P Levcovic xác định mối quan hệ TYT và TĐG, TYT phát triển đến
Trang 9một giai đoạn nhất định mới xuất hiện TĐG Khi đó, TĐG vừa mang những đặc tính của TYT đồng thời có những điểm đặc điểm riêng của mình, thể hiện qua cấu trúc: nhận thức về bản thân, ĐG đúng khả năng và có thái độ phê phán đối với bản thân Từ việc phê phán bản thân, cá nhân sẽ điều chỉnh hành vi để phù hợp với mong muốn của bản thân, yêu cầu của xã hội, TĐG trở thành một trong những động
cơ thúc đẩy sự phát triển nhân cách Như vậy, TĐG là điều kiện bên trong điều khiển hành vi của con người, điều khiển sự phát triển nhân cách.[18;13][18;24]
S.Franz là một trong những tác giả nghiên cứu sâu về TĐG vì thế đóng góp
của bà ở lĩnh vực này rất đa dạng và bao quát Điều khác biệt với các tác giả khác là
bà xem xét TĐG dưới góc độ nhận thức luận Theo bà, “…TĐG là một dạng đặc
biệt của hoạt động tự nhận thức Bởi nền tảng của cách tiếp cận này quá trình tự nhận thức, Franz đã phân tích các quá trình cấu thành nên nó và khẳng định từ quá
trình tự nhận thức sẽ dẫn đến TĐG Như vậy, Franz đã làm rõ bản chất và cơ chế tâm lý của TĐG Ngoài ra, bà cũng nghiên cứu sâu về các đặc điểm của TĐG, đặc biệt tính khách quan của TĐG Từ kết quả nghiên cứu, bà đã đề xướng một số phương hướng phát triển khả năng TĐG, tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính khoa học và thực tế các phương hướng đó[18;25] Cách tiếp cận của Franz đã mở ra một hướng mới trong nghiên cứu TĐG TĐG một hiện tượng tâm lý có mức độ biểu hiện cụ thể, có thể đo lường được Hơn nữa, khi được xem là quá trình nhận thức gồm các quá trình cụ thể, TĐG có thể tác động, điều chỉnh được qua việc tác động đến các quá trình thành phần của nó Đây là điều mà ngoài Franz, các nhà nghiên cứu khác chưa chỉ ra được
Ngoài các tác giả tiêu biểu trên, TĐG cũng được nhiều nhà tâm lý học quan
tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau: J.A.Andrusenco đã tìm hiểu “Những điều kiện tâm lý để hình thành TĐG của HS cấp I”; Ph.I.Ivasenco quan tâm “Những đặc điểm TĐG của HS lớn trong học tập và lao động”,
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu trên đã đạt được những thành tựu nhất định
khi luận giải các vấn đề cơ bản của TĐG A.I.Lipkina và L.A.Rưbak chỉ ra bản chất, nguồn gốc xã hội, vấn đề tiêu chuẩn và hoàn cảnh xã hội của TĐG, V.P
Trang 10Levcovic khẳng định vai trò của TĐG – là động cơ thúc đẩy hành vi và điều khiển
sự phát triển nhân cách, thì S.Franz với cách tiếp cận nhận thức luận, đã phân tích
sâu sắc bản chất, cơ chế hình thành TĐG Đó là những cơ sở lý luận quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này
Ở các nước phương Tây, TĐG được nghiên cứu từ rất sớm song song với
vấn đề TYT, cái “tôi” (self), lòng tự trọng (self-esteem) của cá nhân Gần đây, TĐG càng được nghiên cứu nhiều ở các nước phát triển Thống kê cho thấy ở Pháp, trong vòng 10 năm cuối cùng của thế kỉ XX đã có hơn 20.000 nghiên cứu về sự TĐG bản thân [8;20] Còn theo thống kê của hội tâm lý học Mỹ trong vòng 30 năm kể từ
1967 đến năm 1996 đã có 13787 bài viết về TĐG [21;11] Chúng tôi sẽ điểm qua một số tác giả tiêu biểu đại diện cho một số quan điểm cơ bản khi nghiên cứu TĐG
Về mặt lịch sử, W Jame là người đặt viên gạch đầu tiên cho những nghiên cứu về TĐG Những phát biểu về TĐG của ông đặt trên cơ sở lý luận về cái tôi,
lòng tự trọng (ĐG khái quát giá trị bản thân) Theo ông, cái tôi là một cấu trúc bao
gồm nhiều khía cạnh và cấp độ khác nhau, mỗi khía cạnh thể hiện một giá trị, một
vai trò đặc trưng [40;15-18] TĐG là ý thức về giá trị của cái tôi, bao gồm cái tôi tổng quát và những cái tôi cụ thể Việc xác định giá trị liên quan đến kì vọng của cá
nhân trong một lĩnh vực nào đó Vì vậy, kì vọng trở thành vấn đề quan trọng nhất trong công thức TĐG Nhìn chung, James đã phân biệt TĐG gồm TĐG tổng thể và TĐG những khía cạnh cụ thể của cái tôi và chỉ ra nội dung da dạng của TĐG bao gồm: thể chất, tính cách, suy nghĩ, giá trị đạo đức,…của cá nhân Ông khẳng định kì vọng của bản thân về khả năng của mình là yếu tố bên trong quan trọng nhất trong
sự hình thành TĐG Hạn chế của James là chưa đưa ra khái niệm TĐG hoàn chỉnh cũng như chưa thấy được vai trò của các yếu tố xã hội đối với TĐG
Tiếp bước các nghiên cứu của James, Susan Harter đã đạt những thành tựu to
lớn trong lĩnh vực này Bà đã làm rõ hơn khái niệm TĐG, theo đó TĐG là “gắn những giá trị cho các thuộc tính của bản thân” Những giá trị này có thể tích cực
hay tiêu cựu, dựa trên những thuộc tính và trải nghiệm cảm xúc đối lập của bản thân [40;4] Harter phân tích kĩ TĐG tổng thể và TĐG những lĩnh vực cụ thể (nhận
Trang 11thức, xã hội, thể chất, cảm xúc) Từ đó, bà đã xây dựng thang đo TĐG cho trẻ em
(Perceied compentence scale for chilren (1979)), tổ chức thực nghiệm và đạt được
những kết quả cụ thể Theo Harter, trẻ đầu cấp tiểu học đã hình thành ý thức về giá trị bản thân, tuy nhiên, ý thức đó chủ yếu nghiêng về mô tả bản thân hơn là TĐG Với những trẻ ở cuối bậc tiểu học, đã có sự gia tăng tính khác biệt, chính xác và ổn định một cách tương đối trong ý thức về giá trị bản thân (TĐG) trong mối quan hệ với bạn bè trang lứa, học tập, hành vi, thể thao và thể chất; TĐG tổng thể được trẻ xây dựng trên ý thức tổng quát về giá trị của của bản thân.[40;28-55] Thành tựu của Harter là một trong những nguồn tham khảo đáng lưu ý khi tìm hiểu về TĐG, đặc biệt, TĐG trong lĩnh vực cụ thể như PCYC của đề tài này
Một số nhà nghiên cứu như C.H.Cooley, G.H.Mead, J.M.Blaldwin,… khẳng định TĐG có nguồn gốc xã hội, là kết quả của sự tương tác xã hội với những người xung quanh và tri giác bản thân Lý thuyết về TĐG của C.H.Cooley dựa trên hình
ảnh ẩn dụ về “chiếc gương xã hội”, mỗi cá nhân nhìn vào đó và rút ra ý tưởng từ ý
kiến của người khác về anh ta Vì thế, TĐG của cá nhân là sự phản ánh xã hội, bao
gồm:“(1) hình dung về vẻ bên ngoài của một cá nhân của những người xung quanh;(2) hình dung về ĐG của họ về vẻ bên ngoài đó;(3) một vài dạng cảm xúc về bản thân, chẳng hạn như phản ứng xúc động, dẫn đến những ĐG mang tính phản ánh xã hội Những hiện tượng này dần trở nên khác biệt với nguồn gốc xã hội ban đầu thông qua quá trình tiếp thu có chủ định của cá nhân.”[40;18] Cooley cho
rằng, TĐG là hiện tượng có xúc cảm đi kèm theo, đánh dấu vai trò chủ động của cá nhân trong sự phát triển TĐG, đặc biệt là TĐG về cảm xúc như tình cảm tự hào và xấu hổ Như vậy, Cooley khẳng định nguồn gốc xã hội của TĐG, thái độ của những người xung quanh đối với cá nhân sẽ quy định ĐG của họ về bản thân
Tương tự Cooley, G.H.Mead khẳng định vai trò của tương tác xã hội đối với
sự hình thành TĐG Ông phát biểu: “Chúng ta thể hiện cái tôi của mình ở chừng mực nào phụ thuộc mức độ bản thân chúng ta nắm bắt thái độ mà người khác đối
xử với mình.” [40;19] Từ đó, TĐG được hình thành từ thái độ của người khác đối
với bản thân, những ĐG có ý nghĩa của nhiều người khác nhau, bằng cách này hay
Trang 12cách khác, đã tạo ra sức mạnh tâm lý tác động đến ý thức tự xác định giá trị của cá nhân với tư cách một con người [40;19] TĐG cũng được xây dựng trên cơ sở trẻ bắt chước vai trò của người lớn Khi hành động như người lớn, trẻ không chỉ nắm bắt vai trò của họ mà còn thừa nhận một người có rất nhiều vai trò trong xã hội, từ
đó trẻ điều chỉnh hành vi của mình Những kinh nghiệm này được khái quát hóa và cung cấp cho trẻ hình ảnh cái tôi của bản thân, giá trị của cái tôi (TĐG)
J.M.Blaldwin cho rằng TĐG hình thành từ việc bắt chước những người xung
quanh Ông xác nhận (1897):“Sự phát triển nhân cách của một đứa trẻ có thể không tiếp tục nếu không có những biến đổi ý thức của nó về bản thân từ những nhận xét của người khác Vì vậy, bản thân đứa trẻ, ở mỗi cấp độ, thật sự là một phần của người khác, thậm chí một phần nào đó suy nghĩ của nó cũng vậy”.[40;20] Tuy
nhiên, đó không phải là sự bắt chước rập khuôn máy móc mà mang tính xã hội và sáng tạo Đó là một quá trình tương tác, thông qua bắt chước trẻ phát triển những hành vi đặc trưng của mình mà lúc đầu là từ gợi ý của người khác, sau đó là của bản thân Ông cũng cho rằng gia đình là nơi cung cấp những mô hình đầu tiên để đứa trẻ bắt chước, sau đó là nhà trường và môi trường xã hội rộng lớn hơn.[40;20]
Với cả ba nhà nghiên cứu trên, quan trọng nhất là vai trò của quan niệm người khác trong việc hình thành TĐG của cá nhân, thông qua tương tác xã hội Cooley nhấn mạnh TĐG là sự phản ánh xã hội, Mead và Baldwin thống nhất ý kiến khi xác định vai trò của bắt chước và việc thực hiện các vai trò xã hội trong hình thành TYT nói chung, TĐG nói riêng Những nhận định này giúp chúng tôi khẳng định ảnh hưởng ý kiến của những người xung quanh đến TĐG và củng cố ý tưởng phải tham khảo ý kiến của những người gần gũi cá nhân khi nghiên cứu TĐG
Ngoài ra, một số tác giả như M Rosenberg, S Coopersmith,…đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu TĐG, nhất là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG Theo Rosenberg, Coopersmith cả Harter, mức độ quan tâm chăm sóc của cha mẹ, khả năng nhận thức của trẻ trong các lĩnh vực trẻ cho là quan trọng,… đều có tác động đến TĐG của trẻ.[21;18] Rosenberg cho rằng tôn giáo, thứ tự sinh cũng ảnh hưởng đến TĐG, đặc biệt trẻ con một, trẻ nam có TĐG cao hơn [21;18] Theo
Trang 13Coopersmith nghề nghiệp, của cha mẹ, TĐG của cha mẹ, tình trạng hôn nhân, hành
vi ứng xử của cha mẹ, khả năng kết quả học tập cua trẻ có ảnh hưởng đến TĐG của trẻ.[41;41-42][42;64] Những kết quả này định hướng cho chúng tôi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của trẻ trong kết quả thực tiễn của đề tài
Điểm qua những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, chúng tôi thấy TĐG được quan tâm nghiên cứu từ lâu, dưới nhiều góc độ khác nhau W.James, C.H.Cooley, G.H.Mead đã đặt những nền tảng đầu tiên cho lý luận về TĐG và ảnh hưởng đến các nghiên cứu sau này Họ tập trung vào những vấn đề cơ bản như khái niệm, nguồn gốc của TĐG Các nhà nghiên cứu thuộc thế hệ tiếp theo như M.Rosenberg, S.Coopersmith S.Harter,…đã có những thành tựu nổi bậc như: xây dựng các thang đo TĐG và tiếp tục bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG Tuy nhiên, các vấn đề như cơ chế, vai trò của TĐG chưa được họ quan tâm Các nhà tâm
lý học theo trường phái Mac-xít như A.I.Lipkina và L.A.Rưbak, V.P Levcovic, S.Franz,… có nhiều phát hiện quan trọng ở các vấn đề như: bản chất, cơ chế, vai trò của của TĐG trong hình thành và phát triển nhân cách,… Trong đó, lý luận của Franz về TĐG dưới góc độ nhận thức luận đã là kim chỉ nam cho những nghiên cứu
về TĐG ở Việt Nam trong những năm gần đây và là một trong những cơ sở lý luận chính cho đề tài nghiên cứu này
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
TĐG được bắt đầu nghiên cứu ở Việt Nam vào những năm 80 của thế kỉ trước Theo thống kê của tác giả luận văn tính đến thời điểm này có khoảng hơn 20 luận văn, luận án, bài viết trao đổi về TĐG, tập trung hai hướng: quan điểm của các nhà tâm lý học Mac-xit và quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây
Lê Ngọc Lan là người đầu tiên tìm hiểu vấn đề TĐG dựa trên cơ sở lý luận của Franz Nghiên cứu của bà tập trung vào mối quan hệ giữa TĐG phù hợp của HSvới thái độ học tập và động cơ học tập Công trình này đưa ra kết luận như sau: TĐG có liên quan đến các yếu tố tâm lý của nhân cách, trong đó thái độ học tập có liên quan chặt chẽ với động cơ học tập; khả năng TĐG phù hợp đối với thái độ học tập ở HS khối 6 và khối 8 chưa cao; sự TĐG thái độ học tập ở các môn học khác
Trang 14nhau không giống nhau rõ rệt và TĐG thái độ học tập ở các em nữ phù hợp hơn các
em trai [14;7]… Đây là kết quả thực tiễn đầu tiên về TĐG ở Việt Nam
Một số tác giả sau đó tiếp tục nghiên cứu TĐG thái độ học tập của sinh viên theo quan điểm của Franz như: Đặng Quang Khải (2083), Lê Tràng Định (2083), Nguyễn Thị Minh Hằng (2098), Đào Lan Hương (2000)… Kết quả đạt được trong các nghiên cứu này đều thống nhất: TĐG phù hợp của sinh viên chưa cao và khi sinh viên nắm chắc nội dung, tiêu chuẩn, mức độ TĐG thì họ sẽ có TĐG phù hợp Đào Lan Hương là người đã nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm công phu để phát triển khả năng TĐG phù hợp thái độ đối với môn toán của sinh viên Có nhiều cách tác động nâng cao khả năng TĐG: Nâng cao khả năng thu thập thông tin, hiểu và nắm chắc tiêu chuẩn ĐG,…theo bà, giúp sinh viên nắm vững tiêu chuẩn ĐG thái độ học toán là cách phù hợp nhất [18;184-188] Kết quả thực nghiệm này giúp chúng tôi cân nhắc lựa chọn hướng tổ chức thử nghiệm để nâng cao khả năng TĐG PCYC của HS THPT
Văn Thị Kim Cúc và Đỗ Ngọc Khanh đã nghiên cứu TĐG theo quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây và sử dụng thang đo đã được chuẩn hóa của họ
để tìm hiểu sâu về TĐG Năm 2003, Văn Thị Kim Cúc đã tiến hành Việt hóa và sử dụng thang đo của các tác giả: Florece sordes – Adler, Gwenaelle Lévêque, Nathalie Oubrayrie, Clare Safort – Mottay bao gồm các lĩnh vực: các tôi thể chất, cái tôi học
đường và cái tôi cảm xúc để Tìm hiểu sự ĐG bản thân (TĐG) của trẻ 10-15 tuổi
Kết quả cho thấy trẻ từ 10-15 tuổi có TĐG khác nhau ở từng lĩnh vực cụ thể Khi TĐG, các em nhỏ tuổi hơn và các em nam có TĐG cao hơn ở cái tôi học đường và thấp hơn ở cảm xúc tiêu cực so với các em lớn và các em nữ [8;23] Khi nghiên
cứu: Tác động của mức độ kỳ vọng của cha mẹ tới sự ĐG bản thân của trẻ 16-17
tuổi ở Hà Nội (2005), bà đã nhận xét ảnh hưởng của mức độ kỳ vọng của bố mẹ và TĐG của trẻ không giống nhau ở các lĩnh vực khác nhau Các em có bố mẹ đặt kỳ vọng phù hợp với sức mình, TĐG về mặt “cảm xúc”, “học đường” cao hơn một cách có ý nghĩa với những em có bố mẹ đặt kì vọng quá sức hay bố mẹ không mong
Trang 15đợi gì.[7;21-22] Tóm lại, việc đặt kì vọng không đúng của cha mẹ gây ra những khó khăn về cảm xúc và cản trở đời sống học đường của trẻ
Đỗ Ngọc Khanh dựa trên lý luận và thang đo “Perceived compentence scale for chilren” của S.Harter phát triển năm 1979 (có bổ sung sửa đổi) để tìm hiểu TĐG của HSTHCS ở Hà Nội (2005) Ngoài bốn nội dung cơ bản trong thang đo của Harter, tác giả đã bổ sung thêm nội dung đạo đức và lí giải “Trong văn hóa của người Việt Nam, ĐG hay TĐG của một con người sẽ không là đầy đủ nếu bỏ qua mặt đạo đức.…”[21;40] Theo kết quả, HS THCS ở Hà Nội có TĐG tổng thế ở mức
độ trung bình; TĐG các mặt cụ thể như: học tập, đạo đức, xã hội ở mức trung bình cao; TĐG thể chất và cảm xúc ở mức trung bình thấp TĐG về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập và cảm xúc tích cực liên quan đến quan hệ xã hội [22;36] Văn Thị Kim Cúc và Đỗ Ngọc Khanh đã tạo ra hướng mới trong nghiên cứu TĐG ở Việt Nam Đó là sử dụng các thang đo để ĐG tổng thể và các mặt cụ thể của bản thân Việc xác định rõ các nội dung TĐG sẽ giúp TĐG chính xác và cụ thể hơn Đồng thời, mở ra hướng bổ sung những nội dung của TĐG phù hợp với người Việt Nam, ví dụ, TĐG hành vi ý chí hay PCYC
Ngoài ra, có một số nghiên cứu đáng chú ý về TĐG như đề tài “Những yếu tố tác động đến TĐG của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh” của Ngô Thị Đẹp tập
trung làm rõ ảnh hưởng của gia đình đến TĐG Theo tác giả, có hai yếu tố chính: yếu tố bên trong (sự quan tâm của gia đình, thái độ, phong cách giáo dục của cha mẹ) và yếu tố bên ngoài gia đình (bạn bè và thầy cô) Kết quả nghiên cứu khẳng định yếu tố bên trong gia đình tác động mạnh đến TĐG của sinh viên[10] Điều này gợi ý rằng, vì yếu tố bên trong gia đình tác động mạnh đến TĐG của trẻ, khi nghiên cứu TĐGCPCYC cần quan tâm đến đặc điểm gia đình; thái độ của cha mẹ và những người thân của trẻ
Tóm lại, qua phần lược sử trên có thể thấy đây là vấn đề rất phức tạp, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện và đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên do tầm quan trọng của vấn đề đối với công tác giáo dục nói chung, giáo dục thế hệ trẻ nói riêng, vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm
Trang 161.2 Lý luận tâm lý học về TĐG
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
TYT, TĐG là những thành phần cơ bản của của nhân cách Vì thế khi nghiên
cứu TĐG cần tiếp cận trong mối liên hệ với các khái niệm cơ bản đó
1.2.1.1 Tự ý thức
Theo quan điểm duy vật biện chứng, TYT là một trong những yếu tố cấu
thành nên ý thức Bản chất của TYT là “ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài” [3;209-210] Con người nhận thức mình như một
thực thể hoạt động có cảm giác tư duy, hành vi, đạo đức và vị trí trong xã hội TYT
có nguồn gốc từ hoạt động và giao tiếp của cá nhân, con người chỉ nhận thức bản chất của mình trong quan hệ với người khác, trong hoạt động cải tạo thế giới Trong quá trình đó, con người tự điều khiển bản thân theo các quan hệ, các quy tắc, chuẩn mực do xã hội đề ra Từ đây, vai trò của TYT là động lực điều khiển điều chỉnh hành vi để tự hoàn thiện bản thiện bản thân Những vấn đề lý luận về TYT của triết học Mác - xít là phương pháp luận chỉ đạo nghiên cứu TYT trong tâm lý học Thực
tế đã chứng minh, các nhà tâm lý học lỗi lạc của Liên Xô (cũ) như: L.X.Vygotsky, A.N.Leonchiev, X.L.Rubinstein,… đã giải quyết các vấn đề ý thức và TYTtrên cơ
sở triết học Mác – Lênin
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư
Việt Nam, TYT là: “Việc con người nhận thức và ĐG bản thân mình về hiểu biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng của mình với tư cách là một nhân cách đang
tư duy và hoạt động có ý thức Nhờ TYT, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó TYT hình thành không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ…”[42]
Theo từ điển tâm lý học do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ biên, TYT
được xem như là “quan niệm về cái tôi”, “hình ảnh cái tôi” của cá nhân – đó là “Hệ thống biểu tượng của con người về bản thân tương đối ổn định, ít nhiều được ý thức, được trải nghiệm như là một hệ thống độc nhất vô nhị mà trên cơ sở của nó,
Trang 17cá nhân xây dựng sự tác động qua lại của mình với những người khác, với thế giới bên ngoài”[18;18]
Về mặt thuật ngữ, những định nghĩa trên có điểm chung là xem TYT là ý thức con người hướng về bản thân mình, nhận thức về sự tồn tại, hành động, suy
nghĩ,… của cá nhân TYT còn là ý thức về vị trí, giá trị của mình trong mối quan hệ
với những người xung quanh
Trong tâm lí học TYT là một trong những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu nhân cách Các nhà nghiên cứu đã xem xét vấn đề này theo các cách tiếp cận và các
góc độ khác nhau, cụ thể:
Theo V.A Kruchetxky, TYT là sự nhận thức bản thân như là một thành viên của các mối quan hệ với thế giới xung quanh, với những người khác về các hành vi, hoạt động, suy nghĩ, cảm giác, toàn bộ các phẩm chất đa dạng của nhân cách [11;43]
Theo K.K Plantônôp, TYT là sự phản ánh của mỗi người về vai trò của nó
trong tập thể và xã hội Sự nhận thức của con người về “cái tôi”, các hành vi của
mình và sự điều chỉnh tích cực chúng trong xã hội.[11;43]
Phạm Minh Hạc cũng khẳng định: “ở đây ý thức xuất hiện như năng lực hiểu được chính mình: gọi là TYT Đó là năng lực phân tích các hiện tượng tâm lý trong
ta, diễn biến của nó, dự kiến kết quả và khi có kết quả thì phân tích lợi hại,…của kết quả”.[13;62]
Phân tích những định nghĩa trên có thể hiểu bản chất của TYT là khả năng
nhận thức bản thân, từ những quá trình tâm lý như: nhận thức, xúc cảm, YC,…đến mối quan hệ của cá nhân với xã hội: vị thế, vai trò trong tập thể,… TYT còn thể hiện khả năng phân tích các hiện tượng tâm lí, từ diễn biến đến kết quả và ĐG kết quả của các hành động ấy Đáng chú ý định nghĩa của Plantônôp đề cập khả năng điều khiển, điều chỉnh tính tích cực tất cả các hoạt động tâm lý của cá nhân trong mối quan hệ xã hội Điều này có nghĩa TYT không chỉ dừng lại ở nhận thức toàn bộ đặc điểm tâm lý (nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ) mà còn điều khiển, điều chỉnh quá trình nhận thức đó phù hợp với xã hội mà nhân cách đó là thành viên
Trang 18Tóm lại, theo quan điểm Mac-xit, TYT là năng lực hiểu chính mình, sự ĐG tổng thể về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống Như S.Franz đã định nghĩa:
“TYT là ý thức về chính bản thân mình, là sự trở nên có ý thức đối với những hiểu biết về bản thân, sự trở nên có ý thức về những xúc cảm riêng của bản thân”.[18;18] Đây là cơ sở quan trọng để tìm hiểu khái niệm TĐG và các vấn đề
quan trọng khác của nó
Về mặt cấu trúc, theo quan điểm của các nhà tâm lý học, TYT được cấu thành từ những mặt khác nhau, phát triển theo các cấp độ khác nhau
Với I.Côn, hình ảnh cái tôi (TYT) bao gồm ba yếu tố phụ thuộc lẫn nhau:
- Nhận thức - sự hiểu biết về bản thân, biểu tượng về những phẩm chất và thuộc tính của mình,
- Xúc cảm – sự TĐG những phẩm chất và lòng tự ái, có liên quan đến TĐG
- Một hệ thống tự xác định những ý kiến TĐG về mặt đạo đức - xã hội
Trong đó, ông khẳng định việc ý thức những phẩm chất tâm lý của mình và
sự TĐG có ý nghĩa to lớn trong nhất ở tuổi thiếu niên và tuổi thanh niên.[28;7]
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng TYT là mức độ phát triển cao của ý thức, thể hiện ở các mặt:
- Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội
- Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, TĐG
- Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác
Trang 19- Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình [39;67]
Nhìn chung, các tác giả trên thống nhất cấu trúc của TYT bao gồm ba mặt: nhận thức, thái độ và mặt năng động tương tự như cấu trúc của ý thức TYT phát triển đến một mức độ nhất định sẽ xuất hiện TĐG TYT là một quá trình phát triển mang tính logic, chặt chẽ, từ đơn giản đến phức tạp, từ ý thức về cá nhân đến ý thức
về chủ thể và cuối cùng là ý thức về nhân cách của bản thân mà TĐG là biểu hiện cao nhất của nhất TYT Vì vậy, TYT, TĐG là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách
Về mặt nội dung, TYT bao gồm toàn bộ những đặc điểm của cá nhân, từ vẻ bên ngoài đến đặc điểm tâm lý, phẩm chất nhân cách đến vị thế của cá nhân trong mối quan hệ xã hội
Theo các nhà tâm lí học, ở từng giai đoạn khác nhau, phù hợp với sự phát triển nhân cách, hoạt động chủ đạo mà một số nội dung của TYT được bộc lộ Cụ thể, thiếu niên quan tâm nhiều đến vẻ bề ngoài của mình còn thanh niên đặc biệt nhạy cảm với những vấn đề tâm lý “bên trong” A.N.Lêôchiep cho rằng trẻ ban đầu quan sát bản thân và những người xung quanh một cách cục bộ, theo từng phần riêng biệt, sau đó nhận thức của chúng mang tính khái quát hơn và bản chất hơn[19;267] Cùng quan điểm này, X.Côn viết: các thuộc tính nhân cách khái quát dần chiếm chỗ của các phẩm chất tình huống trong việc mô tả của HS lớn.[5; 84] Như vậy, nội dung của TYT rất phong phú, thay đổi theo lứa tuổi, hoạt động chủ đạo như là nét cơ bản của nhân cách trong giai đoạn đó
Tóm lại, khi phân tích khái niệm TYT chúng tôi rút ra một số kết luận ban đầu sau:
1/ TYT là hình thức phát triển cao của ý thức Nên cấu trúc của TYT tương
tự như cấu trúc của ý thức, bao gồm: nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân
2/ Bản chất của TYT là khả năng hiểu bản thân, “năng lực phân tích các hiện tượng tâm lý trong ta, diễn biến của nó, dự kiến kết quả và khi có kết quả thì phân tích lợi hại,…của kết quả”
Trang 203/ Nội dung của TYT rất phong phú và phát triển không giống nhau ở mỗi cá nhân cũng như mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau, từ bên ngoài vào bên trong, từ phân biệt đến khái quát, từ đơn giản đến phức tạp,… Có thể nói, nội dung TYT phát triển cùng với sự phát triển của trình độ lý luận và những yêu cầu của hoạt động học tập và giao lưu của lứa tuổi
4/ TYT phát triển đến giai đoạn nhất định sẽ xuất hiện TĐG TĐG là một mặt biểu hiện, mức độ phát triển cao của TYT
Những kết luận trên là tiền đề, cơ sở để xem xét khái niệm TĐG và những vấn đề cơ bản có liên quan
1.2.1.2 Tự đánh giá
Trước tiên, chúng tôi muốn làm rõ khái niệm ĐG Theo từ điển Tiếng Việt,
“ĐG” là: 1 Ước tính giá tiền 2 Nhận định giá trị [29; 294] Như vậy, về mặt từ ngữ,
ĐG là nhận thức giá trị của người hay vật Nếu hiểu theo nghĩa này, TĐG có nghĩa
là nhận thức giá trị của bản thân mình
Từ điển Tâm lí học định nghĩa TĐG là “Cá nhân ĐG chính mình, ĐG những năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với những người khác Giá trị mà cá nhân gán riêng cho mình hoặc cho những phẩm chất riêng biệt của mình” [9;964] Các
tác giả cũng đã nêu ra một số yếu tố như: mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, tính
phê phán, tính đòi hỏi, mối quan hệ giữa thành tích và thất bại của cá nhân,…, có
liên quan chặt chẽ với TĐG, trong đó, ĐG của những người xung quanh và mức độ thành công của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành TĐG Ngoài
ra, ở đây cũng đề cập đến hai chức năng chính của TĐG là điều chỉnh và bảo vệ nhân cách Như vậy, nội dung trên đã chỉ ra bản chất tâm lí, các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG, xác định vai trò của nó trong sự phát triển của cá nhân Những vấn đề cơ bản này của TĐG sẽ được làm rõ ở các phần sau
Do có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau nên cũng có nhiều định nghĩa TĐG Chúng tôi sẽ xem xét một số định nghĩa để xác định khái niệm phù hợp cho
đề tài này
Trang 21W.James là người đầu tiên đưa ra định nghĩa, theo đó TĐG là “Ý thức về giá
trị của cái tôi” (1892) Như đã đề cập ở trên, ông quan niệm cái tôi là một cấu trúc
gồm nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực có một giá trị nhất định Giá trị này được xác định khi cá nhân có xây dựng kì vọng của mình trong lĩnh vực đó hay không Từ đây ông đưa ra công thức về TĐG như sau:
TĐG Thành tích cá nhân (thành công hay thất bại) (1)
Kì vọng mong muốn đạt thành tích ấy (2)
Từ đó suy ra mức độ TĐG là: khi (1) ≥ (2): TĐG cao; còn khi (1) < (2): TĐG thấp Phạm vi của công thức này chỉ giới hạn trong những lĩnh vực quan trọng đối
với cá nhân, bởi vì theo phân tích của James, “việc không thành công trong lĩnh vực
mà cá nhân không kì vọng sẽ không ảnh hưởng nhiều đến TĐG bởi vì nó được xem
là không đáng kể” [40;18]
Đóng góp của W James là chỉ ra yếu tố bên trong cá nhân ảnh hưởng mạnh
mẽ đến TĐG Khái niệm này đã xác định giá trị như là yếu tố nền tảng trong TĐG
bản thân, tuy nhiên chưa thể hiện rõ cơ chế hình thành TĐG Cách tiếp cận giá trị
này đã được các nhà nghiên cứu sau đó kế thừa
Cho rằng có quá nhiều thuật ngữ chỉ cái tôi (tự ý thức, tự mô tả, tự điều
chỉnh, TĐG, tự xác định giá trị,…), Harter đã phân biệt khái niệm “tự mô tả” description) (tôi là gì ) và “TĐG” (self-evaluation) (tôi tốt như thế nào) Theo bà,
(self-TĐG là việc cá nhân xem xét bản thân tích cực hay tiêu cực, gắn giá trị cụ thể cho các thuộc tính của bản thân [18;3] Harter cũng phân biệt TĐG bao gồm TĐG khái
quát và TĐG những lĩnh vực đặc trưng TĐG khái quát là nhận thức giá trị của cá nhân như một con người, thể hiện ĐG những đặc tính tổng thể của cá nhân, ví dụ:
“Tôi là người quan trọng” TĐG lĩnh vực cụ thể phản ánh ĐG của cá nhân đối với
các thuộc tính của những lĩnh vực cụ thể: nhận thức (tôi là người thông minh), xã hội (tôi tốt giống như các bạn), thể chất (tôi giỏi thể thao), cảm xúc,… [40;5]Hạn chế của Harter là chưa làm rõ mối quan hệ giữa hai mức độ TĐG này và chưa đề cập đến vấn đề liệu TĐG trong một lĩnh vực cụ thể có thể dự đoán được TĐG khái quát không, ngược lại, TĐG khái quát ảnh hưởng như thế nào đến TĐG lĩnh vực cụ
Trang 22thể…Sự phân biệt hai mức độ TĐG của Harter đã khẳng định lần nữa tính đa phương diện và đa cấp bậc của TĐG Điều này đưa đến lưu ý rằng cần xác định lĩnh vực cụ thể cũng như mối liên hệ giữa các mức độ TĐG khi nghiên cứu vấn đề này
Rosenberg xem TĐG là thuật ngữ chỉ một dạng đặc biệt của thái độ, thái độ này dựa trên cơ sở nhận thức ý kiến về giá trị của cá nhân như một con người.[43;16] Ở đây không chỉ nhận thức bản thân mà còn là nhận thức những ý
kiến về bản thân, từ đó, cá nhân sẽ hình thành thái độ với chính mình Nhưng việc hình thành thái độ đối với chính mình rất phức tạp vì đối tượng của quá trình nhận thức cũng là chủ thể của nó và thái độ của cá nhân liên quan đến việc họ ĐG như
thế nào về “giá trị” của mình: Một cá nhân đơn giản cảm thấy rằng anh là một người có giá trị; anh ta tôn trọng bản thân như những gì anh ta là như vậy, nhưng không kính sợ bản thân cũng không mong người khác kính sợ anh ta” [43;16] Nhìn
chung, định nghĩa của Rosenberg cũng xem bản chất của TĐG là “giá trị của cái
tôi” như các tác giả trên Ngoài ra, ông còn chỉ ra TĐG là một dạng đặc biệt của thái độ, trong đó thái độ quan trọng nhất là tôn trọng hay không tôn trọng bản thân
Tuy nhiên, khái niệm của ông mang tính khái quát cao, chưa chỉ ra cơ chế hình thành TĐG Khi đề cập đến thái độ, Rosenberg có điểm tương đồng nhất định với quan điểm của A.I.Lipkina, một nhà tâm lí học Mac-xit
Theo A.I.Lipkina, TĐG là “thái độ của con người đối những năng lực, những khả năng, những phẩm chất nhân cách cũng như đối với toàn bộ bộ mặt bên ngoài của mình”[18;24] Như vậy, TĐG là quá trình con người hình thành thái độ
với chính bản thân Bà cũng nêu cụ thể những nội dung của TĐG, đó là toàn bộ con người của cá nhân với vẻ bên ngoài và đặc điểm tâm lý bên trong, với những cái đã
có và sẽ có trong tương lai
V.P.Levovic đã phát biểu:“TĐG là giai đoạn phát triển cao của TYT nó bao gồm không chỉ sự nhận thức về bản thân mà cả sự ĐG đúng sức lực, khả năng và thái độ phê phán đối với bản thân” [18;24] Định nghĩa này lần nữa khẳng định mối
quan hệ giữa TYT và TĐG và hai yếu tố cơ bản của TĐG: nhận thức và thái độ đối
với bản thân Không xem TĐG là thái độ chung chung, ông đề cập đến TĐG đúng,
Trang 23tức là sự ĐG phù hợp, chính xác những đặc điểm bên ngoài và bên trong của cá nhân Đây chính là một trong những đặc điểm của TĐG, thể hiện khả năng xác định đúng mức độ các đặc điểm tâm lý, nhân cách của cá nhân
Quan niệm này có điểm tương tự quan điểm S.Franz, theo bà TĐG “đó là nhận thức của cá nhân về mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý của phương thức, thái độ,… đang tồn tại ở bản thân”[18; 25] Bà xem TĐG là một dạng đặc biệt
của hoạt động nhận thức, tương ứng với ba quá trình đầu tiên của tự nhận thức:
- Những quá trình cung cấp tài liệu ban đầu;
- Những quá trình dẫn đến sự xác định đơn giản về bản thân;
- Những quá trình dẫn đến sự TĐG;
- Những quá trình dẫn đến sự tự phê phán
Từ đó Franz xác định cơ chế hình thành TĐG, gồm bốn bước:
Bước 1: cá nhân tiếp nhận thông tin;
Bước 2: cá nhân xử thông tin;
Bước 3: cá nhân xác định các hiện tượng tâm lý đang tồn tại ở mức độ nào;
Bước 4: cá nhân phát biểu về bản thân dưới dạng TĐG
Xuyên suốt các bước này là hệ thống các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội đã được cá nhân đúc kết như là một thang đo chuẩn để cá nhân so sánh, nhận xét mình
Cách tiếp cận của Franz đã làm sáng tỏ một số vấn đề phức tạp của TĐG
Trước hết, bản chất của TĐG là quá trình tự nhận thức có đối tượng là: mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lí của cá nhân Như vậy, TĐG chỉ xảy ra khi nhận thức
phát triển ở trình độ cao, có khả năng phân biệt những các hiện tượng tâm lí và những biểu hiện cụ thể của nó Từ đó, ta có thể hiểu cơ chế hình thành TĐG: trên cơ
sở những hiểu biết các đặc điểm của mình, các hiện tượng tâm lý ở bản thân, cá
nhân ĐG mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý đó Nắm được cơ chế, ta có
thể điều chỉnh TĐG qua việc tác động vào quá trình nhận thức cá nhân Lí luận này gợi ý cho chúng tôi xây dựng chương trình thử nghiệm của đề tài
Quan điểm của Franz và một số tác giả trên giúp chúng tôi rút ra một số vấn
đề trọng tâm về TĐG làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề thực tiễn của đề tài này:
Trang 24Một là, tiếp cận giá trị của James, Harter,… được đề cao khi nghiên cứu TĐG khái quát và các lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, khi xem bản chất của TĐG là thái
độ về giá trị của bản thân, thì việc bày tỏ thái độ với các đặc điểm nhân cách liên quan đến một hệ thống giá trị và động cơ của cá nhân là vấn đề hết sức phức tạp Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến TĐG các PCYC, vì thế, nếu xem TĐG là một hoạt động nhận thức đặc biệt, các vấn đề cơ bản (bản chất, nội dung,
đặc điểm, vai trò, cơ chế …) của nó sẽ sáng tỏ hơn Từ đó chúng tôi xem TĐG là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt, là khả năng xác định mức độ các hiện tượng tâm lý ở bản thân cá nhân Cơ chế của nó là thu thập, xử lý thông tin và xác
định mức độ tồn tại của các hiện tượng tâm lý và phát biểu dưới dạng TĐG Những vấn đề về nội dung, vai trò của TĐG sẽ được phân tích ở các đề mục sau
Hai là, nắm được cơ chế sẽ dễ dàng nghiên cứu quá trình hình thành TĐG, các yếu tố tác động đến quá trình hình thành TĐG Đặc biệt, theo cơ chế này, chúng
ta có thể điều chỉnh TĐG thông qua tác động đến quá trình nhận thức của cá nhân Điều chỉnh TĐG là giúp cá nhân có TĐG phù hợp, khách quan từ đó tự điều chỉnh,
tự giáo dục và hoàn thiện nhân cách Đây là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi xây dựng chương trình thử nghiệm tác động đến TĐG của HS
Ba là, nhiều nhà tâm lý học xem TYT, TĐG là hạt nhân của nhân cách Nghiên cứu nhân cách là công việc khó khăn và phức tạp, nghiên cứu TĐG còn khó khăn hơn nữa vì không phải ai cũng sẵng sàng bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, ĐG về mình Khả năng TĐG của mỗi người khác nhau tùy theo trình độ nhận thức, hoàn cảnh sống và hàng loạt các yếu tố khác nên không phải lúc nào đó cũng là nguồn tài liệu quý giá và đáng tin cậy nhất khi tìm hiểu về nhân cách Cần có sự quan sát và đối chiếu với những người xung quanh để có được kết luận khách quan nhất
1.2.2 Nội dung của tự đánh giá
TĐG là mức độ cao của TYT nên nội dung của TYT cũng quy định nội dung của TĐG Tuy nhiên, TĐG là một hoạt động nhận thức đặc biệt nên có đối tượng (nội dung) riêng của nó Điểm qua một số quan điểm: liệt kê thuần túy; xem xét nội
Trang 25dung TĐG gắn với mức độ phát triển năng lực nhận thức và xem xét nội dung TĐG dựa trên đặc trưng lứa tuổi, chúng ta sẽ hình dung được các nội dung cơ bản của nó
Như đã đề cập ở trên, Harter nghiên cứu TĐG ở các nội dung cụ thể của cái tôi, cụ thể: nhận thức (khái niệm học tập), giao tiếp, thể thao, cảm xúc Sau đó bà tiếp tục bổ sung thành 9 nội dung: khả năng học tập, khả năng công việc, khả năng thể thao, hình thức thể lực, sự chấp nhận xã hội của bạn cùng lứa, mối quan hệ bạn thân, tình yêu, mối quan hệ với cha mẹ, đạo đức[21;40-41] Các nội dung của TĐG liên quan chặt chẽ với cấu trúc cái tôi và thể hiện nhiều mặt trong đời sống tâm lí cá nhân Tuy nhiên, các nội dung này vẫn chưa bao quát hết các khía cạnh trong đời sống tâm lí con người, cần xem xét các hướng nghiên cứu khác
Theo P.R.Tramata, các nội dung TĐG không xuất hiện cùng một lúc TĐG diễn ra theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu, đứa trẻ TĐG giới hạn trong những hành động, hành vi
- Giai đoạn hai, TĐG bao gồm cả những trạng thái nội tâm, khả năng và những phẩm chất đạo đức Sự hình thành giai đoạn hai - giai đoạn cao của TĐG bắt đầu từ tuổi vị thành niên kéo dài suốt cuộc đời con người cùng sự phát triển của trình độ nhận thức và tích lũy kinh nghiệm [18;31]
Nhà tâm lý học người Nga I.A.Paloxova đã chỉ ra con đường phát triển nội dung của TĐG như sau:
- Khả năng dự đoán trước kết quả cụ thể của những hành động riêng lẻ
- Khả năng ĐG những năng lực riêng của mình
- Có sự hình dung khái quát về những khả năng của mình, những khát vọng của bản thân đạt được đích ở những mức độ nhất định trong hoạt động xác định
- Sự hình dung cá nhân về nhân cách của bản thân Đây là mức độ cao nhất của TĐG [18;30]
Như vậy, nội dung TĐG gắn với mức độ phát triển năng lực nhận thức diễn
ra theo chiều hướng: từ cái bên ngoài đến bên trong, từ đơn giản đến phức tạp, từ những hành vi có thể quan sát được đến những diễn biến tâm lý bên trong chỉ phân tích được bởi tư duy lý luận phát triển cao
Trang 26Các nhà tâm lí học Mác-xít đã thống nhất rằng nội dung của TĐG rất phong phú và phức tạp Toàn bộ những gì liên quan đến cá nhân từ ngoại hình đến đặc điểm tâm lý, nhân cách bên trong, hành động, các mối quan hệ của hệ cá nhân,… đều có thể trở thành nội dung của TĐG ở một giai đoạn nào đó
Sự quan sát, nhận xét người khác và bản thân thay đổi và phát triển theo lứa
tuổi: các phẩm chất nhân cách càng được chú trọng, những đặc điểm bên ngoài dần nhường chỗ các đặc điểm bên trong, sự phân tích ĐG bản thân của trẻ phức tạp hơn, sâu sắc hơn HS tiểu học quan tâm nhiều đến những hành động, sự kiện cụ thể,
mối quan hệ với giáo viên, nhiệm vụ học tập Ở tuổi thiếu niên, các em chú ý đến vẻ bên ngoài rồi đến nhận xét những hiểu biết, năng lực trí tuệ, YC, cảm xúc, thái độ đối với lao động của bạn bè và bản thân Đến lứa tuổi THPT, nội dung của TĐG có chiều sâu hơn Lê Văn Hồng nhận xét: HS THPT vẫn tri giác vẻ bên ngoài của bản thân (soi gương, chú ý sửa tư thế, quần áo,…) như tuổi thiếu niên, sau đó chú ý đến những đặc điểm tâm lý của mình theo quan niệm về mục đích cuộc sống: đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng; chú ý đến động cơ và rung động, vị trí của bản thân trong xã hội, trong tương lai rồi cuối cùng là nhân cách của mình với những thuộc tính cơ bản của nó [17;73-74] Các em có thể TĐG những năng
lực và phẩm chất trong một nhân cách thống nhất, như Cruchesky viết:“…HS lớn (THPT) đã biết ĐG toàn bộ nhân cách của mình, toàn bộ những thuộc tính nhân cách, trong khi đó thanh thiếu niên thường TĐG nhân cách của mình qua những cử chỉ hành vi riêng biệt hoặc trong trường hợp tốt nhất, ĐG theo những thuộc tính và những nét riêng biệt coi đó là toàn bộ nhân cách” [6;5]
Nhưng TĐG diễn ra không đồng thời như nhau ở những phẩm chất nhân cách khác nhau Nguyễn Kế Hào cho rằng trẻ quan tâm những phẩm chất có liên
quan đến nhiệm vụ học tập trước (kiên trì, sự chú ý, chuyên cần,…) rồi đến thái độ với người khác (tính vị tha, đồng cảm, bướng bỉnh) sau là những phẩm chất thể hiện thái độ với bản thân (tính tự cao, tính khiêm tốn, tính phê bình,…) và cuối cùng là những nét tính cách tổng hợp thể hiện nhiều mặt của nhân cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng, tính nguyên tắc, tính mục đích,…)[14;46-47] Bên cạnh đó,
Trang 27HS THPT cũng ĐG cao hơn những phẩm chất đảm bảo sự thành công trong hoạt động học tập và các quan hệ với những người xung quanh [5;81][5;94] Kết quả này
do đặc điểm của hoạt động học tập, sự mở rộng quan hệ giao tiếp của lứa tuổi
Như vậy, TĐG luôn dựa vào những hoạt động nhất định và các yêu cầu của
nó nên phải xem xét TĐG trong sự phụ thuộc vào tính chất của hoạt động Điều này dẫn đến lưu ý là quá trình tự nhận thức, TĐG của cá nhân không chỉ dừng lại ở chỗ chỉ ra hoạt động này có kết quả hay không, có kết quả ở mức độ nào, các mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý mà còn có thể thử tìm hay thử phân tích nguyên nhân của các hiện tượng đó Vì vậy TĐG có thể giúp cá nhân tự điều khiển, điều chỉnh kết quả hoạt động
Tóm lại, tương tự nội dung của TYT, nội dung của TĐG rất phong phú và phức tạp Các nội dung của TĐG luôn vận động và phát triển theo từng lứa tuổi khác nhau Trình độ nhận thức, đặc điểm tư duy và hoạt động chủ đạo của mỗi lứa tuổi sẽ qui định bề rộng và chiều sâu cũng như những nội dung cụ thể TĐG của nhân cách Nội dung TĐG của HS THPT phát triển gắn liền với nhu cầu nhận thức
và hoạt động giao tiếp của các em
1.2.3 Thông số của tự đánh giá
Các nhà nghiên cứu đã nêu ra một số thông số của TĐG, như : tính ý thức, tính khái quát, mức độ, tính khách quan, tính không mâu thuẫn, tính thời điểm, tính
ổn định Tham khảo quan điểm của S.Franz, chúng tôi cho rằng TĐG có những thông số cơ bản sau:
- Tính khách quan: xét TĐG trong mối quan hệ với thực tế khách quan được ĐG
- Tính phân biệt và tính khái quát: xét theo nội dung và phạm vi hoạt động được
ĐG
- Tính ổn định: xét TĐG trong một khoảng thời gian nhất định
- Mức độ của TĐG được xem xét trong mối quan hệ với hệ thống mức độ ĐG [18;32]
Từ đây có thể đưa ra một số thông số TĐG phù hợp với HS THPT:
Trang 28xác định được mức độ của các PCYC đúng như nó có ở bản thân các em Mặc dù
HS THPT đã có năng lực tư duy khá cao nhưng rõ ràng đây là một việc rất khó khăn Đề cập đến vấn đề này X.con [5;94] nhận định sự khác biệt về đối tượng (nội dung) và phương thức TĐG đã gây nhiều khó khăn cho việc kiểm tra tính khách quan của các ý kiến TĐG Như chúng ta đã biết đối tượng TĐG của HS không giống nhau ở mỗi cá nhân, tùy theo mức độ phong phú của hoạt động giao tiếp, trình độ nhận thức mỗi cá nhân sẽ có sự nhìn nhận sự vật hiện tượng khác nhau Do
đó cần có tiêu chuẩn để xem xét tính khách quan của TĐG
1.2.3.2 Tính phân biệt và khái quát
Tính phân biệt và khái quát liên quan chặt chẽ với nội dung phản ánh và dựa trên những hoạt động khác nhau Cá nhân có khả năng ĐG mức độ biểu hiện mỗi đặc điểm tâm lý của bản thân trong các hoạt động khác nhau thì TĐG có tính phân biệt Ngược lại, từ những biểu hiện đơn lẻ của hiện tượng tâm lý ở các hoạt động khác nhau, cá nhân ĐG chung nhất các phẩm chất, năng lực,… của bản thân hoặc nhân cách một cách khái quát đó là tính khái quát của TĐG Tính phân biệt và tính khái quát các phẩm chất phát triển theo lứa tuổi, tùy theo từng hoạt động, tùy trường hợp cụ thể mà TĐG của trẻ có tính phân biệt hay khái quát
1.2.3.3 Mức độ (thấp, trung bình, cao)
Mức độ của TĐG được xét trong mối quan hệ với hệ thống mức độ ĐG Tức
là tùy theo mức độ thể hiện của các hiện tượng tâm lý của bản thân mà cá nhân xếp chúng ở vị trí nào trong hệ thống các mức độ đo Nếu TĐG của trẻ phù hợp, chính xác – phản ánh đúng thực tế các hiện tượng tâm lý của bản thân thì thông qua đó có thể hiểu được thực chất các đặc điểm, trình độ phát triển của nhân cách để có tác động phù hợp Vì thế, vấn đề này đã được nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu Hầu hết
Trang 29họ đều nghiên cứu TĐG dưới các góc độ khác nhau nên các thang đo được xây dựng chỉ tập trung vào một hoặc một vài khía cạnh của TĐG Trong đó có một thang đo được ĐG cao là: thang đo lòng tự trọng của Rosenberg (1965) (Self – Esteem), thang đo ĐG lòng tự trọng của Coopersmith (1967) (Self – Esteem Inventory), thang đo tự nhận thức của Tennesse (1967), thang đo TĐGcủa Janis and Field (1959, 1967, 1984), thang đo của S Harter (1990),…
1.2.3.4 Tính ổn định
Tính ổn định của TĐG thể hiện ở việc xem xét TĐG trong một khoảng thời gian nhất định Về đặc điểm này có nhiều tranh cãi Một số tác giả cho rằng TĐG của trẻ không có tính ổn định mà luôn biến động không ngừng G.H.Hall gọi vị thành niên là thời kì của bão tố và trầm cảm Đó là thời kì gắn liền với những xung đột và xáo trộn tâm trạng Đặc điểm này chi phối suy nghĩ, cảm xúc và hành động của trẻ trong mối quan hệ với những người xung quanh và với bản thân, vì vậy chi phối cả TĐG của trẻ [33;7] Theo Coopersmith (1967), sự thăng trầm trong TĐG là điều tự nhiên trong những tình huống va thời điểm khác nhau [44;13] Khi nghiên cứu HS Mĩ từ 15-18 tuổi, M.Rôdenbec thấy rằng có mối quan hệ giữa mức độ và tính ổn định của TĐG Nam thanh niên có TĐG thấp thường cũng có TĐG không
ổn định Rosenberg ví von bản chất hay thay đổi, thất thường của tự nhận thức và
ĐG bản thân là “áp suất không khí” [33;189] TĐG sẽ tiếp tục dao động cho đến khi trẻ tự xây dựng cho mình một hình ảnh ổn định hơn
Trong khi đó một số nhà nghiên cứu công nhận tính ổn định của TĐG Họ cho rằng tính ổn định của TĐG hình thành dần dần cùng với sự phát triển tự ý thức,
do đó, nó tăng theo lứa tuổi Càng lớn, việc mô tả bản thân của trẻ càng giảm sự phụ thuộc vào hoàn cảnh ngẫu nhiên, tình huống mà trở nên ổn định hơn Hai nhà tâm
lý học Mĩ R.Simmôn và Ph Rôđenbéc khi so sánh hình ảnh “Cái tôi” của ba nhóm
lứa tuổi HS đã phát hiện rằng tính ổn định TĐG của trẻ 12-13 tuổi thì giảm so với trẻ từ 8-11 tuổi nhưng sau tuổi 15 TĐG trở nên ổn định hơn Một số nghiên cứu ở CHLB Đức cũng có kết quả tương tự [5;98] Tuy nhiên, TĐG của trẻ thiếu niên và
Trang 30đầu thanh niên đôi khi thay đổi rất nhanh và mức độ ổn định khác nhau ở từng cá nhân Điều này thực sự gây nhiều khó khăn cho việc nghiên cứu
Một số tác giả khác cho rằng tính ổn định của TĐG phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác như: vị trí của cá nhân trong nhóm, đặc điểm tâm lý nhân cách của cá nhân,… Ví dụ, E.I.Sovonko nhận xét rằng TĐG của HS hướng vào chính những hiện tượng được ĐG có tính ổn định cao hơn những HS định hướng vào TĐG bên ngoài Hay M.Diessler (1976) cho rằng: tính ổn định của sự TĐG phụ thuộc vào tính ổn định của tự khẳng định trong nhân cách và tính ổn định về mặt xã hội của nhóm có liên quan L.I.Bozovic và L.B.Blogonadegina khi xem xét chức năng của TĐG ổn định đã phát hiện rằng TĐG đúng và ổn định rất quan trọng Nó sẽ dẫn đến những mâu thuẫn nội tại – những mâu thuẫn này sẽ trở thành những nhân tố phát triển tâm lý
Tóm lại, chưa có sự thống nhất khi nghiên cứu tính ổn định của TĐG Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng TĐG có tính bền nhất định ở từng lứa tuổi khác nhau Nó thể hiện ở việc cá nhân TĐG mình như thế nào và giữ vững sự TĐG
đó trong từng giai đoạn nhất định Tính ổn định phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: đặc điểm tâm lý cá nhân, đặc điểm nhóm mà cá nhân tham gia cũng như vai trò của nó trong nhóm đó,… Tuy nhiên, TĐG không phải là một hiện tượng bất biến mà có sự linh động nhất định Nhờ sự linh động và ổn định của TĐG, nhân cách cá nhân mới có thể phát triển và hoàn thiện trong hoạt động
1.2.4 Chức năng của TĐG
Theo các nhà tâm lý học TĐG có hai chức năng cơ bản là điều chỉnh hành vi, hoạt động và bảo vệ sự ổn định và độc lập của nhân cách Chính hai chức năng này
đã tạo nên động lực phát triển nhân cách của cá nhân
Trước hết, TĐG có chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người Bởi TĐG của cá nhân không những chỉ ra kết quả và mức độ của
hoạt động, các mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý mà còn có thể tìm hay phân tích nguyên nhân của các hiện tượng đó Vì vậy nó giúp cá nhân tự điều khiển,
điều chỉnh hoạt động Như A.V Zakhorova đã phát biểu: “chức năng chung nhất và
Trang 31cơ bản nhất của TĐG là chức năng điều chỉnh Trong khi biểu hiện thái độ của chủ thể đối với hoạt động của mình, TĐG có thể trở thành kích thích hoặc là ức chế sự phát triển của nó” [;2152] Từ điển tâm lý cũng khẳng định: “TĐG là hạt nhân của nhân cách, là nhân tố quan trọng điều chỉnh hành vi của cá nhân” [9; 964-965]
Các loại TĐG ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách thông qua việc tác động và chi phối hành vi của cá nhân trong cuộc sống TĐG cao làm cho cá nhân chấp nhận bản thân mình, kính trọng và có thái độ tích cực đối với bản thân Người
có lòng tự trọng cao thường độc lập và ít khi bị cám dỗ Đối với những người xung quanh, họ thường có thái độ “thừa nhận” Ngược lại người có lòng tự trọng thấp thường rất hiếm khi thỏa mãn với bản thân, kinh thường và ĐG phủ định nhân cách của mình Họ thường là những người có tính xu thời, không thân thiện, tin tưởng người khác
Theo các nghiên cứu, thanh niên có xu hướng đề ra kì vọng cao, không thực
tế, ĐG quá cao năng lực và địa vị bản thân trong tập thể, chính điều này thường gây
ra những xung đột nội tâm và làm họ thất vọng Sự xung đột này thể hiện ở sự xúc động sâu sắc như: phản ứng mạnh mẽ, giận dỗi mất lòng tin, bướng bỉnh, thù địch, khó tiếp thu ý kiến của người khác, khó xác lập mối quan hệ trong nhóm,… Từ đó,
A.G Covaliov cho rằng TĐG cao thường “dẫn cá nhân đến chỗ trì trệ lạc hậu, đôi khi còn dẫn đến thoái hóa nhân cách” [18;55]
TĐG thấp cũng có hậu quả tiêu cực đến nhân cách Thậm chí, trong phân tích của X.Côn, nó có ảnh hưởng tiêu cực hơn TĐG cao Trẻ TĐG thấp dễ bị tổn thương và nhạy cảm với tất cả những gì thuộc về nhân cách, phản ứng gay gắt với những lời phê bình, chế nhạo và cả những thiếu sót của bản thân Sự khó khăn trong giao tiếp với người khác cũng làm giảm tính tích cực của nhân cách, không tin tưởng vào khả năng trong công việc và vị trí của mình trong nhóm [5;104] Cùng quan điểm trên, theo J.Santrock, trẻ có TĐG thấp sẽ có sự bất an tạm thời nhưng với một số trẻ gây ra hậu quả nghiêm trọng như: trầm cảm, tự tử, rối loạn ăn uống, phạm pháp và những vấn đề thích nghi khác,…[33;204]
Trang 32TĐG cao hay thấp đều có ảnh hưởng không tốt đến hành vi và hoạt động của
cá nhân Vì vậy, giúp đỡ để HS có TĐG khách quan là rất quan trọng để có cơ sở điều chỉnh các hoạt động của bản thân Giáo viên và người lớn cần tạo điều kiện để các em có cơ hội tự khẳng định sự trưởng thành đồng thời cũng khéo léo giúp họ có một biểu tượng “cái tôi” phù hợp
Một số nhà nghiên cứu cho rằng TĐG là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của nhân cách Điều này được Petrovsky phân tích rất kĩ [28;114] Do
ảnh hưởng của thái độ và ý kiến ĐG của những người xung quanh, trẻ hình thành thái độ riêng với bản thân và TĐG những khả năng của mình trong hoạt động và toàn bộ nhân cách Trên cơ sở TĐG đó, trẻ hình thành mức độ kì vọng nhất định, tức là mức độ thành tích mà trẻ coi là mình có thể đạt được Việc hình thành nhân cách của trẻ ở một mức độ đáng kể phụ thuộc vào mối quan hệ giữa sự kì vọng, sự TĐG, những yêu cầu đối với bản thân và các khả năng thực tế của nó Nếu kì vọng
và sự TĐG thấp hơn khả năng thực tế của trẻ có thể khiến trẻ rụt rè, không tin vào bản thân, trong quá trình phát triển có thể không biến khả năng thành hiện thực Nếu phù hợp, các kì vọng này đòi hỏi phải vận dụng toàn bộ sức lực, khiến cho tất cả các năng lực của con người phát triển mạnh mẽ Nếu các kì vọng quá cao so với khả năng buộc trẻ phải xây dựng lại TĐG và kì vọng để phù hợp hơn với mình
Xây dựng lại TĐG và kì vọng là vấn đề phức tạp do nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn giữa hệ thống quan điểm cũ với những nhận thức mới về khả năng của cá nhân Việc nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn này tạo động lực phát triển nhân cách Dưới quan điểm giáo dục, chúng ta thấy có khoảng cách nhất định giữa yêu cầu của
xã hội và mong muốn của cá nhân với khả năng thực sự của họ Mâu thuẫn này buộc trẻ phải nỗ lực phát huy những khả năng của mình Đó chính là tiền đề của tự
giáo dục Như vậy, TĐG là biểu hiện cao của tính chủ thể của nhân cách, không chỉ điều chỉnh hành vi hoạt động mà còn là động lực kích thích nhân cách phát triển
Tuy nhiên không phải lúc nào cá nhân cũng xây dựng lại TĐG và những kì
vọng cao đó mà vẫn duy trì để “bảo vệ - đảm bảo sự ổn định và độc lập tương đối của nhân cách” [9;965] Như vậy, TĐG còn có chức năng bảo vệ X.Côn xem đây
Trang 33làm một cơ chế tự vệ tâm lí xuất phát từ mong muốn có một cái tôi tích cực thường kích thích cá nhân cường điệu những ưu điểm và giảm nhẹ các nhược điểm [5;95] Nguyên nhân nữa để xác nhận vai trò bảo vệ là: khi phủ nhận, coi thường các thông tin mâu thuẫn với hình mẫu “cái tôi” đã có, các em bảo vệ lòng tự trọng của bản thân, vươn đến sự độc lập, đặc biệt là ở trẻ trai[5;102] Một số nhà nghiên cứu khác cũng ủng hộ quan điểm trên Harter chỉ ra rằng những nét tính cách được tự mô tả là tích cực: hấp dẫn, nhạy cảm, trìu mến, ham học hỏi,…được xem là cốt lõi trong nhân cách, ngược lại, những nét tính cách được mô tả là tiêu cực: xấu xí, tầm thường, yếu đuối, ích kỷ, hay lo lắng… được coi là mặt ngoài, kém quan trọng hơn Santrock còn lí giải rằng cơ chế tự vệ này là hoàn toàn phù hợp với khuynh hướng
mô tả bản thân một cách lí tưởng ở trẻ em Nhìn chung, các tác giả trên đều xem TĐG là một cơ chế tự vệ của nhân cách để giúp ổn định và duy trì TĐG tích cực đối với bản thân[33;191] Lưu ý rằng, khi thuyết phục HS rằng nó TĐG quá cao về mặt nào đó, chúng ta không được làm phá vỡ hệ thống TĐG của các em bởi vì điều này
có thể làm cho các em mất khả năng tự vệ và bị lệ thuộc [5;102]
Như vậy, TĐG không chỉ có chức năng điều chỉnh mà còn là động lực kích
thích hành động, đó là yếu tố quan trọng của khả năng tự hoàn thiện của nhân cách Ngoài ra TĐG còn có chức năng bảo vệ, giúp cá nhân duy trì TĐG tích cực, tôn trọng bản thân Do đó, nó có mối quan hệ mật thiết với giáo dục và tự giáo dục Thừa nhận vai trò quan trọng của TĐG đối với sự hình thành và phát triển nhân cách có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giáo dục HS
1.3 Khả năng tự đánh giá phẩm chất ý chí
1.3.1 Cơ sở hình thành khả năng tự đánh giá PCYC
Cơ sở hình thành khả năng TĐGCPCYC của HS THPT gồm các yếu tố về đặc điểm tâm sinh lý và môi trường sinh sống, hoạt động học tập và giao tiếp Các đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách, các mối quan hệ xã hội và hoạt động học tập của các em là các yếu tố cơ bản giúp các em hình thành sự ý thức về bản thân, trên cơ sở
đó hình thành sự TĐG các mặt phẩm chất của nhân cách, trong đó có các PCYC cá
Trang 34nhân Bởi vậy khi xem xét khả năng TĐGCPCYC của HS THPT không thể đặt ngoài các đặc điểm phát triển tâm lý, nhân cách và môi trường học tập của các em
1.3.1.1 Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ
độ có ý thức đối với học tập đã phát triển Hứng thú đối với các môn học có sự phân hóa rõ ràng và tương đối ổn định, gắn liền với xu hướng chọn nghề cho tương lai Động cơ học tập của HS THPT có sự thay đổi so với HS THCS, những động cơ thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn các môn học đối với cá nhân, khả năng tiếp thu các môn học các em) chiếm vị trí đầu, sau đó mới là động cơ nhận thức và các động cơ khác Những đặc điểm này đã thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của HS THPT
*Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Ở HS THPT, tính chủ định được phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức: tri giác, trí nhớ, đặc biệt là tư duy Do cấu trúc của não đã ngày càng phức tạp, các chức năng của não đã phát triển ở mức độ cao cùng sự phát triển của các quá trình nhận thức, ảnh hưởng của hoạt động học tập mà tư duy của các em đã
có những thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư duy lý luận, trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã học hoặc chưa học ở trường Tư duy của HSTHPT chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn, bên cạnh đó tính phê phán của nó cũng phát triển Các em có thể phân biệt được cái xác thực và cái còn đang nghi ngờ hay cái có thể, các em có phán đoán, biết tách các bản chất trong các sự vật, hiểu được nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng, gắn các hiện tượng riêng lẻ vào các vấn đề lớn,…[13;183]
Trang 35Sự phát triển đó đã ảnh hưởng đến khả năng TĐG của các em HS có khả năng phân tích những đặc điểm tâm lý bên trong, mức độ biểu hiện, nguyên nhân nảy sinh các hiện tường đó ở mức độ cơ bản; phân tích được nét tính cách trong toàn bộ nhân cách, hiểu được những vấn đề phức tạp như: cái tôi hiện thực, cái tôi
có thể và cái tôi lý tưởng; ĐG nhận xét mọi người và bản thân với thái độ phê phán,
từ đó đề ra biện pháp khắc phục những nhược điểm của bản thân, vạch ra lộ trình để đạt đến mục đích đặt ra – con đường hoàn thiện bản thân Như vậy, trình độ trí tuệ
là một trong những tiền đề phát triển TYT và TĐG bản thân
1.3.1.2 Sự hình thành nhân cách của HS THPT
Sự phát triển về trình độ nhận thức và đòi hỏi của hoạt động học tập đã thúc đẩy nhân cách HS THPT phát triển ở mức độ mới Đặc trưng của nhân cách ở lứa tuổi này là sự xuất hiện của tự ý thức, thế giới quan, giao tiếp và đời sống tình cảm,… Sự phát triển của TYT đã được đề cập ở phần trên, chúng tôi sẽ phân tích một số đặc điểm nổi bậc ảnh hưởng đến TĐG
*Thế giới quan
Sự phát triển của tư duy lý luận, trừu tượng cùng những kinh nghiệm xã hội nhất định đã tạo điều kiện để xây dựng hệ thống quan điểm riêng của mỗi cá nhân Những cơ sở của thế giới quan đã được hình thành từ lâu, khi nhân cách phát triển đến trình độ cao mới xuất hiện nhu cầu đưa những quan điểm, những tiêu chuẩn, những qui tắc,…đã biết vào một hệ thống nhất định Khi đã có hệ thống quan điểm riêng, thanh niên không chỉ hiểu thế giới khách quan (trong đó bản thân mình) mà còn ĐG và xác định được thái độ của mình với nó Điều này liên hệ chặt chẽ với TĐG của cá nhân Bởi vì TĐG chỉ có thể hình thành khi cá nhân có quan điểm riêng, có hệ thống định hướng giá trị nhất định, quan hệ thực tế và hoạt động cụ thể,
hệ thống tri thức về đời sống phát triển ở trình độ nhất định Sự hình thành thế giới quan vừa là mục đích vừa là kết quả của sự phát triển nhân cách của HS THPT, là
hệ thống định hướng giá trị để cá nhân tự nhận xét, TĐG
Trang 36*Giao tiếp
Cùng với hoạt động học tập, chọn nghề, hoạt động giao tiếp cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển nhân cách của HS THPT Các nhà tâm lý học thường
nói tuổi HS THPT là lứa tuổi có “tính tập thể” nhất.[17;77] Ở tuổi thiếu niên, chỉ
cần được tham gia vào tập thể, được sống với các bạn là đủ thì ở thanh niên trở thành người được bạn bè yêu mến, cảm thấy mình là người cần thiết cho nhóm, cho tập thể là điều quan trọng Vị trí thấp trong tập thể thường tương ứng với mức độ lo lắng cao, những em không được bạn bè yêu mến thường muốn thay đổi nhân cách của mình nhiều hơn so với các bạn Thái độ của tập thể và vị trí của cá nhân trong tập thể là một trong những tiêu chuẩn cực kì quan trọng của việc thanh niên ĐG bạn
bè và TĐG bản thân
Sự phát triển của TYT và những mâu thuẫn vốn có của nó gây ra nhu cầu muốn được chia sẻ mạnh mẽ Mỗi cá nhân vẫn luôn có những hình dung mơ hồ và chưa ổn định về bản thân nên họ có nguyện vọng kiểm tra bằng cách sắm vai người khác, bằng cách chia sẻ, đối chiếu những thể nghiệm, ước mơ của mình Cho nên, tình bạn xuất hiện một nhu cầu mới, coi bạn như một “cái tôi” khác của bản thân
Họ nhìn bạn mình như một tấm gương phản chiếu hình ảnh của bản thân.[28;13] Vì thế tình bạn ở tuổi này giúp cho cá nhân so sánh, ĐG bản thân Trên cơ sở tự phân tích, tự phê bình này cá nhân điều chỉnh mình và hoàn thiện nhân cách
Giao tiếp của HS THPT với gia đình, cha mẹ cũng có số điểm đặc biệt Nhu cầu tự lập về hành vi, về tình cảm và về đạo đức và giá trị của trẻ đã gây khó khăn cho mối quan hệ giữa họ và cha mẹ Về lý thuyết, cha mẹ là những người hiểu con cái mình nhất tuy nhiên thực tế thì cha mẹ và con cái thường không hình dung đúng
sự ĐG của người khác và TĐG của nhau Rõ ràng cha mẹ gặp khó khăn trong việc hiểu con cái (do tính tự chủ) vì họ phải ĐG “cái tôi” rất mâu thuẫn, dễ thay đổi của chúng Và việc đơn giản “cái tôi” phức tạp đó càng làm tăng sự khó khăn Thêm nữa, một số nghiên cứu cho thấy cha mẹ và con cái không hình dung đúng sự ĐG và TĐG của nhau.[5;120] Cha mẹ và con cái đều ĐG tốt về mình và ĐG tốt về nhau Tuy nhiên cả hai thế hệ đều không nhận định đúng bên kia nhận định về mình thế
Trang 37nào Cha mẹ mong đợi sự ĐG xấu từ phía con cái và ngược lại Chính sự hình dung không đúng này làm phức tạp mối quan hệ của họ Dù vậy, nhiều nhà tâm lý đã chỉ
ra rằng, do sự chuyển biến về chất, do tính chất phức tạp của các hoạt động và sự phân hóa các mối quan hệ của HSTHPT vai trò của cha mẹ không hề giảm sút mà là
bổ sung vào ảnh hưởng của bạn bè để giúp trẻ phát triển TYT và TĐG của bản thân Ngoài ra, mối quan hệ giữa HS và giáo viên ở giai đoạn này cũng có tác động nhất định đối với TYT và TĐG của các em nhất là về mặt học tập và quan hệ giao tiếp trong môi trường sư phạm
TĐG của HS được xây dựng trên cơ sở hiểu rõ những đặc điểm tâm lí bên trong, khả năng phân tích, ĐG mức độ, nguyên nhân của các hiện tượng tâm lí Vì vậy, hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ, đặc biệt là sự phát triển của tư duy lí luận, phê phán là tiền đề giúp trẻ hình thành TĐG Qua quan hệ bạn bè, gia đình và giáo viên, HS lĩnh hội các giá trị và chuẩn mực xã hội, từ đó xây dựng các tiêu chuẩn để ĐG bạn bè và TĐG bản thân Nên hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ, nhân cách, thế giới quan, mối quan hệ với những người xung quanh trẻ là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành TĐG Song rất tiếc những vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều ở nước ta trong thời gian qua Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG cũng như TĐG PCYC
1.3.1.3 Các biểu hiện của khả năng tự đánh giá PCYC của học sinh THPT
Có nhiều biểu hiện của khả năng TĐG PCYC của HS, dựa vào lí luận về TĐG, đặc biệt là các thông số của TĐG, dựa vào đặc điểm tâm lý, nhân cách và giới hạn thời gian, chúng tôi chỉ xem xét các biểu hiện sau của TĐG:
a Biểu hiện về tính khách quan
Có hai cách để kiểm tra tính khách quan của các ý kiến TĐG Một số trường hợp kiểm tra bằng cách so sánh mức độ kì vọng của cá nhân với thành tích thực cá nhân đạt được trong các hoạt động thực tế như: kết quả thi đấu thể thao, số điểm trong học tập, các số liệu trắc nghiệm, Cách này có thể sử dụng trong các trường hợp hạn hẹp, một số trường hợp khác cần đối chiếu với sự ĐG của những người
Trang 38xung quanh (cha mẹ, thầy cô, bạn bè) Muốn xét TĐG có chính xác hay không phải coi hiện thực khách quan TĐG là tiêu chuẩn để xác định sự TĐG đó đã phản ánh đúng hay chưa Tuy nhiên khó khăn chung trong nghiên cứu tâm lý là cho đến nay vẫn rất khó xác định các hiện tượng tâm lý bên trong cá nhân Vì vậy, phải dùng tiêu chuẩn bên ngoài để xem xét TĐG một cách gián tiếp với điều kiện tiêu chuẩn bên ngoài đó phải được thừa nhận phù hợp với thực tế khách quan Nên một số nhà tâm lý học (N.A.Menchinxcai, A.I.Lipkina,…) coi ĐG bên ngoài là cơ sở để xem xét TĐG của cá nhân Khi nghiên cứu TĐG HS, các tác giả thường dùng ĐG của giáo viên, tập thể, bạn bè và gia đình làm tiêu chuẩn so sánh với TĐG
*ĐG của giáo viên:
Giáo viên là người có trình độ và được đào tạo nghiệp vụ sư phạm nên nắm được các tiêu chuẩn ĐG ở trường học nói chung Họ lại thường xuyên làm nhiệm vụ
ĐG HS nên có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng Đa số giáo viên là người có tinh thần trách nhiệm nên ở góc độ nào đó đây là cơ sở quan trọng so sánh với TĐG của HS Tuy nhiên, giáo viên cũng khó tránh khỏi những thiên kiến khi ĐG, việc có thiện cảm hay ác cảm với một HS nào đó có thể ảnh hưởng nhất định đến ý kiến nhận xét Hơn nữa, thời gian họ tiếp xúc với HS không nhiều và chủ yếu là ở khối học (trừ giáo viên tiểu học) nên việc hiểu những vấn đề như PCYC chẳng hạn là việc hết sức khó khăn Vì vậy ý kiến của giáo viên trong đề tài không được xem là chỉ là một nguồn tham khảo chính
*ĐG của tập thể (bạn bè)
Bạn bè là những cá nhân gần gũi với HS trong học tập, vui chơi trong và ngoài nhà trường Thời gian, phạm vi tiếp xúc và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các em lớn hơn so với giáo viên, đặc biệt là ở trường THPT Trong tập thể HS có thể bộc lộ gần như toàn bộ những đặc điểm nhân cách của mình Trong các tập thể tốt, các ĐG được bàn bạc, trao đổi công khai để đi đến ĐG có tính chất thống nhất và tổng hợp
về các thành viên của mình Nhược điểm của ý kiến của tập thể là kinh nghiệm, hiểu biết và năng lực ĐG còn hạn chế Các em thường gặp khó khăn trong việc ĐG các bạn trong những tình huống cụ thể Tiêu chuẩn ĐG của các em ít nhiều mang tính
Trang 39chủ quan Cuối cùng ĐG của các em thể hiện tình cảm cá nhân trong mối quan hệ bạn bè Do đó, mặc dù ĐG cao ý kiến của tập thể nhưng không thể xem đây là cơ sở duy nhất để xem xét tính chính xác TĐG của HS
*ĐG của gia đình (cha mẹ HS)
Gia đình là nơi trẻ được nuôi dưỡng giáo dục Cha mẹ là những người gần gũi con cái, có nhiều thời gian để quan sát, theo dõi con cái Dù không có kĩ năng và nghiệp vụ về ĐG như giáo viên nhưng họ là người có nhiều kinh nghiệm sống, đó là nguồn tư liệu quý giá trong ĐG Vì thế với những nội dung nhạy cảm thì ý kiến của cha mẹ là nguồn tham khảo quý giá và cần thiết Tuy nhiên, ĐG của họ cũng có những hạn chế nhất định ĐG của cha mẹ về con mình thường mang tính chủ quan
và xúc cảm cao theo kiểu “con hát mẹ khen hay” Khi trẻ bước vào tuổi HS THPT
dù những đặc điểm tâm lý, nhân cách đã có phần ổn định so với tuổi thiếu niên nhưng khoảng cách quan niệm giữa cha mẹ và con cái trong nhiều vấn đề cũng là nguyên nhân gây khó khăn trong việc ĐG trẻ Dù vậy, PCYC là một trong những vấn đề nhạy cảm, nên có thể xem ĐG của cha mẹ về con cái mình là một trong những cơ sở chính yếu và quan trọng để ĐG sự chính xác của TĐG của HS THPT
Ngoài ra, khi sử dụng những tiêu chuẩn bên ngoài để ĐG đòi hỏi đảm bảo một số điều kiện nhất định
Điều kiện 1: hệ thống các mức độ ĐG để xem xét sự TĐG phải là một hệ thống phù hợp với tiêu chuẩn của xã hội
Điều kiện 2: về mặt nội dung mọi sự phát biểu về TĐG và ĐG bên ngoài đều phải dựa vào cùng một hoàn cảnh điều kiện này được sơ đồ hóa như sau:
Hệ thống các mức độ Tiêu chuẩn xã hội
Trang 40Nếu thỏa mãn hai điều kiện trên, có thể coi ĐG bên ngoài là cơ sở để nhận xét TĐG Tính khách quan của TĐG phụ thuộc vào nhiều yếu tố: các dạng hoạt động khác nhau, quá trình thực hiện các hoạt động, tính tích cực xã hội của cá nhân… Cá nhân nào càng tham gia vào nhiều hoạt động khác càng hiểu rõ bản thân mình hơn Vì thế tính tích cực xã hội cao, cá nhân càng ĐG mình phù hợp hơn, khắt khe hơn.[18;34]
Như vậy, TĐG khách quan là ĐG đúng mức độ tồn tại của các hiện tượng tâm lý, ý thức Có hai phương pháp để xem xét tính chính xác của TĐG: so sánh kì vọng với kết quả thực tế đạt được, so sánh với ĐG bên ngoài (giáo viên, bạn bè, cha mẹ) Khi sử dụng các ý kiến bên ngoài (ĐG các phẩm chất YC) cần đáp ứng 2 điều kiện để các ý kiến đó có giá trị thực sự Ở đề tài này, các ý kiến ĐG của cha mẹ và tập thể khối (đại diện là ban cán sự ) là có giá trị hơn cả, đặc biệt là nhận xét của cha
mẹ là nguồn tài liệu quý giá để có thể xem xét tính khách quan của TĐG của trẻ
b Biểu hiện theo mức độ
Theo nhận xét của M Savonko, E.I Mylius,…, mức độ TĐG phụ thuộc vào nhiều yếu tố: lứa tuổi, hình ảnh bản thân, hình ảnh bên ngoài… Dieβler cho rằng mức độ TĐG ở mỗi lứa tuổi khác nhau không giống nhau HS nhỏ thường ĐG cao bản thân một cách không phê phán, HS lớn thường TĐG thấp, đặc biệt là ở trẻ gái Savonko nhìn nhận rằng những HS dựa vào những ĐG bên ngoài để TĐG thường
có TĐG cao, còn những HS dựa vào những đặc điểm của chính bản thân thường có TĐG thấp hơn và chính xác hơn Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng kết quả học tập không chỉ ảnh hưởng đến mức độ của TĐG trong học tập mà còn ở các khía cạnh nữa Cụ thể, HS có thành tích học tập tốt thường TĐG cao ở các lĩnh vực hoạt động khác [18;21]
Nhìn chung, mức độ là một trong những đặc điểm quan trọng của TĐG Muốn xác định được mức độ của TĐG, cá nhân phải tự xây dựng cho mình một hệ thống các mức độ của các hiện tượng tâm lý Mức độ của TĐG bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau vì thế cần xem xét nó trong từng lĩnh vực và lứa tuổi cụ thể