hay
Trang 1NGUYỄN MINH KHÔI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LÚA J02 VÀ ĐS1
TẠI PHÚ LƯƠNG - THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2NGUYỄN MINH KHÔI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT THÂM CANH GIỐNG LÚA J02 VÀ ĐS1
TẠI PHÚ LƯƠNG - THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: trồng trọt
Mã số : 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Khôi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu tận tình của các cấp lãnh đạo, các tập thể, cá nhân và gia đình
Trước tiên, cho phép tôi bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Đặng Quý Nhân đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện cũng như hoàn chỉnh luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến lãnh đạo và cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Phú Lương - Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Toàn bộ thí nghiệm trong luận văn được thực hiện tại xã Ôn Lương - Phú Lương - Thái Nguyên Tại đây tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo mọi điều kiện của lãnh đạo xã Ôn Lương cũng như sự giúp đỡ của bà con nông dân trong xã trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên khích lệ tôi
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả những
sự giúp đỡ quý báu này
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Khôi
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng, hình trong luận văn vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu tổng thể 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu phân bón trên thế giới 12
2.2.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới 14
2.3 Tình hình sản xuất nghiên cứu lúa ở Việt Nam 15
2.3.1 Tình hình nghiên cứu phân bón ở Việt Nam 20
2.3.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam 24
2.3.3 Những kết quả nghiên cứu về khoảng cách cấy 27
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Nội dung nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Đối tượng nghiên cứu 29
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 34
Trang 63.5.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển 34
3.5.2 Chiều cao của cây và khả năng chống đổ 34
3.5.3 Khả năng đẻ nhánh 35
3.5.4 Các chỉ tiêu về sâu hại 35
3.5.5 Đánh giá phẩm chất, chất lượng các giống lúa 38
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu 41
4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa tham gia thí nghiệm 45
4.3 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa ở từng công thức thí nghiệm 49
4.4 Chiều cao cây và khả năng chống đổ của các giống lúa thí nghiệm 60
4.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh 64
4.6 Năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm 70
4.7 Phẩm chất và chất lượng các giống lúa 77
4.8 Hiệu quả kinh tế của đề tài 80
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
5.1 Kết luận 84
5.1.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển của lúa 84
5.1.2 Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa trong thí nghiệm 84
5.1.3 Chiều cao cây của các giống lúa trong thí nghiệm 84
5.1.4 Đối với khả năng chống chịu sâu, bệnh hại 85
5.1.5 Năng suất thực thu của các giống lúa trong thí nghiệm 85
5.1.6 Chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm 85
5.1.7 Hiệu quả kinh tế 85
5.2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN và PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
(International Rice Research Institute)
KL1000 hạt : Khối lƣợng 1000 hạt
NHH : Nhánh hữu hiệu
NTĐ : Nhánh tối đa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây 5 Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2009 6 Bảng 2.3 Sản xuất lúa ở Việt Nam qua các thời kỳ 16 Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 6 năm
2011 ở huyện Phú Lương Thái Nguyên 42 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh trưởng, phát
triển của các giống lúa trong thí nghiệm 1 47 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phương pháp làm mạ và mật độ cấy đến thời gian
sinh trưởng phát triển của các giống lúa trong thí nghiệm 2 48 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến động thái đẻ nhánh của
các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2010 50 Bảng 4.5 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa ở từng công thức thí nghiệm
vụ Xuân 2011 52 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng đẻ nhánh của các giống lúa
ở từng công thức trong thí nghiệm 1 54 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phương pháp làm mạ và mật độ cấy đến khả năng
đẻ nhánh của các giống lúa trong thí nghiệm 2 58 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây và khả năng chống đổ
của các giống lúa trong thí nghiệm 1 61 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phương pháp làm mạ và mật độ cấy đến chiều cao
cây và khả năng chống đổ của các giống lúa trong thí nghiệm 2 63 Bảng 4.10 Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa thí
nghiệm ở các công thức phân bón khác nhau trong thí nghiệm 1 65 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phương pháp làm mạ và mật độ cấy đến khả năng
chống chịu sâu bệnh của các giống lúa trong thí nghiệm 2 68
Trang 9Bảng 4.12 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa
trong thí nghiệm 1 71
Bảng 4.13 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa trong thí nghiệm 2 75
Bảng 4.14 Chất lƣợng gạo của các giống lúa thí nghiệm 79
Bảng 4.15 Hoạch toán kinh tế cho 1 ha trong thí nghiệm 1 81
Bảng 4.16 Hoạch toán kinh tế cho 1 ha trong thí nghiệm 2 83
Hình 4.1 Thời tiết vụ mùa năm 2010 tại Thái Nguyên 43
Trang 10PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá
trình phát triển của loài người Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa là cây trồng được gắn liền với quá trình phát triển của loài người và đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta
Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu ăn ngon của người dân ngày càng tăng vì vậy lúa chất lượng đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của người dân trong và ngoài nước
Theo Yuan Longping (2004) dân số hiện nay của thế giới đã là hơn 6
tỷ người Con số này sẽ đạt tới 8 tỷ vào năm 2030 Trong khi dân số tăng thì diện tích đất canh tác bị thu hẹp dần, do đất được chuyển sang các mục đích
sử dụng khác Áp lực của tăng dân số cùng với áp lực từ thu hẹp diện tích đất trồng trọt nên sản xuất lương thực của thế giới ngày càng tăng Cách duy nhất
để con người giải quyết vấn đề này là ứng dụng khoa học kỹ thuật tìm cách nâng cao năng suất các loại cây trồng [51]
Lúa là loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995 Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện Trong tất
cả các yếu tố đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng [51]
Thực tế sản xuất cho thấy năng suất và chất lượng của một số giống lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết Trong đó
kỹ thuật trồng trọt như mật độ và phân bón có ảnh hưởng quyết định đến năng
Trang 11suất lúa Mật độ cùng với tỷ lệ đẻ nhánh quyết định yếu tố cấu thành năng suất cơ bản nhất đó là số bông/m2 Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón phân hợp lý [21]
Ôn Lương là một xã phía tây của huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
có trên 300 ha diện tích lúa/năm Việc khai thác sử dụng đất 2 vụ trong vụ xuân và vụ mùa hiện nay ở Ôn Lương đang được thúc đẩy theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của xã, giải quyết vấn đề lương thực nhất là gạo có chất lượng cao cho người dân đô thị, tận dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa chất lượng cũng góp phần làm thay đổi tập quán, phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất
là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân
Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân trên một đơn vị diện tích, thực hiện thành công chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong vụ mùa, vụ xuân tiến tới khai thác cây trồng
vụ đông, xây dựng thành công mô hình những cánh đồng đạt và vượt 50 triệu đồng trên một ha theo phong trào thi thi đua mà ngành nông nghiệp phát động
Muốn làm được điều đó, trước hết cần phải có những nghiên cứu thử nghiệm ban đầu để làm mô hình khuyến cáo mở rộng
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa JO2
và ĐS1 tại Phú Lương Thái Nguyên.”
1.2 Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng thể
Nâng cao năng suất, chất lượng lúa cho vùng sản xuất lúa cao sản
Trang 12Đa dạng hoá thêm bộ giống lúa chất lượng tại địa phương
Đề tài mang tính ứng dụng cao, được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của nông dân
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Các giống lúa khác nhau có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng ở mỗi vùng khác nhau Để xác định được giống tốt cho một vùng sản xuất nào đó cần phải tiến hành khảo nghiệm, gieo cấy thử nghiệm qua một vài vụ sản xuất để đánh giá khả năng thích ứng của giống đó Do đó việc xác định tính thích nghi của giống nào đó trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng phải tiến hành bố trí gieo trồng tại nhiều vùng có đặc điểm sinh thái khác nhau nhằm đánh giá khả năng thích ứng, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng chống chịu sâu, bệnh, mức độ chịu đất chua mặn, khả năng cho năng suất, hiệu quả kinh tế của giống đó so với các giống đang gieo trồng đại trà hiện có tại một khu vực hoặc một địa phương nào đó
Hoạt động chính của người nông dân là sản xuất nông nghiệp Trong lĩnh vực trồng trọt đối tượng cần nghiên cứu là giống cây trồng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của nó như nước, phân bón, thời tiết, khí hậu…
Năng suất cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng chịu tác động của các yếu tố tự nhiên như đất, nước, dinh dưỡng, khí hậu, thời tiết đồng thời nó cũng chịu tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế - xã hội như trình độ canh tác, biện pháp kỹ thuật, khả năng đầu tư, thâm canh…việc bón phân và bố trí mật độ hợp lý nhằm phân bố hợp lý đơn vị diện tích lá/đơn vị diện tích đất, tận dụng nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời, hạn chế sâu bệnh hại, tạo tiền
đề cho năng suất cao Ngoài ra, việc bố trí mật độ hợp lý còn tiết kiệm được hạt giống công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh
tế trong sản xuất lúa hiện nay Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về phân bón
và phương pháp cấy chưa nhiều và thiếu các nghiên cứu hệ thống vấn đề này Thực tế đây là một biện pháp kỹ thuật quan trọng trong thâm canh lúa Với
Trang 14mỗi giống lúa, mỗi mức phân bón, mức đầu tư kỹ thuật trên các vùng khác nhau thì cần có các nghiên cứu tìm ra phương pháp bón phân và mật độ cấy hợp lý, đây là một việc làm thường xuyên của các nhà khoa học Chính vì vậy
đề tài mang đủ cơ sở khoa học và thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Hiện nay thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng [54]
Sau đây chúng ta thấy biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới trong vài thập kỷ gần đây
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây
(Nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Trang 15Bảng 2.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây có xu hướng tăng Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80 Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 42,04 tạ/ha vào năm 2009 Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất
đã góp phần làm cho sản lượng lúa tăng lên đáng kể
Châu Á gồm 8 nước có sản lượng cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản Hiện nay châu Á có diện tích lúa cao nhất với 143,4 triệu ha, sản lượng 611,7 triệu tấn [54]
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới
năm 2009
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Thế giới 161.420.743 42,044 678.688.289
Trung Quốc 29.932.292 65,901 197.257.175 Indonesia 12.883.576 49,985 64.698.890
Trang 16Qua Bảng 2.2 cho thấy: Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với diện tích 44,1 triệu ha, sản lượng lúa của Ấn Độ là 131,3 triệu tấn, chiếm 19,3% tổng sản lượng của thế giới
Trung Quốc là một nước có dân số đông nhất thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân đạt 65,9 tạ/ha, sản lượng đạt 197,26 triệu tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung Quốc
Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích 10,96 triệu ha, năng suất bình quân 28,7 tạ/ha, sản lượng 31,5 triệu tấn và
là nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Nhiệm vụ của các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giống lúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) [54]
Trang 17Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (2011) dự báo trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á
sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: Bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính
Dự báo, một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil
Ấn Độ dự báo vẫn đứng ở vị trí thứ tư trong số các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Xuất khẩu gạo của Ấn Độ thất thường Gạo Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là gạo basmati Tuy nhiên trong những năm gần đây, lũ và hạn hán xảy ra ở nước này gây thiệt hại lớn về sản lượng lương thực, giá lúa mỳ tăng cao đã đẩy nhu cầu tiêu thụ gạo tăng Chính phủ nước này đang xem xét ban hành chính sách cấm xuất khẩu các loại gạo thường không phải basmati Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn Độ sẽ tăng trưởng hơn 30%, thị phần xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng từ 16% năm 2007/08 lên khoảng 17% đến năm 2016/17 [3]
Ngược lại với 3 nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, thị phần gạo xuất khẩu dự báo sẽ giảm ở Hoa Kỳ, Pakistan, và Trung Quốc Mặc dù Hoa
Kỳ dự báo vẫn là nước xuất khẩu gạo lớn thứ tư thế giới trong giai đoạn 2007/08 đến 2016/17, tuy nhiên trong giai đoạn này, xuất khẩu gạo Hoa Kỳ tăng chậm trong cả giai đoạn Thị phần xuất khẩu gạo của Hoa Kỳ trên thị trường thế giới sẽ giảm từ 12% năm 2007/08 xuống chỉ còn khoảng 10% vào năm 2016/17 Lý do, tăng nhu cầu trong nước và mở rộng sản xuất ở các vùng
có diện tích hẹp, năng suất tăng chậm làm ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Hoa Kỳ
Trang 18Ở Pakistan hiện nay là nước xuất khẩu gạo lớn thứ năm thế giới, và có
ít khả năng mở rộng diện tích lúa gạo Ngoài ra, Pakistan còn đang đối mặt với vấn đề thiếu nước, các vấn đề môi trường liên quan đến nông nghiệp Như vậy, xuất khẩu gạo Pakistan dự kiến tương đối ổn định, ở mức 3 triệu tấn một năm trong cả giai đoạn
Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn 1998- 2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở mức 1 triệu tấn gạo Khối lượng gạo xuất khẩu của Trung Quốc giảm từ năm 2004
do diện tích lúa thu hẹp lại dẫn đến nguồn cung trong nước hạn chế Diện tích sản xuất lúa được dự báo là giảm nhẹ, bù lại năng suất tăng lên Mức tiêu dùng giảm nhẹ bù cho dân số tăng Trung Quốc xuất khẩu gạo chất lượng cao, gạo hạt ngắn và trung bình tới thị trường bắc Á và gạo chất lượng thấp, hạt dài tới thị trường Sahara Châu Phi và mọt số thị trưòng có thu nhập thấp của Châu Á [3]
Năm 2011, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi lớn so với năm 2010 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu trong nước, do đó thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai xảy ra
Đầu năm 2011, lượng cung thương mại gạo toàn cầu vẫn khá dồi dào, trong khi đó, nhu cầu thế giới chưa có dấu hiệu khan hiếm; do đó, thị trường gạo toàn cầu chỉ chịu tác động trong hai trường hợp: Nếu các nước vừa chịu ảnh hưởng nặng nề về hạn hán và lũ lụt như Trung Quốc, Pakistan, ấn Độ, Philippines tăng lượng dự trữ thông qua nguồn cung trong nước hoặc mua bổ sung vào lượng dự trữ; hoặc thiên tai bất ngờ xảy ra tại các nước sản xuất và tiêu dùng gạo
Trang 19Trong các nước xuất khẩu gạo với khối lượng nhỏ hơn như Úc, Achentina, các nước Nam Mỹ khác (Uruguay, Guyana, Surinam) dự kiến sẽ tăng xuất khẩu trong giai đoạn tới Úc dự kiến sẽ tăng xuất khẩu từ 150 nghìn tấn năm 2007/08 lên 220 nghìn tấn vào năm 2008/09, do sự khôi phục của sản lượng gạo sau hạn hán Mặc dù vậy, xuất khẩu gạo Úc vấn sẽ thấp hơn mức
kỷ lục 662 nghìn tấn gạo xuất khẩu vào năm 1998/99 Xuất khẩu gạo Achentina dự kiến sẽ tăng 3 - 4% năm trong giai đoạn 2007/08 đến 2016/17,
do sản lượng gạo tăng dự kiến vượt nhu cầu gạo nội địa Xuất khẩu gạo của các nước Nam Mỹ (chủ yếu từ Uruguay) dự báo tăng 2 - 3% mỗi năm, do tăng trưởng sản lượng thấp hơn mức tăng tiêu dùng Các nước Úc, Achentina, Uruguay xuất khẩu hầu hết các nông sản của họ
Ai Cập và EU cũng xuất khẩu gạo, nhưng dự báo xuất khẩu gạo của Ai Cập dự báo sẽ giảm trong 10 năm tới, do tăng trưởng tiêu dùng gạo mạnh vượt mức tăng sản lượng Xuất khẩu gạo Ai Cập hiện đã đạt gần tới mức kỷ lục Diện tích trồng lúa dự báo sẽ không tăng và năng suất lúa Ai Cập đạt mức gần cao nhất của thế giới Xuất khẩu gạo EU dự báo không tăng và ổn định trong suốt giai đoạn 1008/09 đến 2016/17, sau khi tăng mạnh trong giai đoạn đầu dự báo EU không cạnh tranh về giá trên thị trường gạo thế giới Hầu hết xuất khẩu gạo EU tới các thị trường Bắc Phi, Trung Đông, Trung Á và các nước châu Âu khác [3]
Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (2011) theo đó sản xuất gạo toàn cầu dự báo tăng theo các năm trong thập kỷ tới, chủ yếu là nhờ tăng năng suất lúa Năng suất trung bình dự báo sẽ tăng khoảng gần 1% mỗi năm, xấp xỉ so với tỷ lệ tăng trưởng năng suất bình quân đạt được trong 10 năm trở lại đây Mặc dù sản lượng bình quân hàng năm đều tăng, song tăng trưởng sản lượng dự kiến thấp hơn so với mức đạt được trong những năm cuối thập kỷ 1960 cho đến 1980
Trang 20Tăng trưởng năng suất bằng sự phát triển và ứng dụng các công nghệ cải tiến sẽ là giải pháp trong dài hạn để giúp giảm thiểu tình trạng tăng giá gạo Cần phải có một cuộc Cách mạng xanh lần II, tăng đầu tư cho nghiên cứu kết hợp với cải cách chính sách để tăng hiệu quả kinh tế từ thị trường gạo sẽ giúp bình ổn giá lúa gạo và giảm nghèo
Châu Á được coi là cái nôi của lúa gạo do sản xuất cũng như tiêu thụ chiếm tới trên 90% tổng sản lượng lúa gạo của Thế giới, nơi đã diễn ra cuộc
“Cách mạng xanh” giữa thế kỷ XX, ở đây đã lai tạo ra nhiều giống lúa nước ngắn ngày, năng suất cao, nhờ vậy đã góp phần thành công trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ theo hướng sản xuất lúa hàng hóa ở nhiều quốc gia Sự nổi bật của khu vực này có ảnh hưởng quyết định vào tương lai cũng như quá khứ của tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới
Theo dự báo của Ban nghiên cứu Kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 - 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn
Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil [3]
Nhật Bản là một trong mười nước có diện tích trồng lúa nhiều nhất thế giới Nhật Bản cũng là nước đạt năng suất cao đứng hàng đầu thế giới, tuy có diện tích không lớn song sản lượng năm 2005 đạt trên 11,4 triệu tấn Để đáp ứng thị hiếu người tiêu dung Nhật Bản tập trung vào công tác nghiên cứu giống lúa ở các viện Các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo và đưa vào sản xuất các giống vừa có năng suất cao, chất lượng tốt đặc biệt là 2 giống: Miyazaki1 và Miyazaki2 Cho đến giờ các giống này vẫn giữ được vị trí hàng đầu về 2 chỉ tiêu quan trọng đó là hàm lượng Protein cao tới 13%, hàm lượng Lysin cũng rất cao ( Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [16]
Trang 212.2.2 Tình hình nghiên cứu phân bón trên thế giới
Theo Patrich (1968), [45] và cộng sự, Kobayashi (1995), [42]: Khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh của 2 giống lúa Hokuriki 52 và Yamakogame cho biết: phản ứng với điều kiện phân bón khác nhau cho thấy cây có tính thích ứng cao trong điều kiện tự nhiên ít phân và tăng số lượng cây con ở mỗi đối tượng, trong khi đó các giống cạnh tranh yếu bị thất bại nghiêm trọng trong điều kiện trồng trọt bình thường, điều đó có nghĩa là giống khoẻ (Hokuriki 52) sẽ làm hại nhiều cho giống yếu (Yamakogame) khi có đủ phân bón
Theo Shi (1986) và cộng sự cho rằng: Phân bón có tác dụng thúc đẩy hoạt động quang hợp Kết quả nghiên cứu các giống lúa Indica có phản ứng với phân bón là tăng diện tích lá lớn hơn so với giống lúa Japonica nhưng lại phản ứng yếu hơn khi hàm lượng phân bón tăng Khi bàn về năng suất tác giả cho biết: năng suất là kết quả của những giống có phản ứng tốt với phân bón
và biện pháp kỹ thuật Ở vùng ôn đới, giống Japonica thường cho năng suất cao vì nó phản ứng tốt với phân bón [48]
Theo kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989): Hiệu suất bón đạm cho lúa rất khác nhau: 1kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc [47]
Các công trình nghiên cứu của De Datta (1978), [41], Koyama (1981), [43], Sinclair (1989), [47], Vlek (1986), [49] về đặc điểm bón phân cho các giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhất là lân cao hơn giống cũ Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali Là cơ sở để tăng năng suất cây trồng Để đánh giá khả năng cung cấp lân của đất cho cây trồng, người ta dựa vào hàm lượng lân tổng số, phân lân bón cho lúa có hiệu quả đứng thứ 2 sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo màu thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm Tuy nhiên bón phân lân cùng với đạm là điều kiện tốt để phát huy hiệu quả cao của phân lân Khi cây
bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại, sức đẻ nhánh giảm và đẻ muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình phân lân có ảnh hưởng tốt đối với cây lúa, nó làm cho trọng lượng của phần trên
Trang 22mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó đến thời kỳ chín mức tăng của trọng lượng thân cây giảm Ở những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu quả của phân lân đối với năng suất lúa không lớn Bón lân làm cho lúa cứng cây và tăng khả năng chống đổ
Theo Yang (1999) ở nhiều nước trên thế giới thường hay bón phân chuồng và phân ủ cho lúa để làm tăng độ phì nhiêu cho đất như Trung Quốc,
Ấn Độ, Việt Nam, Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á Trong thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phân chuồng được dùng bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phân khoáng [52] Thí nghiệm của Ying (1998) cho thấy sự tích luỹ đạm, lân và kali ở các cơ quan trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tích luỹ tiếp ở các giai đoạn tiếp theo của cây [53]
Theo Sarker (2002) khi nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của lân đối với lúa được đánh giá: “Hiệu suất của lân đối với hạt ở giai đoạn đầu cao hơn giai đoạn cuối và lượng lân hút ở giai đoạn đầu chủ yếu phân phối ở các cơ quan sinh trưởng Do đó, phải bón lót để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa” [46]
Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa Muốn đạt năng suất, sản lượng cao cần bón phân đúng liều lượng đúng cách Ngay những thập kỷ
70, 50% sản lượng nông nghiệp tăng lên ở các nước phát triển là nhờ sử dụng phân bón (FAO - 1994)
Bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất và bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần Với liều lượng thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày có hiệu quả cao Có hai đỉnh về hiệu suất đỉnh thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh, đỉnh thứ hai xuất hiện ở 19 - 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2
Tác giả đã đề nghị: Nếu lượng đạm ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ Khi lượng đạm trung bình bón hai lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái [19]
Trang 23Các nhà khoa học Trung Quốc đã kết luận:
Với cùng một mức năng suất, lúa lai hấp thu lượng đạm và lân thấp hơn
so với lúa thuần, ở mức năng suất 75 tạ/ha lúa lai hấp thu đạm thấp hơn lúa thuần 4,8% hấp thu P205 thấp hơn 18,2% Nhưng hấp thu K20 cao hơn 30% Với ruộng lúa cao sản thì hấp thu N cao hơn lúa thuần 10%, hấp thu K20 cao hơn 45% còn hấp thu P205 bằng lúa thuần [53]
2.2.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới
Mật độ cấy là số khóm cấy/m2 Lúa cấy được tính bằng khóm, lúa gieo được tính bằng hạt mọc Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì
số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông, nhưng nếu vượt qua giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống…Khi nghiên cứu về vấn đề này S Yoshida (1978) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy dày Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống bông to Vùng lạnh nên cấy dày hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dày hơn so với lúa gieo sớm
Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S Yoshida (1978) đã khẳng định: Trong ruộng lúa cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20 x 20 cm đến 30 x 30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xẩy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182 - 242
Trang 24dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm
số hạt/bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự
đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dầy thì đẻ nhánh ít [50]
Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản ứng với mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng nhưng vượt qua giới hạn đó năng suất không tăng mà còn giảm xuống Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau
S Yoshida (1978) cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 10 x 10 cm đến 50 x
50 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Ông đã thấy rằng năng suất của hạt giống IR - 154 - 451 (một giống đẻ nhánh ít) tăng lên với việc giảm khoảng cách 10 x 10cm Còn IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất đạt cực đại ở khoảng cách cấy là 20 x 20 cm [50]
Các tác giả người Trung Quốc đã sử dụng tổ hợp lai 2 dòng PA 64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của tổ hợp lai Các tác giả sử dụng hai công thức cấy thưa (90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống của Trung Quốc (300.000 khóm/ha) Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức cấy dầy vào thời điểm trước 10/5, nhưng đến sau 25/5 thì sự sai khác chỉ còn rất nhỏ
+ Kích thước nhánh đẻ ở công thưc cấy thưa lớn hơn công thức cấy dầy 6,86%, tỷ lệ kết hạt thấp hơn 2,35% và khối lượng 1000 hạt cũng thấp hơn 0,86g Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17 - 19% [53]
2.3 Tình hình sản xuất nghiên cứu lúa ở Việt Nam
Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nghề nông, chính vì vậy mà trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc
Trang 25Nước ta thuộc vùng nhiệt đới nằm ở toạ độ 80
30‟ - 23022‟vĩ tuyến Bắc,
102010‟ - 109029‟ kinh tuyến Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Với đặc điểm khí hậu này đã phần nào khẳng định thêm Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa
Địa hình nước ta trải dài từ Bắc vào Nam hình thành nên những vùng đồng bằng rộng lớn tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cây lúa nước
Việt Nam đã tiếp thu cuộc Cách mạng xanh rất nhanh chóng Năm 1987 trước đổi mới, sản lượng thóc chỉ đạt 15,1 triệu tấn Đến năm 2007 sản lượng thóc đạt 35,56 triệu tấn, gấp 2,36 lần Một tốc độ tăng hiếm gặp cũng là cao nhất trong khu vực và cao nhất trong những nước trồng lúa trên thế giới [54]
Cụ thể tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3 Sản xuất lúa ở Việt Nam qua các thời kỳ
Trang 26Những số liệu thống kê trên cho thấy: Diện tích trồng lúa ở Việt Nam
có xu hướng giảm từ năm 2002 trở lại đây, từ 7,504 nghìn ha (2002) xuống còn 7,207 nghìn ha (2007) Đất trồng lúa chủ yếu được chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp: Khu công nghiệp, sân golf Nên mặc dù năng suất trong giai đoạn này liên tục tăng, từ 45,9 tạ/ha (2002) lên 48,5 tạ/ha (2004)
và duy trì ổn định trong giai đoạn 2004 - 2006, đến năm 2007 năng suất lúa ước đạt 49,8 tạ/ha tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước nhưng sản lượng lúa trong giai đoạn 2003 - 2009 đã tăng rất nhanh 4,327 triệu tấn Nói tóm lại, diện tích lúa có xu hướng giảm nhưng sản lượng sẽ vẫn duy trì ở mức ổn định và
có thể tăng vì chúng ta sẽ không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa, đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ 4 - 5 triệu tấn Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp Quốc gia và phải huy động cả “4 nhà”(Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà nông và nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới có hy vọng đạt kết quả như mong muốn
Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007, tổng diện tích lúa của cả năm có
xu hướng giảm liên tục, trong khi đó sản lượng lại có biến động tăng đạt mức cao nhất là 36 triệu tấn/năm vào năm 2004 Điều này thể hiện trình độ thâm canh cây lúa của Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định Năm 2008, sản xuất lúa đã tăng cả về diện tích và sản lượng Diện tích lúa đã tăng trở lại (gần 7,40 triệu ha), gần bằng mức của năm 2004 (hơn 7,44 triệu ha) Đây cũng là năm được mùa về lúa gạo của Việt Nam
Lúa là cây lương thực quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, hàng năm cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực
Trang 27trong nước, tuy rằng diện tích tự nhiên của Việt Nam chỉ đạt 33,1 triệu ha, đất
sử dụng cho nông nghiệp là 7,4 triệu ha chiếm 22 % diện tích tự nhiên, trong
đó diện tích trồng lúa là 4,25 triệu ha chiếm 76,9%, còn lại là cây trồng cạn và cây lương thực khác [21]
Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có những thành công lớn trong những năm gần đây Cơm gạo là thức ăn chính và sản xuất lúa gạo đã là căn bản của nền kinh tế Việt Nam qua mấy ngàn năm lịch sử, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông thôn Việt Nam, với 75% dân
số Việt Nam tham gia trồng lúa gạo Hầu hết nông dân vẫn coi công việc trồng lúa đem lại nguồn thu nhập chính của họ
Trong những năm gần đây, tuy diện tích đất trồng lúa có xu hướng giảm dần từ 7,666 triệu ha năm 2000 xuống còn 7,305 triệu ha năm 2007, giảm với tốc độ 0,69%/năm, nhưng sản lượng lương thực tăng từ 32,530 triệu tấn năm 2000 lên 35,56 triệu tấn năm 2007, vẫn đảm bảo giữ vững được an ninh lương thực Đặc biệt do giá gạo Thế giới năm 2008 biến động tăng nên tổng diện tích lúa gieo trồng năm 2008 đã tăng lên 7,414 triệu ha, năng suất 5,22 tấn/ha, với tổng sản lượng 38,72 triệu tấn, cao nhất từ trước tới nay Đặc biệt diện tích lúa Hè thu từ Vùng Duyên hải Nam trung bộ trở vào ĐBSCL diện tích lúa hè thu từ 2,203 triệu ha, năng suất 4,6 tấn/ha năm 2007 tăng lên 2,370 triệu ha, năng suất 4,8 tấn/ha năm 2008 [54]
Theo FAO đánh giá thì thập kỷ 90 tốc độ tăng sản lượng lúa gạo Việt Nam là 5,3% so với 1,5% của Thế giới và 1,51% của khu vực Châu Á -Thái Bình Dương Tốc độ tương ứng về diện tích là 2,4% so với 0,5% (Thế giới)
và 0,5% (khu vực), năng suất lúa là 2,8% so với 1,1% (Thế giới) và 1,0% (khu vực)
Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất và được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong
Trang 28sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối với sản phẩm gạo chất lượng cao Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra
là làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay Sự tăng trưởng đầy ấn tượng về năng suất và sản lượng lúa là thành quả của những nỗ lực tổng hợp của cả nước trong việc tìm kiếm những giải pháp để đẩy mạnh phát triển kinh tế Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực
Có được sự tăng tiến như trên chủ yếu vẫn nhờ vào công tác cải tiến giống Chọn tạo giống được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao sản lượng lúa
vì đầu tư thấp nhưng hiệu quả cao, vì vậy công tác chọn tạo giống lúa phải được tiến hành thường xuyên và liên tục [54]
Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải tiến giống lúa có vai trò quan trọng về mặt kỹ thuật và sau đó là những thay đổi kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi
để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở ĐBSCL Năng suất và sản lượng lúa tăng còn
do tăng diện tích gieo trồng Từ năm 1980 - 2000 tổng diện tích gieo trồng lúa
đã tăng từ 5,6 triệu ha lên 7,66 triệu ha Đặc biệt việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng từ 50% (1991-1995) lên 80% thời kỳ 1996-2000 và trở thành yếu tố cơ bản đưa năng suất lúa một vụ từ 34,3 tạ/ha lên 42,24 tạ/ha và 52,2 tạ/ha năm 2008 Hiện nay các giống lúa mới chiếm khoảng 65% diện tích gieo trồng của cả nước Những năm gần đây chúng ta
có chính sách mở cửa nên nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế (IRRI), CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc
Trang 29Để duy trì vị thế của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời với việc thực hiện các biện pháp cải tiến sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, cần phải chủ động giữ vững các thị trường truyền thống đối với gạo Bên cạnh đó cần nghiên cứu khả năng phối hợp với các ngành có liên quan để điều tiết nguồn cung, ổn định giá cả thị trường, tăng hiệu quả xuất khẩu gạo
Theo NN&PTNT (2005) phân tích và so sánh sản xuất lúa gạo giữa nước ta và Thái Lan, một đối tác quan trọng, cho thấy: Ngành hàng lúa gạo của Việt Nam là ngành có lợi thế so sánh cao, có khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông thôn
Theo dõi diễn biến ngành hàng lúa gạo trong vài nằm gần đây, đặc biệt
là từ giữa năm 2004, giá gạo của Việt Nam trên thị trường Thế giới tuy có tăng lên, nhưng vẫn bán ở mức giá rẻ, nên nhiều nước nhập khẩu rất quan tâm đến gạo Việt Nam, làm cho ngành lúa gạo của ta đang có lợi thế trên thị trường quốc tế
Để có một Ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn
đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm
2.3.1 Tình hình nghiên cứu phân bón ở Việt Nam
Theo Bùi Đình Dinh (1999) cho rằng: Phân bón có từ rất lâu đời cùng với
sự ra đời của nền nông nghiệp và bắt đầu bằng việc sử dụng các loại phân hữu cơ
Từ trước Công Nguyên con người đã quan tâm đến việc bón phân hữu cơ cho ruộng, ở Trung Quốc đã biết bón phân xanh và phân bón đã được bắt đầu sử dụng
từ các phân của động vật và mở rộng ra các loại phân hữu cơ khác
Trang 30Nông dân Việt Nam đã dùng phân hữu cơ từ rất lâu đời, từ việc phát nương làm rẫy, đốt rơm rạ trên nương để lại lớp tro rồi chọc lỗ bỏ hạt Việc cày vặn ngả dạ (làm dầm) mục đích để rơm rạ được ủ nát thành phân ngay tại ruộng, người nông dân đã biết tận dụng ngay tại chỗ nguồn phân bón kết hợp với thu gom phân trâu bò, tro bếp để bón ruộng [9]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, Bùi Huy Đáp (1999) cho biết: “Phân hoá học cung cấp từ 1/3 đến 1/2 lượng phân đạm cho lúa” Những năm gần đây việc bón phân chuồng cho lúa không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây nên con người
đã sử dụng phân đạm hoá học để bón Mỗi giống lúa khác nhau cần một lượng phân bón nhất định vào các thời kỳ cây đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ và giảm dần khi lúa đứng cái [11]
Theo Lê Văn Căn (1964) ở đất phù sa Sông Hồng nếu bón đơn thuần phân đạm mà không kết hợp với phân lân và kali vẫn phát huy được hiệu quả của phân đạm, lượng phân lân và kali bón thêm không làm tăng năng suất đáng kể, nhưng nếu cứ bón liên tục sau 3 - 4 năm thì việc phối hợp bón lân và kali sẽ làm tăng năng suất rõ rệt trên tất cả các loại đất Phân đạm là nguyên
tố dinh dưỡng cần thiết nhất nên việc sử dụng phân đạm đã làm tăng năng suất rất lớn Tuy nhiên phân đạm có thể tạo lập độ phì nhiêu cho đất nên khi
sử dụng không cân đối giữa đạm với nguyên tố khác sẽ làm suy thoái đất Qua nghiên cứu về phân bón cho thấy: ở Việt Nam, trên đất phèn nếu không bón lân, cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân cây trồng sẽ hút 120 -
130 kg N/ha Do vậy, để đảm bảo đất không bị suy thoái thì về nguyên tắc phải bón trả lại cho đất một lượng dinh dưỡng tương tự lượng dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi Tuy nhiên, việc bón phân cho cây trồng lại không chỉ hoàn toàn dựa vào dinh dưỡng cây trồng hút từ đất và phân bón, mà phải dựa vào lượng dinh dưỡng dự trữ trong đất và khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây
Trang 31Lúa yêu cầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của thời kỳ sinh trưởng sinh thực Tỷ lệ đạm trong cây so với trọng lượng chất khô ở các thời kỳ như sau: thời kỳ mạ 1,54%, đẻ nhánh 3,65%, làm đòng 3.06%, cuối làm đòng 1,95%, trổ bông 1,17% và chín 0,4% [4]
Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợp với lân mới cho năng suất cao Cũng theo nghiên cứu của Lê Văn Căn (1968): Sự tích luỹ đạm, lân, kali ở các cơ quan trên mặt đất không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tiến hành ở giai đoạn tiếp theo của cây Tuy nhiên, từ khi cây bắt đầu đẻ nhánh đến làm đòng, cây lúa phản ứng mạnh với dinh dưỡng N, K2O ở mức độ cao [5]
Theo Đào Thế Tuấn (1970) trong thí nghiệm 3 vụ liền ở đất phù sa Sông Hồng đã rút ra kết luận: “Vụ lúa chiêm cũng như vụ lúa mùa, chia đạm
ra bón nhiều lần để bón thúc đẻ nhánh, nếu bón tập trung vào thời kỳ đầu đẻ nhánh thì số nhánh tăng lên rất nhiều về sau lụi đi cũng nhiều và thiếu dinh dưỡng Nếu bón tập trung vào cuối thời kỳ đẻ nhánh thì số nhánh lụi đi ít nhưng tổng số nhánh cũng ít vì vậy cần chú ý cả ai mặt Trong trường hợp đạm bón tương đối ít thì nên bón tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh rộ [28]
Theo các công trình đã nghiên cứu, muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón 100 - 120 kg N/ha Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón cho lúa [8]
Cây lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, nhưng chủ yếu bón vào thời kỳ bón lót, bón thúc khi đẻ nhánh và bón khi lúa bước vào thời kỳ đòng Tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa mà bón, khi bón phải dựa vào thời tiết, khí hậu, mùa vụ Cần tập trung lượng đạm vào thời kỳ đẻ nhánh vì đây là thời kỳ khủng hoảng đạm lớn nhất của cây lúa Nếu bón đạm tập trung vào thời kỳ đẻ nhánh sẽ kích thích cây lúa đẻ nhiều và tập trung, do đó số nhánh hữu hiệu tăng lên Đây chính là yếu tố quyết định năng suất của lúa [8]
Trang 32Hầu hết các công trình nghiên cứu cho thấy: Nếu chỉ bón đơn độc đạm cho cây lúa thì cây sinh trưởng quá mạnh và chỉ đạt được năng suất khá trong vài vụ đầu, dần dần năng suất sẽ bị giảm, nếu bón kết hợp với lân và kali thì cây lúa sinh trưởng cân đối, cho năng suất cao và ổn định Trong bón phân, phương pháp bón cũng rất quan trọng Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong khi bón phân thì hiệu quả mới cao, cây lúa mới hút được dinh dưỡng tối
đa [8] Theo Bùi Huy Đáp (1980): Lân được hút chậm hơn đạm trong thời kỳ dinh dưỡng đầu và được hút nhanh từ khi phân hoá đòng đến lúa vươn lóng Phần lớn lân trong gạo là tích luỹ trong thân và lá trước khi trỗ rồi chuyển về bông vì sau khi trỗ lúa thường không hút nhiều lân nữa, khi bón quá nhiều lân, đất sẽ giữ lân lại, do đó ruộng ít bị xẩy ra hiện tượng thừa lân Ruộng lúa ngập nước sẽ làm tăng độ dễ tiêu của lân, tăng hiệu quả của phân bón cho cây lúa Cây lúa hút lân trong suốt thời kỳ sinh trưởng vì vậy có thể bón lót hết lượng lân dành cho cả vụ [10]
Theo Nguyễn Vi (1974) khi bón phân lân với lượng không cao và không bón đạm sẽ xúc tiến quá trình đẻ nhánh ban đầu nhưng lại kìm hãm quá trình đẻ nhánh về sau Vì vậy, khi bón phân lân đơn độc, số nhánh không tăng mà lại lụi đi nhiều, do đó cần bón kết hợp đạm, lân và kali [34]
Việt Nam có hàng nghìn giống lúa được gieo trồng trong cả nước, có nhiều bộ giống tốt phù hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau Một số giống lúa chất lượng cao như giống Tám thơm, lúa Dự, nàng thơm, Nếp Cái Hoa Vàng, Nếp Cẩm, Nếp tú lệ, các giống Nếp Nương, Tẻ Nương…đã được đưa vào cơ cấu gieo cấy ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam Chúng ta đã nhập và thuần hoá nhiều giống lúa tốt từ nước ngoài mà nay đã trở thành các giống lúa đặc sản của Việt Nam có thương hiệu như: IR64 Điện Biên, Bao Thai Định Hoá, Khaodômaly Tiền Giang [26]
Trang 33Phân bón có tác dụng rất lớn đến năng suất lúa Tại nước ta từ năm
1990 trở lại đây bình quân lương thực bội thu nhờ phân bón hàng năm là 38% Việc bón đạm ở vụ xuân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất lúa, hiệu suất sử dụng đạm cao nhất khi bón với lượng đạm 102 kgN/ha (16,6 kg thóc/kgN) Ở vụ mùa ít ảnh hưởng đến năng suất lúa, còn với nguyên tố lân ở
vụ xuân hiệu suất sử dụng lân cao nhất khi bón với lượng 120 kgP205 (cho 2,99kg thóc/kg P205) Hiệu suất sử dụng kali cao nhất khi bón với lượng 60 kg K20 (4,02 kg thóc/kg K20) Vụ mùa hiệu suất sử dụng lân cao nhất ở mức bón
60 kg P205/ha, hiệu suất sử dụng kali cao nhất ở mức bón 30K20/ha [13]
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1994) khi bón đạm từ 40 – 200 kg N/ha cho năng suất lúa đạt từ 5 - 10 tấn/ha [20]
Theo cục Khuyến nông và khuyến Lâm (1998) về vấn đề phân bón cân đối và hợp lý cho cây trồng thì cứ 1 tấn (N + P205 + K20) cho bội thu từ 10 -
13 tấn thóc Như vậy nếu tính trong 5 năm gần đây trung bình phân hoá học
đã làm tăng 25 - 27% tổng sản lượng lương thực ở nước ta [6]
Cùng với việc đưa các giống mới các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất thì việc sử dụng phân bón đã không ngừng được tăng lên đáng kể
2.3.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam
Theo Nguyễn Thị Trâm (2007) thì sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2
chỉ cần cấy 3 - 4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là
đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm
Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2 - 5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 - 15 ngày so với mạ chưa
đẻ vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra
lá lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào 8 - 15
Trang 34ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non [31] Nguyễn Văn Hoan (1999) cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được xác định lượng theo
số bông cần đạt nhân với 0,8 [14]
Theo Nguyễn Thị Trâm (2001) thì mật độ cấy càng cao thì số bông càng nhiều Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được
số bông/đơn vị diện tích theo dự định, các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa Ví dụ: Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40 - 45 khóm/m2 [30]
Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng trên đất giàu dinh dưỡng mạ tốt thì chúng ta cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng với đất xấu nên cấy dầy Để xác định mật độ cấy hợp lý thì có thể căn cứ vào 2 thông số là: Số bông cần đạt trên m2
và số bông hữu hiệu/khóm Từ hai thông số trên có thể xác định mật độ cấy phù hợp với công thức:
[25]
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (1999) kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2
và mật độ cấy dày 85
Trang 35khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh/khóm - 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm - 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật độ cấy, tác giả kết luận tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở vụ xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55 - 65 khóm/m2
làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu [12]
Nguyễn Thạch Cương (2000) đã làm thí nghiệm với tổ hợp Bồi tạp Sơn Thanh trên đất phù sa Sông Hồng và đi đến kết luận:
+ Trong vụ xuân: Với mật độ cấy 55 khóm/m2 trên đất phù sa sông Hồng cho năng suất cao nhất là 82,2 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 83,5 tạ/ha, ở vùng đất bạc màu rìa đồng bằng mật độ 55 - 60 khóm/m2cho năng suất 77,9 tạ/ha
+ Trong vụ mùa: Mật độ 50 khóm/m2, trên đất phù sa Sông Hồng cho năng suất cao nhất là 74,5 tạ/ha, trên đất phù sa ven biển cho năng suất 74 tạ/ha, mật độ 55 khóm/m2
trên đất bạc màu cho năng suất 71,4 tạ/ha [7]
Nhận xét về mối quan hệ diện tích dinh dưỡng và sự đẻ nhánh, Bùi Huy Đáp (1999) cho rằng sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diện tích dinh dưỡng Nếu diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài
Ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấy dầy ở mật độ lúa cao sẽ không đẻ nhánh và một số cây mẹ
sẽ lụi dần [11]
Nguyễn Văn Luật (2001) nhận xét phương pháp canh tác cổ truyền trước đây so với ngày nay: Trước năm 1967, người dân trồng lúa thường cấy thưa với mật độ 40 x 40 cm hoặc 70 x 70 cm ở một vài ruộng sâu, còn ngày nay có xu hướng cấy dầy 20 x 20 cm; 20 x 25 cm; 10 x 15 cm [22]
Trang 36Theo Nguyễn Văn Hoan (1999) thì nên bố trí các khóm lúa cấy theo kiểu hàng xông, hàng con, trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo kiểu hình chũ nhật là tốt nhất [14]
Theo Chu Văn Hiểu (2002) thì công thức cấy 40 khóm/m2, 2 dảnh/khóm cho năng suất cao nhất đối với giống TN13-4 trong vụ xuân 2002 [17]
Theo kết quả nghiên cứu của Ma Thị Ảnh (2003) tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang thì giống lúa Tạp Giao 1 cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất khi cấy với phương thức cải tiến hàng rộng hàng hẹp (35+15)cm x 12 cm ứng với 33 khóm/m2, 4 dảnh/khóm (132 dảnh/m2
) [1]
2.3.3 Những kết quả nghiên cứu về khoảng cách cấy
Theo TS Nguyễn Văn Hoan (1999): Khoảng cách tối ưu là khoảng cách
đủ rộng để hàng lúa thông thoáng, các khóm lúa không chen lẫn nhau Cách
bố trí các khóm lúa theo kiểu hàng xông (hàng cách hàng), hàng con (cây cách cây) trong đó hàng xông rộng hơn hàng con để có khoảng cách giữa các khóm lúa theo hình chữ nhật là cách bố trí hợp lý nhất Tổng kết kinh nghiệm đạt năng suất cao trong gieo cấy lúa xuân ở cả vụ mùa cũng như vụ xuân thì khoảng cách hàng lúa nên bố trí là 20cm, 25 cm hoặc 30cm [14]
Cũng theo tác giả, lúa lai là loại hình đẻ khỏe, yêu cầu ánh sánh nhiều thì bông mới to vì thế khoảng cách giữa các hàng lúa cần rộng hơn lúa thường Tuy nhiên với cách bố trí gieo cấy theo kiểu truyền thống tức là các hàng lúa đều đặn thì khoảng cách giữa hàng với hàng chỉ có thể bố trí đến 30
cm, quá khoảng cách này thì không thể đảm bảo được mật độ cần thiết (29
-40 khóm/m2) Khi quan sát các khóm lúa ven bờ chúng ta thấy: nhờ được hưởng nhiều ánh sáng hơn nên các bông lúa đều to, nhiều hạt, số bông/khóm nhiều hơn hẳn các khóm lúa bên trong ruộng, tỷ lệ lép thấp [14]
Theo Nguyễn Thị Trâm (2001) phương pháp cấy truyền thống là cấy lúa hàng đều, thường được cấy theo kiểu hàng xông và hàng con Với nhóm
Trang 37lúa thuần, gieo mạ truyền thống: giống ngắn ngày cần cấy 4 - 5 dảnh/khóm,
45 - 50 khóm/m2 với khoảng cách là 20cm x 10cm hoặc 20cm x 12cm; giống trung ngày cấy 4 - 5 dảnh/khóm, 40 - 45 khóm/m2 và khoảng cách là 25cm x
10 - 13cm; giống dài ngày cấy từ 35 - 40 khóm/m2 và khoảng cách là 25cm x
10 - 12 cm hoặc 20cm x 13 - 14cm Nhóm lúa thuần gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến cấy mạ non mật độ là 30 - 35 khóm/m2
Phương pháp cấy cải tiến áp dụng đối với lúa lai, nên đảm bảo mật độ cần thiết 29 - 40 khóm/m2, ở nhiều địa phương đã bố trí phương pháp cấy theo kiểu „„hàng rộng - hàng hẹp‟‟ và có thể giãn khoảng cách giữa hai hàng kép 35 - 40 cm mà vẫn đảm bảo mật độ cần thiết [30]
Trang 38PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Xác định liều lượng phân bón thích hợp cho giống lúa J02 và ĐS1 Tìm ra phương pháp làm mạ và cấy mật độ phù hợp với giống lúa thí nghiệm
Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng của cây như: Chiều cao cây, khả năng
đẻ nhánh, thời gian sinh trưởng và đặc điểm nông học của các giống lúa thí nghiệm ở các nền phân bón, phương pháp làm mạ và cấy mật độ khác nhau
Theo dõi diễn biến sâu, bệnh Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa ở từng công thức thí nghiệm
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
Thí nghiệm được thực hiện tại xã Ôn Lương - huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Thời gian tiến hành từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 ở 2 vụ
vụ Mùa 2010 và vụ Xuân 2011
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 2 giống lúa: J02, ĐS1 và giống lúa KD18 làm đối chứng
Giống lúa J02 và giống lúa ĐS1 thuộc loài phụ Japonica có nguồn gốc
ở Nhật Bản loại hình canh tác là lúa nước
Giống Khang dân 18 là giống lúa thuần có nguồn gốc ở Trung Quốc
Đã được đưa vào khảo nghiệm giống quốc gia và được gieo trồng phổ biến ở
địa phương
3.4 Phương pháp nghiên cứu
* Bố trí thí nghiệm a Thí nghiệm 1: Xác định tổ hợp phân bón phù hợp cho các giống lúa thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí trên đất thịt nhẹ thuộc đất lúa 2 vụ chủ động nước tưới tiêu
Trang 39+ Các giống lúa thí nghiệm: ĐS1, JO2 và KD18 làm đối chứng
+ Các tổ hợp phân bón: P1, P2, P3, P4
P1: 90N: 90P: 90K + 5 tấn phân chuồng
P2: 120N: 120P: 120K + 5 tấn phân chuồng
P3: 150N: 150P: 150K + 5 tấn phân chuồng
P4: Sử dụng 5 tấn phân chuồng + Phân dúi (phân viên nén) thành phần:
N>19%, K20>12,5%, P20>5% các nguyên tố khác Ca, Mg, Si, Mn, Zn, Cu
- Thí nghiệm đƣợc bố trí theo kiểu ô chính ô phụ - Split - Plot Design, 3 lần nhắc lại Nhân tố chính là A - mức phân bón, nhân tố phụ B - giống lúa
- Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 12m2 (3m x 4m), khoảng cách các ô là 30 cm, khoảng cách các khối: 35 cm và có dải bảo vệ xung quanh ruộng lúa thí nghiệm
* Cách bón phân: Các tổ hợp phân P1, P2, P3 chia làm 3 lần bón nhƣ sau:
- Lần 1: Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân P205 + 30%N + 30%K
- Lần 2: Bón thúc đợt 1 khi lúa bắt đầu đẻ: 40%N + 30%K kết hợp với làm cỏ sục bùn
- Lần 3: Bón thúc đợt 2: Thúc đòng khi cây lúa có khối sơ khởi bón: 30%N + 40%K
+ Đối với tổ hợp phân bón P4 bón như sau:
Bón lót 100% phân chuồng Sau khi cấy 2 đến 3 ngày, bón 1 viên giữa
4 khóm lúa cứ cách một hàng thì bón một hàng, bón sâu xuống đất khoảng 5 -
7 cm Chỉ bón một lần duy nhất cho cả vụ Lƣợng bón là 12 đến 12,5 kg/360m2
- Vụ Mùa 2010: Gieo mạ ngày 1/7/2010 cấy ngày 13/7/2010
- Vụ Xuân 2011: Gieo mạ ngày 13/2/2011 cấy ngày 2/3/2011