Chiến lược kinh doanh 1.1.1 Các khái niệm : Khi doanh nghiệp tham gia cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trường thì điều đầu tiên doanh nghiệp cần quan tâm đến là việc doanh nghiệp lập
Trang 1
MỤC LỤC
2.1.1.2 Các giấy phép Viettel: 31+ Ban Giám đốc: 35+ Các phòng, ban: 35
Trang 2Lời nói đầu
Khi nhìn lại sự phát triển của thị trường viễn thông Việt Nam trong thời gian qua ngưòi ta có thể thấy gần như bao trùm lên nó là sự độc quyền trong thời gian dài với hình ảnh thương hiệu độc quyền của Tổng công ty Viễn thông Việt Nam(VNPT) Có thể nói khi đó người ta liên tưởng tới việc sử dụng dụng điện thoại di động và các dịch vụ của nó giống như một thứ hàng
xa xỉ, chỉ dành cho những người đẳng cấp, giàu có 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn và cũng gần xấp xỉ tỷ lệ như vậy không biết hoặc không giám nghĩ đến việc mình sẽ sử dụng dịch vụ di động Thế nhưng, phát triển là
xu hướng tất yếu, theo đó sự độc quyền dần xóa bỏ, đánh dấu quá trình đó bằng sự ra đời của S-fone vào năm 2003 và đặc biệt là sự ra đời của Viettel mobile vào năm 2004 Sự ra đời của các nhà cung cấp dịch vụ mới đã tạo ra
sự phát triển mạnh mẽ của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam, người tiêu dùng được hưởng lợi từ việc sử dụng dịch vụ điện thoại di động, các nhà cung cấp lớn không còn thế độc quyền mà phải tiến hành các chiên lược cạnh tranh mới có thể duy trì và tiếp tục phát triển Tỷ lệ người Việt Nam được sử dụng dịch vụ điện thoại với giá rẻ hơn tăng lên nhanh chóng và thị trường di động của Việt Nam trở nên sôi động và nổi lên trong quá trình phát triển ngoạn mục đó phải kể đến Viettel -Tổng công ty Viễn Thông Quân Đội Viettel ra đời và phát triển đến nay trở thành hiện tượng của ngành viễn thông của Việt Nam Đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ di động Viettel đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ di động số một tại Việt Nam trong thời gian ngắn, vượt trên các đối thủ khác đi trước cả hàng chục năm
Vậy vì sao Viettel làm được điều đó? Trước hết để làm được điều đó chính là việc đưa ra những chiến lược kinh doanh đúng đắn và tận dụng tốt các nguồn lực để thực hiện nhanh chóng chiến lược ấy một cách thành công cùng với những nhân tố khách quan khác như chính trị, luật pháp cũng như sự phát triển của nền kinh tế Vậy Viettel đưa ra chiến lược kinh doanh dịch vụ
Trang 3di động và thực hiện nó như thế nào dể có thể giành thắng lợi như vậy Vì vậy
đề tài: Hoàn thiện chiến lược kinh doanh dịch vụ di động ở công ty Viễn
Thông Viettel sẽ tìm lời giải cho câu hỏi đó đồng thời đề xuất một số một ssó
giải pháp nhằm hoàn thiện chiến lược kinh doanh dịch vụ di dộng của công
ty Với mục đích như vậy- bài viết gồm 3 phần :
Chương I: Cơ sở lý luận của chiến lược kinh doanh
Chương II: Thực trạng chiến lược kinh doanh dịch vụ di động của Viettel Chương III: Hoàn thiện chiến lược kinh doanh dịch vụ di động của Viettel
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các chiến lược kinh doanh dịch vụ di động của công ty viễn thông Viettel, tìm hiểu những thành công của công ty đồng thời phân tích một số tồn tại của chiến lược kinh doanh
để từ đó dưa ra các giải pháp hoàn thiện chiến lược kinh doanh của công ty Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu để làm rõ sự logic của việc đề ra chiến lược kinh doanh đúng đắn và những thành công nhận được
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, PGS.TS
Lê Thị Anh Vân đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian qua Bài viết tuy có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong được sự đóng góp nhiệt tình từi phía thầy cô và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Chương I: Cơ sở lý luận của chiến lược kinh doanh
1.1 Chiến lược kinh doanh
1.1.1 Các khái niệm :
Khi doanh nghiệp tham gia cung cấp sản phẩm dịch vụ trên thị trường thì điều đầu tiên doanh nghiệp cần quan tâm đến là việc doanh nghiệp lập ra cho mình một chiến lược kinh doanh đúng đắn, sau dó tiến hành tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh của mình sao cho tận dụng được mọi nguồn lực của công ty và thực hiện thành công chiến lược đặt ra
Chiến lược kinh doanh có tầm quan trọng rất lớn đối với doanh nghiệp, nó giống như kim chỉ nam cho mọi hành động của doanh nghiệp,
hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp giành
thắng lợi trong cạnh tranh và sự phát triển ổn định lâu dài trong tương lai của doanh nghiệp bởi nó yêu cầu doanh nghiệp phải phân tích được điều kiện hiện tại, xu hướng trong tương lai của môi trường kinh doanh để đề ra các định hướng dài hạn trên cơ sở khai thác triệt để các điểm mạnh và hạn chế các điểm yếu của doanh nghiệp và tận dụng các cơ hội, quản lý các rủi ro một cách chủ động
Chiến lược kinh doanh như là một định hướng chung cho toàn bộ các hoạt động tác nghiệp của toàn doanh nghiệp và của từng bộ phận trong doanh nghiệp, là cơ sở cho việc đề ra các quyết định của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp từ đó nó cho phép tập trung được tối đa nguồn lực cho sự phát triển dài hạn, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý hội tụ hoạt động của toàn doanh nghiệp theo một hướng nhất định Vì vậy nó làm cho các hoạt động của doanh nghiệp định hướng rõ ràng với hiệu suất cao
Vậy chiến lược kinh doanh là gì? Trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm chiến lược, chiến lược là những cách thức mà nhờ đó có những mục tiêu dài hạn có thể đạt được.Và đối với một doanh nghiệp thì chiến lược kinh doanh có thể là chiến lược mở rộng về mặt địa lý, đa dạng hoá sản phẩm,
Trang 5thâm nhập thị trường, cắt giảm hoặc từ bỏ, thôn tính hoặc liên doanh Vậy chiến lược kinh doanh là gì?
Chiến lược kinh doanh là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, giải pháp
và công cụ để tiến hành thực hiện mục tiêu đó
Một khái niệm khác cần đề cập đến đó là quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học của việc xây dựng, thực hiện và đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho mỗi tổ chức có thể đạt được mục tiêu của nó
Quá trình quản trị chiến lược giống như một hướng đi, một hướng đi giúp các tổ chức này vượt qua sóng gió trong thương trường, vuơn tới một tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của chúng, đây là kết quả của sự nghiên cứu khoa học trên cơ sở thực tiễn kinh doanh của nhiều công ty Nó thực sự là một sản phẩm của khoa học quản lý, bởi lẽ nếu các tổ chức xây dựng quá trình quản trị tốt, họ sẽ có một chỗ dựa tốt để tiến lên phía trước Tuy vậy mức độ thành công còn phụ thuộc vào năng lực triển khai và nghệ thuật trong quản trị
Vì vậy trong môi trường kinh doanh hiện nay khi mà yếu tố môi trường biến động một cách nhanh chóng thì nếu chỉ dựa vào những thành công hiện tại không thể đảm bảo cho sự thành công tiếp tục trong tương lai của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường muốn tồn tại và phát triển ổn định cần có một tầm nhìn xa, dự đoán trước các biến động của môi trường để từ đó có các quyết sách thích hợp vì vậy tất yếu phải đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp
1.1.2 Yêu cầu của chiến lược kinh doanh
Một chiến lược kinh doanh đặt ra phải đảm bảo các yêu cầu sau:
_ Mục đích của doanh nghiệp là đạt được thắng lợi trong cạnh tranh và chỉ có thắng lợi trong cạnh tranh mới cần thiết có chiến lược trong kinh doanh cho nên khi xây dựng chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp phải khai thác triệt để các lợi thế so sánh của doanh nghiệp, sử dụng nhiều biện pháp để tận dụng và phát huy thế mạnh của doanh nghiệp
Trang 6_Khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải tính đến và xác định vùng an toàn trong kinh doanh, phải hạn chế độ rủi ro đến mức thấp nhất Có như vậy mới đảm bảo cho sự sống còn của doanh nghiệp và đảm bảo cho chiến lược có thể thành hiện thực.
_Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính là các phản ứng của doanh nghiệp đối với các biến đổi của môi trường trong tương lai Vì vậy việc
dự đoán được xu hướng biến động của môii trường kinh doanh trong tương lai
là một yêu cầu bắt buộc phải làm một cách nghiêm túc khi xây dựng Việc dự đoán môi trường càng chính xác bao nhiêu thì chiến lược kinh doanh càng phù hợp bấy nhiêu
_Vì nguồn lực của mỗi doanh nghiệp có hạn nên khi xây dựng chiến lược phải xác định được phạm vi kinh doanh, mục tiêu và những điều kiện cơ bản để thực hiện chiến lược kinh doanh nhằm sử dụng triệt để các nguồn lực, tránh dàn trải
_Vì chiến lược kinh doanh là để thực thi trong tương lai trên cơ sở dự đoán môi trường của doanh nghiệp mà đã là dự đoán thì có thể không chắc chắn vì môi trường có thể biến đổi liên tục, nhiều tình huống không lường trước
có thể xảy ra, vì vậy ngoài chiến lược chính thức doanh nghiệp cần phải có chiến lược dự phòng để có thể phản ứng được với những tình huống biến đổi của môi trường nhằm tránh những rủi ro lớn có thể xảy ra cho doanh nghiệp
_Phải kết hợp độ chín muồi với thời cơ, chiến lược kinh doanh không chín muồi thì chắc chắn thất bại Song nếu mất quá nhiều thời gian tính toán cũng khó đảm bảo thành công của chiến lược vì khi quá cầu toàn trong xây dựng chiến lược sẽ mất nhiều thời gian vào những chi tiết vụn vặt do đó sẽ bỏ
lỡ mất cơ hội, đồng thời các thông tin phân tích đã bị lỗi thời, không phù hợp nữa, trong trường hợp đó nếu doanh nghiệp vẫn kinh doanh theo lối cũ thì sẽ khó tránh khỏi thất bại
Trang 7_Phải do bộ phận chuyên trách xây dựng chiến lược kinh doanh đảm nhận Xây dựng trên căn cứ thực tế kinh doanh, các nguồn thông tin chính xác
và cập nhật
1.1.3 Các loại chiến lược kinh doanh
1.1.3.1.Chiến lược kinh doanh cấp doanh nghiệp
Các chiến lược cấp doanh nghiệp thường gắn liền với các lựa chọn định hướng tổng thể của doanh nghiệp như phôi thai, tăng trưởng, ổn định, hay cắt giảm Tuỳ tình hình doanh nghiệp đang ở giai đoạn tăng trưởng nào hoặc tuỳ theo tình hình thị trường cạnh tranh như thế nào mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn chiến lược cho mình phù hợp để tồn tại và phát triển
a Chiến lược phôi thai
Đây là chiến lược sử dụng cho cá doanh nghiệp mới vào ngành, trong giai đoạn này, tất cả các công ty, yếu và mạnh, đều nhấn mạnh vào khả năng riêng biệt và chính sách sản phẩm thị trường Trong giai đoạn này nhu cầu đầu tư là lớn vì công ty phải thiết lập lợi thế cạnh tranh để phát triển khả năng riêng biệt Mục đích là tạo ra thị phần lớn bằng việc phát triển lợi thế cạnh tranh duy nhất và ổn định để thu hút khách hàng có hiểu biết về sản phẩm của công ty
Thành công của công ty phụ thuộc vào khả năng thể hiện, khả năng duy nhất để hấp dẫn các nhà đầu tư bên ngoài hoặc các nhà đầu tư mạo hiểm Nếu không làm được điều đó thì con đường duy nhất là rút khỏi ngành Thực tế các công ty ở các vị thế cạnh tranh yếu ở tất cả các giai đoạn của chu kỳ sống
có thể chọn cách rút khỏi ngành để cắt giảm thua lỗ
b Chiến lược tăng trưởng
Ở giai đoạn tăng trưởng, nhiệm vụ của công ty là củng cố vị thế và tạo
cơ sở cần thiết để tồn tại trong giai đoạn sắp tới Chiến lược tăng trưởng có thể chia ra nhiều loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Dưới đây là một số loại chiến lược tăng trưởng:
i Xét theo tính chất của của quá trình tăng trưởng gồm có:
Trang 8_Chiến lược tăng trưởng tập trung:
Là chiến lược tăng trưởng dựa trên cơ sở tập trung vào những điểm chủ yếu của doanh nghiệp trong thời kỳ chiến lược cụ thể nào đó Chiến lược tăng trưởng tập trung chủ yếu nhằm cải thiện những sản phẩm và thị trường hiện
có mà không thay đổi yếu tố nào
Chiến lược tăng trưởng tập trung có thể thực hiện bởi các phương thức sau:+ Một là, tập trung khai thác thị trường, đây là việc tìm cách tăng trưởng các sản phẩm hiện đang sản xuất tiêu thụ tại thị trường cũ chủ yếu nhờ
nỗ lực của hoạt động marketing Doanh nghiệp có thể làm tăng thị phần bằng một số cách như tăngg sức mua sản phẩm của khách hàng, lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh hoặc là mua lại đối thủ cạnh tranh
+ Hai là, mở rộng thị trường, đây việc tìm cách tăng trưởng bằng việc thâm nhập vào thị trường mới với những sản phẩm doanh nghiệp hiện đang sản xuất
Một số giải pháp mở rộng thị trường được các doanh nghiệp thường xuyên sử dụng đó là :
*Tìm kiếm thị trường trường trên địa bàn mới
*Tìm kiếm thị trường mục tiêu mới
*Tìm ra các giá trị sử dụng mới của sản phẩm
_Chiến lược phát triển sản phẩm
Là chiến lược tăng trưởng bằng cách phát triển sản phẩm mới tiêu thụ ở các thị trường hiện tại của doanh nghiệp Dưới đây là một vài hình thức phát triển sản phẩm mới chủ yếu:
+ Thứ nhất, phát triển sản phẩm riêng biệt, có thể thực hiện cách này bằng việc thay đổi tính năng sản phẩm, cải tiến chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã sản phẩm hoặc mở rộng mẫu mã sản phẩm mới
+ Thứ hai, phát triển danh mục sản phẩm có thể được thực hiện thông qua việc bổ xung thêm các mặt hàng mới hoặc cải tiến sản phẩm hiện đang sản xuất bằng nhiều cách như bổ xung mẫu mã sản phẩm có tính năng tác
Trang 9dụng, đặc trưng chất lượng kém hơn (kéo dãn xuống phía dưới) hay bổ xung các mẫu mã sản phẩm có tính năng tác dụng, đặc trưng chất lượng cao hơn ( kéo dãn lên trên) hoặc đồng thời sử dụng cả hai cách trên.
ii Xét theo hình thức tăng trưởng
_Chiến lược tăng trưởng bằng con đường liên kết, là chiến lược thích hợp với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành mạnh nhưng doanh nghiệp còn do dự hoặc không có khả năng triển khai chiến lược tăng trưởng tập trung Chiến lược này cho phép củng cố vị thế của doanh nghiệp và cho phép phát huy đầy đủ tiềm năng của doanh nghiệp
_Chiến lược tăng trưởng bằng con đường đa dạng hoá, là chiến lược đầu tư vào nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau khi doanh nghiệp đã có ưu thế cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện tại Các doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá bằng một trong các cách sau:
+ Đa dạng hoá đồng tâm: là việc tham gia vào lĩnh vực kinh doanh mới
có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp bởi sự tương đồng giữa một hoặc nhiều bộ phận của chuỗi giá trị (các chức năng tạo giá trị như sản xuất, marketing, công nghệ )
+ Đa dạng hoá theo chiều ngang: là quá trình phát triển một hay nhiều sản phẩm mới không có liên quan gì đến sản phẩm hiện tại phục vụ khách hàng hiện tại Đây thường là chiến lược của các công ty đa ngành
+ Đa dạng hoá tổ hợp còn gọi là đa dạng hoá không liên quan tìm kiếm
sự tăng trưởng bằng cách hướng tới thị trường mới với các sản phẩm mới không liên quan gì về quy trình công nghệ với sản phẩm sẵn có
iii Xét theo phương thức tăng trưởng
_ Chiến lược tăng trưởng nội bộ (tự tăng trưởng) tức là doanh nghiệp tự
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình bằng nguồn lực tự thân, như vậy chiến lược thường triển khai chậm nhưng vững chắc Tăng trưởng nội bộ không chỉ bao gồm việc hoàn thiện hệ thống sản xuất-kinh doanh cũ mà còn
Trang 10thực hiện thông qua thành lập cơ sở mới, phát triển kinh doanh theo chiều ngang và chiều dọc bằng các nguồn lực nội bộ.
_Chiến lược tăng trưởng hợp nhất được thực hiện bằng cách sáp nhập hai hoặc nhiều cơ sở sản xuất một cách tự nguyện Chiến lược này được thực hiện trong trường hợp các doanh nghiệp có cùng mục đích trong kinh doanh,
có cùng nguyện vọng khai thác thời cơ, chia sẻ các rủi ro và có lợi thế cạnh tranh bổ xung được cho nhau
_ Chiến lược tăng trưởng qua thôn tính được hình thành và phát triển thông qua cạnh tranh trên thị trường Nhờ cạnh tranh mà các doanh nghiệp mạnh, có tiềm lực thôn tính các doanh nghiệp yếu hơn để phát triển thành doanh nghiệp có quy mô lớn mạnh hơn
_ Chiến lược tăng trưởng qua liên doanh và liên kết kinh tế, mô hình này rất phổ biến trên thị trường Chiến lược này được thực hiện giữa hai hoặc nhiều đối tác bình đẳng có tư cách pháp nhân liên kết thực hiện tự nguyện nhằm phân tán rủi ro, tăng thêm sức mạnh, tăng thị phần
Tuy nhiên khi doanh nghiệp áp dụng chiến lược ổn định không có nghĩa là tất cả các đơn vị kin doanh đều ổn định, không tăng trưởng
d Chiến lược suy giảm
Trang 11Tăng trưởng và phát triển là mục tiêu song không phải ở mọi thời kỳ doanh nghiệp cũng có đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu này.Chiến lược suy giảm sẽ phù hợp khi doanh nghiệp cần sắp xếp lại để tăng cường hiệu quả sau một thời gian tăng trưởng nhanh, khi trong ngành không còn cơ hội để tăng trưởng dài hạn, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định hoặc khi xuất hiện các cơ hội khác hấp dẫn hơn.
1.1.3.2 Chiến lược cấp kinh doanh
a Chiến lược dẫn đầu về chi phí
Đây là chiến lược tập trung vào hạ thấp chi phí sản xuất nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ cho một bộ phận thị trường xác định
Có bộ phận không nhỏ khách hàng ưu thích dùng các sản phẩm dịch vụ
có mức chi phí thấp mà vẫn đảm bảo tính năng công dụng của sản phẩm.Và cuộc cạnh tranh về giá luôn diễn ra khốc liệt giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường Cạnh tranh bằng giá cả thường được diễn ra theo các phương pháp sau:
-Kinh doanh với chi phí thấp
-Bán với mức giá hạ thấp
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh Nếu như chênh lệch về giá giữa các doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì lẽ đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽ càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị thế cạnh tranh ngày càng cao
Khả năng hạ giá thấp của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như: chi phí về kinh tế thấp, khả năng bán hàng tốt, khả năng về tài chính tốt Doanh nghiệp phải chọn thời điểm để tiến hành sử dụng giá cả làm vũ khí cạnh tranh vì hạ giá sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
Trang 12nghiệp Đồng thời doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm dến từng vùng thị trường khác nhau để có giá cả hợp lý ở từng vùng thị trường.
Người dẫn đầu về chi phí thường lựa chọn mức khác biệt hoá sản phẩm thấp vì việc làm khác biệt hoá sản phẩm thường tốn kém Người dẫn đầu về chi phí thường phải bảo đảm mức khác biệt hoá sản phẩm không quá chênh lệch với người khác biệt hoá sản phẩm, điều quan trọng là mức khác biệt hoá sản phẩm có thể đạt được với chi phí thấp Người dẫn đầu về chi phí thường quan tâm đến phạm vi thị trường rộng lớn, mục đích quan trọng của người dẫn đầu về chi phí là quan tâm đến khả năng làm cho nó có thể tăng tính hiệu quả lên và hạ thấp các chi phí xuống so với các đối thủ cạnh tranh của mình Lợi thế về chi phí có thể bắt nguồn từ quy mô sản xuất lớn, độc quyền công nghệ, ưu đãi về nguồn nguyên liệu, cấu thành sản phẩm, mức độ dịch vụ hay quy trình kỹ thuật…
Có thể thấy lợi thế của mô hình này qua phân tích mô hình năm lực lượng của M.Porter, ta thấy người dẫn đầu về chi phí được bảo vệ khỏi các đối thủ cạnh tranh trong ngành bằng lợi thế về chi phí của mình Chi phí thấp của doanh nghiệp cũng có nghĩa là nó ít bị ảnh hưởng hơn các đối thủ cạnh tranh của họ từ việc tăng giá các đầu vào nếu người cung ứng có sức mạnh và
ít bị ảnh hưởng bởi sự giảm giá mà nó có thể đặt cho sản phẩm của mình nếu những người mua có sức mạnh hơn Đồng thời người dẫn đầu về chi phí cũng
dễ dàng cạnh tranh với các sản phẩm thay thế và tạo ra hàng rào ra nhập ngành đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Người dẫn đầu về chi phí vì thế tương đối an toàn chừng nào có thể duy trì lợi thế của mình và giá là chìa khoá cho con số người mua đáng kể
Tuy nhiên người dẫn đầu về chi phí cũng có nguy cơ đó là khả năng các đối thủ tìm cách sản xuất với chi phí thấp hơn và tấn công người dẫn đầu chi phí bằng chính “sở trường” của người đó Khả năng đối thủ dễ dàng bắt chước các phương pháp của người dẫn đầu chi phí là một đe doạ khác đối với chiến lược của người dẫn đầu về chi phí Rủi ro nữa là với chiến lược dẫn đầu
Trang 13về chi phí, người đẫn đầu về chi phí chỉ lo suy nghĩ giảm chi phí mà có thể không theo dõi được sự biến động của thị hiếu người tiêu dùng do đó sẽ ảnh hưởng rõ nét đến cầu sản phẩm.
Tóm lại cần lưu ý là người theo đuổi chiến lược chi phí thấp không loại trừ khả năng chuyên môn hoá Vấn đề quan trọng là phải được khách hàng chấp nhận khi so sánh với sản phẩm cạnh tranh Vì vậy chi phí thấp chỉ
có ưu thế cạnh tranh nếu công ty đảm bảo mức độ khác biệt hoá sản phẩm nhất định được người tiêu dùng nhận biết và chấp nhận
b Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm
Là chiến lược tập trung vào khác biệt hoá sản phẩm(dịch vụ )cung cấp cho một bộ phận thị trường xác định Chiến lược này phải dựa trên cơ sở phân đoạn thị trường thích hợp Phân đoạn thị trường chính xác sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn đúng thị trường ở thời kỳ chiến lược Thông thường doanh nghiệp phải tập trung vào thế mạnh của đội ngũ nghiên cứu và phát triển, đội ngũ chuyên môn phục vụ khách hàng mà phát hiện kịp thời các yêu cầu của khách hàng, hoàn thiện công nghệ, sử dụng vật liệu thích hợp, đội ngũ lao động giỏi… để khác biệt hoá sản phẩm, phục vụ cho từng nhóm khách hàng
Một công ty khác biệt hoá sản phẩm có khả năng đặt giá cao hơn đáng
kể so với mức trung bình của ngành, giúp tăng doanh thu và nhận được lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và khách hàng trả giá đó vì họ tin tuởng chất lượng của sản phẩm đã khác biệt hoá tương ứng với chênh lệch đó
Các giải pháp chiến lược cho người khác biệt hoá sản phẩm tạo ra sản phẩm có sự khác biệt hoá là từ chất lượng, sự đổi mới và thích nghi với khách hàng Sự khác biệt hoá có thể xuất phát từ những hấp dẫn đối với mong đợi về mặt tâm lý của khách hàng, có thể là do yếu tố gắn liền với địa vị hoặc lòng kiêu hãnh của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ các nhóm độ tuổi và các nhóm kinh tế xã hội… Thực tế cho thấy cơ sở của sự khác biệt hoá sản phẩm
là vô tận
Những lợi thế có được từ sự khác biệt hoá sản phẩm đó là :
Trang 14Khác biệt hoá sản phẩm bảo vệ công ty khỏi đối thủ cạnh tranh ở các mức độ mà khách hàng có lòng trung thành đối với nhãn hiệu sản phẩm của công ty Lòng trung thành đối với nhãn hiệu hàng hoá là tài sản vô hình rất có giá trị vì nó bảo vệ công ty trên tất cả các mặt Mặt khác sự khác biệt hoá sản phẩm và lòng trung thành đối với nhãn hiệu cũng có thể tạo ra rào cản gia nhập thị trường đối với các đối thủ tiềm ẩn Các công ty khác biệt hoá sản phẩm thường phải tập trung vào những hoạt động truyền thông, giao tiếp để cung cấp thông tin về tính chất độc đáo và sự khác biệt sản phẩm của mình so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên cũng có những bất lợi của việc khác biệt hoá sản phẩm là việc khác biệt hoá sản phẩm không cho phép xem nhẹ các vấn đề về chi phí Phần chênh lệch giá phải lớn hơn chi phí bổ xung để tạo ra sự khác biệt hoá sản phẩm Nếu không bảo đảm nguyên tắc đó thì công ty sẽ mất ưu thế cạnh tranh Do đó cần phải giảm chi phí ở phần nào không ảnh hưởng đến tính khác biệt hoá của sản phẩm
Theo truyền thống, việc khác biệt hoá sản phẩm chỉ có thể đạt được ở mức chi phí cao vì cần phải tạo ra những mẫu mã sản phẩm khác nhau ở các đoạn thị trường khác nhau, có nghĩa là các hãng có các chu kỳ sản xuất ngắn, điều này làm tăng chi phí sản xuất Mặt khác hãng khác biệt hoá sản phẩm phải chịu chi phí marketing cao hơn người dẫn đầu về chi phí vì nó phục vụ nhiều đoạn thị trường
c Chiến lược kết hợp chi phí thấp với khác biệt hoá sản phẩm
Là chiến lược vừa tập trung vào hạ thấp chi phí sản xuất vừa tập trung vào việc khác biệt hoá sản phẩm cao nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ cho một bộ phận thị trường xác định Các giải pháp chiến lược hạ thấp chi phí kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm cũng như khác biệt hoá sản phẩm cao thường gắn với các thế mạnh, cơ hội trong thời kỳ chiến lược Doanh nghiệp thường phải tập trung vào các nỗ lực công nghệ, sử dụng vật liệu thay thế rẻ tiền, hạ thấp chi phí kinh doanh cho các hoạt động quản trị, vận chuyển …
Trang 15cũng như tận dung thế mạnh của đội ngũ ngiên cứu và phát triển, đội ngũ nhân viên chuyên môn và lao động kỹ thuật giỏi… để tạo ra sự khác biệt hoá sản phẩm.
1.1.3.3 Chiến lược kinh doanh cấp chức năng
a Chiến lược marketing
Đối với doanh nghiệp chiến lược marketing có mục tiêu nâng cao năng lực đáp ứng những thay đổi của thị trường và của đối thủ, đồng thời chuẩn bị các phương án ứng phó với những cơ hội và rủi ro tiềm tàng nảy sinh trong suốt thời kỳ chiến lược Chiến lược marketing bao gồm các vấn đề chủ yếu như thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm và đa dạng hoá Cụ thể hơn marketing phân tích các cơ hội thị trường, đáp ứng các yêu cầu thị tường bắn cách thực hiện những thay đổi cần thiết cho sản phẩm- dịch vụ, tiến hành biện pháp giá cả, hoàn thiện hệ thống kênh phân phối…
Để hoạch định chiến lược marketing phù hợp với từng thời kỳ doanh nghiệp phải phân tích một số vấn đề sau:
- Doanh nghiệp kinh doanh gì trong thời kỳ chiến lược, vị trí hiện tại của doanh nghiệp trong ngành như thế nào, doanh nghiệp muốn đạt được thị phần bao nhiêu?
- Ai đã và sẽ là khách hàng của doanh nghiệp và đâu sẽ là thị trường của doanh nghiệp?
- Hình ảnh uy tín của doanh nghiệp dưới con mắt của khách hàng chủ yếu?
- Mục tiêu của doanh nghiệp là gì? Lợi thế của doanh nghiệp là gì và điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp là ở chỗ nào?
- … Từ đó doanh nghiệp sẽ đưa ra các giải pháp marketing cụ thể để giải quyết các vấn đền như nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, định vị sản phẩm trên thị trường như thế nào… Và các giải pháp bảo đảm nguồn tài chính và vật chất cần thiết để thực hiện mục tiêu chiến lược marketing
b Chiến lược nguồn nhân lực
Trang 16Hoạch định và thực hiện chiến lược nguồn nhân lực nhằm bảo đảm sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả nhất và khai thác tốt nhất nguồn nhân lực trên thị trường lao động, đảm bảo điều kiện nhân lực cần thiết cho việc hoàn thành các mục tiêu chiến lược tổng quát trong một thời kỳ xác định.
Các mục tiêu chiến lược về nguồn nhân lực bao gồm các vấn đề cụ thể như đảm bảo số lượng lao động, đảm bảo chất lượng lao động, đảm bảo năng suất lao động, đảm bảo thù lao lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động
Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược đã đề ra, doanh nghệp cần phải xây dụng hệ thống các giải pháp chiến luợc thích hợp Đó là các giải pháp đảm bảo số lượng lao động và cơ cấu lao động hợp lý, các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động, các giải pháp đảm bảo tăng năng suất lao động, giải pháp về thù lao lao động và cải thiện điều kiện lao động…Tổ hợp những giải pháp đó sẽ tạo ra chiến lược nguồn nhân lực hiệu quả giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình một cách hiệu quả
c Chiến lược nghiên cứu và phát triển
Chiến lược nghiên cứu và phát triển nhằm đảm bảo kỹ thuật công nghệ sản xuất đầp ứng các yêu cầu thực hiện các mục tiêu chiến lược tổng quát mà doanh nghiệp đã xác định Nghiên cứu và phát triển bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu như nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, phát triển công nghệ mới hoặc cải tiến công nghệ, nghiên cứu vật liệu mới thay thế các vật liệu đang sử dụng
Doanh nghiệp có thể sử dụng các giải pháp sau cho chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm:
- Tổ chức lại độ ngũ cán bộ nghiên cứu và phát triển ở phạm vi toàn doanh nghiệp, đảm bảo các điều kiện vật chất cần thiết
- Xác định ngân quỹ dùng cho hoạt động nghiên cứu và phát triển đảm bảo đủ nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, tránh tình trạng bỏ dở vì trong quá trình thực hiện nghiên cứu và phát triển thiếu ngân quỹ
Trang 17- Các giải pháp liên quan đến các lĩnh vực khác gắn với quá trình nghiên cứu và phát triển như các hoạt động mua sắm, sản xuất… Mục tiêu là phải tạo
ra sự phối hợp đồng bộ giữa bộ phận nghiên cứu và phát triển và các bộ phận khác có liên quan
d Chiến lược tài chính
Chiến lược tài chính của doanh nghiệp được thiết lập nhằm bảo đảm các điều kiện tài chính cần thiết cho mọi hoạt động đầu tư, sản xuất… phù hợp với các mục tiêu chiến lược đã định
Các nhiệm vụ cụ thể của chiến lược tài chính được căn cứ chủ yếu vào hiện trạng năng lực tài chính của doanh nghiệp và dự báo những thay đổi có thể; mục tiêu của chiến lược kinh doanh tổng quát của doanh nghiệp, các kết quả phân tích và dự báo môi trường kinh doanh cũng như các nhiệm vụ cần huy động và sử dụng vốn trong từng thời kỳ cụ thể
Nội dung chủ yếu của chiến lược tài chính là đề cập tới những vấn đề gắn với việc xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư, xây dựng phương
án quản trị và khả năng đáp ứng tài chính cho mọi hoạt động đầu tư cần thiết, xác định chiến lược tài chính dài hạn, hình thành các phương án chiến lược đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Phải có kế hoạch phối hợp chiến lược tài chính với các chiến lược khác một cách đồng bộ để tạo ra một
hệ thống chiến lược hoàn chỉnh
e Các chiến lược khác
Ngoài các chiến lược kể trên doanh nghiệp cũng cần chú ý đến các chiến lược khác của doanh nghiệp mà các chiến lược này đóng vai trò không nhỏ trong việc ảnh hưởng đến thành công của hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Đó là các chiến lược như:
-Chiến lược công nghệ
- Chiến lược thu thập và xử lý thông tin
- Chiến lược mua sắm và dự trữ
-…
Trang 18Doanh nghiệp cần quan tâm đúng mức đến các chiến lược này và cần tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa các chiến lược với nhau, có như vậy mới đảm bảo hoàn thành mục tiêu tổng thể mà doanh nghiệp đã lựa chọn.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp
1.2.1 Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
• Môi trường kinh tế: Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong
tương lai có ảnh hưởng đến thành công và chiến lược của một doanh nghiệp Các nhân tố chủ yếu của môi trường kinh tế mà doanh nghiệp cần xem xét phân tích đó là tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát Cụ thể khi nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, ngược lại khi nền kinh tế sa sút, suy thoái dẫn đến giảm chi phí cho tiêu dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, các cuộc chiến tranh giá cả trong các ngành sản xuất, đặc biệt là ngành đã trưởng thành càng trở nên gay gắt.Cũng như vậy mức lãi suất sẽ quyết định đến mức cầu của sản phẩm, chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo ra một vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những nguy cơ cho sự phát triển của chúng Lạm phát cũng ảnh hưởng không nhỏ, nếu tỷ lệ lạm phát cao thì việc kiểm soát giá cả và tiền công có thể không làm chủ được Lạm phát tăng lên, dự án đầu tư trở nên mạo hiểm hơn, rút cục là các doanh nghiệp sẽ giảm nhiệt tình đầu tư phát triển sản xuất Như vậy lạm phát cao là mối đe doạ cho doanh nghiệp
• Môi trường chính trị luật pháp: Các nhân tố của môi trường này
bao gồm chính phủ, luật pháp, chính trị, thể chế xã hội tác động đến doanh nghiệp theo các hướng khác nhau Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là cả rủi ro thật sự cho doanh nghiệp Có thể thấy rằng chình phủ là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế, sự ổn định chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách luôn luôn là sự hấp dẫn các nhà đầu tư Hệ thống luật pháp được hoàn thiện là cơ sở để kinh doanh ổn định Các quyết định về
Trang 19quảng cáo, quyết định về thuế và các lệ phí, luật lao động, quy chế tuyển dụng sẽ chi phối đến hành vi của doanh nghiệp.
• Môi trường khoa học công nghệ : Đây là nhân tố có ảnh hưởng
lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh doanh của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp Thực tế trên thế giới đã chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh vực nhưng đồng thời cũng xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới, hoàn thiện hơn Sự thay đổi của công nghệ đương nhiên ảnh hưởng đến chu kỳ sống của một sản phẩm hoặc một dịch vụ Một chu kỳ lý thuyết bao gồm các pha: bắt đầu, phát triển, chín mùi
và tàn lụi Thực tế đối với một số doanh nhiệp và cũng là đối với một số sản phẩm lại có giai đoạn phát triển mới sau giai đoạn tàn lụi Hơn nữa sự thay đổi công nghệ cũng ảnh hưởng tới các phương án sản xuất, nguyên vật liệu cũng như thái độ ứng xử của người lao động
Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi cũng như đầu tư cho tiến bộ công nghệ Các doanh nghiệp phải ý thức rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của nền tri thức Thời đại tri thức sẽ thay thế thời đại công nghiệp
• Môi trường văn hoá xã hội :Trong thời gian chiến lược trung và dài
hạn thì đây có thể là loại nhân tố thay đổi lớn nhất Những lối sống tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập những lối sống mới luôn là cơ hội cho nhiều nhà sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp cũng phải tính đến thái độ tiêu dùng,
sự thay đổi tháp tuổi, tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, vị trí người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình Sự xuất hiện của hiệp hội những người tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo vì lợi ích người tiêu dùng Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao
đã, đang và sẽ là một thách thức đối với các nhà sản xuất và kinh doanh dịch vụ
•Môi trường tự nhiên : Các nhà chiến lựơc khôn ngoan thường quan
tâm đến môi trường khí hậu và sinh thái Đe doạ của những thay đổi không dự báo được về khí hậu đôi khi đã được các doanh nghiệp mà sản xuất, dịch vụ
Trang 20của họ có tính mùa vụ xem xét một cách cẩn thận và được tính đến như là một yếu tố quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cũng đã biết vận dụng những lợi thế có được do tự nhiên ban tặng như
vị trí địa lý, không gian để làm tăng lợi thế cạnh tranh cho mình
•Môi trường kinh tế quốc tế : Khu vực hoá và toàn cầu hoá đang là xu
hướng mà mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi chính phủ phải tính đến Trong bối cảnh đó môi trường quốc tế là một trường hợp đặc biệt của môi trường chung bên ngoài doanh nghiệp Môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn
do những khác biệt về xã hội, văn hoá, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế Khi gia nhập vào môi trường chung như vậy các doanh nghiệp sẽ có nhiều
cơ hội nhưng kèm theo đó là những thách thức mà nếu doanh nghiệp không có chiến lược kinh doanh phù hợp để thích nghi thì sẽ bị loại bỏ khỏi cuộc chơi
1.2.2 Nhân tố thuộc môi trường ngành
Môi trường ngành sản xuất hẹp hay ngành kinh tế kỹ thuật bao gồm nhiều doanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm và dịch vụ giống nhau hoặc tương tự có thể thay thế được cho nhau Những vật giống nhau này là những sản phẩm dịch vụ cùng thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng cơ bản như nhau Nhiệm vụ của các nhà chiến lược là phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong ngành để xác định cơ hội và đe doạ đối với ngành của họ Dưới đây là mô hình phân tích 5 lực lượng của M.Porter:
1.2.2.1 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Đây là lực lượng thứ nhất trong số 5 lực lượng của mô hình M.Porter
đó là quy mô cạnh tranh trong số các doanh nghiệp hiện tại của một ngành sản xuất Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, doanh ngiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá cả là đáng kể, mọi cuộc cạnh tranh về giá cả đều dẫn đến những tổn thương
Trang 21Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thường bao gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành và các hàng rào lối ra.
Khả năng cung ứng của tất cả các đối thủ cạnh tranh trong ngành tạo ra cung sản phẩm dịch vụ trên thị trường Số lượng, qui mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nghiệp Tuy nhiên cần chú ý rằng mức độ ảnh hưởng của đối thủ còn gắn với thị trường bộ phận, thị trường bộ phận rộng hay hẹp lại tuỳ thuộc vào sản phẩm dịch vụ và các điều kiện địa hình giao thông, cơ sở hạ tầng
Khi các doanh nghiệp quyết định lựa chọn cho mình chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp cần căn cứ vào các yếu tố sau: số lượng đối thủ cạnh tranh là nhiều hay ít? mức độ tăng trưởng của ngành là nhanh hay chậm? chi phí cố định là cao hay thấp? các đối thủ cạnh tranh có đủ ngân sách để thực hiện khác biệt hoá sản phẩm hay chuyển hướng kinh doanh không? tính chất
đa dạng của sản xuất kinh doanh, mức độ kỳ vọng của đối thủ cạnh tranh vào chiến lược của họ và sự tồn tại của các rào cản ra nhập ngành Tất cả những yếu tố đó ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược của các doanh nghiệp
1.2.2.2 Khách hàng
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm, dịch
vụ do doanh nghiệp cung cấp Đối với mọi doanh nghiệp khách hàng không chỉ là khách hàng hiện tại mà phải tính đến khách hàng tiềm ẩn, khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp
Cầu về sản phẩm dịch vụ là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng có tính quyết định đến mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thị hiếu của khách hàng cũng như các yêu cầu cụ thể về chất lượng sản phẩm, tính nhạy cảm của khách hàng về giá cả đều tác động trực tiếp đến việc thiết kế sản phẩm Nếu doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu khách hàng thì sẽ giành được thắng lợi trong kinh doanh và ngược lại nếu doanh nghiệp không hoặc không chú ý đúng mức tới nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp sẽ gặp thất bại
Trang 221.2.2.3 Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng được coi là một áp lực đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm khả năng kiếm lợi nhuận của các doanh nghiệp Từ đó tạo ra sự phụ thuộc nào đó của doanh nghiệp vào nhà cung cấp, sự phụ thuộc
đó thể hiện ở các tình huống sau:
- Ngành cung ứng mà doanh nghiệp cần chỉ có một số, thậm chí là một doanh nghiệp cung ứng độc quyền
- Tình huống không có sản phẩm thay thế, doanh nghiệp không có người cung ứng nào khác
- Doanh nghiệp mua yếu tố sản phẩm không phải là khách hàng quan trọng và ưu tiên của nhà cung ứng
- Loại đầu vào, chẳng hạn vật tư nhà cung ứng sẽ quan trọng nhiều đối với doanh nghiệp
- Các nhà cung ứng vật tư cũng có chiến lược liên kết dọc, tức là khép kín trong sản xuất
Doanh nghiệp có thể sẽ ở vào một trong các trường hợp trên, do đó sức
ép từ phía các nhà cung ứng nên doanh nghiệp cần phải lường trước các yếu
tố bất lợi sẽ đến với mình để từ đó có chiến lược phù hợp với điều kiện cạnh tranh trên thị trường
1.2.2.4 Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đây là các doanh nghiệp sẽ tham gia vào thị trường và có nguy cơ chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp Tác động của các doanh nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiêp Sự xuất hiện của các đối thủ mới này còn làm thay đổi bức tranh cạnh tranh trong ngành, dù là thay đổi cục diện cạnh tranh theo kiểu nào thì sự xuất hiện của chúng cũng làm gia tăng sức mạnh cạnh tranh trong ngành
Trang 23Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn là nguy cơ đe doạ đối đối với các doanh nghiệp hiện tại Do đó các doanh nghiệp trong ngành luôn tìm cách cố gắng ngăn cản các đối thủ gia nhập ngành bởi vì càng nhiều doanh nghiệp có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp sẽ bị thay đổi Tuy nhiên việc doanh nghiệp gia nhập ngành còn phụ thuộc vào rào cản ra nhập thị trường, rào cản này bao gồm những lợi thế tuyệt đối về chi phí, sự khác biệt hoá sản phẩm, tính kinh tế của quy mô Đây là những yếu tố quyết định việc doanh nghiệp có tham gia vào thị trường được hay không và doanh nghiệp hiện tại trong ngành có thể tạo ra rào cản cho các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường hay không.
1.2.2.5.Các sản phẩm thay thế
Đây là lực lượng cuối cùng trong mô hình năm lực lượng của Michael.Poter, sản phẩm thay thế là những sản phẩm khác có thể thoả mãn cùng một nhu cầu của khách hàng Càng nhiều sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ càng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp bấy nhiêu Để giảm sức ép của sản phẩm thay thế các doanh nghiệp luôn phải tìm kiếm các giải pháp cụ thể như: phải luôn chú ý đến đổi mới công nghệ kỹ thuật, phải nâng cao chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với sản phẩm thay thế, luôn chú ý tới các giải pháp khác biệt hoá sản phẩm cũng như phải biết phân đoạn thị trường phù hợp
Từ sức ép đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm hơn nữa đến các giải pháp marketing, các giải pháp xúc tiến thương mại khác để tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp mình Trong chiến lược của doanh nghiệp luôn phải tính đến các yếu tố này để đảm bảo cho doanh nghiệp giữ vững vị thế cạnh tranh của mình
1.2.3 Nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp
1.2.3.1 Marketing
Trang 24Có thể hiểu marketing là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các ý tưởng liên quan đến việc hình thành, xác định giá cả, xúc tiến và phân phối hàng hoá tới khách hàng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn mọi mục tiêu của các cá nhân và tổ chức Mục tiêu của marketing là thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng, đảm bảo cung cấp sản phẩm và dịch vụ ổn định với chất lượng đảm bảo và giá cả phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp cạnh tranh thắng lợi và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Do đó marketing đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với doanh nghiệp và sức mạnh của marketing cũng là sức mạnh của doanh nghiệp, hệ thống marketing sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện ra các cơ hội chiến lược và triển khai chiến lược hiệu quả
Hệ thống marketing của doanh nghiệp bao gồm tổng thể hệ thống nghiên cứu thị trường, hệ thống kênh phân phối, hệ thống bán hàng và chăm sóc khách hàng Doanh nghiệp phải tạo ra sức mạnh cho hệ thống marketing
và sử dụng sức mạnh ấy như là một thứ vũ khí sắc bén của doanh nghiệp
1.2.3.2 Nguồn nhân lực
Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp Toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm cả lao động quản trị, lao động nghiên cứu và phát triển, đội ngũ lao đông trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao là nhân tố quan trọng trong việc tạo ra các chiến lược cạnh tranh hiệu quả cho doanh nghiệp Sức mạnh của đội ngũ nhân lực là yếu tố quyết định cho sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải có chế độ đãi ngộ hợp lý để
có thể sử dụng dược nguồn lực mạnh mẽ này và giữ được nguồn lao động có chất lượng cao ở lại phục vụ cho sự phát triển của doanh nghiệp
1.2.3.3 Nghiên cứu và phát triển
Trang 25Nghiên cứu và phát triển là hoạt động có mục đích sáng tạo sản phẩm, dịch vụ mới và khác biệt hoá sản phẩm, sáng tạo, cải tiến công nghệ, trang bị
kỹ thuật, sáng tạo vật liệu mới Khả năng nghiên cứu và phát triển là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm mới luôn phù hợp với nhu cầu thị trường, đẩy nhanh tốc độ đổi mới cũng như khác biệt hoá sản phẩm, sáng tạo hoặc ứng dụng công nghệ có hiệu quả Các doanh nghiêp ngày nay rất quan tâm chú ý tới việc nghiên cứu và sáng tạo sản phẩm mới vì thị trường là luôn luôn thay đổi, nhu cầu của khách hàng cũng thay đổi không ngừng, nếu doanh nghiệp chỉ lo khư khư giữ mãi sản phẩm của mình mà không lo cải tiến, nghiên cứu sản phẩm mới thì doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu so với đối thủ và sẽ dần bị loại bỏ ra khỏi cuộc chơi Từ đó có thể thấy khả năng nghiên cứu và phát triển là một nhân tố có ảnh hưởng đến việc đưa ra các chiến lược cho doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thương trường
1.2.3.4 Tình hình tài chính doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đến mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Mọi hoạt động mua sắm, dự trữ, lưu kho cũng như hoạt động thanh toán của doanh nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của doanh nghiệp
Một doanh nghiêp có khả năng tài chính mạnh sẽ có cơ hội thực hiện các chiến lược mà theo đó mục tiêu của doanh nghiệp sẽ được bảo đảm thực hiện Ngược lại, có thể doanh nghiệp có những ý tưởng chiến lược rất hay nhưng do không có khả năng tài chính thì chiến lược đó sẽ mãi mãi chỉ là trên giấy mà thôi Do vậy có thể nói tài chính doanh nghiệp là yếu tố quyết định đến việc thực hiện thành công chiến lược
Doanh nghiệp cần thường xuyên đánh giá tình hình tài chính của mình thông qua các vấn đề như: nhu cầu vốn và khả năng huy động vốn, việc phân
bổ vốn trong doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh chung ở toàn doanh nghiệp và từng bộ phận của nó, các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá vị thế của doanh nghiệp Qua các đánh giá như vậy doanh nghiệp biết được sức
Trang 26mạnh tài chính của mình như thế nào và từ đó có định hướng chiến lược kinh doanh phù hợp.
1.2.3.5 Hệ thống thu thập và xử lý thông tin
Ngoài hệ thống thu thập thông tin từ bộ phận marketing, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một hệ thống thu thập và xử lý thông tin mạnh mẽ nhằm phản ứng trước những biến động của thị trường, doanh nghiệp cần dự báo trước những diễn biến thị trường, xu thế của khách hàng và những hành động của đối thủ cạnh tranh để có phương án chiến lược kinh doanh phù hợp
Hệ thống thu thâp và xử lý thông tin có trách nhiệm thu thập dữ liệu từ các môi trường và xử lý nó thành các thông tin thứ cấp cho bộ máy ra quyết định để căn cứ vào đó các cán bộ quản lý của doanh nghiệp đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp trước những cơ hội và thách thức từ phía thị trường
đó Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất
Như vậy dịch vụ là một cách cung cấp hàng hoá cho thị trường mà ở đó sản phẩm hàng hoá ấy có thể là vô hình hoặc hữư hình Ngày nay tỷ trọng dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng tăng cao và điều đó nói lên đó là một nền kinh tế năng động, phát triển Ở những nước mà tỷ trọng sản xuất nông nghiệp và công nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn thì có nghĩa là nước đó còn là nước đang phát triển và cần hướng tới một nền kinh tế có cơ cấu hợp lý hơn
b.Dịch vụ di động
Dịch vụ di động là tổng hợp các dịch vụ được nhà cung cấp đưa ra cho người sử dụng thông qua các máy điện thoại di động trên nền công nghệ vô tuyến
Trang 27Như vậy khách hàng muốn sử dụng dịch vụ di động thì trước hết phải có máy điện thoại tương thích với mạng di động mà doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ đưa tới cho người tiêu dùng Người tiêu dùng sử dụng các dịch vụ di động
do nhà cung cấp dịch vụ đưa ra và phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó tuỳ theo mức độ sử dụng của mình
1.3.2 Các loại dịch vụ di dộng cung cấp ở Việt Nam
Ở Việt Nam dịch vụ di động được biết đến đầu tiên vào năm 1994 với nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên dó là Mobifone và cũng từ đó đến nay dịch vụ
di động phát triển không ngừng Lĩnh vực cung cấp dịch vụ di động cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường Hiện nay các doanh nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ sau:
- Dịch vụ cơ bản: là dịch vụ thoại, có thể nói đây cũng là nhu cầu cơ
bản, nhu cầu đầu tiên của người tham gia sử dụng dịch vụ di động và đây cũng là dịch vụ đem lại doanh thu nhiều nhất cho các nhà cung cấp dịch vụ
- Dịch vụ khách hàng: là những dịch vụ bổ xung hay những dịch vụ
mà nhà khai thác mạng di động phục vụ cho khách hàng của mình sau khi hoà mạng ngoài dịch vụ cơ bản là dịch vụ gọi nhằm làm cho quá trình sử dụng dịch vụ di động của khách hàng thuận tiện hơn và mang lại cho khách hàng nhiều tiện ích hơn Dịch vụ cho khách hàng thường gồm:
+ Dịch vụ sau hoà mạng( dịch vụ mà khách hàng được hưởng ngay sau
khi hoà mạng mà không phải đăng ký và miễn phí)
+ Dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng( là dịch vụ mà khách hàng phải
đăng ký với các nhà cung cấp dịch vụ khi có nhu cầu sử dụng và hầu hết khách hàng phải trả phí sử dụng)
Trang 28Chương II Thực trạng chiến lược cạnh tranh của
Tháng 6/ 1989: VIETTEL được thành lập ngày 01/06/1989 tiền thân là
Công ty Điện tử thiết bị thông tin, kinh doanh các dịch vụ truyền thống: khảo sát thiết kế, xây lắp các công trình thông tin, xuất nhập khẩu các thiết bị viễn thông và dịch vụ bưu chính1989-1995: đây là thời kỳ sơ khai, hình thành Công ty được rèn luyện và trưởng thành qua các công trình xây lắp thiết bị, nhà trạm viễn thông và các cột ăng ten cho các tuyến vi ba
Tháng 2/1990: hoàn thành tuyến vi ba số AWA Hà Nội – Vinh đầu
tiên cho Tổng cục Bưu điện, đây cũng là công trình lớn đầu tiên của VIETTEL
Năm 1995 : Công ty Điện tử thiết bị thông tin được đổi tên thành Công
ty Điện tử Viễn thông Quân đội (tên giao dịch là VIETTEL)
Tháng 9/1997 : xin phép kinh doanh 6 loại hình dịch vụ BCVT: Dịch
vụ điện thoại cố định; di động, nhắn tin, Internet, trung kế vô tuyến Radio trunking; dịch vụ bưu chính
Giai đoạn 1998 -2000: VIETTEL được cấp phép kinh doanh dịch vụ
BCVT trên phạm vi toàn quốc:
- Thiết lập mạng và cung cấp các dịch vụ bưu chính;
- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất;
- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ điện thoại trung kế vô tuyến;
- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ Internet công cộng;
- Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN);
Trang 29Năm 1999: Triển khai thử nghiệm và chính thức kinh doanh dịch vụ trung
kế vô tuyến trên địa bàn thành phố Hà Nội Nghiên cứu và xây dựng dự án xin phép thử nghiệm dịch vụ điện thoại đường dài sử dụng công nghệ VoIP
Tháng 9/1999: Nghiệm thu bàn giao tuyến đường trục cáp quang 1A,
dài gần 2.000 km với 19 trạm chính; là đường trục dầu tiên ở Việt nam do người Việt Nam tự thiết kết, thi công không có sự tham gia của chuyên gia nước ngoài Đây là công trình đánh dấu nhiều sáng kiến mang tính đột phá của VIETTEL như: Đấu tắt cáp quang phục vụ ứng cứu thông tin; giải pháp thu phát trên một sợi quang và thiết kế mạng phẳng; giải pháp về đảm bảo thông tin khi xảy ra sự cố đồng thời trên 2 tuyến của vòng ring phẳng sáng kiến sử dụng công vụ để quản lý các mã nguồn; giải pháp khai báo kênh công
vụ cho trạm nhánh; thiết kế lại phần nguồn cho Card khuyếch đại quang
Tháng 2/2000: VIETTEL được cấp phép khai thác thử nghiệm dịch vụ
VoIP (mã số 178) Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong sản xuất kinh doanh BCVT của VIETTEL
Tháng 9/2000: Thống nhất và ký thoả thuận kết nối cung cấp dịch vụ
điện thoại VoIP đầu tiên ở Việt Nam với VNPT; tiến hành các thủ tục thuê kênh, tập huấn kỹ thuật để chuẩn bị triển khai dự án; đồng thời làm các thủ tục xin cấp phép dự án VoIP quốc tế
Ngày 15/10/2000: Chính thức tổ chức kinh doanh thử nghiệm có thu
cước dịch vụ điện thoại đường dài VoIP trên tuyến Hà Nội - Hồ Chí Minh Đánh dấu sự kiện lần đầu tiên có một Công ty ngoài VNPT cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam, bước đầu phá vỡ thế độc quyền, người sử dụng được lựa chọn dịch vụ viễn thông của nhà khai thác khác với giá cước rẻ hơn Lưu lượng bình quân đạt 50K-60K phút/ ngày
Năm 2001-2003: Triển khai hạ tầng viễn thông, mở rộng các loại hình
dịch vụ viễn thông, liên tục củng cố hoàn thiện mô hình tổ chức
Đây là thời kỳ một loạt các đơn vị thành viên của VIETTEL được thành lập: Trung tâm điện thoại cố định; Trung tâm Công nghệ thông tin và
Trang 30dịch vụ kỹ thuật; Trung tâm Mạng truyền dẫn; Trung tâm điện thoại di động
là tiền thân của các Công ty thiết lập mạng và cung cấp các dịch vụ viễn thông sau này Việc thành lập các Trung tâm theo hướng tách riêng các dịch
vụ cố định, di động, Internet ra để tập trung phát triển nhanh giai đoạn đầu
Tháng 7/2001: chính thức kinh doanh dịch vụ VoIP đường dài trong nước; Tháng 12/2001: Chính thức kinh doanh dịch vụ VoIP quốc tế;
Tháng 10/2002: Cung cấp dịch vụ thuê kênh nội hạt và đường dài
trong nước; chính thức cung cấp dịch vụ Internet
Tháng 1/2003: Cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP).
Tháng 9/2003: Cung cấp dịch vụ điện thoại cố định (PSTN) tại Hà Nội
và Hồ Chí Minh
Tháng 11/2003: Khai trương cổng quốc tế vệ tinh tại Sơn Tây
Đáng kể nhất chính là sự triển khai nhanh và mạnh mạng truyền dẫn toàn quốc và đi quốc tế, với quan điểm “truyền dẫn chính là hạ tầng của hạ tầng” VIETTEL phối hợp với đường sắt triển khai tuyến cáp quang 1B dung lượng1Gbps, nhằm phục vụ kết nối cho các dịch vụ điện thoại của VIETTEL
và cho thuê kênh; triển khai cửa ngõ quốc tế làm cơ sở để cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế và phục vụ kết nối Internet
Ngày 15/10/2004: VIETTEL chính thức kinh doanh dịch vụ điện thoại
di động, chỉ hơn một tháng sau khi vào hoạt động, VIETTEL đã có 100.000 khách hàng; gần 1 năm sau đón khách hàng 1 triệu; ngày 21/7/2006 đón khách hàng thứ 4 triệu và đến cuối tháng 12/2007 đã vượt con số trên 7 triệu khách hàng Là mạng di động phát triển nhanh nhất, chỉ sau hơn 2 năm chính thức kinh doanh đã có trên trên 3000 trạm BTS trên toàn quốc và trên 7 triệu khách hàng, theo số liệu thống kê năm 2006 của GSMA thì VIETTEL MOBILE là mạng di động có tốc độ phát triển nhanh thứ 13 trên thế giới
Năm 2005: Công ty Viễn thông Quân đội chuyển đổi thành Tổng công
ty Viễn thông Quân đội, điều đó cho thấy, từ một công ty nhỏ, đã phát triển trở thành một tập đoàn lớn mạnh, có uy tín, có thương hiệu trên thị trường
Trang 31Ngày 18/6/2007, Tổng Công Ty Viễn Thông Quân Đội đã long trọng tổ
chức lễ công bố thành lập Công ty Viettel Telecom trên cơ sở sát nhập 2 công
ty là Công ty điện thoại đường dài và công ty điện thoại di động Viettel, với mục tiêu trở thành nhà cung cấp viễn thông hàng đầu tại Việt Nam
Với việc thành lập công ty Viettel Telecom trên cơ sở sáp nhập 2 công
ty lớn, Viettel Telecom giờ đây sẽ cung cấp tất cả các dịch vụ viễn thông tại Việt Nam Hội tụ là một xu hướng tất yếu , các doanh nghiệp viễn thông trên thế giới đã tiến hành cung cấp đa dịch vụ và tích hợp công nghệ theo hướng tất cả trong một, việc Viettel Telecom ra đời là đi theo xu hướng đó., đây cũng là sự điều chỉnh để thích nghi, tăng cường tính cạnh tranh cho Viettel trong môi trường kinh doanh mới Viettel Telecom ra đời sẽ tiếp tục sứ mệnh
mà Viettel luôn theo đuổi là trở thành nhà cung cấp viễn thông số một tại Việt Nam và có tên tuổi trên thế giới Viettel Telecom sẽ tiếp tục đầu tư mạnh cho
cơ sở hạ tầng mạng lưới kỹ thuật, mạng lưới kinh doanh, nâng cao công tác chăm sóc khách hàng nhằm cung cấp cho khách hang các dịch vụ đa dạng, hấp dẫn với chất lượng tốt nhất, giá thành hợp lý nhất
2.1.1.2 Các giấy phép Viettel:
- Giấy phép số 111/1998/GP-TCBĐ ngày 24/01/1998 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất;
- Giấy phép số 275/GP-TCBĐ ngày 17/03/2006 của bộ bưu chính viễn thông cho phép Tổng Công ty Viễn thông Quân đội thử nghiệm mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông;
- Giấy phép số 43109/GPBT ngày 08/12/2006 của cục trưởng cục tần
số vô tuyến điện cấp phép cho Tổng Công ty Viễn thông Quân đội băng tần GSM 900, phạm vi phủ sóng trên toàn quốc
- Giấy phép số 74867/GPBT ngày 26/06/2007 của cục trưởng cục tần
số vô tuyến điện cấp phép cho Tổng Công ty Viễn thông Quân đội băng tần GSM 1800 , phạm vi phủ sóng trên toàn quốc
Trang 32- Giấy phép số 493/2001/GP-TCBĐ ngày 22/06/2001 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tủ Viễn thông Quân đội (VIETTEL)cung cấp dịch vụ viễn thông đường dài trong nước sử dụng giao thức IP.
- Giấy phép số 494/2001/GP-TCBĐ ngày 22/06/2001 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tủ Viễn thông Quân đội (VIETTEL)cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế trong nước sử dụng giao thức IP
- Giấy phép số 368/2002/GP-TCBĐ ngày 26/04/2002 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tủ Viễn thông Quân đội (VIETTEL)cung cấp dịch vụ kết nối Internet có giá trị đến 2012
- Giấy phép số 891/2001/GP-TCBĐ ngày 26/10/2001 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội (VIETTEL) thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thuê kênh
- Giấy phép số 679/2002/GP-TCBĐ ngày 29/07/2002 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL) thiết lập mạng
và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định nội hạt trên phạm vi toàn quốc
- Giấy phép số 680/2002/GP-TCBĐ ngày 29/07/2002 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL) thiết lập mạng
và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định đường dài trong nước trên phạm vi toàn quốc
- Giấy phép số 1152/1998/GP-TCBĐ ngày 24/01/1998 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL) thiết lập mạng
và cung cấp dịch vụ viễn thông điện thoại trung kế vô tuyến trong nước trên phạm vi toàn quốc
- Giấy phép số 113/1998/GP-TCBĐ ngày 24/01/1998 của Tổng cục Bưu điện cho phép Công ty Điện tử Viễn thông Quân đội (VIETEL) thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ điện thoại chuyển mạch công cộng(PSTN) trong nước trên phạm vi toàn quốc
- Giấy phép số 147/GP-BBCVT cung cấp dịch vụ viễn thông (số 81/2003/GP-BBCVT) ngày 4/3/2005 có giá trị đến hết ngày 31/08/2014
Trang 33- Công văn số 450/CSBĐ ngày 11/4/1998 của Tổng cục Bưu điện về việc đánh số các thuê bao của VIETTEL để phân biệt với thuê bao của các nhà khai thác khác
- Quyết định số 296/QĐ-TCBĐ ngày 04 tháng 04 năm 2002 của Tổng cục Bưu điện về việc phân bổ mã điểm báo hiệu số 7 cho Công ty Viễn thông Quân đội;
- Giấy phép thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông (số 81/2003/GP-BBCVT) ngày 28/4/2003 có giá trị đến hết ngày 28/4/2018
- Địa chỉ công ty: Số 1-Đường Giang Văn Minh-Quận Ba Đình-Hà Nội-SĐT: (84) 2660064 – Fax (84) 26600634
- Website: htpt:// www.vietteltelecom.com.vn
Trang 34Cơ cấu tổ chức của Vietel Telecom
Mô hình tổ chức công ty Viettel Telecom:
CÔNG TY VIETTEL TELECOM
Phòng ACCESS (truy nhập)
Phòng Tổng hợp
TTKT VIỄN THÔNG TẠI
TRUNG TÂM TIN HỌC TÍNH CƯỚC TRUNG TÂM ĐIỀU HÀNH KỸ THUẬT
Phòng Tính cước
Phòng Thanh khỏan
Phòng Quản trị
hệ thống
Phòng Quản lý &
Phát triển ƯD
Ban Trực Vận hành khai thác
NGHIỆP VỤ KINH DOANH, TÀI CHÍNH CÁC DỊCH VỤ VIỄN THÔNG TẠI 75 CNVT TỈNH/TP
Quản lý, chỉ đạo CNVT Tỉnh/TP về các nghiệp vụ viễn thông
TT GIẢI ĐÁP KHÁCH HÀNG
TT
Giải đáp khách hàng Đà Nẵng
TT
Giải đáp khách hàng Hà Nội
TT Giải đáp khách hàng
Hồ Chí Minh
Ban Đào tạo
Ban GQKN
&
CSKH
Ban Giải đáp
Ban Tổng hợp
Phòng Tài chính
Phòng Chính trị
Phòng Hành chính
Phòng
Kỹ thuật
Ban Kiểm soát Nội bộ
Phòng VAS
Phòng Viễn thông Quốc tế
Phòng Quản lý thông tin
Phòng Marketing
Phòng Chăm sóc khách hàng
Phòng Quản lý Bán hàng
Phòng Phát triển
Hạ tầng
Phòng Đầu tư
Ban ĐH
kỹ thuật
II, III
34
Trang 35Ban Giám đốc và các Phòng ban trực thuộc Công ty:
+ Ban Giám đốc:
1 Đồng chí Thượng Tá: Tống Viết Trung_ Giám đốc Công ty
2 Đồng chí Thượng Tá: Trương Công Cường _ Phó Giám đốc Tài chính
3 Đồng chí Thượng Tá: Đinh Bộ Lĩnh_ Phó Giám đốc Công ty
4 Đồng chí Thượng Tá: Hoàng Sơn_ Phó Giám đốc Công ty
5 Đồng chí Bùi Quang Tuyến_ Phó Giám Đốc kinh doanh
+ Các phòng, ban:
1 Phòng Chính trị: Trưởng phòng Đ/c Nguyễn Bá Nam
2 Phòng tổ chức lao động: Trưởng Phòng Đ/c Dương Văn Họa
3 Phòng tài chính: trưởng phòng phụ trách Đ/c Nguyễn Quỳnh Chi
4 Phòng kế hoạch tổng hợp: Trưởng phòng Đ/c Nguyễn Anh Tuấn
5 Phòng Hành chính: Trưởng phòng Đ/c Nguyễn Phan Huy
6 Phòng Kỹ thuật nghiệp vụ: Trưởng phòng Đ/c Nguyễn Hoàng
7 Phòng Kế hoạch mạng : Trưởng phòng Đ/c Lưu Mạnh Hà
8 Phòng VAS & Roaming: Phó phòng phụ trách Đ/c Mai Trí Dũng
9 Trung tâm Tính cước: Trưởng phòng Đ/c Phùng Văn Cường
10 Phòng Chiến lược kinh doanh: Phó phòng phụ trách Đ/c Trần Duy Hưng
11 Phòng Quảng cáo & Truyền thông: Trưởng phòng Đ/c Lê Thanh Hải
12 Phòng Quản lý Bán hàng: Trưởng phòng Đ/c Phạm Anh Tú
13 Phòng Bán hàng Trực tiếp: Phó phòng phụ trách Đ/c Trần Nam Bình
14 Phòng Chăm sóc khách hàng: Trưởng phòng Đ/c Hồ Thu Hà
15 Phòng phát triển khách hàng doanh nghiệp: Trưởng phòng Đ/C Mai Trí Dũng
16 Trung tâm Điều hành kỹ thuật: Giám đốc TT Đ/c Hồ Chí Dũng
17 Trung tâm Giải đáp khách hàng: Giám đốc TT Đ/c Phạm Thị Thanh Vân
18 Trung tâm Kinh doanh Di động Hà Nội: Giám đốc TT Đ/c Nguyễn Chí Thanh
19 Ban Kiểm soát Nội Bộ: Trưởng ban Đ/c Hoàng Tuấn Kỳ
20 Trung tâm kinh doanh di động Hồ Chí Minh: Giám đốc Đ/c Nguyễn Duy Thọ
Trang 362.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và các lĩnh vực kinh doanh của công ty
a.Chức năng:
+ Tham mưu : Giúp Đảng uỷ, Ban Giám đốc Tổng Công ty về công
tác khai thác và tổ chức kinh doanh có hiệu quả mạng điện thoại Di động
+ Quản lý và tổ chức thực hiện : Thừa lệnh Giám đốc tổ chức quản
lý, điều hành các hoạt động khai thác và kinh doanh mạng điện thoại Di động bao gồm: Vận hành, khai thác thiết bị mạng lưới, tổ chức sửa chữa, bảo trì bảo dưỡng thiết bị định kỳ, ứng cứu thông tin; tổ chức bộ máy và mạng lưới kinh doanh trên toàn quốc
+ Giám sát : Thực hiện việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc các hoạt động
sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đã được Giám đốc Tổng Công ty phê duyệt
b Nhiệm vụ:
+ Nhiệm vụ khai thác và kinh doanh
_Tiếp nhận thiết bị, mạng lưới sau khi đã được lắp đặt, kiểm tra hiệu chỉnh nghiệm thu
_Tổ chức vận hành khai thác sử dụng các thiết bị, mạng lưới hiệu quả phục vụ cho sản xuất kinh doanh
_Xây dựng các quy trình khai thác, bảo trì bảo dưõng thiết bị mạng lưới_Lập kế hoạch định kỳ, kế hoạch dự phòng, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát công tác bảo dưỡng theo quy trình
_Tổ chức ứng cứu thông tin, khắc phục sự cố trên toàn mạng
_Xây dựng bộ máy, tổ chức triển khai hoạt động kinh doanh gồm : công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh, tổ chức và quản lý hệ thống bán hàng, chăm sóc khách hàng, giải quyết khiếu nại và các hoạt động marketing khác
_Quản lý tốt các kế hoạch, tài chính, tổ chức lao động, tiền lương, đào tạo, hành chính quản trị và vật tư, kho tàng
Trang 37_ Xây dựng các quy trình nghiệp vụ, tài liệu và chương trình đao tạo phục vụ cho công tác khai thác, kinh doanh
+ Nhiệm vụ quản lý
Quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật , quy định của nhà nước và của tổng công ty
+ Nhiệm vụ chính trị
Chịu trách nhiệm trước đảng uỷ, ban giám đốc tổng công ty, xây
dựng công ty trở thành một đơn vị vững mạnh toàn diện
c Các lĩnh vực kinh doanh của công ty :
_Dịch vụ điện thoại dường dài trong nước và quốc tế 178
_ Dịch vụ Internet băng rộng ADSL
_ Dịch vụ truy cập Internet trực tiếp LCASED- LINE
_ Dịch vụ kết nối Internet IXP
_ Các dịch vụ giá trị gia tăng như : Dịch vụ đăng ký tên miền, quảng cáo cho website, webhossting : Private mail, Virtual mail
_ Dịch vụ điện thoại cố định và các dịch vụ giá trị gia tăng
_Dịch vụ điện thoại di động và các dịch vụ giá trị gia tăng
2.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Viettel telecom ra đời với sứ mệnh luôn theo đuổi là trở thành nhà cung cấp viễn thông số một tại Việt Nam và có tên tuổi trên thế giới, do đó công ty luôn phấn đấu và cố gắng nỗ lực hết mình để vươn lên trong thị trường đầy cạnh tranh ở Việt Nam Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả kinh doanh mà công ty đã đạt được trong thời gian qua :
Trang 38chỉ tiêu đơn vị 2004 2005 2006
kế hoạch
thực hiện
%TH05/KH0 5
%TH05/TH0 4
Kế hoạch
Thực hiện
%TH06/KH0 6
%TH06/TH0 5 Viettel
Trang 39Qua bảng trên ta thấy doanh thu của Viettel Telecom tăng trưởng ngoạn mục theo từng năm, nếu như năm 2004 công ty mới tham gia cung cấp dịch vụ
di động do đó doanh thu còn thấp, chỉ đạt 462,7 tỷ thì đến năm 2005 doanh thu đạt hơn 2200 tỷ- đạt 187,15% kế hoạch năm 2005 và 477,65% so với thực hiện năm 2004 Theo đà tăng trưởng đó, Viettel Telecom tiếp tục những bước nhảy vượt bậc của mình, doanh thu năm 2006 là 5380,23 tỷ , tăng 243,45% so với thực hiện năm 2005, doanh thu 2007 là 13033,89 tỷ, tăng 242,45% so với 2006 Như vậy Viettel Telecom là doanh nghiệp có 3 năm liên tiếp đạt tốc độ tăng trưởng năm sau lớn gấp hơn 2 lần năm trước
Cũng qua bảng trên ta thấy, trong các dịch vụ mà Viettel cung cấp thì doanh thu từ dịch vụ di động chiếm tỷ trọng cao hơn cả so với 2 dịch vụ còn lại
là Internet (ADSL) và điện thoại cố định đường dài (PSTN) Doanh thu di động năm 2005 là 1997,79 tỷ trên tổng số doanh thu 2209,95 tỷ doanh thu của công
ty, chiếm 90,4% Các năm tiếp theo doanh thu từ di dộng cũng chiếm tỷ lệ tương tự, xấp xỉ 90% doanh thu của công ty
Trong dịch vụ di động thì doanh thu từ thoại chiếm tỷ lệ cao nhất, năm
2005 là 1590,24 tỷ trên tổng số 1997,79 tỷ doanh thu từ di dộng của công ty, chiếm 79,6% Tỷ lệ doanh thu từ thoại tăng theo trên tổng doanh thu từ cung
Trang 40cấp dịch vụ cũng tăng lên ở các năm kế tiếp, năm 2006 là 3892,07tỷ /4852,96tỷ chiếm 80,2% và năm 2007 là 9409,48tỷ / 11616,65 tỷ chiếm 81% Qua đó có thể thấy sự lựa chọn chiến lược tập trung vào cung cấp dịch vụ di dộng của công ty là hoàn toàn đúng đắn.
Dù đi sau các nhà cung cấp đến 10 năm nhưng đến nay Viettel đã đuổi kịp các mạng đi trước và vươn lên dẫn đầu thị trường di động ở Việt Nam Đến nay, dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế 178 đã triển khai khắp 64/64 tỉnh-thành phố trên cả nước và hầu khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Dịch vụ điện thoại cố định và Internet được phổ cập rộng rãi đến mọi tầng lớp dân cư, vùng miền của đất nước Dịch vụ điện thoại di động vượt con số 13 triệu thuê bao, trở thành nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động số một tại Việt Nam