Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu nếu muốn phát triển một nền kinh tế bền vững. Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp. Một trong số những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát đó là lãi suất. Đây là công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế. Là một công cụ có vai trò quan trọng như vậy, nên lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi người dân và có những ảnh hưởng rất to lớn tới nền kinh tế. Trong từng thời kỳ nhất định việc tìm ra và thi hành một chính sách lãi suất phù hợp là vô cùng phức tạp và trở nên bức thiết. Chính vì lý do đó, em xin chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011” qua đó giúp em có cái nhìn thực tế hơn về vấn đề này.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Họ và tên sinh viên: Bùi Châu Huyền Trân
THÔNG TIN BÀI THI
Bài thi có: (bằng số): 7 trang
(bằng chữ): bảy trang
YÊU CẦU
Đề tài: Phân tích ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn
2008 – 2011
BÀI LÀM
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
Phần 1: Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu 1
1.1 Tổng quan về lãi suất 1
1.1.1 Khái niệm lãi suất 1
1.1.2 Vai trò của lãi suất 1
1.1.3 Phân loại lãi suất 2
1.2 Tổng quan về lạm phát 2
1.2.1 Khái niệm lạm phát 2
1.2.2 Phân loại lạm phát 2
Phần 2: Phân tích thực trạng 3
2.1 Thực trạng lãi suất ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam trong thời kỳ 2008 - 2011 3
2.2 Đánh giá vấn đề ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 4
Phần 3: Kết luận 6
3.1 Quan điểm và nhận xét cá nhân 6
3.2 Một số hàm ý chính sách 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, lạm phát luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu nếu muốn phát triển một nền kinh tế bền vững Cùng với sự phát triển đa dạng và phong phú của nền kinh tế thì nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp Một trong số những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến lạm phát đó là lãi suất Đây là công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế Là một công cụ có vai trò quan trọng như vậy, nên lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi người dân và có những ảnh hưởng rất to lớn tới nền kinh tế
Trong từng thời kỳ nhất định việc tìm ra và thi hành một chính sách lãi suất phù hợp là vô cùng phức tạp và trở nên bức thiết Chính vì lý do đó, em xin
chọn đề tài: “Phân tích ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam trong
giai đoạn 2008 – 2011” qua đó giúp em có cái nhìn thực tế hơn về vấn đề này.
Phần 1: Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Tổng quan về lãi suất
1.1.1 Khái niệm lãi suất
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian (1 tháng hoặc 1 năm) Đây là loại giá cả đặc biệt, được hình thành trên
cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên cơ sở giá trị Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại lợi nhuận cho người đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào
đó của người đi vay Khác với giá cả hàng hoá, lãi suất không được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm Lãi suất (interest rate) cũng được xem là tỷ lệ sinh lời (rate of return) mà người chủ sở hữu thu được từ khoản vốn cho vay
1.1.2 Vai trò của lãi suất
Lãi suất là phương tiện kích thích lợi ích vật chất để thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
Lãi suất là đòn bẩy kích thích ngân hàng và các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả
Trang 5Lãi suất là một trong những công cụ dự báo tình hình nền kinh tế
Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Lãi suất là công cụ kích thích đầu tư phát triển kinh tế
1.1.3 Phân loại lãi suất
Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Lãi suất ngắn hạn, lãi suất dài hạn
Căn cứ vào tính ổn định của lãi suất: Lãi suất cố định, lãi suất biến đổi Căn cứ vào giá trị của tiền lãi: Lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực, lãi suất hiệu dụng
Căn cứ vào phương pháp trả lãi: Lãi suất chiết khấu, lãi suất coupon, lãi suất tích lũy
Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng: Lãi suất huy động/ Lãi suất cho vay, lãi suất chiết khấu (CK), lãi suất tái chiết khấu (TCK), lãi suất tái cấp vốn (TCV), lãi suất liên ngân hàng/ Lãi suất cơ bản
1.2 Tổng quan về lạm phát
1.2.1 Khái niệm lạm phát
Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch
vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ So với các nền kinh tế khác, lạm phát là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại tiền tệ khác
1.2.2 Phân loại lạm phát
Tùy vào từng mức độ mà lạm phát có những tác động tiêu cực cũng như tích cực đến nền kinh tế Lạm phát bao gồm 3 mức độ chính từ đơn giản đến phức tạp, được đánh giá dựa theo tỉ lệ phần trăm của lạm phát Cụ thể:
Lạm phát tự nhiên: có tỉ lệ lạm phát từ 0 – dưới 10% Tỷ lệ lạm phát hàng
năm là 1 con số, giá cả tăng chậm, tương đối ổn định và có thể dự đoán được
Lạm phát phi mã: là mức độ lạm phát xảy ra với giá cả tăng nhanh, tỉ lệ từ
10% đến dưới 1000% Tỷ lệ lạm phát hàng năm là 2 hoặc 3 chữ số, đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, thị trường tài chính không ổn định
Trang 6Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, tỉ lệ
trên 1000% Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn, khủng hoảng tài chính
Phần 2: Phân tích thực trạng
2.1 Thực trạng lãi suất ảnh hưởng đến lạm phát tại Việt Nam trong thời kỳ
2008 - 2011
Năm 2008, lạm phát tăng nhanh, mạnh và diễn biến tương đối phức tạp Lạm phát bình quân năm 2008 so với năm 2007 là 22,97% So với các nước trong khu vực, lãi suất của Việt Nam ở mức khá cao và có tính biến động lớn Đỉnh điểm là vào năm 2008, lãi suất huy động của các ngân hàng lên đến 17– 18%/năm, mức cao nhất kể từ năm 1993 (22%), và đã đẩy lãi suất cho vay lên đến mức trên 1,5%/tháng vào tháng 3/ 2008, có nơi còn cho vay với lãi suất xấp
xỉ 20%/năm Người gửi tiền lại có lợi nhưng người đi vay phải lo lắng cho việc không thể nào chịu đựng nổi lãi xuất đi vay 15-17%/năm Lãi suất cao có nguyên nhân rất lớn từ lạm phát cao, tuy nhiên không thể loại trừ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến lãi suất thị trường, do tính thiếu nhất quán, không chủ động và đặt nặng đến tăng trưởng kinh tế, làm cho nền kinh tế luôn bất ổn
Từ tháng 6/2008 trở đi, lãi suất huy động và cho vay của các NHTM đã trở nên ổn định, an toàn hệ thống ngân hàng đảm bảo, khắc phục được tình trạng cạnh trạnh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM Điều này đã làm diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ mô ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh toán, làm cho lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định Đầu năm 2009, để kích thích tăng trưởng kinh tế, NHNN đã thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ có kiểm soát, giảm lãi suất để kích thích đầu
tư, góp phần ngăn ngừa suy giảm kinh tế Chính vì vậy, lạm phát năm 2009 và năm 2010 có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao Cụ thể:
Lạm phát bình quân năm 2009 so với mức lạm phát tăng bình quân năm
2008 là 6,88%, diễn biến lạm phát của các tháng năm 2009 tương đối ổn định Đến năm 2010, mức lạm phát vẫn ở một con số là 9,19%, những tháng đầu năm
2010, lạm phát tương đối ổn định Trong 10 tháng đầu, NHNN giữ ổn định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu Nhưng đến tháng 11/ 2010 nhằm kiểm soát lạm phát và tránh sự dịch chuyển tiền gửi từ VND sang USD,
Trang 7NHNN đã điều chỉnh tăng 1%/năm các mức lãi suất điều hành, cụ thể là: lãi suất tái cấp vốn tăng từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 6%/năm lên 7%/năm Đến quý 4/2010, lạm phát lại có xu hướng tăng cao
Diễn biến lạm phát vào những tháng cuối năm 2010 đã tác động lớn đến mức lạm phát của năm 2011 Mức lạm phát hai con số vào năm 2008 đã được lập lại vào năm 2011 Dường như Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vòng tròn bất ổn đó, lạm phát tăng mạnh được thể hiện rõ khi mức tăng lạm phát bình quân năm 2011
so với năm 2010 là 18,58% Và các ngân hàng bước vào cuộc đua lãi xuất mới ngay khi Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia phát đi tín hiệu “chấp nhận lãi suất
có thể tăng” vào cuối năm 2010 Lãi suất liên tục tăng cao, các ngân hàng bằng các cách thức và nghiệp vụ khác nhau đã đẩy lãi suất lên đến 17-18%/năm
2.2 Đánh giá vấn đề ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011
Tình hình tài chính tiền tệ của Việt Nam nhìn chung ổn định nhưng lãi suất, mặt bằng tỷ giá vẫn còn cao so với nhiều nước trên thế giới, do đó vẫn gây những khó khăn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đồng thời, tâm lý tích trữ vàng và đô la của một bộ phận lớn dân cư đã góp phần đẩy giá vàng và đô la lên cao, đồng thời ngày càng làm mất giá trị của VND
Việc điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá đã được phối hợp đồng bộ Năm 2008, lãi suất VND tăng trong khi lãi suất USD giảm đã tạo sự hấp dẫn cho tiền đồng, góp phần ổn định tỷ giá Trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ
và tỷ giá trên thị trường biến động phức tạp, có những thời điểm biến động đột biến, NHNN đã kịp thời bám sát diễn biến thị trường, thường xuyên giám sát, cập nhật thông tin và đánh giá các dòng vốn vào và ra để có chính sách điều hành
tỷ giá thích hợp Đặc biệt, thời điểm giữa tháng 6/2008, thị trường có nhiều biến động đột biến, NHNN đã chủ động thực hiện các giải pháp kịp thời, đồng bộ, thực hiện từng bước các giải pháp chính sách, tập trung vào giai đoạn cuối tháng,
cụ thể là tăng mạnh lãi suất cơ bản tập trung nguồn tiền đồng vào hệ thống ngân hàng, kiềm chế lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá Điều này đã làm diễn biến lạm phát có xu hướng giảm và làm cho lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn định
Trang 8Trong năm 2010, với tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đều ở mức trên 25% và tỷ lệ đầu tư trên 40% trong khi tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ là 6,8% thì lạm phát tiền tệ sau một độ trễ nhất định sẽ được thể hiện trong chỉ số giá Điều chỉnh tỷ giá và tăng giá điện đều là những việc không thể không làm để giảm sự méo mó trong giá thị trường, vốn là một điều kiện cần để nền kinh tế có thể giảm chi phí giao dịch và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả
Đến đầu năm 2011, lãi suất cho vay ở các ngân hàng đã bị đẩy lên đến con
số 17-18%/năm, gây sốc cho thị trường tài chính và các nhà sản xuất kinh doanh Chỉ trong 3 tháng đầu năm 2011, VND đã mất giá 8,5% Cũng trong năm 2011, NHNN đã thực hiện cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng, làm cho các mức lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng không phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường, làm giảm đi tác dụng của các công cụ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất trên thị trường mở trong việc thực hiện kiểm soát lạm phát NHNN chưa ban hành được cơ chế điều hành, phương pháp xác định cụ thể của từng loại lãi suất trên Khi quyết định các loại lãi suất chủ yếu dựa vào diễn biến số liệu báo cáo thực hiện chỉ số CPI, các chỉ số
vĩ mô của tháng trước và quan điểm chỉ đạo điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ Sự điều chỉnh mức lãi suất đôi khi chưa kịp với diễn biến hàng tháng của CPI cả về biên độ, xu hướng nên có thể làm giảm hiệu quả, tác dụng của công cụ lãi suất trong việc kiểm soát lạm phát
Lãi suất cao có nhiều nguyên nhân:
Trước tình hình lạm phát cao, các NHTM phải tăng lãi suất để huy động được vốn Đồng thời, việc giám sát và xử lý các vi phạm của các NHTM còn nhẹ tay, cho nên các ngân hàng đua nhau cạnh tranh nâng lãi suất đầu vào, và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng
Tính tự chủ của NHTW còn ở mức thấp, hạn chế trong việc sử dụng nguồn tiền tệ để can thiệp mạnh trên thị trường tiền tệ
Tiền lãi và tiền mượn nợ được trả bằng tiền thuế thu từ nhân dân trong nước Do số tiền thu thuế có giới hạn, nếu không tăng thuế thì những hoạt động của nhà nước buộc phải thu hẹp (không gian chi tiêu) Nếu tiền lãi không được trả cho chủ nợ hàng năm thì tiền nợ mỗi ngày mỗi cao hơn Thêm vào đó, tiền nợ
Trang 9trong quá khứ và tiền nợ trong tương lai chồng chất mỗi ngày mỗi cao đã đẩy quốc gia rơi vào vòng luẩn quẩn khó thoát khỏi cơn nợ như hiện nay
Những rủi ro xảy ra trong trường hợp thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài cao là do áp lực giảm giá trị đồng tiền nội địa dẫn đến tăng lãi suất và tăng lạm phát Ngoài ra, gây áp lực giảm khả năng tín dụng của quốc gia đã làm tăng lãi suất tín dụng
Tất cả các nguyên nhân trên đã làm gia tăng sản phẩm và lạm phát tăng vụt trong những năm tháng qua Vòng luẩn quẩn ấy đã khiến cho tình hình lạm phát ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp
Phần 3: Kết luận
3.1 Quan điểm và nhận xét cá nhân
Qua những phân tích trên đã cho thấy được lạm phát là một vấn đề kinh tế
xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế không chỉ riêng Việt Nam mình
mà còn còn đối với các nước trên thế giới Nếu lạm phát tại Việt Nam ở mức độ thấp, thì nó sẽ có tác động tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế Song nếu lạm phát ở mức độ cao hay còn gọi là “siêu lạm phát” thì nó lại có ảnh hưởng rất lớn, tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân trong nước đặc biệt là những người gặp khó khăn về kinh tế họ sẽ thiếu ăn thiếu mặc, hoặc các doanh nghiệp nhỏ lẻ làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản,
Mặt bằng lãi suất cao sẽ gây ra những tác động xấu cho nền kinh tế, dẫn đến những rủi ro cao Doanh nghiệp vay vốn với lãi suất cao khả năng sinh lời sẽ thấp, dễ dẫn đến kinh doanh thua lỗ, hoặc phá sản, không có khả năng trả nợ Ngoài ra, lãi suất càng cao rủi ro cho nền kinh tế sẽ càng lớn, kìm hãm những hoạt động đầu tư sinh lời, các dự án cũng sẽ chậm được triển khai Bên cạnh đó,
nó còn có thể dẫn đến hiện tượng các nhà sản xuất kinh doanh nản lòng trong đầu
tư, và mang tiền gửi lại cho ngân hàng Với tình hình lạm phát như hiện nay, các ngân hàng khó có thể hạ lãi suất cho vay trong thời gian 3 đến 4 tháng tới Với mức lãi suất vay vốn trên dưới 20%, duy trì hoạt động thực sự là thách thức với các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tình trạng lạm phát cao và kéo dài sẽ dẫn đến sự suy thoái kinh tế trầm trọng và sự phân phối của cải lại một cách độc đoán làm tăng hố sâu ngăn cách
Trang 10giữa người giàu và người nghèo, giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển
3.2 Một số hàm ý chính sách
Do những ảnh hưởng của lạm phát làm cho nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn vì vậy cần phải đưa ra một số các giải pháp nhằm kiểm soát việc ảnh hưởng của lãi suất đến lạm phát tăng cao, cần có các giải pháp thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động, thận trọng, linh hoạt và hiệu quả trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Cụ thể là:
Thắt chặt tiền tệ: Các biện pháp dành cho chính sách thắt chặt tiền tệ hiện
nay cần phải được áp dụng một cách linh hoạt Xuất phát từ nhận định lạm phát thường xuất hiện khi lượng tiền trong lưu thông tăng, chúng ta cần hạn chế lượng tiền trong lưu thông bằng cách: Tăng lãi suất cho vay vốn và lãi suất tái chiết khấu và hạn chế mức tăng tín dụng Quy định dự trữ bắt buộc hợp lí để vừa bảo đảm an toàn hệ thống đồng thời nâng cao được khả năng thanh khoản trong hoạt động ngân hàng
Hạ lãi suất cho vay: để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất trong
nước và xuất nhập khẩu, cung cấp hàng hóa cho nền kinh tế Hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất dễ dàng tiếp cận nguồn vốn rẻ để phục vụ cho sản xuất
Do đó, trong thời gian sắp tới, NHNN cần phải thực hiện linh hoạt các công cụ như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với nghiệp vụ thị trường
mở nhằm hỗ trợ nguồn thanh khoản cho các NHTM để tạo điều kiện cho việc lãi suất cho vay ở một mức hợp lý nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất
Điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ: để ổn định lãi suất nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công
cụ chính sách tiền tệ, nhất là các loại lãi suất và lượng tiền cung ứng để bảo đảm kiềm chế lạm phát Lãi suất và tỷ giá cần được điều hành ở mức phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của NHNN Tỷ giá và quản lý ngoại hối linh hoạt hơn theo tín hiệu thị trường, phù hợp với diễn biến lãi suất, cân đối hài hòa cung