Viết về các nhà phê bình, người ta mới chỉ quan tâm đến sự nghiệp trước tác và những đĩng gĩp của họ cho văn học chứ chưa thực sự bàn luận về những phương pháp đã được họ sử dụng khi ngh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Phạm Thị Thanh Nga
ĐÓNG GÓP CỦA VŨ NGỌC PHAN, TRƯƠNG CHÍNH, ĐINH GIA TRINH VỀ MẶT PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Thành Thi – người đã trực tiếp hướng dẫn tơi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cơ trong khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư phạm TP HCM và các thầy cơ đã giảng dạy Cao học khĩa 16 ngành Văn học Việt Nam
Tơi cũng xin cảm ơn các thầy cơ và cán bộ của Phịng Khoa học cơng nghệ và Sau Đại học trường Đại học Sư Phạm TPHCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt quá trình học
Tơi cũng vơ cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè Đĩ chính là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tơi theo đuổi và hồn thành luận văn này
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2008
Học viên thực hiện Phạm Thị Thanh Nga
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu
Phê bình văn học là một thể loại quan trọng đã gĩp phần khơng nhỏ vào cơng cuộc hiện đại hĩa nền văn học dân tộc Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, nhờ việc sử dụng rộng rãi chữ quốc ngữ và những hoạt động sơi nổi của báo chí, cơng tác lý luận, phê bình ở nước ta đã cĩ những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều đại biểu xuất sắc Trong số đĩ khơng thể khơng nhắc đến Vũ Ngọc Phan, Trương Chính và Đinh Gia Trinh Mặc dù số lượng tác phẩm và phong cách nghiên cứu của ba nhà phê bình này cĩ những nét khác nhau song đây đều là những tác giả đã để lại dấu ấn riêng của mình trên văn đàn Việt Nam
Khi tiến hành cơng việc phê bình văn học, các nhà phê bình chuyên nghiệp đều phải xác lập cho mình một hệ thống các quan niệm văn học phù hợp và những cách thức tiếp cận cần thiết để chiếm lĩnh đối tượng nghiên cứu Cĩ thể nĩi phương pháp phê bình của mỗi người sẽ ảnh hưởng rất lớn đến những thành tựu và hạn chế trong tác phẩm của họ Vì vậy, xem xét một sự nghiệp khoa học, một cơng trình lý luận, phê bình, bên cạnh việc ghi nhận những sự kiện, thơng tin, tri thức mà nhà khoa học cung cấp và luận giải, chúng ta cịn phải xác định phương pháp tiếp cận của nhà khoa học thể hiện trong cơng trình Chỉ khi đĩ ta mới hình dung được vị trí của ơng ta trong sự vận động của phê bình theo dịng thời gian
Trong những năm gần đây, do ý thức được sự phát triển của phương pháp đánh dấu sự trưởng thành của lý luận, phê bình trên con đường hiện đại hĩa nên vấn đề phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu văn học đã được đặt ra và đang thu hút sự chú ý của nhiều học giả Tuy nhiên số cơng trình nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này vẫn chưa nhiều Viết về các nhà phê bình, người ta mới chỉ quan tâm đến sự nghiệp trước tác và những đĩng gĩp của họ cho văn học chứ chưa thực sự bàn luận về những phương pháp đã được họ sử dụng khi nghiên cứu các tác giả, tác phẩm cũng như các giai đoạn văn học
Việc tìm hiểu về phương pháp phê bình sẽ cho ta thấy con đường hình thành và quá trình hiện đại hĩa của phê bình văn học Việt Nam thế kỉ XX, các luồng tiếp thu và ảnh hưởng, nguyên nhân của nhiều cuộc tranh luận, tức là những điều mà nếu ta chỉ mơ tả các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng một cách riêng lẻ thì khĩ cĩ thể thấy rõ được Đồng thời việc nghiên cứu như vậy cũng giúp ích nhiều cho việc giảng dạy văn trong trường THPT khi các tác phẩm lý luận, phê bình ngày càng chiếm một vị trí quan trọng hơn
Chính vì những lý do trên, tác giả luận văn quyết định chọn cho mình đề tài “Đĩng gĩp của Vũ
Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học trong giai đoạn 1930 – 1945” Nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn muốn hướng đến các mục
Trang 4lý thuyết và thực hành cho nền lý luận, phê bình nước nhà
2 Phạm vi đề tài và tư liệu nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu nêu trên, người viết sẽ phải quan tâm đến toàn bộ những tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong giai đoạn 1930 – 1945 Do điều kiện và khả năng hạn hẹp, người viết chưa thể tìm được tất cả những bài viết đã xuất hiện trên mặt báo của các tác giả này Vì vậy, phạm vi khảo sát của luận văn
sẽ chỉ gồm những tác phẩm đã được in thành sách Cụ thể đó là các tác phẩm sau:
- Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, NXB Thăng Long, Sài Gòn
- Vũ Ngọc Phan (1963), Trên đường nghệ thuật, NXB Đời nay, Sài Gòn
- Đinh Gia Trinh (2005), Hoài vọng của lý trí, NXB Hội nhà văn, Hà Nội
Riêng với Trương Chính, do hai tập Dưới mắt tôi và Những bông hoa dại của ông chỉ được in lại trong những tuyển tập nên người viết sẽ tìm hiểu văn bản của chúng trong quyển Văn học Việt
Nam thế kỷ XX (Quyển 5 – Phần lý luận, phê bình) (Tập 4) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, NXB
Văn học, Hà Nội xuất bản năm 2005
Ngoài ra, để có cái nhìn chính xác, khách quan, khoa học, người viết cũng sẽ khảo sát một số tài liệu phê bình của các tác giả khác trong giai đoạn này hoặc giai đoạn sau cũng như các công trình và bài viết có liên quan đến đề tài Những tác phẩm và bài viết về lý thuyết văn học cũng được tham khảo để làm cơ sở về mặt lý luận cho công trình
3 Lịch sử vấn đề
Vũ Ngọc Phan và Trương Chính là hai cái tên quen thuộc của phê bình văn học Việt Nam thế
hệ 1932 Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một chuyên luận, chuyên khảo nào nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về Trương Chính Riêng với Vũ Ngọc Phan, năm 1998, Trần Thị Lệ Dung đã
chọn đề tài “Đóng góp của Vũ Ngọc Phan cho phê bình – nghiên cứu văn học qua Nhà văn hiện
đại” cho luận văn thạc sĩ của mình Rất tiếc do luận văn này được thực hiện ở Đại học Sư phạm
Vinh nên người viết không có điều kiện tìm đọc
Vì nhiều lý do nên trước đây Đinh Gia Trinh ít được nhắc tới, số bài viết về ông chỉ đếm trên đầu ngón tay Người viết nhận thấy Đinh Gia Trinh viết không nhiều song phần lớn những bài viết
Trang 5của ông đều có giá trị Chúng là sự kết tinh của một trí tuệ mẫn tiệp và thái độ làm việc nghiêm túc, khoa học Sẽ thật thiếu sót nếu chúng ta bỏ qua không nhắc đến con người này và những phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học của ông
3.1 Khi mới xuất hiện, có khá nhiều luồng dư luận trái ngược nhau xung quanh tác phẩm Nhà
văn hiện đại Các tờ Dân báo và Tin mới khen ngợi Vũ Ngọc Phan vì thái độ làm việc nghiêm túc,
khoa học, cách hành văn sáng suốt và những nhận định xác đáng [46, tr.142] Trong khi đó, Lê
Thanh lại cho rằng Vũ Ngọc Phan đã viết một lối “phê bình tỉ mỉ”, thiếu khoa học, “ghi cả những
điều nhỏ quá” và “bỏ qua những điều rất quan trọng” [101, tr.368-372] Ý kiến của Lê Thanh có
nhiều nét giống với ý kiến của nhóm Thanh Nghị khi nhóm này chê trách Vũ Ngọc Phan đã thực hành một “lối văn nhà trường”, “một lối phê bình hoàn toàn Việt Nam”, “thích tỉ mỉ soi mói và
không ưa nghĩ xa, nhìn rộng” [101, tr.379] Tuy nhiên nhóm Thanh Nghị mà đại diện là Đinh Gia
Trinh cũng công nhận Nhà văn hiện đại là “một công trình khảo cứu và phê bình có công phu, viết
bằng một thứ văn linh hoạt và khá trau chuốt” [119, tr.292]
Trong lời tựa tập Dưới mắt tôi, Văn Ngoạn khẳng định các bài viết của Trương Chính đều
“vâng theo một phương pháp nhất định” [104, tr.842] song ông không nói rõ đó là phương pháp gì Căn cứ vào nhận xét sau đó của ông về Trương Chính: “hễ gặp một vấn đề xã hội chẳng hạn, ông
Trương Chính rời địa vị khách quan, bước vào địa vị chủ quan mà hăng hái lập luận Sau nhà phê bình, ta thấy hiện rõ nhà xã hội” [104, tr.842], ta có thể suy ra phần nào Văn Ngoạn đã thấy Trương
Chính sử dụng phương pháp xã hội học
Theo Vũ Ngọc Phan, “lối phê bình của Trương Chính đã bắt đầu kỹ càng và có phương pháp
Sự khen chê của ông đã có căn cứ, không đến nỗi vu vơ (…) Đối với cái “phương pháp ba W” của người Anh, Trương Chính là người rất trung thành” [78, tr.649] Tuy vậy, Vũ Ngọc Phan chê
Trương Chính “không sâu sắc”, “lời phê bình nhiều khi không nhất trí, khó mà biết được ý kiến rõ
rệt của ông về một nhà văn”, đã thế ông lại còn “hay bắt bẻ thiên vị” [78, tr.654-655]
Trong giai đoạn này, người viết không tìm được bài viết nào đề cập đến phương pháp phê bình của Đinh Gia Trinh
3.2 Ở miền Bắc, sau năm 1945, do những yêu cầu của nền văn nghệ cách mạng, những tác phẩm của giai đoạn trước ít được đề cập Ở miền Nam thời gian này, Vũ Ngọc Phan và Trương Chính được các tác giả Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ, Thế Phong nhắc tới trong một số công trình về phê bình văn học Việt Nam của họ Tuy nhiên hai ông không phải là đối tượng nghiên cứu chính nên họ chỉ dành cho hai ông những đánh giá chung về vị trí, quan niệm (Nguyễn Văn Trung xếp Vũ Ngọc Phan, Trương Chính vào quan niệm phê bình ấn tượng chủ quan giáo điều), khuynh hướng (Thanh Lãng xếp Vũ Ngọc Phan vào khuynh hướng phê bình văn học sử, Trương Chính vào khuynh hướng phê bình cổ điển) Nhìn chung các tác giả này
Trang 6đều ghi nhận đóng góp của hai ông Riêng Thanh Lãng trong quyển Phê bình văn học Việt Nam thế
hệ 1932 cho rằng Trương Chính đã tiến hơn Thiếu Sơn và Phạm Quỳnh, Phan Khôi, thậm chí khởi
sắc hơn cả Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan ở chỗ không tỉ mỉ, vụn vặt như hai tác giả này Đáng nói là sau khi ca ngợi, Thanh Lãng lại chê phương pháp phê bình của Trương Chính rời rạc, không khái quát, nhìn tác phẩm như một hiện tượng riêng lẻ, cô lập và cuối cùng là không đem lại cái gì mới mẻ Chính vì tiền hậu bất nhất như vậy nên lời bình luận của Thanh Lãng không thật thuyết phục
Trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, khi viết về tạp chí Thanh Nghị, Phạm Thế Ngũ tỏ ra biệt nhãn Đinh Gia Trinh hơn cả Theo ông, đây là ngòi bút khả ái bậc nhất ở Thanh Nghị với “một khiếu phân tích sắc bén”, “một cái nhìn hơi nghiêm khắc nhưng công minh, nhiều nhận
định đúng và hay” [71, tr.660]
3.3 Từ những năm 1980, cùng với sự đổi mới của văn học nước ta, vấn đề nghiên cứu di sản
lý luận, phê bình trước 1945 được đặt ra một cách nghiêm túc Nhiều bài viết có giá trị về Vũ Ngọc Phan lần lượt xuất hiện
Trần Thị Việt Trung tin tưởng Vũ Ngọc Phan là nhà phê bình có ý thức nghề, có “trình độ lý
thuyết vững vàng” và “phương pháp phê bình bài bản nhất” trong số các nhà phê bình trước 1945
Vì vậy, bà ngạc nhiên trước “thái độ khe khắt” của Vũ Ngọc Phan đối với các nhà phê bình đương
thời [46, tr.143]
Đặng Tiến đề cao vai trò “kẻ vạch lối trong rừng hoang“ của Vũ Ngọc Phan Theo Đặng Tiến,
Vũ Ngọc Phan có lối phê bình “khoa học, khách quan, vừa tổng hợp vừa phân tích”, “công tâm và
công bình” [46, tr.125, 127, 129]
Cùng một cách suy nghĩ như vậy, nhiều tác giả khác (Tô Hoài, Huy Cận, Phong Lê… ) ca ngợi
năng lực tổng hợp, khái quát, cách làm việc khoa học, “nói có sách, mách có chứng” và khả năng
đưa ra những nhận định văn học chính xác của Vũ Ngọc Phan
Bùi Hiển nhận xét Vũ Ngọc Phan luôn đối chiếu “cái đang đọc” với “thực tế Việt Nam thời
bấy giờ” [46, tr.39], nói cách khác ông thấy được tính xã hội trong phương pháp phê bình của Vũ
Ngọc Phan
Khi “học tập nhà văn Vũ Ngọc Phan”, Vũ Ngọc Khánh rút ra kết luận: vào những ngày đầu xây dựng nền quốc văn, Vũ Ngọc Phan là “người trước nhất, nhiều nhất nếu không phải là duy nhất
đề cập đến vấn đề xác định thể loại” [46, tr.56]
Phát triển ý kiến trên, Nguyễn Ngọc Thiện có bài nghiên cứu “những đóng góp buổi đầu của
Vũ Ngọc Phan trong nghiên cứu văn học theo đặc trưng thể loại và phong cách”, đặc biệt là trong
nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Thiện nhận xét “Vũ Ngọc Phan đã cố gắng trung thành với
phương pháp so sánh, phân định nhà văn và tác phẩm theo nhóm và loại mà ông tâm đắc” [103,
Trang 7tr.73] Vấn đề này cũng đã được sách Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Le roman Vietnamien
contemporain) của Bùi Xuân Bào nói đến từ năm 1972
Năm 1995, ở cuối bài viết Vũ Ngọc Phan và sự nghiệp phê bình, nghiên cứu văn học hiện đại, Phan Cự Đệ khẳng định “phương pháp khoa học” “căn cứ vào những bằng chứng xác thực để phê
bình” của Vũ Ngọc Phan đã tiến bộ hơn nhiều so với lối phê bình ấn tượng và quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam Tuy nhiên hạn chế của Vũ Ngọc
Phan là chưa vượt qua được “lý thuyết phê bình của Brunetière về luật tiến hóa” [13, tr.665]
Trong chuyên đề Lí luận văn học so sánh, Nguyễn Văn Dân kể ra “người đầu tiên có ý thức
bàn luận đến văn học so sánh về mặt phương pháp luận” là Vũ Ngọc Phan Tuy mới chỉ dùng
phương pháp thực chứng nhưng ông đã sớm “đề cập đến cả ba đối tượng của văn học so sánh” Quan điểm so sánh tương đồng của ông thậm chí đã “đi trước các nhà so sánh luận thế giới” [7,
một hiện tượng nghệ thuật văn hóa xã hội, mà chỉ vẽ hay dở cho nhà văn, nên nhiều khi rơi vào bắt
bẻ vụn vặt” [15, tr.709]
Nguyễn Thị Thanh Xuân chỉ ra “phương pháp hệ thống” và phần nào những mầm mống của
“phương pháp tiếp cận văn học theo đặc trưng thể loại” trong quyển Nhà văn hiện đại [123, tr.299,
305] Tuy vậy, theo bà, những phương pháp này chưa được Vũ Ngọc Phan áp dụng một cách nhuần nhuyễn, do đó chúng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn
Cũng như Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Đăng Điệp nhận thấy Vũ Ngọc Phan đã tiến
hành một phương pháp làm việc khoa học [103, tr.413], song “ông còn quá nghiêng về mặt cảm thụ
nghệ thuật mà chưa thật sự sâu về mặt logic khoa học, tính khái quát các vấn đề văn học chưa cao”
[103, tr.421]
Lại Nguyên Ân đề cập đến “lối viết chân phương” “dạng bút ký của nhà biên khảo” Ông cho rằng “giá trị chủ yếu của Nhà văn hiện đại là ở “chất” nghiên cứu của nó” chứ không phải chất
phê bình [46, tr.137, 138, 140]
Theo Mộng Bình Sơn, Đào Đức Chương, Vũ Ngọc Phan đã “chối bỏ lập trường phê bình
khách quan, bằng cách tách rời thân thế của tác giả với tác phẩm” [89, tr.196] Ông không lý giải
thơ văn từ cuộc đời tác giả mà lựa chọn cho mình một phương hướng chủ quan, cổ điển, thiên về
khen chê vụn vặt Đây cũng là nhận xét của Trịnh Bá Đĩnh trong bài Ba kiểu nhà phê bình hiện đại
Trang 8Ở bài viết này, Trịnh Bá Đĩnh xếp Vũ Ngọc Phan vào nhóm các nhà bình giải văn học – những người giới hạn cảm quan và sự hoạt động của mình chỉ trong lĩnh vực văn học, tránh việc cắt nghĩa văn học từ các lĩnh vực khác
Trên Tạp chí Văn học số 6 năm 2000, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan được Đỗ Lai Thúy nhắc đến như “một cố gắng không thành đưa phê bình văn học Việt Nam lên trình độ khoa học”
3.4 Khi nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945 hầu như không nhà nghiên cứu
nào không nhắc tới Trương Chính và tác phẩm Dưới mắt tôi Tuy vậy, họ thường chỉ điểm qua vài
nét về nội dung tập sách chứ không nói gì đến phương pháp phê bình của ông Ở thời điểm hiện tại,
số lượng bài nghiên cứu có chất lượng về Trương Chính mới chỉ đếm trên đầu ngón tay
Mộng Bình Sơn, Đào Đức Chương cho rằng Trương Chính “không tạo cho mình một khuynh
hướng nào rõ rệt, mà chỉ đi theo lối cũ tức là khuynh hướng phê bình chủ quan, cổ điển, không thoát ra khỏi tư tưởng giáo điều của những nhà phê bình trước đây đã áp dụng” [89, tr.173] Ông
đánh giá sự hay dở của tác phẩm chủ yếu dựa trên cảm nhận riêng tư chứ không đứng ra ngoài tác phẩm để nhìn nhận một cách khách quan
Có lẽ cũng cùng ý kiến như vậy nên Tôn Thảo Miên nhận định Trương Chính “viết phê bình
hoàn toàn dựa vào trực giác, vào lòng mến yêu văn chương, vào khiếu thẩm mỹ… của mình”, ở
nhiều chỗ ông đánh giá “chưa chuẩn xác và khách quan” [103, tr.377-378] còn Trịnh Bá Đĩnh xếp
Trương Chính vào hình thái tư duy phê bình mĩ học – loại phê bình có tính chất chủ quan, thiên về việc thể hiện cảm xúc và suy tưởng của nhà phê bình đối với đối tượng là tác phẩm văn học [103, tr.202]
Trong cuốn Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1945), Nguyễn Thị Thanh Xuân đưa ra nhiều ý kiến xác đáng về lối phê bình của Trương Chính Bà đánh giá “những bài phê
bình tác phẩm của Trương Chính thường mang lại cho người đọc cảm giác đó là sự thực hành chưa thật nhuần nhuyễn những kiến thức trong nhà trường về phê bình văn học” “Về phương pháp, Trương Chính thiên về phê bình xã hội học” [123, tr.274-275]
3.5 Đinh Gia Trinh là một trong những tên tuổi lý luận, phê bình văn chương trước cách
mạng hiện còn bị khuất lấp sau lớp bụi thời gian Mãi đến năm 1996, khi tác phẩm Hoài vọng của lý
trí tập hợp những bài phê bình và tùy bút của ông được xuất bản người ta mới nhận ra Đinh Gia
Trinh là một cây bút phê bình và tiểu luận văn học rất đáng trân trọng
Viết về nhóm Thanh Nghị, Nguyễn Thị Thanh Xuân dành khá nhiều thiện cảm cho Đinh Gia Trinh Bà cho đây là cây bút “am hiểu tri thức lý luận văn học phương Tây và vận dụng vào lí giải
các hiện tượng văn học Việt Nam khá uyển chuyển” [123, tr.82]
Nhận xét trên cũng tương tự như nhận xét của Vương Trí Nhàn ở bài viết Khuôn mặt tinh thần
của một trí thức hoạt động văn học Trong bài viết này, Vương Trí Nhàn cho rằng Đinh Gia Trinh
Trang 9đã tiếp thu được “óc khoa học” của phương Tây, điều đó thể hiện rõ qua bài tranh luận của ông với Nguyễn Bách Khoa về vấn đề Truyện Kiều [119, tr.463]
*
* * Điểm lại tất cả những ý kiến trong gần bảy thập kỷ vừa qua, ta thấy giữa các nhà nghiên cứu
có sự thống nhất và cũng có những khác biệt
Nhìn chung các bài viết về Đinh Gia Trinh không nhiều và khá nhất quán Các tác giả đều nhận thấy nhờ tiếp thu được hệ thống tri thức lý luận phương Tây và biết cách vận dụng chúng một cách nhuần nhuyễn nên những trang viết của ông có nhiều chỗ vẫn còn giữ nguyên giá trị đến ngày hôm nay
Về phía Trương Chính, phần lớn các nhà nghiên cứu đều đồng ý với ý kiến của Vũ Ngọc Phan: lối phê bình của Trương Chính đã bắt đầu kỹ càng và có phương pháp, mọi sự khen chê đều dựa trên những căn cứ xác thực, tuy nhiên dấu ấn chủ quan, giáo điều thể hiện rõ nét trong những nhận xét của ông khiến cho bài phê bình nhiều lúc chưa thật thuyết phục
Khác với trường hợp của Đinh Gia Trinh và Trương Chính, những ý kiến đánh giá về Vũ
Ngọc Phan tương đối phong phú và phức tạp Mặc dù ai cũng khẳng định tầm vóc đồ sộ của bộ Nhà
văn hiện đại và những đóng góp của Vũ Ngọc Phan cho nền văn học nước nhà nhưng về phương
pháp phê bình của ông thì mọi người vẫn chưa hoàn toàn nhất trí Có người bảo ông đã thực hiện một lối phê bình theo phương pháp khoa học, cụ thể là ông đã sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp thực chứng, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận theo đặc trưng thể loại vào việc nghiên cứu tác phẩm văn học Nhưng cũng có người lại cực lực phản đối lối phê bình vụn vặt, tùy tiện, thấy cây không thấy rừng của ông Họ cho rằng cái cách Vũ Ngọc Phan bắt bẻ từng li từng
tí những chỗ hay dở không giúp ích gì nhiều cho việc soi rọi tác phẩm; có thể nói ông đã thực hiện một lối phê bình hoàn toàn chủ quan, ấn tượng, tách rời tác giả với tác phẩm, cô lập nghệ thuật với các lĩnh vực khác
Tuy mức độ quan tâm của giới nghiên cứu đối với ba nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh có khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp phê bình của ba ông đều chưa được khảo sát một cách toàn diện, sâu kĩ mà mới chỉ được nhắc tới bằng những nhận định khái quát
Đó chính là vấn đề còn bỏ ngỏ chờ chúng ta giải quyết Trong phạm vi của luận văn, người viết sẽ tổng hợp những ý kiến của người đi trước, phân tích, chứng minh và triển khai cụ thể để phần nào chỉ ra những đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học trong giai đoạn 1930 – 1945
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Trang 10- Phương pháp lịch sử – xã hội: Phương pháp này chủ trương đặt hiện tượng văn học vào bối cảnh lịch sử xã hội để nghiên cứu, nó giải thích sự phát triển của văn học, sự đấu tranh giữa các trào lưu, sự kế thừa có đổi mới của từng giai đoạn văn học từ những cội nguồn lịch sử xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu trở nên thuyết phục bởi những bằng chứng xác thực lấy từ đời sống thực tiễn Miêu
tả các phương pháp phê bình theo quan điểm lịch sử xã hội sẽ giúp chúng ta thấy được sự hình thành và phát triển của chúng trong những mối liên hệ với điều kiện xã hội – lịch sử – văn hóa cụ thể, từ đó làm bật lên những đóng góp mà các phương pháp này đem lại cũng như những hạn chế thời đại của chúng
- Phương pháp mỹ học tiếp nhận: Giống như các tác phẩm văn học, các công trình phê bình, nghiên cứu văn học cũng chịu sự tiếp nhận, phán xét của người đọc và của chính giới phê bình
Nhìn vào phần Lịch sử vấn đề phía trên ta sẽ thấy rõ điều này Đó chính là lý do người viết muốn
thực hiện việc nghiên cứu của mình dưới góc độ tiếp nhận văn học Chỉ như vậy, chúng ta mới có được cái nhìn khách quan, chính xác khi xem xét các hiện tượng
- Phương pháp hệ thống: Trong tự nhiên và trong xã hội, không có sự vật nào tồn tại hoàn toàn riêng rẽ, biệt lập Việc tìm hiểu một sự vật, hiện tượng sẽ không thu được những kết quả như mong đợi nếu ta không biết đặt chúng vào những hệ thống Hơn nữa, bản thân sự vật, hiện tượng cũng là một thực thể bao gồm nhiều yếu tố, nhiều phương diện có mối liên hệ phức tạp với nhau Phương pháp hệ thống sẽ giúp ích cho việc nhận thức vị trí của phương pháp nghiên cứu đối với sự nghiệp văn học của tác giả, vị trí của tác giả trong toàn bộ nền phê bình văn học và vị trí của phê bình văn học trong toàn bộ lịch sử văn học nói chung Ngoài ra nó cũng khiến ta có cái nhìn khách quan, toàn diện khi xem xét lịch sử phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được dùng để đối chiếu các giai đoạn văn học, cảc hiện tượng văn học, các tác giả và các công trình phê bình với nhau để tìm ra những nét tương đồng
và nét đặc thù nhằm làm sáng tỏ bản chất của chúng
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Chọn lựa đề tài “Đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương
pháp phê bình, nghiên cứu văn học trong giai đoạn 1930 – 1945”, người viết hi vọng sẽ có thể góp
một phần công sức nhỏ bé cho nền lý luận, phê bình văn học Việt Nam về cả hai phương diện lý thuyết và thực tiễn So với các công trình nghiên cứu lý luận, phê bình trước đây, đề tài có những nét mới như sau:
- Phác thảo được sơ nét hành trình diễn tiến của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học của Việt Nam Như chúng ta đã biết, chính sự xuất hiện của phương pháp đã biến phê bình
Trang 11thành một khoa học thực sự Vì vậy việc nghiên cứu về các phương pháp phê bình sẽ cho ta thấy được sự vận động của tư duy khoa học trong văn học
- Tìm hiểu được một cách khá toàn diện những đóng góp về mặt phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong giai đoạn 1930 –
1945 Đây là một cách hữu hiệu để khẳng định tầm vóc của các nhà phê bình này qua mức độ am hiểu và vận dụng các tri thức lý luận cũng như khả năng cảm thụ bén nhạy của họ
- Từ việc thấy được sự vận động, phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học và sự thể hiện cụ thể của chúng trong tác phẩm của những nhà phê bình nổi tiếng, rút ra những bài học kinh nghiệm khi phân tích, tìm hiểu các tác giả, tác phẩm, các hiện tượng văn học Đây là một công việc ý nghĩa đối với những người học văn nói chung và những người dạy văn nói riêng
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu (13 trang) và kết luận (7 trang), luận văn được chia thành ba chương dựa trên nội dung nghiên cứu:
Chương 1: Sự phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam Chương này sẽ tìm hiểu một số nét khái quát về phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học và lịch sử phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam Trong quá trình tìm hiểu, người viết sẽ đặc biệt chú ý đến các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học xuất hiện vào giai đoạn 1930 – 1945 Đây chính là cơ sở để chúng ta thấy được vị trí và vai trò của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong giai đoạn này
Chương này dài 37 trang
Chương 2: Những đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong việc đổi mới ý thức phê bình, nghiên cứu văn học
Chương này sẽ đi vào khảo sát những đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong việc đổi mới ý thức phê bình, nghiên cứu văn học Ở chương này, người viết sẽ bàn về quan niệm văn học và quan niệm về công việc phê bình, nghiên cứu văn học của các ông trong tương quan với quan niệm truyền thống của văn học trung đại và quan niệm của các nhà phê bình đương thời
Chương này dài 24 trang
Chương 3: Những đóng góp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh về mặt phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học
Chương này sẽ đi sâu vào nghiên cứu những phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học đã được Vũ Ngọc Phan, Trương Chính và Đinh Gia Trinh sử dụng Qua đó, người viết sẽ bước đầu chỉ
Trang 12ra phong cách phê bình của các ông Đây cũng chính là cơ sở để đánh giá những thành tựu và hạn chế cũng như những đóng góp về mặt phương pháp luận của ba nhà phê bình kể trên
Chương này dài 63 trang
Trang 13CHƯƠNG 1
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH,
NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
1.1 ĐƠI NÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
1.1.1 Khái niệm phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học
Để trả lời cho câu hỏi “Phương pháp là gì?”, ta hãy xem xét một câu nĩi của Bêcơn: “Người
què đi theo đường, theo lối sẽ đến trước người lành đi khơng cĩ đường, cĩ lối” [37, tr.43]
Hình ảnh con đường trong câu trên được dùng thay cho khái niệm phương pháp Khơng phải ngẫu nhiên mà cĩ một sự liên tưởng như vậy Trong tiếng Pháp, từ Méthode (phương pháp) cĩ nguồn gốc ở một từ Hy Lạp cĩ nghĩa là “con đường đi tới” (met = đi tới, odos = con đường) Chúng
ta cĩ thể hiểu đây là con đường đi đến kết quả mong muốn, con đường tiếp cận chân lý
Từ cách hiểu này, GS Hồng Ngọc Hiến định nghĩa phương pháp như sau: “phương pháp là
những phương thức chiếm lĩnh đối tượng về phương diện lý thuyết cũng như về phương diện thực hành” [37, tr.43] Trên cơ sở đĩ, người viết thử đưa ra khái niệm phương pháp phê bình, nghiên cứu
văn học: phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học là cách thức giúp cho chủ thể chiếm lĩnh đối
tượng văn học (tác giả, tác phẩm, sự kiện, giai đoạn…) một cách hiệu quả
Khái niệm trên đã cho thấy phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học vừa là điều kiện,
phương tiện, lại vừa là sản phẩm, kết quả của tư duy khoa học Nĩ chính là cầu nối giữa chủ thể nghiên cứu (nhà phê bình) và đối tượng nghiên cứu (tác giả, tác phẩm, trào lưu…) Vì lẽ đĩ, nĩ là
một hoạt động vừa cĩ tính chủ quan vừa cĩ tính khách quan Chủ quan vì chịu sự chi phối của năng lực sáng tạo khoa học và mục đích khoa học của chủ thể nghiên cứu Khách quan vì phụ thuộc vào
đặc điểm và tính chất của đối tượng nghiêu cứu Do vậy, sau khi lựa chọn đối tượng nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của đối tượng và mục đích của chính mình để
xác định một hay nhiều phương pháp phù hợp Trong suốt quá trình thực hiện phương pháp, yếu tố
chủ quan và yếu tố khách quan phải gắn bĩ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau để soi sáng những
vấn đề cần giải quyết
1.1.2 Vai trị của phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học
Chế Lan Viên, một nhà thơ rất thành cơng trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học, từng khẳng định nhà phê bình là kẻ thất bại trong sáng tác Bàn về phê bình, Nguyễn Quang Sáng cũng
đưa ra nhận xét: “Viết khơng viết, vẽ khơng vẽ, chỉ cĩ khen với chê cũng làm khơng đúng” [16]
Cho đến nay vẫn cịn nhiều người nghĩ rằng phê bình, nghiên cứu văn học là một thể loại dễ viết Chỉ cần lược lại nội dung tác phẩm rồi nêu ra một ít cảm nhận của bản thân hoặc đơi ba dịng
Trang 14nhận xét chỗ này hay, chỗ kia dở là chúng ta có ngay một bài phê bình Quả là một suy nghĩ sai lầm Nhiều nhà phê bình chân chính đã cực lực phản đối suy nghĩ đó Thực tế cho thấy phê bình là một công việc khó khăn Muốn thành công, nhà phê bình phải có trực giác bén nhạy, vốn kiến thức uyên bác ở nhiều lĩnh vực và đặc biệt là một phương pháp phê bình khoa học
Thật vậy, phê bình mà không có phương pháp khoa học sẽ chỉ là những cảm xúc vụn vặt, trực tiếp, tức thời, mang nặng ấn tượng chủ quan, từ đó dễ dẫn đến những nhận định mang tính áp đặt, quy chụp, suy diễn Điều này có thể được chứng minh cụ thể bằng thực tiễn phê bình văn học nước
ta Vào thời trung đại, khi cách nghiên cứu tác phẩm mới chỉ dừng lại ở việc trình bày những cảm nhận, những lời bình giải chung chung thì rõ ràng là phê bình văn học kém phát triển, nó hoàn toàn không thể xem là sự luận giải về mình của văn học Và dĩ nhiên nó cũng không đảm nhiệm được chức năng chiếc cầu nối trung gian giữa tác giả và công chúng, giữa tác phẩm và người đọc
Chân lý của khoa học thường đạt được nhờ sự nỗ lực vận dụng các phương pháp tiếp cận của giới khoa học Phải khẳng định rằng sự phát triển của một bộ môn khoa học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp nghiên cứu của bộ môn khoa học đó Nếu không có một phương pháp phê bình hợp lý làm kim chỉ nam cho công việc nghiên cứu văn học thì chúng ta sẽ rất khó tìm hiểu tác phẩm, tác giả, trào lưu văn học… một cách chính xác, khách quan Làm sao chỉ ra cái hay, cái đẹp của ngôn từ
Truyện Kiều nếu không có những tri thức thi pháp học? Làm sao hiểu hết giá trị của một tác phẩm
nếu không xuất phát từ cách tiếp cận văn hóa – lịch sử – xã hội? Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng trong việc khám phá, giải thích, cắt nghĩa văn học Sự quan tâm đến vấn đề phương pháp chính là một dấu hiệu chứng tỏ sự trưởng thành của văn học và sự phát triển của tư duy khoa học
Đúng như Lép Tônxtôi đã nói: “Điều quý hóa không phải là biết quả đất tròn, mà là biết người ta
đã biết được điều ấy như thế nào” [37, tr.43]
Tóm lại, phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học có vai trò quan trọng đặc biệt đối với công tác phê bình, nó chi phối và thậm chí quyết định những thành tựu và hạn chế của các công trình phê bình Phương pháp chính là chiếc chìa khóa giúp người đọc mở cánh cửa bước vào tác phẩm văn chương
1.1.3 Tính bình đẳng của các phương pháp
Trong tập hợp các phương pháp của ngành phê bình, nghiên cứu văn học, mỗi phương pháp có
ưu thế riêng, không có phương pháp nào giữ vị trí thống trị Mỗi phương pháp đều có sở trường và
sở đoản Chính những hạn chế của phương pháp này là điều kiện nảy sinh và tồn tại của phương pháp khác Đấy là lý do cho sự chung sống hòa bình của nhiều phương pháp phê bình mà không nhất thiết phải loại trừ nhau và càng không thể chỉ có một phương pháp độc tôn
Tự bản thân các phương pháp không thể nói lên được ý nghĩa và tầm quan trọng của chúng Phương pháp chưa hẳn là giá trị, đúng hơn là mỗi phương pháp có giá trị của nó, vấn đề là người
Trang 15phê bình khai thác ưu thế của phương pháp đó như thế nào Trong phê bình, nghiên cứu văn học, ít khi nào người ta chỉ áp dụng một phương pháp duy nhất Đó là vì các đối tượng nghiên cứu không bao giờ là những đối tượng biệt lập mà chúng luôn luôn nằm trong những mối quan hệ tương tác với nhau; mặt khác, một đối tượng luôn có nhiều khía cạnh và đặc điểm khác nhau mà một phương pháp không thể bao quát hết được Vì thế phải dựa trên các nguyên tắc: khách quan – toàn diện – cụ thể – lịch sử – phát triển mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp, tránh tuyệt đối hóa một phương pháp phê bình cụ thể nào đó Tốt nhất là tùy theo tính chất của đối tượng nghiên cứu mà chọn lấy
một phương pháp thích hợp làm chủ đạo, và lấy một số phương pháp khác làm bổ trợ
Cần thấy rằng tất cả các phương pháp đều bình đẳng, chúng chỉ có sự phân cấp chính – phụ trong một công trình khoa học cụ thể, và sự phân cấp chính – phụ đó phụ thuộc vào mục đích, đối tượng và tính chất của công trình nghiên cứu Một phương pháp khi được áp dụng cho công trình nghiên cứu này có thể là phương pháp chính nhưng khi được áp dụng cho một công trình khác nó
lại là phương pháp phụ Dĩ nhiên phụ ở đây có nghĩa là phụ trợ chứ không phải là kém giá trị hơn
Một nhà phê bình không nhất thiết phải trung thành với một phương pháp, nhưng sự chuyên chú vào một phương pháp có thể giúp nhà phê bình tạo được dấu ấn trong lịch sử văn học (ví dụ như Hải Triều với phê bình xã hội học mácxít, Trần Đình Sử với thi pháp học, Đỗ Lai Thúy với văn hóa học…) Ngày nay, chúng ta không khuyến khích sự độc tôn của phương pháp phê bình nhưng vẫn rất cần sự chuyên sâu về phương pháp
1.2 NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
Để thấy rõ sự phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc qua sự phát triển của nền lý luận, phê bình Việt Nam nói chung Vì vậy, trong phần này, người viết sẽ điểm sơ nét về lịch sử phát triển của lý luận, phê bình văn học Việt Nam nhằm làm bật lên sự xuất hiện và phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học Qua đó, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện, khách quan khi đánh giá về những đóng góp nổi bật của giai đoạn 1930 – 1945 trong dòng chảy của lý luận, phê bình văn học ở Việt Nam
1.2.1 Trước XX
Phê bình văn học ở Việt Nam, xét như một hoạt động chuyên ngành, là một thể loại trước đây chưa từng có Nó hoàn toàn là con đẻ của sự hiện đại hóa văn học thế kỷ XX Tuy vậy, phê bình không phải là một sản phẩm ngoại nhập, thuần túy của phương Tây Nó đã có những mầm mống đầu tiên từ nhiều thế kỉ trước
Ngay từ thế kỉ XIV, XV, công việc ghi chép, biên soạn, sưu tầm, bổ sung những truyền thuyết,
những truyện ngụ ngôn trong dân gian… đã được ông cha ta chú trọng Những thuật ngữ như phê
Trang 16văn hay bình thơ thực ra không xa lạ gì với các nhà nho xưa – những tác giả chủ yếu của nền văn
học trung đại Việt Nam Mỗi thi tập, văn tập ra đời đều kèm theo lời đề tựa của đôi ba người bạn thân và nhiều lúc là lời bạt của chính tác giả Trong chốn thư phòng yên tĩnh, những khi ngâm vịnh xướng họa, cha ông ta hẳn cũng có sự khen chê, bình giải của riêng mình về những tác phẩm quá khứ hay đương thời Các cụ cũng trao đổi thư từ, đọc và suy nghĩ về văn thơ một cách say mê Chỉ
riêng Đoạn trường tân thanh đã làm tốn giấy mực của biết bao nhà nho và có hẳn một cuộc thi Vịnh
Kiều được vua Tự Đức tổ chức Xung quanh tác phẩm này có không ít bài phê bình, tranh luận rồi
thậm chí vịnh lại tác phẩm bằng thơ Có thể kể ra đây những bài vịnh Kiều của Phạm Quý Thích,
Nguyễn Khuyến cùng tập Thanh Tâm tài nhân thi tập và bài Tựa tổng luận về Kiều của Chu Mạnh
Trinh
Năm 1971, trong quyển Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp nói đến hai tập sách thuộc về thế kỷ XV của Quách Hữu Nghiêm (Phê bình tập Văn Minh cổ súy) và Đào Cử (Phê bình
cuốn Cổ Tâm bách vịnh) như là hai tập phê bình hoàn chỉnh đầu tiên của Việt Nam [30, tr.214,
216] Đến năm 2000, trong luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Tìm hiểu ý thức văn học trung đại Việt
Nam, Lê Giang cho rằng những lời tựa của Phan Phu Tiên, Lý Tử Tấn, Chu Xa và những lời phê
bình của Lý Tử Tấn trong bộ Việt Âm thi tập (1433) – bộ thi tuyển đầu tiên của nước ta – có thể coi
là mốc mở đầu cho lịch sử nghiên cứu, phê bình văn học nước nhà, tiếp đó ông cũng nhắc lại những
ý kiến phía trên của Trần Văn Giáp [29, tr.56]
Nếu quan niệm phê bình văn học nghĩa là tiến hành phân tích và đánh giá tác giả và tác phẩm văn chương thì có thể thấy ngay rằng từ thế kỉ XV, các bài tựa, các lời bạt, các cuộc nói chuyện thơ, các lời bình… cũng đã chứa đựng những yếu tố của phê bình, dĩ nhiên là ở một trình độ khác với phê bình hiện đại rất nhiều Trong những bài viết này, ta thấy một số khái niệm mang tính công cụ của phê bình như: thể, ý, lời, khí, tứ thơ, ngôn pháp và tâm pháp; tình, cảnh, sự; lập ý, luyện ý, đặt câu, dùng chữ, tiết tấu, phong cách…, đã được sử dụng để tiếp cận đối tượng và đánh giá chúng trên
cơ sở văn bản, qua đó thể hiện những quan điểm nghệ thuật của người viết Đặc biệt, do hoạt động phê bình chủ yếu được tiến hành giữa những nhà thơ, những trí thức Nho học có quen biết nhau nên tính giao lưu, đối thoại được thể hiện khá rõ
Tuy nhiên các hoạt động ấy chưa thể dẫn đến sự ra đời của một nền phê bình thật sự Mặc dù
đã nêu được những vấn đề cơ bản về tác giả và tác phẩm như thân thế và phong cách của nhà thơ, một số đặc điểm thể loại, quá trình hình thành tác phẩm và cái thần của từng bài thơ nhưng trong khi phân tích tác phẩm, người viết mới chỉ đưa ra những nhận định rất vắn tắt về nội dung và hình thức, giá trị tư tưởng cùng ý nghĩa thực tiễn của nó Thông thường đó chỉ là những đánh giá hết sức ngắn gọn, hàm súc, còn mang màu sắc cảm tính, ít được chứng minh Ở nhiều trường hợp, các tác giả hầu như hoàn toàn đồng nhất phê bình với sáng tác Họ bày tỏ quan điểm của mình về một tác
Trang 17phẩm bằng cách sáng tạo một tác phẩm khác Tác phẩm ban đầu là đối tượng gợi hứng thì đúng hơn
là đối tượng phê bình
Một lý do khác giải thích cho sự kém phát triển của thể loại phê bình văn học ở nước ta là
quan niệm của người xưa về văn học “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” – mục đích của người sáng
tác chủ yếu nhằm biểu dương những tình trung hiếu tiết nghĩa và bảo vệ, duy trì luân lý, đạo đức Vì
lẽ đó, phê bình văn chương với họ không dựa vào sự cảm thụ nghệ thuật mà chủ yếu dựa trên nền tảng luân lý đã được thấm nhuần Nhà nho yêu ghét nhiều khi không căn cứ vào văn bản mà chỉ xét
nhân thân của chủ thể sáng tác Phạm Thái phê bình bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng chẳng qua vì “Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm Ngụy lại còn tụng Tây Hồ mà chẳng thẹn mặt!
Ghét đứa nịnh làm sao!” Nguyễn Công Trứ – một nhà nho tài hoa – đứng trên quan điểm phong
kiến cũng không khỏi nặng lời với Kiều: “Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”
Lối phê bình chỉ dừng ở mức giới thiệu chung chung hoặc đưa ra một vài ý kiến diễn tả ấn tượng, sự đồng điệu của mình với tác phẩm rồi đề cập đến đôi nét nghệ thuật như vậy được xem là phê bình trực giác (không nên hiểu là nó đồng nhất hoàn toàn với phương pháp trực giác trong phê bình Âu Tây), chủ yếu dựa vào cảm nhận cá nhân, không sử dụng đến những thao tác khoa học, không phân tích bằng lí trí Kiểu phê bình này chỉ giới thiệu cho người đọc những ấn tượng chủ quan, sơ sài về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cũng như phong cách tác giả chứ chưa đi sâu vào việc nghiên cứu các nguồn ảnh hưởng và các yếu tố cấu thành tác phẩm Từ đặc điểm đó, ta có thể kết luận rằng phê bình văn học trung đại Việt Nam hầu như chưa có phương pháp, hoặc nếu cố
gắng gạn lại để khái quát thì có thể gọi đó là phương pháp trực giác có tính chất chủ quan và giáo
Lịch sử phê bình văn học Việt Nam có lẽ bắt đầu từ Đông Dương tạp chí (1913) với mục Bình
phẩm sách mới, và Nam Phong tạp chí (1917) với những bài phê bình theo lối mới của Thái
Tây Trên các tạp chí này đã xuất hiện hai khuynh hướng Thứ nhất là khuynh hướng tìm lại những
Trang 18giá trị văn hóa dân tộc của các tác giả Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc, Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Trần Trung Viên, Bùi Kỷ Thứ hai là khuynh hướng giới thiệu tư tưởng, học thuật của Tây phương, tiêu biểu có Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh Hai khuynh hướng trên đã đặt những nền móng vững chắc, góp phần tích cực cho sự đổi mới của phê bình văn học giai đoạn này
Từ ngày có báo chí và sách quốc văn, Phạm Quỳnh là người viết lối phê bình trước nhất Ông cũng là người giữ vai trò nòng cốt trong việc biến phê bình thành một sinh hoạt văn hóa đều đặn,
thường xuyên Năm 1915, trong Đông Dương tạp chí (số 120), ông có bài phê bình Khối tình con của Nguyễn Khắc Hiếu Tiếp đó ông phê bình tập Giấc mộng con của tác giả này và tập thơ Một
tấm lòng của Đoàn Như Khuê Những bài viết trên vẫn là sự tiếp nối cách bình phẩm của giai đoạn
trước, như khen lời hay ý đẹp, khen tác giả có kiến văn rộng rãi và đặc biệt chú ý về khía cạnh đạo đức của tác phẩm Bởi tính chất chung chung, thiếu phân tích cụ thể, nó vẫn chưa thể được xem là những bài nghiên cứu văn học đúng nghĩa
Cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi và một số trí thức khác, Phạm Quỳnh đã có công lớn trong việc giới thiệu học thuật, tư tưởng phương Tây vào Việt Nam Liên tục trên nhiều số báo, ông
viết các bài thường thức văn học bàn về thể loại: Văn thuyết (1918), Bàn về tiểu thuyết (1921), Khảo
về diễn kịch (1921), Thơ là gì (1921)… Ngoài ra ông cũng dịch nhiều bài về vấn đề này Đặc biệt
thiên Khảo về tiểu thuyết của ông có độ dày khoảng hơn 40 trang in là công trình lý luận đầu tiên về
thể loại văn học ở Việt Nam Tuy vậy, công trình này còn khá sơ lược, chỉ mới nhấn mạnh đến khía cạnh nhân cách, tư tưởng nhà văn và một số khía cạnh kỹ thuật thể loại chứ chưa đi vào những vấn
đề thuộc bản chất đặc trưng của văn học
Đóng góp của Phạm Quỳnh về phương diện phê bình nằm ở những đề xướng, chủ trương và việc giới thiệu phương pháp, kĩ thuật phân tích văn học, hơn là ở chính những bài phê bình mà ông
thực hiện Ta có thể thấy rõ điều này qua bài phê bình nhiều kỳ bàn về Truyện Kiều của ông đăng trên Nam phong tạp chí năm 1919
Bài phê bình được triển khai theo bốn vấn đề: nguồn gốc Truyện Kiều, lịch sử tác giả, tâm lý Thúy Kiều, văn chương Truyện Kiều Mặc dù Phạm Quỳnh viết rất công phu (đi tìm xuất xứ của tác phẩm, ông dịch tiểu thuyết Vương Thúy Kiều của Dư Hoài trong bộ Ngu sơ tân chí để đối chiếu; nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Du, ông dịch lại đoạn viết về nhà thơ này trong Đại Nam liệt truyện)
nhưng bài viết vẫn chưa vượt qua được lối phê bình cũ Chủ yếu ông vẫn dựa vào những khái niệm truyền thống: lời, ý, cách tạo dựng hoàn cảnh Trực giác của ông không thật sự nhạy bén trong khi cách vận dụng kĩ thuật phê bình của phương Tây lại chưa thuần thục
Từ sau bài viết trên, phong trào đọc lại Truyện Kiều bắt đầu xuất hiện, thu hút nhiều cây bút ở
cả hai khuynh hướng cũ và mới: Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật, Vũ Đình Long, Nguyễn
Tường Tam… Đáng chú ý có loạt bài của Vũ Đình Long đăng liên tiếp trên 8 số báo Nam phong:
Trang 19Nhân vật Truyện Kiều (số 68, 69, 70), Triết lý và luân lý Truyện Kiều (số 71), Văn chương Truyện Kiều (số 81, 83, 85, 87, 1924) Ở loạt bài này, Vũ Đình Long đã bám sát vào các chi tiết trong
truyện mà phân tích luận bàn để từ đó nhận ra cái hay của Truyện Kiều không dừng ở “lời văn đẹp,
câu thơ dài” mà quan trọng hơn là tài sáng tạo nhân vật và cách dựng truyện của Nguyễn Du Có
thể nói Vũ Đình Long đã phân tích Truyện Kiều một cách khá toàn diện, ông đề cập đến cả văn tự
sự, văn tả người, văn tả tình, văn tả cảnh Đây là một dấu hiệu cho thấy bước tiến của khoa phê bình, nghiên cứu văn học ở nước ta
Đến năm 1924, sau những lời đại ngôn của Phạm Quỳnh về vị trí của Truyện Kiều đối với sự
tồn vong của dân tộc, của tiếng Việt, cuộc tranh luận về tác phẩm này đã thực sự nổ ra giữa một bên
là Phạm Quỳnh và một bên là các nhà chí sĩ yêu nước: Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng
Kéo dài trong 10 năm, cuộc tranh luận thực sự đã vượt ra ngoài tính chất phê bình một tác phẩm văn học, thậm chí không còn nằm trong phạm vi thuần túy văn học bởi vì cả hai xu hướng
ngay từ đầu đã xuất phát từ những động cơ ngoài văn học để đánh giá Truyện Kiều Tuy nhiên vẫn
xuất hiện những ý kiến phê bình khởi nguồn từ cảm hứng thật sự với bản thân tác phẩm Cuộc tranh luận đã cho thấy quan điểm, cách thức nghiên cứu, phê bình văn học của nhiều nhà phê bình đương thời với hai xu hướng rõ rệt: xu hướng sử dụng những phương pháp, kĩ thuật phương Tây để phân tích văn học, nhận xét nó trên cả hai phương diện nội dung – hình thức và xu hướng khen chê, bình giá dựa trên lập trường đạo đức phong kiến
Đại diện cho xu hướng thứ hai là Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng Đứng trên lập trường
dân tộc, yêu nước của một nhà Nho chân chính, Ngô Đức Kế phê phán Truyện Kiều hết sức kịch
liệt Ông cho rằng hành động gặp gỡ nhau giữa Kim – Kiều là bất chính, người đọc Kiều là kẻ đàng
điếm, học Kiều là “học cái lối thơ phú ca ngâm” khiến “người ngu nước yếu” [18, tr.261-262], …
Rõ ràng Ngô Đức Kế đã phê bình văn học theo lối truyền thống, định giá tác phẩm dựa vào nội dung, đứng trên khía cạnh luân lý mà nhận định Xuất phát từ việc xem văn chương như là phương tiện giáo hóa con người, ông tìm hiểu những bài học đạo đức trong tác phẩm thay vì chú ý đến giá trị nghệ thuật và các vấn đề khác Đứng về phương diện học thuật và nghiên cứu, những ý kiến của ông khá cực đoan Nhưng nếu xét trong hoàn cảnh thời cuộc bấy giờ, sự nhạy cảm về chính trị của Ngô Đức Kế trước âm mưu của Phạm Quỳnh là điều rất đáng trân trọng
Ngoài những tác giả đã nhắc tới ở trên, thời kỳ này chúng ta còn có các nhà khảo cứu, biên dịch, phê bình sau: Phan Khôi, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Trung Viên, Lê Thước, Võ Liêm Sơn… Trong số đó, Phan Khôi, Phan Kế Bính, Võ Liêm Sơn vừa là nhà phê bình, nghiên cứu văn học vừa là nhà lý luận văn học
Tác phẩm Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính được viết theo quan niệm văn chương cổ nhưng súc tích và ngắn gọn, lúc đầu in trên Đông dương tạp chí, tới năm 1930 thì được Trung Bắc
Trang 20tân văn xuất bản Tác phẩm chủ yếu nói về thể cách văn chương và phép làm văn Nó đã mở đầu
cho khuynh hướng tìm về thơ văn cổ của ta sau này
Phan Khôi với Chương Dân thi thoại, trình bày cách bình thơ theo phương pháp cổ điển Ông
nói rõ thế nào là tự pháp, cú pháp, chương pháp, thiên pháp với các phép làm thơ Sau khi cho biết lai lịch bài thơ, ông bình chúng theo lối thưởng ngoạn kiểu thi thoại của Trung Hoa
Nhìn chung, do những sáng tác có giá trị trong giai đoạn này chưa nhiều và xu hướng chú trọng học thuật hơn sáng tác của giới trí thức Nho học nên hầu hết các bài phê bình đều thiên về tính chất biên khảo Nhiều yếu tố cũ còn sót lại, quan niệm văn học căn bản vẫn là quan niệm cũ, các lý thuyết mới du nhập từ phương Tây được vận dụng chưa thật nhuần nhuyễn Chính vì thế, những bài phê bình thường là sản phẩm của lý trí khô khan và kỹ thuật thô sơ, nó chưa có nhiều đổi mới về mặt phương pháp so với giai đoạn trước, vẫn chỉ là phương pháp trực giác nhưng có thêm dấu ấn của tri thức lý luận phương Tây Xét tổng thể, đây là một giai đoạn thể nghiệm chưa có thành tựu nào nổi bật
Về sách, giai đoạn này chỉ có sách biên khảo (Nam thi hợp tuyển của Nguyễn Văn Ngọc, Quốc
văn trích diễm của Dương Quảng Hàm, Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên…), chưa có sách
phê bình Cuốn Sự nghiệp và thi văn Nguyễn Công Trứ của Lê Thước với năm trang phân tích thơ
văn không thể xem là một cuốn phê bình đúng nghĩa như ý kiến của Thanh Lãng Mặc dù Lê Thước
đã sử dụng các sự kiện lịch sử có pha nhiều giai thoại thuộc về tiểu sử của Nguyễn Công Trứ để giải thích cho nghiệp chính trị, nghiệp võ và nghiệp văn của vị danh nhân này song chất phê bình của cuốn sách còn nhạt Cùng lắm, nó chỉ là mầm mống của xu hướng phê bình tiểu sử mà sau này Trần Thanh Mại đã áp dụng
Tóm lại, trong quá trình chuyển từ phương thức tư duy và phân tích văn học mang tính chất phương Đông sang phương thức tư duy và phân tích văn học mang tính chất phương Tây, giai đoạn
từ đầu XX đến 1930 là giai đoạn mang tính bản lề Đây là giai đoạn chuyển mình, chuẩn bị cho sự trưởng thành nhảy vọt của lý luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn sau
1.2.3 Từ 1930 đến 1945
Trong tiến trình hiện đại hóa, phê bình văn học Việt Nam đã trưởng thành bằng việc tiếp thu,
tự giác hoặc không tự giác, các tư tưởng phê bình của văn học phương Tây được kết tinh trong lý thuyết và được cụ thể hóa trong phương pháp Nó tự khu biệt và tách biệt dần với hoạt động sáng tác để trở thành một bộ môn riêng với đối tượng, chức năng và đặc trưng riêng
Thời kỳ 1930 – 1945 là thời kỳ phê bình, nghiên cứu văn học ở nước ta tiến những bước dài mạnh mẽ bằng đôi hia bảy dặm để thực sự đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học Đội ngũ phê bình đông dần lên Những quan niệm mới về đặc trưng và bản chất xã hội, lịch sử của văn học đã xuất hiện Nhiều phương pháp nghiên cứu, phê bình văn học cũng ra đời Nhiều cuộc bút
Trang 21chiến nổ ra sôi nổi Các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình đều muốn thể hiện thái độ, quan niệm, của mình về cuộc sống, con người và văn chương Thông qua báo chí, họ bày tỏ lập trường, tranh luận ý
thức hệ, thậm chí hạ bệ, bôi nhọ nhau nhằm lôi kéo độc giả Những mục Điểm sách, Đọc sách mới,
Tin sách, Phê bình sách mới được in thường kỳ trên các báo Phụ nữ tân văn, Phong hóa, Loa, Thanh nghị, Tri tân, Hà Nội báo… Nhờ vậy mà không khí văn học trở nên sôi nổi, thu hút sự quan
tâm của quần chúng và kích thích sáng tác phát triển Có thể nói chưa bao giờ hoạt động nghiên cứu, phê bình lại hào hứng như những năm này Phê bình đã tự tạo ra một môi trường văn học cần thiết để đổi mới mình và do đó tác động mạnh mẽ đến việc đổi mới các thể loại khác như tiểu thuyết, thơ, kịch Chính sự hình thành và phát triển rực rỡ của phê bình đã dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt tác giả tên tuổi, hàng loạt tác phẩm có giá trị và nhiều cuộc tranh luận học thuật đáng chú
ý
Trước tiên phải nói đến cuộc tranh luận dai dẳng và không kém phần quyết liệt giữa thơ cũ và
thơ mới Đó thật sự là một cuộc cách mạng trong thi ca như Hoài Thanh nhận định Nó âm ỉ từ rất
lâu, tận những năm 1917, khi Phạm Quỳnh chê niêm luật thơ Tàu làm cho tiếng nói của con tim mất
vẻ tự nhiên và thật sự bùng nổ vào ngày 10.03.1932, khi Phan Khôi dõng dạc kết án thơ cũ bị câu
thúc quá nên mất chơn trong bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ Từ đó Phan Khôi đề ra
một lối thơ mới, có vần điệu nhưng không bị bó buộc chặt chẽ bởi niêm luật và ông đã minh họa
cho lối thơ này bằng một thể nghiệm táo bạo: bài Tình già Hưởng ứng lời ông, nhiều bài thơ vốn làm từ trước được đưa lên mặt báo Các báo chí đua nhau đăng thơ mới Các bài công kích thơ
Đường luật xuất hiện Bắt đầu từ Nguyễn Thị Kiêm, lần lượt Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên, Trương
Tửu bước lên diễn đàn với mục đích giành phần thắng cho thơ mới
Trước sự bành trướng ấy, làng thơ cũ đã phản ứng gay gắt Vân Bằng là người đầu tiên chống lại Phan Khôi bằng những lời mỉa mai trên An Nam tạp chí Nhiều người khác cũng đăng đàn hòng bênh vực thơ cũ như Tản Đà, Hoàng Duy Từ, Tùng Lâm, Nguyễn Văn Hanh
Những cuộc tranh biện này chủ yếu diễn ra trong khoảng từ 1934 – 1938 Theo Thanh Lãng,
ngoài vấn đề Truyện Kiều, chưa có một vấn đề nào được văn giới sốt sắng tham gia góp ý kiến hay quyết liệt bênh vực cho bằng vấn đề thơ mới thơ cũ Kết thúc cuộc chiến, thơ mới đã giành được
thắng lợi vẻ vang, không phải vì những lý lẽ hùng hồn mà vì sự ra đời của nhiều thi sĩ có danh và nhiều bài thơ có giá trị Lê Tràng Kiều đã có lý khi cho rằng thơ văn không thể tranh cãi nhau bằng
lý thuyết mà phải thuyết phục bằng thực tiễn sáng tác và chứng minh bằng việc phân tích, giới thiệu những bài thơ hay
Trên báo chí không còn danh hiệu thơ mới vì thơ cũ cơ hồ đã chết hẳn Tuy vậy, cuộc đấu tranh vẫn chưa lụi tắt hoàn toàn Trong lòng một lớp người, giá trị của thơ cũ là cái gì đó bất biến
Trang 22Năm 1941, cụ Huỳnh Thúc Kháng, sau nhiều lần chỉ trích và mạt sát, vẫn quả quyết rằng thơ mới đã
đến ngày mạt vận
Cuộc tranh luận về thơ cũ và thơ mới tuy quyết liệt nhưng khá cởi mở và bình đẳng Đây là
một hiện tượng tích cực, lành mạnh trong sinh hoạt văn hóa ở nước ta Cuộc tranh luận này đã chỉ ra
những đặc trưng cơ bản để phân biệt thơ mới và thơ cũ, từ đó giúp xác lập một quan niệm về thơ ca
và nhanh chóng tự phê phán, công kích những bài thơ mới còn non kém về nghệ thuật Trong cuộc
tranh luận xuất hiện một số lượng khá lớn bài phê bình có giá trị của các tác giả Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm, Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Tùng Lâm…
Cùng thời điểm với cuộc tranh luận trên, ở những tờ báo không mấy tên tuổi đã xảy ra một cuộc tranh luận nổi tiếng vào bậc nhất trong những cuộc đấu tranh tư tưởng từ xưa đến nay: cuộc
tranh luận “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” kéo dài từ 1935 đến 1939 giữa
một bên là Hải Triều, Hồ Xanh, Phan Văn Hùm… và một bên là Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Phan Văn Dật… Đây là cuộc tranh luận đầu tiên đi vào những vấn đề lý luận văn học,
cụ thể nó đã bàn đến nguồn gốc, bản chất và quy luật phát triển của văn học, phản ánh luận với văn học, chức năng của văn học, tính đặc trưng và tính giai cấp của văn học… Ngoài ra nó cũng đề cập đến phương pháp sáng tác tả chân chủ nghĩa và tả thực xã hội; nội dung, hình thức và nhân vật trong tác phẩm văn học
Trước đây, khi nhìn lại cuộc tranh luận này, các ý kiến đều mặc nhiên thừa nhận thắng lợi của
phe “nghệ thuật vị nhân sinh”, đồng thời không tiếc lời phê phán phe ”nghệ thuật vị nghệ thuật” Sự
thực thì quan niệm của cả hai phe đều có những mặt hợp lý và bất hợp lý của nó Khách quan mà nói khuynh hướng nghệ thuật vị nhân sinh mà Hải Triều là đại biểu đã trình bày rất bài bản, lập luận rất vững vàng và dẫn chứng khá đắt về những vấn đề văn học Bằng lòng nhiệt tình hăng say và giọng văn bút chiến sắc sảo, Hải Triều thành công trong việc đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng một hệ thống lý luận mácxít sau Cách mạng tháng Tám Nhược điểm của ông là còn giản đơn khi nhìn nhận về nghệ thuật Ông chưa thấy hết tính thẩm mỹ chính là yêu cầu sống còn đối với một tác phẩm văn chương Vì vậy nhiều khi ông nhìn văn học đơn thuần chỉ ở cặp phạm trù có ích
và không có ích
Khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật mà Hoài Thanh là đại diện tiêu biểu chưa có một hệ thống lý luận chặt chẽ, rõ ràng như khuynh hướng vị nhân sinh, các phát biểu của những nhà phê bình theo khuynh hướng này nhìn chung còn rời rạc, lẻ tẻ, cảm tính Song bù lại, họ là những người hoạt động văn học khá lâu nên rất nhạy cảm với những vấn đề thuộc về quy luật phát triển của văn học, vì thế họ muốn việc nghiên cứu văn học phải bắt đầu từ góc độ bản thể, nói cách khác khi
thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật “phải chú ý đến cái đẹp trước khi chú ý đến những tính cách
phụ, những hình thức tạm thời của nó” [59, tr.33] Cần lưu ý trong toàn bộ các bài tranh luận và cả
Trang 23những bài viết sau đó, Hoài Thanh đều nhấn mạnh chủ thuyết của ông phải mang tên “văn chương
là văn chương” chứ không phải “nghệ thuật vị nghệ thuật” Nghĩa là ông đề cao những “mục đích tự thân” của văn học nhưng không hề chủ trương “đoạn tuyệt giữa cái đẹp và cái có ích” như
Théophine Gautier trong văn học sử nước Pháp [98, tr 58-59]
Hai cách quan niệm khác nhau về văn học lẽ dĩ nhiên sẽ dẫn đến hai cách nghiên cứu, phê bình tác phẩm khác nhau Nếu Hải Triều và những nhà văn cùng chí hướng với ông cho rằng chỉ văn học hiện thực mới là đồng minh, trợ thủ của cách mạng còn văn học lãng mạn với tất cả các khuynh hướng khác đều thoát ly, quay lưng với đời sống, thậm chí là phản động thì Hoài Thanh lại chỉ đánh
giá cao những tác phẩm có nhiều sáng tạo ở “cách tả” bởi ông tin những tác phẩm như vậy mới thực hiện được nhiệm vụ “vén tấm màn đen” “ngăn giữa tri giác và thâm chân” để “trao mỹ cảm cho
người đọc” [59, tr.26, 34, 41] Phải chăng đây cũng chính là những khác biệt giữa phương pháp phê
bình xã hội học mácxít và phương pháp phê bình ấn tượng, chủ quan trong buổi đầu xuất hiện ở nước ta?
Đáng chú ý là về sau Hải Triều đã nhận thức một cách mềm mại, uyển chuyển hơn về mối
quan hệ giữa hình thức và nội dung trong tác phẩm: “Tôi nghĩ một thiên tiểu thuyết hay cũng giống
như cái điệu đàn đã thoát tiếng tơ…” [104, tr.413] Khi cho rằng “một nhà văn khuynh hướng về chủ nghĩa tả thực xã hội chỉ nên phụng sự sự thực, chớ không nên buộc sự thực phải phụng sự mình” [104, tr.412], vô tình Hải Triều đã xích lại rất gần Hoài Thanh Mới hay cái đúng không chỉ
Quốc học giữa Phan Khôi và Sở Cuồng, vụ án Nho giáo giữa Phan Khôi và Trần Trọng Kim, cuộc
tranh luận giữa Nguyễn Công Hoan và Tự lực văn đoàn xung quanh tác phẩm Đoạn tuyệt, những
bài tranh luận của Vũ Trọng Phụng gửi Thái Phỉ về vấn đề văn chương dâm uế… Trong số này, có một cuộc tranh luận nhỏ song lại có ý nghĩa khá lớn Đó là cuộc tranh luận giữa Nguyễn Bách Khoa
và Hoài Thanh về việc phương pháp phê bình văn học cần thiên về chủ quan hay khách quan Hai
tác giả không chỉ cãi nhau bằng lý lẽ mà còn đi vào phân tích cụ thể tác phẩm Truyện Kiều để chứng
minh cho tính đúng đắn của phương pháp mà mình theo đuổi Trên thực tế, những bài phê bình của Hoài Thanh khá thuyết phục còn những lời hô hào có phần khoa trương cùng với cách áp dụng lý thuyết máy móc của Nguyễn Bách Khoa ít được cảm tình của văn giới Song đứng về phương diện học thuật mà xem xét thì Nguyễn Bách Khoa là một tác giả có nhiều nỗ lực trong việc nâng tầm phê
Trang 24bình lên một khoa học đúng nghĩa Tiếc rằng những bước đi đầu tiên thường không vững chắc và dễ sai sót
Phê bình văn học chỉ thật sự phát triển khi nó ở trong trạng thái động, tức là khi những người tham gia vào đời sống văn học không ngừng suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, tích cực tranh luận và tự đổi mới, hoàn thiện mình thông qua tranh luận Chính không khí tranh luận hào hứng, sôi nổi đã làm nên bộ mặt đặc biệt của phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945 Nhờ đó, ở nước ta đã xuất hiện một đội ngũ phê bình đông đảo và đầy tài năng Đội ngũ này không chỉ phong phú về lượng,
ưu tú về chất mà còn rất đa dạng về các mặt trường phái, khuynh hướng, phương pháp, phong cách Trước tiên ta có thể chia các nhà phê bình thời kỳ này làm hai nhóm Nhóm một gồm Hải Triều, Đặng Thai Mai, Hồ Xanh, Hải Khách, Phan Văn Hùm… Đây là những nhà phê bình theo quan điểm mácxít Nhóm hai gồm hầu hết những tên tuổi sáng giá của nền phê bình đương thời: Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Trương Chính, Ngô Tất Tố, Thế Lữ, Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng… Đây
là những nhà phê bình theo quan điểm ý thức hệ tư sản
Các nhà phê bình nhóm một vừa kế thừa quan niệm văn học truyền thống Việt Nam vừa tiếp thu và truyền bá hệ tư tưởng mácxít Tư tưởng mácxít được giới thiệu ở Việt Nam từ đầu những năm 30 của thế kỉ XX trong một số bài báo của Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và Hải Triều, nhưng
để xuất hiện với tư cách là một kiểu phê bình thì phải đến cuộc tranh luận nghệ thuật 1935 – 1939
mà Hải Triều là người khởi xướng Cái lõi của tinh thần phê bình mácxít đã bước đầu thể hiện trong các bài viết của Hải Triều và được phát triển lên một bước khá rõ với Đặng Thai Mai vào cuối giai đoạn
Nhìn chung các nhà mácxít lấy ba phạm trù hiện thực tính, giai cấp tính và nội dung tính làm
cơ sở chính để phân tích sáng tác văn học Theo đó, họ coi văn học là tấm gương phản ánh thực tại,
là vũ khí đấu tranh giai cấp và công cụ phục vụ cách mạng Họ yêu cầu văn học phải gắn liền với đời sống, có chức năng giáo dục, cảm hóa con người và cải tạo xã hội Họ khẳng định nội dung là cái thứ nhất, quyết định hình thức, hình thức thể hiện nội dung song bản thân nó cũng có tính độc lập tương đối Họ nêu rõ quan điểm nghệ thuật vô sản, cho rằng văn học phải hướng về nhân dân lao động và nhờ vậy, họ đã góp phần giải thoát sự bế tắc cho những văn nghệ sĩ lúc ấy, đồng thời tập hợp được một số nhà văn ưu tú, có tài có tâm, để đảm trách những nhiệm vụ cách mạng giao phó
Tuy nhiên tình hình xã hội đương thời chưa tạo ra những tiền đề thuận lợi cho sự thâm nhập của quan điểm mácxít Hơn nữa, việc vận dụng quan điểm vào thực tiễn ở giai đoạn đầu không tránh khỏi những khó khăn, bỡ ngỡ Trừ một vài bài báo của Phan Văn Hùm, Minh Tước, K&T…, các nhà phê bình mác xít đều chưa có điều kiện đi sâu vào phân tích những tác phẩm văn học cụ thể Phê bình mác xít lúc bấy giờ mới chỉ ở dạng lý luận, phê bình tổng quát dựa trên nền tảng của triết
Trang 25học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đang trên đường quảng bá phương pháp chứ chưa tiến đến việc vận dụng phương pháp ấy vào đánh giá tác phẩm một cách nhuần nhuyễn Vì lẽ đó, thành tựu chủ yếu của phê bình văn học giai đoạn này vẫn thuộc về các nhà phê bình nhóm hai Nhóm này bộc lộ thành nhiều kiểu, nhiều phương pháp và cả phong cách riêng
Phạm Quỳnh, Phan Khôi tiếp thu lối viết, cách lập luận phương Tây nhưng văn phong đăng đối, có khi cổ kính, nặng nề và dùng nhiều chữ Hán Ngược lại, Phan Kế Bính là một nhà Hán học thuần túy song văn ông lại có cái giản dị, trong sáng của những nhà Tây học Khi nghiên cứu văn chương, Phan Kế Bính đã tiến hành những thao tác mới, ông đứng từ nhiều góc nhìn để đánh giá văn chương, ông chú ý nghiên cứu nguồn gốc, nguyên lý văn chương, phương thức sáng tác, chức năng thẩm mỹ, tác dụng của nghệ thuật cũng như mối quan hệ mật thiết giữa văn chương và xã hội, giữa văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam Ở ông, ta bước đầu thấy được sự vận dụng linh hoạt các lý thuyết văn học phương Tây
Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan là những người theo phương pháp hệ thống và phương pháp mô tả thực chứng trong nghiên cứu văn chương Họ đã xử lý khối lượng tư liệu đồ sộ một cách chính xác, khách quan để viết nên những bộ sách có giá trị Họ đặt các tác giả, tác phẩm vào dòng chảy thời gian để thấy sự kế thừa, ảnh hưởng và phát triển của các hiện tượng văn học Họ phân dòng, chia nhóm và định vị trí các nhà văn nhằm dựng lại một cách sinh động những giai đoạn phát triển của văn học Ngoài ra hai nhà phê bình này cũng chú ý sử dụng phương pháp so sánh để trình bày ảnh hưởng của các nền văn hóa nước ngoài đối với văn hóa Việt Nam Đặc biệt, tuy mới chỉ
dùng phương pháp thực chứng nhưng Vũ Ngọc Phan đã sớm “đề cập đến cả ba đối tượng của văn
học so sánh”: các mối quan hệ trực tiếp; các điểm tương đồng ngoài quan hệ trực tiếp; các điểm
khác biệt độc lập, những biểu hiện bản sắc của các hiện tượng văn học dân tộc hay của các nền văn
học dân tộc Quan điểm so sánh tương đồng của ông thậm chí đã “đi trước các nhà so sánh luận thế
giới” [7, tr.30, 31, 33]
Cùng thời với Vũ Ngọc Phan, năm 1942, trong cuốn Thi nhân Việt Nam, ở bài tổng luận Một
thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã tiến hành so sánh một cách có hệ thống phong trào Thơ mới với
thơ ca phương Tây Ông chỉ ra sự ảnh hưởng của thơ Pháp đối với Thơ mới là một nguồn ảnh hưởng
quan trọng bên cạnh nguồn ảnh hưởng của truyền thống thơ ca dân tộc và nguồn ảnh hưởng của thơ Đường Trung Quốc Khi chứng minh sự ảnh hưởng của thơ Pháp, ông vẫn khẳng định bản sắc dân
tộc của Thơ mới Việt Nam, tức là lưu ý đến tính chủ động sáng tạo của nhân tố tiếp nhận Theo định
nghĩa của văn học so sánh hiện đại, Hoài Thanh đã chú ý đến đối tượng thứ nhất (các mối quan hệ trực tiếp) của bộ môn này Nhìn chung ở giai đoạn 1930 – 1945, các nhà nghiên cứu văn học đều có khuynh hướng đi tìm những điểm giống nhau giữa văn học Việt Nam với văn học Pháp và văn học
Trang 26Trung Quốc để làm rõ những ảnh hưởng và sáng tạo của các văn sĩ Việt Nam Tuy vậy, chưa ai có cái nhìn bao quát, toàn diện với các đối tượng so sánh như Vũ Ngọc Phan
Trong bộ Nhà văn hiện đại, ít nhiều Vũ Ngọc Phan đã quan tâm đến bối cảnh xã hội và hoàn
cảnh ra đời của tác phẩm nhưng rõ ràng sự quan tâm này không nhiều Chủ yếu ông vẫn giới hạn cảm quan và sự hoạt động của mình trong lĩnh vực văn học, xem xét tác phẩm trong mối liên hệ biệt lập với các đối tượng khác Hầu như ông không hề quan tâm đến việc lý giải sáng tác từ góc độ của các khoa học như triết học, luân lý, chính trị, kinh tế…
Ðào Duy Anh với công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều thoạt đầu cho ta ấn tượng ngược lại
Nhìn vào kết cấu công trình ta thấy dường như ông đã thực hành một lối phê bình khoa học Bốn
chương đầu ông dành cho việc nghiên cứu tác giả Nguyễn Du, lai lịch Truyện Kiều, các chương còn
lại thì phê bình tác phẩm Thế nhưng mặc dù ở một số chỗ ông cũng căn cứ vào thân thế nhà thơ và điều kiện xã hội để cắt nghĩa sáng tác, song nhìn tổng thể ta vẫn thấy những kiến thức thu được từ
bốn chương đầu ít khi giúp ích cho tác giả trong việc phê bình văn chương và tư tưởng Truyện Kiều
ở các chương sau Thực chất khi phê bình Truyện Kiều, Ðào Duy Anh vẫn hoàn toàn theo lối mô tả,
giảng giải để bình phẩm một cách chủ quan
Điều này khác hẳn với Nguyễn Bách Khoa Nguyễn Bách Khoa quan niệm văn chương thể hiện con người và cá tính nhà văn Ông cho rằng mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu một tác phẩm văn chương là tìm đến cá tính nhà văn và xã hội đương thời với nhà văn được phản chiếu trong tác phẩm ấy Thực hiện lý thuyết này, ông áp dụng phân tâm học Freud, thuyết chủng tộc địa
lý của Taine, học thuyết Mác, tâm lý học chức năng và thậm chí cả chủ nghĩa cấu trúc vào khoa phê bình văn chương Theo ông, nhà phê bình không nên xuất phát từ một điểm nhìn mà phán đoán, khen chê, thay vào đó họ nên miêu tả, giải thích tác phẩm một cách khách quan bằng các sự kiện thực chứng, các dữ kiện ở ngoài tác phẩm như cuộc đời nhà văn, huyết thống, di truyền, khí hậu, địa
dư, lịch sử… Việc đổi mới phê bình là cần thiết nhưng do không hiểu hết những đặc thù chuyên biệt
và logic nội tại của văn hóa cộng với sự áp dụng máy móc, cực đoan các tư tưởng mà bản thân chưa thực sự nắm rõ nên Nguyễn Bách Khoa đã đi đến rất nhiều kết luận sai lầm, tưởng là khoa học nhưng thực chất là ngụy khoa học Thay vì xem tác phẩm như đối tượng khảo sát, ông lại xem nó như một phương tiện để chứng minh cho những quan điểm của mình Đây là lý do khiến ở miền Bắc
từ những năm 1960, sách của ông không còn được nhắc đến Đương thời, nhằm bác bỏ những luận
điểm thiếu chính xác của Nguyễn Bách Khoa khi nghiên cứu Truyện Kiều, Đinh Gia Trinh đã có khá nhiều bài trên báo Thanh Nghị Cuộc tranh luận này sẽ được nói kỹ trong phần sau
Phê phán Nguyễn Bách Khoa không có nghĩa là phủ nhận toàn bộ những tác phẩm của ông Cần thấy rằng trước 1945, Nguyễn Bách Khoa là một trong những người đi tiên phong trong việc áp
dụng những những phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học mới Năm 1936, với bài viết Cái ám
Trang 27ảnh của Hồ Xuân Hương in trên tờ Tiến hóa số 1, ông đã dùng học thuyết Freud để lý giải thơ Hồ
Xuân Hương rồi rút ra kết luận nữ sĩ mắc bệnh thần kinh do dục tình không thỏa mãn Năm 1940,
trong Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (lúc này có bút danh là Trương Tửu) tiếp tục sử dụng
quan điểm tâm phân học Freud vào phân tích mảng ca dao dâm tục và thơ Hồ Xuân Hương Nhiều người cho rằng Nguyễn Bách Khoa đã tuyệt đối hóa thuyết ẩn ức sinh lý của Freud để phân tích ca
dao Việt Nam Riêng Nguyễn Văn Dân căn cứ vào ý kiến của chính Nguyễn Bách Khoa: “Không có
giả thuyết cho rằng não trạng ấy là một di tích của một tôn giáo thờ sự sinh đẻ thì làm sao mà cắt nghĩa được nó?” [120, tr.159-160] mà đi đến nhận xét Nguyễn Bách Khoa đã ngả theo xu hướng lấy
văn hóa để cắt nghĩa văn học [9, tr.236] Đáng chú ý là ở Nguyễn Bách Khoa không hề có sự ảnh hưởng của Bakhtin vì cuốn sách của Bakhtin phải đến năm 1965 mới được xuất bản
Qua một số công trình của Nguyễn Bách Khoa, ta thấy ông đề cao lý luận của Mác về xã hội
và văn học, thậm chí ông còn tự nhận mình là nhà phê bình mácxít Trong chuyên khảo Tâm lý và tư
tưởng Nguyễn Công Trứ, ông ca tụng “phương pháp duy vật biện chứng” như là “phương pháp khoa học cao nhất, hiệu nghiệm nhất trong tư tưởng giới hiện đại của loài người” [50, tr.236]
Nguyên lý căn bản để giải thích những “cá nhân đặc biệt” theo ông là luận điểm của Mác: “con
người là một sản vật kết tinh của những tương quan xã hội”, “trong lúc hành động để xử trí thế giới
tự nhiên ở bên ngoài, con người cũng biến đổi luôn cả bản chất của mình nữa” [50, tr.231] Hoàn
cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và số phận đẳng cấp sĩ phiệt Nho giáo mà Nguyễn Công Trứ là một phần tử chính là cơ sở để ông giải thích mọi vấn đề của hiện tượng Nguyễn Công Trứ: thái độ trước cái nghèo, triết lý hành lạc, cái ngông, chí nam nhi… Tinh thần chung của chuyên luận là nhìn các hiện tượng theo quan niệm xã hội học và đấu tranh đẳng cấp Nguyễn Công Trứ vì vậy, theo tác giả là chứng nhân của thời đại mình còn tâm lý và tư tưởng của ông là cơ sở để hiểu trạng thái khách quan của thời đại So với các công trình khác của Nguyễn Bách Khoa, công trình này có thể xem là một nỗ lực tương đối thành công, góp phần khẳng định thành tựu của trường phái phê bình khách quan
Trước Nguyễn Bách Khoa, Trần Thanh Mại cũng là người chủ trương dùng cuộc đời để cắt nghĩa sáng tác Phương pháp phê bình của ông có đặc điểm là gắn liền tác phẩm với thân thế tác giả,
lý giải thơ văn thông qua việc dựng lại chân dung nhà nghệ sĩ Đáng tiếc là những trang phê bình của ông nhiều khi mang màu sắc tưởng tượng, thiếu cơ sở thực tế, ít độ tin cậy bởi cảm hứng sáng tác đã lấn át cảm hứng khoa học Người đọc có cảm giác tác giả không thật sự biết mà chỉ vẽ nên hoàn cảnh ra đời bài thơ căn cứ vào sự suy diễn chủ quan của mình Giữa điều nhà phê bình muốn làm và điều nhà phê bình thực sự làm có một khoảng cách khá xa Trần Thanh Mại đã biết sử dụng phương pháp tiểu sử nhưng thao tác của ông chưa thật thuần thục
Trang 28Bên cạnh những phương pháp trên, đáng chú ý là lối phê bình mang đậm dấu ấn cá nhân có nguồn gốc từ những bài bình thơ quen thuộc ở Việt Nam và trường phái phê bình ấn tượng phương Tây Đây là lối phê bình được các nhà phê bình – nghệ sĩ như Hoài Thanh, Thạch Lam, Xuân Diệu… lựa chọn Đặc điểm của lối phê bình này là sự cảm thụ hồn nhiên theo thị hiếu cá nhân và lời văn trong sáng, giàu chất thơ Người viết không phân tích tỉ mỉ mà chỉ nói về tác phẩm bằng những ấn tượng sâu sắc, tinh tế nhất Họ đề cao chức năng thẩm mỹ của văn chương và coi nhẹ các chức năng khác như giáo dục, đạo đức, nhận thức… Họ nghiên cứu văn học từ góc độ bản thể và ít quan tâm đến các yếu tố ngoài văn bản Họ chỉ chú trọng đến những cảm xúc, cảm tưởng mà áng văn mang đến cho người đọc Họ đặt ra cho mình nhiệm vụ làm kẻ trung gian giới thiệu cái hay, cái đẹp của những ngôn từ lộng lẫy, những ý tình lai láng trong tác phẩm
Dù thiên về khuynh hướng tình cảm, lấy trái tim làm thước đo cái đẹp của nghệ thuật văn chương hay đi theo khuynh hướng khoa học, khách quan, chính xác thì các nhà phê bình giai đoạn này đều viết tác phẩm của mình trên tinh thần dân tộc sâu sắc và truyền thống tư duy, tình cảm của người Việt kết hợp với những lý thuyết, phương pháp mới mẻ học tập của phương Tây Nhờ họ mà lịch sử phát triển của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học nước ta đã có những bước tiến vượt bậc với sự xuất hiện của hàng loạt phương pháp: phương pháp ấn tượng, phương pháp tiểu sử, phương pháp hệ thống, phương pháp xã hội học mácxít, phương pháp văn hóa – lịch sử, phương pháp phân tâm học (ngoài Nguyễn Bách Khoa, năm 1936, Nguyễn Văn Hanh cũng sử dụng phương
pháp phân tâm học trong cuốn Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài Tuy nhiên tác phẩm
này không mấy thành công)…
Phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945 tuy kéo dài không bao lâu nhưng đã để lại nhiều thành tựu đáng kể, giúp cho phê bình văn học Việt Nam thực sự bước vào quỹ đạo của phê bình văn học hiện đại Đây là giai đoạn trưởng thành vượt bậc của lý luận, phê bình với những cuộc tranh luận sâu sắc động chạm đến những vấn đề cốt yếu của văn học, những công trình nghiên cứu vượt thời đại và trở thành kinh điển, những xu hướng tìm tòi lý luận và phương pháp phê bình đa dạng,
nhiều hướng
1.2.4 Từ 1945 đến 1985
Đây là giai đoạn văn học phát triển thuần nhất, gắn liền với chính trị và mang tính tổ chức cao Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là xác lập sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản đối với văn hóa văn nghệ, biểu hiện cụ thể là sự truyền bá lý luận văn học mácxít và lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa một cách rộng khắp Điều đó đã tạo ra sự nhất thể hóa các phương pháp phê bình Phê bình xã hội học mácxít dần dần trở thành phương pháp chủ đạo, rồi sau đó độc tôn Các phương pháp được hình thành và đã có những thành công trước 1945 như phương pháp ấn tượng, phương
Trang 29pháp tiểu sử, phương pháp lịch sử – xã hội không còn tiếp tục phát triển nữa mà vỡ ra thành những yếu tố gia nhập vào phương pháp xã hội học mácxít
Dòng phê bình mácxít ở Việt Nam có thể coi như được bắt đầu từ các bài viết của Hải Triều
(đặc biệt là trong cuộc tranh luận nghệ thuật với Hoài Thanh), chảy qua Đề cương văn hóa Việt
Nam của Trường Chinh, Văn học khái luận của Ðặng Thai Mai rồi Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Hoài Thanh, cùng một số tiểu luận phê bình thời kháng chiến, dẫn thẳng đến
những công trình của nhóm Lê Quý Ðôn (từ công trình Lược thảo văn học Việt Nam của nhóm này, lịch sử văn học bắt đầu được phân kì theo các hình thái kinh tế – xã hội), Nguyễn Lương Ngọc (Mấy
vấn đề nguyên lí lí luận văn học) và thành chủ lưu kể từ những năm 60, 70 với rất nhiều tác phẩm
của Phan Cự Ðệ, Hà Minh Ðức, Lê Ðình Kỵ, Trần Ðình Hượu, Văn Tâm, Như Phong, Phong Lê
Ba phạm trù chính để phê bình mácxít lấy làm cơ sở phân tích văn học là hiện thực tính, giai
cấp tính và nội dung tính Theo đó, mục tiêu cao nhất của văn học là phản ánh thực tại, văn học
không có ý nghĩa tự thân, mọi thay đổi trong văn học cần phải được lý giải từ sự thay đổi trong đời
sống hiện thực, cụ thể là đời sống kinh tế – xã hội Nói cách khác, phản ánh hiện thực và hiện thực
phản ánh là thuộc tính thứ nhất của tác phẩm Từ cách suy nghĩ này, đã có một khối lượng khổng lồ
các công trình phê bình đề cập đến vấn đề nội dung hiện thực và phương pháp sáng tác hiện thực
chủ nghĩa Trong quyển nghiên cứu nổi tiếng một thời Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của
Nguyễn Du, Lê Đình Kỵ đã cố chứng minh khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vượt qua phạm trù
chủ nghĩa cổ điển và đã gần nằm trọn vào phạm trù chủ nghĩa hiện thực Ông xem thế giới nghệ thuật trong tác phẩm, bao gồm nhân vật và bối cảnh, chỉ như sự tái hiện một cách cô đọng cuộc
sống thực tế Vì vậy, ông nhìn nhận, đánh giá các nhân vật trong Truyện Kiều y như cách ông nhìn
nhận, đánh giá con người trong thực tế Giữa đời sống và nghệ thuật dường như không có ranh giới nào Tuy có nhiều phát hiện mới, nhưng do chưa chú trọng đúng mức đến những đặc thù của văn học nên ở nhiều điểm Lê Đình Kỵ tỏ ra chưa thật thuyết phục
Điều đáng quý của việc đề cao văn học hiện thực là đã khôi phục lại địa vị xứng đáng của một
số nhà văn lớn như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam… Phần lớn các nhà văn này đều xuất thân từ tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo Có thể nói phê bình xã hội học mácxít rất chú trọng đến việc phân tích tính giai cấp, đặc biệt là ở những hiện tượng văn học của
quá khứ, như Thơ mới hoặc tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn Các nhà mácxít cho rằng mỗi nhà văn
thuộc về một đẳng cấp xã hội nhất định; sáng tác của nhà văn in đậm dấu ấn cách nhìn, lợi ích của đẳng cấp mà anh ta là một thành viên Trên cơ sở đó, họ đưa ra một bức tranh toàn cảnh rõ ràng về văn học trước 1945 với sự phân chia như sau: văn học cách mạng của giai cấp vô sản, văn học hiện thực phê phán của tiểu tư sản lớp dưới và văn học lãng mạn của tiểu tư sản lớp trên và tư sản Sự lý giải văn học từ vị trí giai cấp của nhà văn có thể thấy rõ qua các công trình của Phan Cự Ðệ Trong
Trang 30cuốn Phong trào Thơ mới (1932 – 1945), ông cắt nghĩa cái buồn, cái cô đơn; sự phân hoá của các phong cách thơ và những yếu tố tiến bộ, tích cực rồi cả điều gọi là “sự suy đồi” (Say của Vũ Hoàng Chương, Kinh cầu tự của Huy Cận, thơ của nhóm Xuân thu nhã tập ) của thơ ca thuộc phong trào
này chủ yếu từ địa vị đẳng cấp của các thi nhân và bối cảnh lịch sử xã hội đương thời
Với các nhà mácxít, nội dung là cái thứ nhất, cái quyết định hình thức Hình thức thể hiện nội dung, song bản thân nó cũng có tính độc lập tương đối, nó có thể lạc hậu so với nội dung Một nền văn học phát triển phải đạt đến sự hài hòa giữa hình thức và nội dung Nhiệm vụ chính của nhà phê bình do đó là tìm hiểu nội dung tác phẩm, đồng thời cũng phải lưu ý xem hình thức thể hiện có phù hợp không, sự diễn đạt có sinh động, hùng hồn không Nhìn chung các nhà mácxít ưa thích những hình thức có tính dân tộc, đại chúng hóa, họ đánh giá cao giá trị thẩm mỹ của khách thể được phản ánh trong tác phẩm hơn là cá tính sáng tạo và hình thức nghệ thuật của nhà văn
Ta có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc phê bình thơ trong kháng chiến Cuộc phê bình đầu tiên
là phê bình thơ không vần của Nguyễn Đình Thi tại Hội nghị Tranh luận Văn nghệ Việt Bắc ngày
25, 26, 27, 28 tháng 9 năm 1949 Trong cuộc phê bình, nhiều người nhận xét rằng thơ Nguyễn Đình Thi có hình thức xa lạ với đại chúng còn nội dung thì rơi rớt chất ủy mị, tiểu tư sản Kết quả là Nguyễn Đình Thi đã chữa tất cả những bài thơ không vần của ông thành thơ có vần Cuộc phê bình
lần thứ hai diễn ra ngay sau khi kháng chiến kết thúc với đối tượng là tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Tiếng nói lần này là tiếng nói khẳng định một cách mạnh mẽ Từ đây, thơ Tố Hữu không chỉ trở thành lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, mà còn là khuôn mẫu cho cả nền văn học hiện thực
xã hội chủ nghĩa với nội dung phản ánh kịp thời những biến chuyển của cách mạng và hình thức giàu tính dân tộc, dễ đi vào tâm hồn của quảng đại quần chúng nhân dân
Thái độ của giới nghiên cứu và sáng tác trong hai cuộc phê bình trên chứng tỏ cách nhìn của
xã hội đối với nội dung và hình thức của tác phẩm văn học vẫn còn nhiều điểm cứng nhắc Lẽ dĩ
nhiên, cách nhìn ấy sẽ được “mềm hóa” từ từ khi cách mạng giành được thắng lợi Thật vậy, càng
ngày các nhà phê bình mácxít càng quan tâm hơn đến những biểu hiện của hình thức như thể loại, cách thức tổ chức tác phẩm Đáng chú ý có thể kể đến Hà Minh Ðức và Bùi Văn Nguyên với cuốn
chuyên khảo Thơ ca Việt Nam (hình thức và thể loại) viết năm 1965, nghiên cứu về các hình thức
thơ ca Việt Nam trong lịch sử Đây là một chuyên khảo rất ý nghĩa, nhất là khi nó được thực hiện vào thời kì người ta luôn sợ mang tiếng là theo chủ nghĩa hình thức Tiếc là do hạn chế thời đại, Hà Minh Ðức và Bùi Văn Nguyên mới chỉ mô tả được hình thức bên ngoài, tức là những yếu tố có tính vật thể có khả năng tác động vào các giác quan như : vần, nhịp, đối, khổ thơ, thể thơ, màu sắc của các từ biểu hiện (cũ, sáo hay mới mẻ ) mà chưa nắm bắt được hình thức bên trong, tức các mô hình thực tại như cách hiểu của các nhà thi pháp học sau này
Trang 31Trong quá trình phát triển, với sự hỗ trợ của cơ chế, sự giao lưu khoa học và văn hóa với Liên
Xô, Trung Quốc, phê bình xã hội học mácxít dần trở thành bộ môn khoa học hoàn chỉnh, có khả năng lý giải nhiều phương diện của văn chương Nó đã thực hiện tốt nhiệm vụ nâng đỡ, bảo vệ, khẳng định các thành tựu của văn học cách mạng, văn học vô sản, những sáng tác của công nông binh và phê phán những rơi rớt của văn chương tiểu tư sản Cùng với các phương pháp phê bình ấn tượng, phê bình phân tâm học, phê bình phong cách học, phê bình thi pháp học , phê bình xã hội học mácxít đã và đang có một vị trí quan trọng trong lịch sử phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam Phương pháp này, một mặt đã mang lại nhiều thành công cho phê bình văn học Việt Nam, mặt khác,
do tự làm nghèo mình đi bởi sự độc tôn, nên vấp phải một số vấn đề nghệ thuật nan giải như phản ánh luận, nội dung và hình thức Những biện pháp cứu chữa như: nhấn mạnh đặc trưng nghệ thuật của sự phản ánh, đảo lại trật tự các chức năng… đều không mang lại nhiều kết quả, bởi lẽ đấy chỉ là những sửa chữa bộ phận trong một ngôi nhà tổng thể Để phát triển được, phê bình văn học Việt Nam cần phải bổ sung thêm những phương pháp khác
Ý thức rõ điều này nên ở miền Bắc giai đoạn 1945 – 1985, có một số nhà nghiên cứu đã thử tìm cho mình những hướng đi mới Đó là Đinh Gia Khánh với phương pháp loại hình được áp dụng
một cách có nguyên tắc khi “sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám”
năm 1968 Đó là Hoàng Trinh với phương pháp kí hiệu học kết hợp với lý thuyết thông tin được sử dụng để nghiên cứu các quy tắc vận dụng độ dư của từ trong việc diễn tả tư tưởng và tình cảm qua
bài viết Lượng tin và cái mới trong sáng tác văn học năm 1979… Bên cạnh đó còn có thể kể đến
Văn Tân và phần nào Xuân Diệu, Nguyễn Đức Bính – những người đã sử dụng luận điểm dồn nén –
ẩn ức – thăng hoa của Freud để giải thích một số hiện tượng văn học, đặc biệt là hiện tượng Hồ Xuân Hương Tuy nhiên, do áp lực của cái nhìn xã hội học nên họ giải thích ẩn ức tình dục của nữ sĩ không chỉ dựa vào tiểu sử cá nhân, mà còn dựa vào cả những điều kiện kinh tế xã hội đương thời hoặc ý thức tư tưởng Thế là ẩn ức tình dục bị lọt thỏm vào ẩn ức xã hội, phê bình phân tâm học rơi vào quỹ đạo của phê bình xã hội học
Đáng chú ý trong giai đoạn này là sự xuất hiện của lý thuyết tiếp nhận văn học vào năm 1971
Trên Tạp chí Văn học số 4, Nguyễn Văn Hạnh đã dựa trên quan điểm thực tiễn trong nhận thức luận
của Lênin để đưa ra yêu cầu đối với nhà nghiên cứu văn học về việc phải chú ý đến phản ứng của người đọc, nói cách khác là phải chú ý đến vấn đề tiếp nhận văn học Vào những năm 70, lý thuyết tiếp nhận mới bắt đầu được thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới, vậy mà Nguyễn Văn Hạnh đã sớm nhận biết ý nghĩa quan trọng của lý thuyết này Tiếc là sau đó các nhà nghiên cứu Việt Nam vẫn chưa thấy được tính đúng đắn của hướng nghiên cứu do ông mở ra Thậm chí nhiều người còn phê bình Nguyễn Văn Hạnh đã coi nhẹ nhân tố chủ quan của sáng tác, coi nhẹ lập trường tư tưởng giai cấp trong nghiên cứu Rõ ràng lối tư duy cũ mòn, giáo điều đã cản trở họ đến với cái mới
Trang 32Năm 1971 cũng là năm khái niệm “văn học so sánh” được nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta biết
đến Thế nhưng cách nhìn của mọi người về nó không thật chính xác Họ quy giản văn học so sánh thành phương pháp so sánh và coi nó là một bộ phận của khoa nghiên cứu văn học nói chung Phải
đến tận 1979, sau bài viết của chuyên gia văn học so sánh Hunggary SZ Lázlo: Văn học so sánh ở
Hunggary (1945 – 1978) đăng trên Tạp chí Văn học, giới nghiên cứu trong nước mới bắt đầu quan
tâm tới khía cạnh lý luận của bộ môn này Liên tục sau đó, nhiều bài giới thiệu, nghiên cứu văn học
so sánh của Nguyễn Văn Dân, Lê Đình Cúc, Trương Đănh Dung, Hoàng Trinh… xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành Nhìn chung các tác giả đều khẳng định vị trí và tầm quan trọng của bộ môn văn học so sánh, chỉ có điều phần lớn các bài viết mới chỉ dừng lại ở phương diện lý thuyết chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề văn học cụ thể
Khác với giới nghiên cứu miền Bắc, trước 1975, dưới chế độ Mỹ ngụy, các trí thức Sài Gòn có điều kiện tiếp xúc với văn hóa Mỹ, Pháp, Đức, Anh và nhiều nước phương Tây Trong sách giáo khoa đại học, ngoài phân tâm học bệnh lý của Freud, người ta còn giới thiệu nhiều phương pháp phân tâm hiện đại như phân tâm hiện sinh của Jean Paul Sartre, phân tâm học vật chất của Bachelard, phân tâm phê bình của Charles Mauron Ngoài ra còn có phương pháp phê bình chủ đề của Richard, phê bình cấu trúc luận của Roland Barthes và Lucien Goldman… Các học giả miền Nam một mặt nghiên cứu những học thuyết lý luận phương Tây để góp phần hiện đại hóa lý luận, phê bình nước nhà, mặt khác, chú trọng xây dựng một số bộ văn học sử Việt Nam để bảo tồn văn hóa dân tộc Nổi bật lên có những cái tên tiêu biểu sau: Nguyễn Hiến Lê, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Đặng Tiến, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Sỹ Tế…
Tổng quan lại, giai đoạn 1945 – 1985 là giai đoạn hình thành, củng cố lý luận, phê bình văn học dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Phê bình, lý luận chủ yếu thực hiện các nhiệm
vụ đấu tranh tư tưởng và trưởng thành qua các cuộc đấu tranh ấy về mặt chính trị Nội dung học thuật của công tác lý luận, phê bình cũng được phát triển nhưng có nhiều hạn chế Trong giai đoạn này, phê bình xã hội học của các nhà mácxít chiếm ưu thế tuyệt đối Ngoài ra chúng ta vẫn thấy sự hiện diện của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học khác, tuy nhiên thành tựu của chúng chưa thật đáng kể
1.2.5 Từ 1985 đến nay
Sau khi thống nhất được 10 năm, đất nước ta gặp nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh
và nền kinh tế bao cấp thời chiến Vấn đề đổi mới, hội nhập giao lưu với thế giới vì vậy đã trở thành vấn đề sống còn Trong diễn văn khai mạc Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh khẳng định: “Chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy những
nhân tố mới để phát huy, thấy những sai lầm để sửa chữa” [15, tr.755] Tinh thần nói thẳng, nói thật
Trang 33thể hiện trong các ý kiến của Tổng bí thư đã thổi một luồng sinh khí mới, thúc đẩy tích cực công cuộc đổi mới văn hóa, văn nghệ
Hưởng ứng những ý kiến đó, ngày 28 – 11 – 1987, Bộ Chính trị trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam ra Nghị quyết số 05 về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ
thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới Trước đó một tháng, bài báo Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu xuất hiện trên báo Văn nghệ đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho văn giới
Mặc dù có nhiều ý kiến chưa tán thành, thậm chí lên án nhưng bài báo vẫn có tác dụng quan trọng trong việc kích thích ý thức tự cởi trói của nhà văn Khi đã được Đảng phát động, được cởi trói và dám tự cởi trói thì giai đoạn đổi mới văn học nước nhà bắt đầu Nó đánh dấu bước chuyển biến của
sự nghiệp cách mạng từ giai đoạn này sang giai đoạn khác cũng là đánh dấu sự chuyển biến từ tầm nhìn văn học gắn bó với chính trị sang tầm nhìn văn học là văn hóa, nhân học
Như mọi cuộc “nhận đường”, “lột xác” trước đây, cuộc đổi mới vừa qua diễn ra quyết liệt với
nhiều cuộc đấu tranh, bút chiến gay gắt và sự đảo lộn của nhiều giá trị Về phương diện lý luận, xu hướng chung của giai đoạn này là khắc phục những quan niệm lý luận xơ cứng, bảo thủ, giáo điều, trói buộc sáng tác, đồng thời tiếp thu những tinh hoa lý luận của thế giới trong thế kỉ XX mà trước
đó vì con mắt nhìn định kiến chúng ta chưa thấy rõ hết những ưu trội của nó Vấn đề văn học và chính trị, lý luận về văn học phản ánh hiện thực, đặc trưng thẩm mỹ của văn học và vai trò của chủ thể trong quá trình sáng tạo nghệ thuật… được nhìn nhận mềm mỏng và hợp tình hợp lý hơn Những quan niệm về phương pháp sáng tác, phương thức tiếp cận tác phẩm, nghệ thuật điển hình hóa cũng trở nên uyển chuyển và phóng khoáng, nhằm mở rộng đối tượng phản ánh của nghệ thuật
và dung nạp nhiều phong cách, hình thức nghệ thuật khác nhau
Nhờ đó, việc phê bình không chỉ căn cứ trên giá trị hiện thực, tính nhân dân… của tác phẩm như giai đoạn trước Người ta có điều kiện đánh giá lại các hiện tượng văn học một cách khách quan, công bình và thấu đáo dưới ánh sáng của những tư tưởng lý luận và phương pháp nghiên cứu
mới Nhiều công trình giá trị về tác giả, tác phẩm ra đời như: Thi pháp thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên –
người làm vườn vĩnh cửu, Nguyễn Tuân – người đi tìm cái đẹp… Một số tác phẩm từng bị phê phán
nặng nề nay cũng giành được vị trí trang trọng trên văn đàn: thơ không vần và kịch Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm, Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Phở, Tình
rừng, Cây Hà Nội của Nguyễn Tuân… Đặc biệt các sáng tác trước năm 1945 của tầng lớp trí thức
tiểu tư sản cũng thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà nghiên cứu Nhiều người nhận ra trong những sáng tác ấy có tinh thần dân tộc, khát vọng giải phóng cá tính và sự đổi mới thi pháp thi ca dân tộc
Trang 34Gây tranh cãi nhiều nhất trong giai đoạn này là việc đánh giá tác phẩm văn học đương đại bởi
đó là lĩnh vực thường xuyên có sự va chạm giữa các tiêu chuẩn phê bình và các quan niệm văn học
cũ mới Cũng như các giai đoạn trước, giai đoạn này xảy ra nhiều cuộc tranh luận khi phê bình tác phẩm Có thể kể đến những cuộc trao đổi ý kiến xoay quanh các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp Việc đánh giá cao những nhân vật dị biệt, phi lí, xa rời nguyên tắc sử thi trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu chứng tỏ các tiêu chí phê bình văn học đã có sự thay đổi so với trước đây Tương tự như vậy, việc khẳng định những truyện ngắn sử dụng yếu tố kì ảo với lối kết cấu mở, tự sự khách quan, phá vỡ ranh giới cứng nhắc của các sự kiện lịch sử… của Nguyễn Huy Thiệp cho thấy không khí văn học trong nước đã cởi mở, dân chủ hơn rất nhiều
Quả thật giao lưu văn hóa đã có tác động rất mạnh mẽ đến các hoạt động thuộc lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học Cùng với sự mở cửa trên mọi lĩnh vực của đất nước, lý luận, phê bình văn học nước ta cũng được dịp giao lưu với lý luận, phê bình văn học của thế giới, làm cho không khí nghiên cứu trong lĩnh vực này trở nên vô cùng sôi động Một loạt các cuốn sách về lý thuyết văn học phương Tây được dịch khá công phu: Hoàng Trinh giới thiệu lý thuyết ký hiệu học, Trương Đăng Dung và Nguyễn Văn Dân giới thiệu văn học so sánh, Phạm Vĩnh Cư, Trần Đình Sử giới thiệu lý thuyết và các vấn đề thi pháp của M Bakhtin, Đỗ Lai Thúy dịch và giới thiệu chủ nghĩa
hình thức Nga và phân tâm học S Freud, hình thái học V Propp, Phan Ngọc dịch và giới thiệu Mĩ
học của Hegel và một số công trình khoa học của E Mêlêtinxki, M Kagan… Quyền tự do trong
nghiên cứu được tôn trọng và mở rộng Nhiều học giả áp dụng khá thành công các phương pháp nghiên cứu của phương Tây vào thực tiễn nghiên cứu văn học nước nhà – điều mà cách đây hơn hai mươi năm khó có thể thực hiện được Những quan niệm trước đây bị phê phán kịch liệt như tâm phân học, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa cấu trúc, lý thuyết về văn học so sánh, lý luận tiếp nhận nay đã được tiếp thu và vận dụng một cách cởi mở, rộng rãi
Năm 1985, lý thuyết mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz (Đức) mà đứng đầu là Hans
Robert Jauss, đã được Nguyễn Văn Dân giới thiệu đến độc giả Việt Nam qua bài viết Tiếp nhận
“mỹ học tiếp nhận” như thế nào? đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 11 Ngay sau đó,
năm 1986, trong bài viết Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chương trên quan điểm liên ngành, ông đề xuất khái niệm “ngưỡng tâm lý” – một khái niệm mang tính tâm lý nhân bản – để bổ sung cho khái niệm “tầm đón nhận” mang tính lịch sử xã hội của Jauss Trên cơ sở này, ông đưa ra một phương
pháp mới cho nghiên cứu văn học: phương pháp ngưỡng tâm lý [9, tr.168-172]
Cũng trong năm 1986, Hoàng Trinh viết một bài phân tích khá chi tiết phạm trù “công chúng”,
một phạm trù cơ bản của lý thuyết tiếp nhận mà Jauss chưa chú ý đúng mức Từ đây lý thuyết tiếp nhận bắt đầu có vị trí trong công tác nghiên cứu văn học ở Việt Nam Đến những năm 90 của thế kỷ
XX xuất hiện hàng loạt bài báo của Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử… bàn thêm về
Trang 35lý thuyết này Có thể nói giới nghiên cứu Việt Nam đã nắm bắt được tinh thần cốt lõi của lý luận tiếp nhận, mặc dù họ chưa đưa ra được một hệ thống lý thuyết đầy đủ
Với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985), Phan Ngọc trở
thành người đầu tiên thực hành phê bình phong cách học ở nước ta Theo ông, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt biểu cảm Phong cách học chính là khoa học nghiên cứu mặt biểu cảm của ngôn ngữ Cụ thể hơn, nó nghiên cứu các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy Để lựa chọn, ít nhất phải có từ hai phương án trở lên Vậy nhà nghiên cứu phải tiến hành thao tác đối lập để tìm ra các phương án này Sau khi trình bày một cách sáng rõ quan
niệm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu vào tìm hiểu phong cách
Nguyễn Du trong Truyện Kiều bằng cách thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả
những gì liên quan đến nó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du Về sau Phan Ngọc có công
trình Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học (1995) có thể xem là thành tựu của việc vận dụng
lý thuyết ngôn ngữ học để tìm hiểu văn học
Ngoài Phan Ngọc, nhiều nhà phê bình khác cũng nghiên cứu Truyện Kiều trong mối quan hệ
và ảnh hưởng với nguyên mẫu của nó là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tiếc rằng
do còn mang nặng định kiến về sự hơn hẳn trên mọi phương diện của Truyện Kiều so với Kim Vân
Kiều truyện nên ở một số luận điểm các nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra chưa thật thuyết phục Tuy vậy
nhìn chung thành tựu của bộ môn văn học so sánh đến giai đoạn này đã tương đối phong phú so với
giai đoạn trước Trong công trình Văn học lãng mạn Việt Nam ( 1930 – 1945), Phan Cự Đệ đã áp
dụng phương pháp so sánh một cách khá kỹ lưỡng để làm rõ những đặc điểm của dòng văn học lãng
mạn Ông dành riêng một mục viết về “Một bước tổng hợp mới những ảnh hưởng của văn học nước
ngoài trên cơ sở truyền thống cũ của dân tộc” Đây chính là cơ sở để ông làm rõ những ý nghĩa
cách tân và hạn chế của Thơ mới
Vào những năm 1980, Trần Đình Sử là người có công lớn trong việc tiếp thu và ứng dụng thi pháp học của M Bakhtin và Đ Likhachốp vào thực tiễn văn học Việt Nam qua các công trình như:
Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều (1981), Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du (1982), Thi pháp thơ Tố Hữu (1987) Nhìn chung ở các công trình ông đều lấy văn bản nghệ thuật làm đối
tượng chính để phân tích và suy tư Như các nhà thi pháp học khác, ông không bao giờ tách rời nội dung và hình thức ra thành hai phần để xem xét Ðơn giản là vì không thể tách được bởi đó là hai mặt của một tờ giấy, không thể dùng kéo cắt một phần nào đấy mà lại không bao gồm cả mặt này lẫn mặt kia Sự phân tích thi pháp của Trần Đình Sử khá đa dạng, bao gồm điểm nhìn, kết cấu, hình dáng câu thơ nhưng gây ấn tượng hơn cả vẫn là mô hình cặp ba: không gian, thời gian và quan niệm về con người trong tác phẩm văn học Theo mô hình ấy, ông đã có những phát hiện thú vị về
thời gian gấp gáp trong Truyện Kiều; “không gian công cộng” và con người “số đông” trong thơ Tố
Trang 36Hữu (“vạn kiếp”, “vạn nhà”, “trăm tay” )… Mặc dù vẫn còn sự nhượng bộ đáng kể với chủ nghĩa
hiện thực và chủ nghĩa lịch sử trong phê bình văn học song Trần Ðình Sử cũng đã có nhiều tìm tòi mới mẻ
Cũng thiên về mô hình cặp ba như Trần Ðình Sử là Ðỗ Lai Thúy, tác giả của Con mắt thơ Cuốn sách có những chương mô tả cấu trúc hình thức rất thú vị như Xuân Diệu nỗi ảm ảnh thời gian
và Huy Cận sự khắc khoải không gian Khác với Trần Ðình Sử, Ðỗ Lai Thúy muốn tìm đường dây
liên hệ giữa cấu trúc hình thức văn học với cấu trúc vô thức của nhà văn Tuy nhiên ý đồ đó chưa được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm công cụ và thao tác phân tích
Trong số những nhà phê bình thi pháp hiện nay thì Ðỗ Ðức Hiểu triệt để và phóng túng hơn
cả, triệt để đến mức đôi khi cực đoan, phóng túng đến độ nhiều lúc quá giới hạn Ông quan niệm chỉ
có sự quá mức như vậy mới dứt bỏ thực sự được sức ỳ của cái cũ, cụ thể là sức ỳ của phương pháp
phê bình xã hội học Qua cuốn Thi pháp hiện đại, ta thấy thi pháp học đối với Ðỗ Ðức Hiểu là mĩ học của ngôn từ còn tác phẩm văn học là “hiện thực ngôn ngữ”, đến với tác phẩm là đến với ngày
hội sáng tạo ngôn từ Vì ngôn ngữ được Ðỗ Ðức Hiểu nhìn nhận như các kí hiệu nên cách phê bình
của ông nghiêng về kí hiệu học Ðỗ Ðức Hiểu phân biệt rành mạch giữa nội dung văn học và chất
liệu đời sống hay nói theo F de Saussure là giữa khái niệm cây và cái cây Ông say mê nhất với các
kiến trúc âm thanh, tức phương diện ngữ âm, âm nhạc của từ ngữ trong các tương tác tạo nghĩa Phê bình của Ðỗ Ðức Hiểu có dấu ấn của nhiều nhà thi pháp học hiện đại: ngữ pháp thơ của R Jakovson, lý thuyết đa âm của M Bakhtin, siêu văn bản của R Barthes và thậm chí cả M Riffaterre
và G Bachelard Các lý thuyết mới được ông tiếp thu nồng nhiệt và hoàn toàn không có sự phê phán
Từ năm 1986, những cấm kỵ về Freud và phương pháp phân tâm học được dỡ bỏ Bước đầu đã
xuất hiện những công trình đi theo hướng này của Đỗ Lai Thúy như Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng
Cầm (1997) và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (1999) Đây là những công trình đã áp dụng
một cách tự giác, triệt để và khá thành công phương pháp tâm phân học vào việc nghiên cứu văn học
Bên cạnh phương pháp phân tâm học, Đỗ Lai Thúy rất chú ý đến phương pháp nhân học – văn hóa học Ông đã dùng phương pháp này để phân tích chất văn hóa hội hè của vùng Kinh Bắc thể hiện qua thơ Hoàng Cầm cũng như tiến hành triển khai vấn đề phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương trên hầu khắp các phương diện: tín ngưỡng phồn thực, văn hóa phồn thực, triết lý phồn thực, người
phát ngôn phồn thực, mỹ học phồn thực; từ đó ông dùng “văn hóa dâm tục Việt Nam” để lý giải thơ
Hồ Xuân Hương
Cũng theo tinh thần của phương pháp văn hóa học, chúng ta có thể kể đến sự đóng góp của Trần Đình Hượu Trần Đình Hượu là một trong những tác giả đầu tiên của thời kì sau cách mạng
Trang 37chú ý đến khía cạnh văn hóa của văn học và xem xét văn học trong bối cảnh của nó Ở quyển Nho
giáo và văn học Việt Nam trung đại, ông đã dùng cách khảo sát văn hóa – lịch sử, đặc biệt là đối với
Nho giáo, để giải quyết một số vấn đề của văn học Tiếp nối hướng đi của Trần Đình Hượu có Trần
Ngọc Vương (Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam; Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn
chung) và Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa) Những tác giả này
đều áp dụng lý thuyết văn hóa học để nghiên cứu các hiện tượng văn học trung đại Việt Nam Họ không biến văn học thành sự minh họa giản đơn cho tư tưởng mà tìm kiếm quá trình bản địa hóa ý thức hệ trong lịch sử và sự thể hiện cụ thể trong sáng tác văn học, có sự khúc xạ của các hệ tư tưởng khác
Cần thấy rằng trong giai đoạn này không phải nhà phê bình, nghiên cứu nào cũng tiến hành công việc của mình bằng những lý thuyết và phương pháp mới du nhập từ phương Tây Ở khá nhiều nhà phê bình, dấu ấn của phê bình theo lối cũ vẫn còn khá đậm nét song nhờ vốn kiến văn uyên bác
và năng lực thẩm văn tinh tế, họ vẫn để lại những công trình văn chương giá trị Đó là trường hợp của Lê Trí Viễn, Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn… với hàng loạt tác phẩm có chất lượng
Vương Trí Nhàn khi viết lời “tự thú” trong cuốn Nghiệp văn đã tự nhận xét mình thuộc về một dạng
phê bình cổ, tức là phê bình dựa hẳn vào cảm nghĩ cá nhân và đặt phê bình vào khu vực của văn chương trước tiên, sau mới là của khoa học Ông là nhà phê bình viết nhiều, có cách nhìn riêng về đời sống văn học từ phương diện đạo đức, văn hóa Ông thường qua cuộc đời nhà văn với thân phận, buồn vui, thói quen, nếp nghĩ, cách sáng tác để cảm nhận tác phẩm Theo ông, cuộc đời của các văn nhân cũng xô bồ, tùy tiện, sáng tối trộn lẫn chứ không lý tưởng như người đời thường nghĩ
Trên tinh thần ấy, ông viết các tập Những kiếp hoa dại, Cánh bướm và đóa hướng dương với cái
nhìn soi kĩ để thấu tỏ về những hay, dở trong đời nhà văn
Nhìn tổng thể, phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam thời kỳ 1945 – 1985 đã tiếp thu được nhiều thành tựu lý luận, phê bình của thế giới Đây là điều kiện cần thiết để chúng ta hình thành các hướng nghiên cứu mới, mở ra những triển vọng mới mẻ cho khoa nghiên cứu, phê bình văn học
*
* *
Sự vận động, phát triển của phê bình, nghiên cứu văn học luôn gắn bó mật thiết với sự vận động, phát triển của chính trị, kinh tế, văn hóa ở vào một thời kỳ nhất định Đó là lý do giải thích cho những khác biệt giữa các thời kỳ phát triển trong lịch sử phê bình, nghiên cứu văn học ở nước
ta
Trước thế kỷ XX, tình trạng văn sử triết bất phân cùng với quan niệm “lập thân tối hạ thị văn
chương” khiến cho hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học ở nước ta kém phát triển Văn chương
nghệ thuật lúc bấy giờ chỉ được xem như một thú chơi tao nhã của các nhà nho, và công việc phê
Trang 38bình, nghiên cứu văn học vì vậy chỉ là một hoạt động tùy hứng, tự phát, chưa có sự bài bản, quy mô Đến những năm đầu thế kỷ XX, cuộc gặp gỡ với phương Tây đã mang lại những đổi thay sâu sắc trong xã hội Việt Nam về mọi mặt Cả một lớp trí thức tư sản thành thị yêu nước nhưng cầu an, không đủ can đảm đi theo cách mạng đã gửi hết tình yêu của mình vào tiếng mẹ đẻ Họ quý mến vốn cũ văn hóa dân tộc và muốn thả hồn vào thơ để trốn tránh sự cô đơn, nỗi hoang mang trước thời cuộc Nhờ đó mà văn học phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết Đúng như Vũ Ngọc Phan nhận xét:
“Ở nước ta, một năm đã có thể kể như ba mươi năm của người rồi” [78, tr.1255] Các thể loại mới
dần hình thành, các học giả bước đầu biết áp dụng những kĩ thuật phân tích phương Tây vào việc tìm hiểu tác phẩm Từ những mầm mống ban đầu ấy, chúng ta có một giai đoạn văn học 1930 –
1945 với những thành tựu rực rỡ trên tất cả mọi phương diện Trong phạm vi của luận văn, người viết muốn bàn đôi chút về tình hình lý luận, phê bình những năm này
Xét về mức độ đa dạng của các phương pháp, có thể thấy ngay rằng nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn 1930 – 1945 vượt trội hơn hẳn so với giai đoạn kế sau nó: 1945 – 1985 Nếu trước
1945, các phương pháp ấn tượng, phương pháp tiểu sử, phương pháp văn hóa – lịch sử, phương pháp phân tâm học… đều đã có những thành tựu nhất định thì đến sau 1945, chúng không còn phát triển độc lập mà tan biến thành những yếu tố của phương pháp xã hội học mácxít Điều này được lý giải bằng nguyên nhân chính trị: sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ đã dẫn đến sự nhất thể hóa các phương pháp phê bình Mọi vấn đề đều được nhìn bằng quan điểm mácxít để đảm bảo quyền lợi dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu và văn học luôn trung thành với mục tiêu phục vụ cách mạng, phục vụ quần chúng Yêu cầu của thời chiến lẽ dĩ nhiên phải khác yêu cầu của thời bình nên việc bức tranh lý luận, phê bình giai đoạn 1945 – 1985 còn nghèo nàn, đơn sắc là điều có thể hiểu được
Xét về mức độ chuyên sâu của các phương pháp, nếu đặt những tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn 1930 – 1945 bên cạnh những tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn 1985 đến nay, ta sẽ thấy có một độ chênh đáng kể Không chỉ vậy, từ 1985 đến nay, ở nước ta
đã xuất hiện rất nhiều lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học mới mà các giai đoạn trước đó chưa từng có Âu cũng là lẽ dĩ nhiên Diện mạo của bức tranh lý luận, phê bình trên thế giới hiện nay với
so với bức tranh ấy nửa thế kỷ trước đã thay đổi nhiều Càng ngày khoa học càng phát triển với một tốc độ chóng mặt Phê bình, nghiên cứu văn học cũng không phải là ngoại lệ Chính nhu cầu đổi mới và sự mở cửa, giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực cũng như trên trường quốc tế đã khiến lý luận, phê bình nước ta nhanh chóng tiếp thu và vận dụng những thành tựu của người nhằm hội nhập với thế giới Như vậy, liệu có thể đánh giá phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn 1985 đến nay phát triển hơn phê bình, nghiên cứu văn học giai đoạn 1930 đến 1945 hay không?
Trang 39Quả là một câu hỏi khó trả lời cho đầy đủ Về phương diện trình độ khoa học của các phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học, thực sự chúng ta đã tiến một bước dài Điều này không có gì để bàn cãi, nó hoàn toàn phù hợp với quy luật tiến hóa của văn học nói chung Huống hồ chi lúc này lý luận, phê bình nước nhà đã có những tiền đề thuận lợi từ các giai đoạn trước để lại Cần thấy rằng trong giai đoạn 1930 – 1945 đã xuất hiện những tác phẩm lý luận, phê bình giá trị mà cho đến tận
bây giờ vẫn chưa bị vượt qua Ví dụ như Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh chẳng hạn Theo Nguyên Ngọc, tuyển tập này có tỉ lệ chọn đúng lên đến 90% – một “tỉ lệ siêu việt” [98, tr.1207]
Theo Nguyễn Văn Hạnh thì tỉ lệ đó là hơn 2/3 [36, tr.610] Dù là 90% hay hơn 2/3 thì đây vẫn là một tỉ lệ mà chưa có một tập hợp tuyển nào đạt tới dẫu cho chúng ta đã có không ít tuyển tập được chọn lựa bởi cả một ban chung khảo gồm nhiều thành viên có uy tín
Về phương diện vị trí, vai trò của hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học trong đời sống văn học, chỉ có thể khẳng định một điều: sự phát triển vượt bậc của phê bình, nghiên cứu văn học những năm 1930 – 1945 là một điều kỳ diệu khó thể lặp lại Trong vòng mười lăm năm ngắn ngủi, bộ mặt văn học dân tộc đã thay đổi hoàn toàn với sự hiện đại hóa thể hiện trên mọi lĩnh vực Chưa bao giờ như lúc ấy, địa vị của lý luận, phê bình không hề thua kém so với sáng tác, thậm chí không khí tranh luận văn học đương thời có phần còn sôi nổi, hào hứng cả hơn không khí sáng tác Hầu như tác phẩm nào ra đời cũng nhanh chóng được văn giới đón nhận, đánh giá, thẩm bình… Đây là điểm khác biệt lớn so với tất cả các giai đoạn trước đó và sau đó – khi các vấn đề văn học quá khứ thì được khai thác đến mức cũ mòn còn các vấn đề văn học đương đại lại thường bị né tránh dẫn đến tình trạng người đọc luôn phải ý kiến về vai trò của phê bình trong đời sống văn học
Trang 40CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VŨ NGỌC PHAN, TRƯƠNG CHÍNH,
ĐINH GIA TRINH TRONG VIỆC ĐỔI MỚI
Ý THỨC PHÊ BÌNH, NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Vào thời trung đại Việt Nam, từ văn được dùng để chỉ chung văn chương, học vấn, giáo dục,
văn hĩa chứ chưa trở thành một từ chuyên dùng để chỉ văn học nghệ thuật như cách hiểu của ta ngày nay Điều đĩ cho thấy ý thức văn học trung đại là một ý thức cịn nặng tính nguyên hợp, dẫn đến tình trạng văn, sử, triết bất phân Vì quan niệm rằng tất cả những trước tác cĩ liên quan với văn minh của xã hội lồi người đều cĩ thể thuộc phạm vi văn học cho nên những tác phẩm triết học như
Khĩa hư lục của Trần Thái Tơng, sử học như Đại Việt sử ký tồn thư của Ngơ Sĩ Liên hoặc những
văn kiện chính trị như Chiếu dời đơ của Lý Cơng Uẩn… đều được người xưa xem là tác phẩm văn
học
Với sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của khoa nghiên cứu văn học những năm 1930 –
1945, tư duy của những người làm cơng tác nghiên cứu, phê bình văn học ở nước ta cĩ nhiều đổi thay Trong tư cách là một chủ thể sáng tạo, các nhà văn giai đoạn này đã vượt thốt khỏi vai trị người giáo huấn và cả vai trị văn nhân tài tử của giai đoạn trước để trở thành một nhà chuyên mơn, một nghệ sĩ Quan niệm xem nhà văn là một người cĩ nghề nghiệp riêng, văn học là một loại hình nghệ thuật riêng là quan niệm mới, đặc biệt quan trọng Nhờ đĩ văn học mới khu biệt khỏi sử học
và triết học, chấm dứt tình trạng văn sử triết bất phân kéo dài trong bao nhiêu thế kỷ
Sự thay đổi các nguyên tắc quy định cách nhìn nhận, đánh giá về văn học đã dẫn đến sự thay đổi của các phương pháp chiếm lĩnh tác phẩm văn học Đĩ chính là lý do khiến chúng ta phải tìm hiểu những đĩng gĩp của Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh trong việc đổi mới ý thức phê bình, nghiên cứu văn học như một tiền đề cần thiết trước khi đi vào khám phá những phương pháp phê bình, nghiên cứu văn học của các ơng
Như bao nhà phê bình khác của giai đoạn 1930 – 1945, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Đinh Gia Trinh xác định rõ bản chất, sứ mệnh, đặc điểm tiến hĩa của văn học – đối tượng mà các ơng theo đuổi – cũng như những yêu cầu cần thiết đối với một nhà phê bình chuyên nghiệp Đây là nền tảng khiến phê bình, nghiên cứu văn học nhanh chĩng trở thành một khoa học thật sự
2.1 QUAN NIỆM VĂN HỌC
Trong khi tiến hành cơng việc phê bình, bất cứ nhà phê bình nào cũng xác lập cho mình một điểm tựa – với phần lớn ý thức tự giác và một ít ý thức tự phát – gồm một hệ thống các quan niệm
về văn học và những thao tác kĩ thuật để đi vào tác phẩm Quan niệm văn học chính là cơ sở cho