1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài báo cáo thu hoạch học phần kinh tế chính trị (thị trường là gì tham quan cơ sở sản xuất tư nhân và phân tích )

30 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài báo cáo thu hoạch học phần kinh tế chính trị (Thị trường là gì? Tham quan cơ sở sản xuất tư nhân và phân tích )
Tác giả Cao Thị Phương Chinh, Lưu Thị Quỳnh Nhung, Bùi Phương Linh
Người hướng dẫn Ths. Trịnh Huy Hồng
Trường học Trường Đại Học Đại Nam
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Báo cáo thu hoạch học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 7,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi hy vọng rằng thông qua bài viết này, độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện và cụ thể về sự tương tác giữa các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế trong ngữ cảnh của đất nước chún

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM

Cao Thị Phương Chinh -1676010007

Lưu Thị Quỳnh Nhung -1676010028

Bùi Phương Linh -1676010019

Lớp: QHCC-1601

GV hướng dẫn : Ths Trịnh Huy Hồng

Hà Nội tháng 5 năm 2023

Trang 2

PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Nhận xét mức

độ hoàn thành

Điểm

1 Cao Thị Phương

Chinh

Tìm hiểu nội dung+ Thiết kế

2 Lưu Thị Quỳnh

Nhung

Tìm hiểu nội dung+ Hình ảnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

Chương I: LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ CÁC HÌNH THỨC SỞ HỮU VÀ THÀNH PHẦN KINH TẾ 6

I Thị trường 6

1 Khái niệm 6

2 Phân loại 7

II Thành phần kinh tế 10

1 Khái niệm 10

2 Phân loại 10

3 Ví dụ về các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay 13

4 Vai trò của các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay 13

Chương II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA VIỆT NAM 15

1 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân 15

2 Nguyên nhân 20

Chương III: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XHCN 22

1 Giải pháp 22

2 Kiến nghị 26

3 Liên hệ bản thân 27

KẾT LUẬN 29

Trang 4

TƯ LIỆU THAM KHẢO 30

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội,trong đó quan hệ sở hữu là quan hệ cơ bản nhất của quan hệ sản xuất Chủ sở

hữu có thể thống nhất ở một người, có thể tách bạch ở nhiều người; có thể là sở hữu riêng của tư nhân (tư hữu) hay sở hữu chung của cộng đồng, của xã hội (sở hữu xã hội) Chủ thể sở hữu có thể là thể nhân, có thể là pháp nhân Đối tượng sởhữu là các yếu tố đầu vào của sản xuất và các sản phẩm được tạo ra từ các yếu tốđầu vào đó Đối tượng sở hữu luôn biến đổi do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định Chính vì thế, việc nghiên cứu về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là rất quan trọng

II.Mục đích nghiên cứu

Bài tiểu luận này hướng đến mục tiêu làm sáng tỏ vai trò quan trọng của kinh tế

tư nhân trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chúng tôi hy vọng rằng thông qua bài viết này, độc giả sẽ có cái nhìn toàn diện và cụ thể về sự tương tác giữa các hình thức sở hữu

và thành phần kinh tế trong ngữ cảnh của đất nước chúng ta

III.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu :

Hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và kinh tế tư nhân

Phạm vi nghiên cứu :

Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung vào thực trạng vai trò của kinh tế tư nhân

trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trang 5

Về không gian: Phạm vi nghiên cứu các doanh nghiệp trong nội thành Hà Nội

IV.Nội dung nghiên cứu

Ở phần nghiên cứu lần này, chúng tôi sẽ có 3 phần nội dung chính để mọi người

có thể dễ dàng tìm hiểu hơn và sẽ ứng dụng tốt hơn vào thực tế:

Phần 1: Các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế

Phần 2: Thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo?

Phần 3: Minh chứng qua quá trình tham quan thực tế

V.Phương pháp nghiên cứu :

Thu thập dữ liệu: Thu thập, nghiên cứu nguồn số liệu thứ cấp thông qua việc đithực tế trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và một số tài liệu liên quan được chia

sẻ trên các trang web để tìm hiểu các thông tin cần thiết cho đề tài

Phân tích tổng hợp: Từ những thông tin, số liệu thu thập được, đem ra phân tích,

so sánh để hoàn chỉnh bài hơn

Đánh giá: đưa ra những nhận xét, đánh giá tổng thể

Trang 6

Chương I: Lý luận của C.Mác về các hình thức sở hữu và

có quan niệm về sở hữu theo nghĩa hẹp, sở hữu tư liệu tiêu dùng, C.Mác gọi là sởhữu cá nhân và sở hữu tư liệu sản xuất với những hình thức khác nhau như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu xã hội hay là công hữu

C.Mác còn cho rằng, quan hệ sở hữu là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sảnxuất, nghĩa là quan hệ sở hữu là quan hệ có tính chất bao trùm lên toàn bộ cácquan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu thế nào thì các quan hệ sản xuất, phân phối,trao đổi, tiêu dùng sẽ như thế và khi xem xét quan hệ sở hữu phải xem xét toàn

bộ hoạt động kinh tế của xã hội

C.Mác cho rằng, các quan hệ sở hữu tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lựclượng sản xuất Trong tác phẩm “Sự nghèo nàn của triết học”, C.Mác đã viết mộtcâu nổi tiếng là: “Cái cối xay tay đem lại xã hội có vua chúa; cái cối xay chạybằng hơi nước đem lại xã hội có chủ nghĩa tư bản công nghiệp”, lực lượng sảnxuất nào thì chế độ sở hữu đó Các kỹ thuật thủ công đẻ ra các chế độ tư hữu tiền

tư bản chủ nghĩa, kỹ thuật công nghiệp đưa tới chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa.Trong Bộ Tư bản, C.Mác đã phân chia tư bản ra làm hai loại: Tư bản sở hữu và

tư bản chức năng Tư bản sở hữu - chủ sở hữu các nguồn vốn được hưởng lợitức, còn tư bản chức năng - chủ kinh doanh các nguồn vốn được hưởng lợinhuận Cách phân chia của C.Mác phù hợp với đời sống thực tế hiện nay - quan

hệ sở hữu luôn tách đôi với hai quyền - quyền sở hữu pháp lý và quyền kinhdoanh Trong nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay, chủ sở hữu lớn khôngchỉ sở hữu tư liệu sản xuất mà còn sở hữu vốn Các ông chủ sở hữu vốn thườngkhông trực tiếp kinh doanh các nguồn vốn, mà nhượng quyền kinh doanh vốn

Trang 7

cho các công ty kinh doanh đa dạng Sự tách rời hai quyền sở hữu về pháp lý vàquyền kinh doanh là sự phát triển và tiến bộ của quan hệ sở hữu.

2 Phân loại:

Sở hữu tư nhân và kinh tế thị trường

Trong các tác phẩm của C.Mác, dường như C.Mác đã không dùng khái niệmkinh tế thị trường, mà C.Mác thường dùng khái niệm sản xuất hàng hoá.C.Mác đã nói đến hai điều kiện cho sự ra đời của sản xuất hàng hoá, đó là chế độ

tư hữu về tư liệu sản xuất và sự phân công lao động xã hội Hai điều kiện này đãxuất hiện rất sớm, ngay từ thời nguyên thuỷ đã có những bộ lạc chăn nuôi, haytrồng trọt, và sở hữu bộ lạc là hình thức tư hữu nguyên thuỷ nhất Những điềukiện này càng phát triển mạnh hơn trong xã hội nô lệ và phong kiến Do vậy, nền

Trang 8

sản xuất hàng hoá đã ra đời và phát triển trước chủ nghĩa tư bản, nhưng đó là nềnsản xuất hàng hoá giản đơn C.Mác cho rằng, nền sản xuất hàng hoá trên đây đã

có trong chế độ nô lệ, nông nô, nhưng nó chỉ thịnh vượng khi người lao động làchủ tự do của những tư liệu lao động do họ sử dụng như những người nông dân

và thợ thủ công tự do Song C.Mác cho rằng, nền sản xuất hàng hoá này đã chưa

có tính phổ biến, điển hình, nó chỉ tồn tại trong các “lỗ chân lông” của xã hộiTrung cổ

Theo C.Mác, chỉ đến khi sức lao động được đem bán tự do và trở thành hànghoá, nghĩa là khi quan hệ tư bản và lao động làm thuê xuất hiện và phát triển phổbiến thì sản xuất hàng hoá mới thực sự trở thành phương thức điển hình và phổbiến Với quan niệm này của C.Mác, sản xuất hàng hoá tuy ra đời trước chủnghĩa tư bản, nhưng nó chỉ thực sự trở thành sản xuất hàng hoá phổ biến và điểnhình khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện

Sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã khá phát triển vào thời C.Mác, nhưng vẫncòn nhiều hạn chế như: tuy sức lao động đã được lưu thông tự do, nhưng đất đai

và các bất động sản đã chưa được lưu thông tự do, vì lúc đó thị trường vốn, chế

độ cổ phần, chế độ thế chấp… chưa phát triển Trong thời C.Mác, hàng hoá chủyếu là các hàng hoá hữu hình, người ta có thể sờ mó được Hàng hoá tư bản,hàng hoá vô hình tuy đã có, nhưng chưa là hình thái phổ biến Gọi là sản xuấthàng hoá, C.Mác muốn nói tới một nền sản xuất ra hàng núi khổng lồ các hànghóa hữu hình Tuy nhiên, C.Mác cũng đã nói tới sản xuất hàng hoá theo nghĩarộng nhất, bao gồm cả sản xuất, trao đổi, lưu thông và tiêu dùng Với ý nghĩanày, quan niệm sản xuất hàng hoá của C.Mác đã gần với quan niệm về kinh tế thịtrường hiện nay

Khái niệm kinh tế thị trường thực sự đã xuất hiện sau C.Mác Trong vòng mấychục năm gần đây, hàng hoá vô hình bao gồm: các chứng khoán, các dịch vụmua bán tiền tệ, các dịch vụ thông tin, tư vấn, bảo hiểm… đã phát triển hết sứcnhanh chóng, tỷ phần của nó đang ngày càng lấn át tỷ phần của hàng hoá hữuhình Trong ba yếu tố quan trọng của nền kinh tế thị trường có vai trò điều tiếtcủa cơ chế thị trường thì C.Mác mới bàn đến hai yếu tố: giá cả hàng hoá và lãisuất; còn tỷ giá, C.Mác chưa bàn đến Lý do là ở thời C.Mác, vàng giữ vai tròtiền tệ thế giới, nên tỷ giá không có ý nghĩa quan trọng như ngày nay, hơn nữaphần quan hệ kinh tế quốc tế tuy có trong đề cương của Bộ Tư bản, nhưngC.Mác chưa kịp viết Hơn nữa, trong thời C.Mác, nền kinh tế đã chịu sự điều tiếtchủ yếu của giá cả, lãi suất cũng chưa trở thành công cụ điều tiết C.Mác đã có lýkhi đặt tên cho nền sản xuất thời C.Mác là sản xuất hàng hoá, vì đó là nền sảnxuất hầu như chỉ sản xuất ra các hàng hoá, do giá cả hàng hoá điều tiết Các nhà

Trang 9

kinh tế hiện đại gọi nền kinh tế hiện nay là kinh tế thị trường, có thể là thích hợphơn khái niệm kinh tế hàng hoá.

Về chế độ sở hữu và định hướng xã hội chủ nghĩa

Cách hiểu thứ nhất cho rằng, chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác là sở hữu

xã hội chủ nghĩa, còn các hình thức sở hữu khác là phi xã hội chủ nghĩa Tuytrong các nghị quyết về kinh tế của Đảng ta từ Đại hội VII đến nay đã không có

sự phân định rạch ròi như vậy Nhưng không ít tài liệu và một số người vẫn giữquan điểm này Về lý luận xét theo cách nhìn của C.Mác về chủ nghĩa xã hội, ởnước ta chưa có cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho các quan hệ sở hữu chủnghĩa xã hội và ngay trong các tác phẩm của C.Mác cũng không có chỗ nào xácđịnh quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa là sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác.Quan điểm này có hại đối với thực tiễn, vì với quan điểm này, hệ thống quan hệ

sở hữu, các thành phần kinh tế và do đó các giai tầng xã hội bị chia ra làm hai bộphận đối lập nhau, một bên là xã hội chủ nghĩa và bên kia là phi xã hội chủnghĩa Sự đối lập này sẽ triệt tiêu mất động lực phát triển Các cuộc cải tạo đãtừng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa càng nhanh càng tốt bất chấp trình độphát triển của lực lượng sản xuất đến đâu Thực tế cho thấy, nếu lực lượng sảnxuất còn lạc hậu, công nghệ kém cỏi thì dù có nhà nước hoá 100% tư liệu sảnxuất đất đai thì vẫn chưa có chủ nghĩa xã hội và những quan hệ sở hữu đó vẫnchưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà chỉ là quan hệ công hữu trá hình, nghĩa là vềhình thức các tư liệu sản xuất đã thuộc xã hội, nhưng thực chất vẫn do các tầnglớp tư nhân của xã hội chi phối, chưa kể là các thành phần kinh tế nhà nước vàtập thể trong nhiều năm đã làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ và có nhiều tiêu cực tráivới bản chất tiến bộ của chủ nghĩa xã hội

Cách hiểu thứ hai cho rằng, tất cả các quan hệ sở hữu, các thành phần kinh tế ởnước ta hiện nay đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa Lý do là thể chế củanước ta là thể chế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi pháp nhân thuộc mọihình thức sở hữu đều phải hoạt động theo thể chế đó, do vậy không thể chỉ có sởhữu nhà nước và hợp tác mới có tính định hướng xã hội chủ nghĩa, mà mọi hìnhthức sở hữu đều có tính định hướng xã hội chủ nghĩa Có thể đã có không ít xínghiệp quốc doanh hoạt động không theo các thể chế của nhà nước, vi phạmpháp luật, đã không có tính định hướng xã hội chủ nghĩa bằng các xí nghiệp tưnhân tuân thủ pháp luật Với cách hiểu như vậy, hệ thống quan hệ sở hữu củanước ta sẽ không bị phân chia ra thành hai bộ phận đối lập nhau như trước, mà làmột hệ thống nhất, có một động lực chung là thúc đẩy công nghiệp phát triển,

Trang 10

thúc đẩy lực lượng sản xuất tiến bộ - tạo dựng tiền đề vật chất cho xã hội tươnglai.

Hình thức sở hữu cổ phần là hình thức sở hữu có tính xã hội cao nhất cho đếnnay và cũng là tiến bộ nhất Do vậy, các hình thức sở hữu của nước ta phải dầnchuyển sang hình thức sở hữu cổ phần Đảng ta đã xác định đây là hình thức sởhữu phổ biến của xã hội

Vấn đề đổi mới chế độ sở hữu ở nước ta

Từ Đại hội VI của Đảng ta đến nay, chúng ta đã chủ trương xây dựng một nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần Với chủ trương này, chế độ sở hữu ở nước tatrên thực tế đã là chế độ đa sở hữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu hợp tác, sởhữu tư nhân cá thể, sở hữu tư bản trong và ngoài nước… Chế độ sở hữu trên đây

đã có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế trong thời gian qua Song, hiệnđang còn tồn tại không ít vấn đề cần phải tiếp tục xem xét giải quyết cả về mặt lýluận cũng như thực tiễn Những vấn đề đó là: chế độ sở hữu và định hướng xãhội chủ nghĩa; kinh tế nhà nước là chủ đạo, kinh tế quốc doanh có vai trò gì, nhànước phải tiến hành như thế nào việc nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhànước, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, hạn điền ở mức nào, có phát triểnkinh tế trang trại không? Những vấn đề trên cho đến nay chưa được làm rõ và đãảnh hưởng đến việc điều hành thực tế của Đảng và Nhà nước ta

II Thành phần kinh tế:

1 Khái niệm:

Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, là kiểu quan hệ kinh tế đặc trưng bởi cáchình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất từ đó thành phần kinh tế tồn tại ởnhững hình thức tổ chức kinh tế nhất định, căn cứ vào quan hệ sản xuất để xácđịnh từng thành phần kinh tế cụ thể

Thành phần kinh tế là sự thống nhất giữa hai mặt kinh tế và kỹ thuật, chính làmặt xã hội và mặt tự nhiên của một nền sản xuất cụ thể Ngày nay thuật ngữ

"thành phần kinh tế" ít được sử dụng mà thay vào đó người ta thường sử dụngthuật ngữ khu vực kinh tế với ý nghĩa tương tự

2.Phân loại:

Trang 11

Đảng và Nhà nước ta đã xác định cơ cấu các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiệnnay bao gồm: Kinh tế Nhà nước; Kinh tế tập thể; Kinh tế tư nhân; Kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay

2.1 Thành phần kinh tế Nhà nước

Kinh tế quốc doanh (hay kinh tế nhà nước) là thành phần kinh tế có tính chất xãhội chủ nghĩa, thể hiện ở chế độ sở hữu toàn dân: tài sản các xí nghiệp ấy là củachung của nhân dân, của Nhà nước, chứ không phải của riêng Trong quan hệ tổchức quản lý sản xuất, “xưởng trưởng, công trình sư và công nhân đều có quyềntham gia quản lý, đều là chủ nhân Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhấtcủa Chính phủ nhân dân” Kinh tế Nhà nước có vai trò lãnh đạo nền kinh tế quốcdân, do đó, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên nhằm xây dựng nềntảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội

Trang 12

2.2 Thành phần kinh tế tập thể

Thành phần kinh tế tập thể dựa trên việc hợp tác đôi bên cùng có lợi, áp dụngnhững phương thức quản lý, vận hạnh và sản xuất tiên tiến Nhà nước cũng cócác cơ chế, chính sách để hỗ trợ hợp tác xã về nguồn vốn, nhân lực, kỹ thuật vàthị trường Đây là thành phần kinh tế có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa, đượchình thành từ hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động Bởi vì, trongthành phần kinh tế này, “nhân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng,hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các người con buôn,không bị họ bóc lột” Chủ tịch Hồ Chí Minh coi hợp tác hóa nông nghiệp là khâuchính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc thông qua hìnhthức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Đó cũng là sự thống nhấtvới quan điểm của V.I.Lênin về tổ chức hợp tác xã: đảm bảo tính dân chủ, tựnguyện, bình đẳng, chú trọng lợi ích của hội viên và phù hợp với điều kiện từngđịa phương

2.3 Thành phần kinh tế tư nhân

Đối với thành phần kinh tế tư nhân, nhà nước luôn khuyến khích thành phần nàyphát triển ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế và góp vốn vào các tập đoàn kinh

tế nhà nước

Thành phần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế Chủ thểcủa thành phần kinh tế này là các chủ sở hữu tư nhân như: các hộ kinh doanh cáthể, các hộ tiểu chủ, các chủ tư nhân, các nhà tư bản, các tập đoàn tư bản vớicác loại hình kinh doanh tương ứng như hộ sản xuất, kinh doanh cá thể (hộ nôngdân, hộ tiểu - thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ ), chủ trang trại, hộ tiểuchủ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân tư bản (tư bản trong nước và tưbản ngoài nước), tập đoàn tư bản "Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích,tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vựckinh tế " Hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển kinh tế tư nhân thực sự trởthành một động lực quan trọng của nền kinh tế Thúc đẩy hình thành, phát triểncác tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiêntiến của thế giới Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ vàvừa Ngày nay, phân công lao động đã phát triển theo chi tiết sản phẩm, do đódoanh nghiệp không cần quy mô lớn vẫn có thể áp dụng công nghệ tiên tiến, hiệnđại Đồng thời, với công nghệ kỹ thuật số, mạng Internet, máy tính điện tử,robot, trí tuệ nhân tạo có thể kết nối để tạo thành sự hợp tác ở quy mô lớn trong

Trang 13

việc sản xuất sản phẩm, mà không cần tập trung đông lao động vào một địađiểm

2.4 Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò tham gia vào chuyển giao công nghệ,trình độ quản lý và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Đây là thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào sự phát triển của kinh tếnước ta Làm tăng của cải và sức cạnh tranh của các mặt hàng trong nước.Trong các thành phần kinh tế được liệt kê ở trên kinh tế nhà nước là thành phầnkinh tế đóng vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhâ n là động lực thúc đẩy nền kinh tếphát triển còn các thành phần kinh tế khác bình đẳng được pháp luật bảo vệ

3 Ví dụ về các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Thành phần kinh tế nhà nước: quản lý kinh tế nhà nước, trạm kiểm soát, ngânhàng,

Kinh tế tập thể : lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích các thành viên vàlợi ích tập thể, coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên, góp phần xoá đói,giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên

Ví dụ: Một tổ hợp sản xuất đồ gỗ được thành lập bởi một nhóm thợ mộc tại mộtkhu vực nghèo của thành phố Trong tổ hợp sản xuất đồ gỗ, các thợ mộc cùngnhau đầu tư vốn, tài sản và lao động để sản xuất các sản phẩm đồ gỗ như ghế,bàn, tủ và các sản phẩm trang trí khác

Kinh tế tư nhân: là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất vàkhả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình như nhà thuốc bán lẻ,trường học

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài :các công ty xuyên quốc gia, công ty tư nhân,công ty một thành viên

Trang 14

4 Vai trò của các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Các thành phần kinh tế là các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thốngnhất đều bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật Giữa các thành phầnkinh tế có quan hệ tương hỗ với nhau, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với nhau.Các thành phần kinh tế đều có vị trí, vai trò quan trọng khác nhau và gần tươngđương nhau; nhưng thành phần kinh tế công với các doanh nghiệp Nhà nước "tậptrung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốcphòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kháckhông đầu tư", thì thành phần kinh tế công giữ vị trí, vai trò then chốt, thànhphần kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế trong phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế công cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt

để phát triển nền kinh tế có tính tự chủ cao Các chủ thể thuộc các thành phầnkinh tế cùng hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, bình đẳng trước pháp luật, cùng nhauhuy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội đóng góp vào sự phát triểnkinh tế - xã hội chung của đất nước với mục tiêu chung "dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh

Các thành phần kinh tế là các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thốngnhất đều bình đẳng với nhau và bình đẳng trước pháp luật Giữa các thành phầnkinh tế có quan hệ tương hỗ với nhau, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với nhau.Các thành phần kinh tế đều vận động, phát triển trên nền tảng chung là cácnguồn lực (đất đai, vùng biển, đảo, vùng trời và các tài nguyên gắn với chúng;ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác mà Nhà nước huy động được, cácquỹ dự trữ; các nguồn lực trí tuệ ) thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước đượcNhân dân ủy quyền đại diện chủ sở hữu, quản lý, sử dụng hiệu quả vì mục tiêuphát triển đất nước

Trang 15

Chương II : Thực trạng phát triển nền kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị

trường theo định hướng XHCN của Việt Nam

1.Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân :

Sau cuộc cách mạng dân tộc thành công chúng ta muốn nhanh chóng tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa nên đã vội vàng thực hiện xóa bỏa mọi hình thức

sở hửu tư nhân chính vì vậy thành phần kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo của cách mạng xã hội Tư liệu sản xuất của nhân dân được Nhà nước chưng mua hoặc quốc hữu hóa để biến thành tài sản của Nhà nước.Tuy nhiên cả trong hoàn cảnh như vậy thì kinh tế tư nhân vẫn có sự tồn tại, đặc biệt là trong nông nghiệp nơi có phong trào tập thể hóa rất cao nhưng vẫn tồn tại kinh tế tư nhân chứng minh sự tồn tại khách quan và sức sống mãnh liệt của thành phần kinh tế này

Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 198) với sự thay đổi quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân thì khu vực kinh tế tư nhân đã

có sự phát triển rất mạnh mẽ và đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các chính sách như chính sách về thuế, đất đai,vốn…

Đã khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển và làm thay đổi diện mạo của khu vực kinh tế tư nhân.

Sự thay đổi đầu tiên phải nói đến là số lượng doanh nghiệp được thành lập nhiều và gia tăng với tốc độ cao

Về hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ:Hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn và

Ngày đăng: 17/07/2023, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w